Tải bản đầy đủ (.docx) (97 trang)

Đề cương giới trong LĐQL CCLLCT 2022

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (574.27 KB, 97 trang )

Mục Lục:
Đề 1: Đồng chí hãy trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới. Hãy đánh giá về nhận
thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo, quản lý nói riêng về bình đẳng giới ?............................2
Đề 2: Đồng chí hãy phân tích những thách thức trong thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Đối với
tổ chức (hoặc ngành/lĩnh vực) nơi đồng chí cơng tác, thách thức nào là lớn nhất? Vì sao?...............................6
Đề 3: Đồng chí hãy trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta
về bình đẳng giới ?...............................................................................................................................................9
Đề 4: Trình bày khung pháp luật và chính sách về bình đẳng giới ở VN hiện nay. Theo đ/c để hoàn thiện
khung luật pháp và chính sách về BĐG, VN cần làm gì trong thời gian tới ?..................................................13
Đề 5. Đồng chí hãy đánh giá thực trạng bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam. Theo đồng chí cần hải làm để
hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay? Liên hệ vấn đề này ở tổ chức nơi đồng
chí cơng tác ?.......................................................................................................................................................17
Đề 6. Đồng chí hãy phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong thực thi bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản
lý ở Việt Nam hiện nay. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác?.......................................21
Đề 7: Đồng chí hãy trình bày những giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam
hiện nay? Trong tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác cần chú ý tới những giải pháp nào để thúc đẩy
bình đăng giới, nâng cao vai trò của phụ nữ ?..................................................................................................25
Đề 8. Đồng chí hãy trình bày khái niệm, vai trị, mục tiêu và một số cơng cụ phân tích giới. Liên hệ vấn đề này ở
tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác ?........................................................................................................28
Đề 9: Đồng chí hãy trình bày khái niệm, vai trò, các bước tiến hành và các điều kiện đảm bảo lồng ghép giới.
Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác ?.....................................................................32
Đề 10: Đồng chí hãy trình bày vai trị và những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ trong bối
cảnh hiện nay. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác ?..............................................36
Đề 11: Trình bày khái niệm, vai trị và chu trình ủy quyền hiệu quả trong xây dựng năng lực cho cán bộ nữ.
Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác?....................................................................41
Đề 12: Đồng chí hãy trình bày vai trị và những nội dung cơ bản của kỹ năng hướng dẫn cán bộ nữ trong bối
cảnh hiện nay. Liên hệ vấn đề này ở tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác?............................................44
THAM KHẢO.......................................................................................................................................................49
TK1: Bất bình đẳng giới- nguyên nhân của bạo lực gia đình................................................................................49
TK2: Bình đẳng giới - thành cơng và thách thức..................................................................................................51
TK3: Giải pháp thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam hiện nay...................................55


TK4: Một số giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số......................................57
TK5: Những hạn chế trong thực thi chính sách bình đẳng giới về chính trị ở Việt Nam.......................................62
TK6: Những thách thức, cơ hội và giải pháp nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ Việt Nam khi bước vào cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư......................................................................................................................68
TK7: Tầm quan trọng của lãnh đạo nữ nhìn từ các lý luận hiện đại.....................................................................73
TK8: Tầm quan trọng của lãnh đạo nữ nhìn từ các lý luận hiện đại.....................................................................80
TK9: THÚC ĐẨY THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG BỐI CẢNH TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC TỪ ĐẠI DỊCH COVID-19...86
TK10: MỘT VÀI NÉT VỀ GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN............................88
TK11: Vai trò của thể chế đối với thực hiện bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam hiện nay.........................91

1


Đề 1: Đồng chí hãy trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng
giới. Hãy đánh giá về nhận thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo,
quản lý nói riêng về bình đẳng giới ?
a) Những khái niệm cơ bản liên quan đến bình đẳng giới
Thứ nhất, Giới và giới tính: Giới và giới tính là hai khái niệm có quan hệ mật thiết
với nhau. Sự phân biệt khái niệm “giới” và “giới tính” được quy định tại Điều 5 Luật Bình
đẳng giới năm 2006 như sau:
“1. Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
2. Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.
Như vậy, khái niệm “giới” và “giới tính” giúp phân biệt đặc điểm của nữ giới và nam
giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó. Sự khác nhau giữa “giới
tính” và “giới” được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau:
- “Giới tính” là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học,
có sẵn từ khi sinh ra, mang tính ổn định cao và bị quy định bởi quy luật sinh học. Ví dụ:
Chỉ nam giới mới có tinh trùng, chỉ phụ nữ mới có trứng (trong độ tuổi sinh đẻ).
- Khác với giới tính, giới khơng mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá
trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành. Nói cách khác, giới

được thể hiện thơng qua các hành vi hình thành trong q trình xã hội hóa (từ sự tiếp nhận
các khuôn mẫu hành vi, ứng xử, qua quá trình dạy dỗ, giáo dục trong gia đình, nhà trường,
cộng đồng và xã hội). Nội hàm của khái niệm “giới” đề cập đến vị trí, vai trị của nam và
nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở nữ giới và nam giới liên quan đến các đặc điểm và
năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai,
trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ,
thêu thùa, chăm sóc con cái; nam giỏi xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị...
Thứ hai, Định kiến giới:
Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 nêu rõ: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ và
đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trị và năng lực của nam hoặc nữ”. Nói
cách khác, đây là những suy nghĩ phổ biến của cộng đồng xã hội về khả năng và công
việc của nữ giới và nam giới, tức là những gì nữ giới và nam giới có thể làm, cần làm và
nên làm. Ví dụ: quan niệm xã hội phổ biến là phụ nữ thường nhẫn nại hơn, nam giới
thường có khả năng lãnh đạo tốt hơn; phụ nữ cần tập trung chăm sóc con cái, trong khi
nam giới cần tập trung kiếm tiền nuôi sống gia đình...
Những thay đổi trong định kiến giới theo thời gian đã được chứng minh ở một số khu
vực trên thế giới. Đến đầu thế kỷ XXI, sự khác biệt về vai trò xã hội của nam giới và nữ
giới ở một số xã hội như Hoa Kỳ và châu Âu đã thu hẹp lại. Các cơ hội giáo dục và việc
làm gia tăng cùng với sự gia tăng việc tham gia các hoạt động chính trị, xã hội của phụ nữ
đã làm cho tình trạng bình đẳng giới được cải thiện ở nhiều xã hội. Tuy nhiên, trong các
xã hội khác - ví dụ như ở một số nưóc Trung Đơng - định kiến giới vẫn tồn tại dai dẳng.
Định kiến giới ở những xã hội này thường đặt vai trò phụ nữ vào những bất lợi đáng kể về
quyền con người và quyền cơng dân, ví đụ như quyền bầu cử, ứng cử chính trị, quyền
giao thiệp xã hội, quyền được bảo vệ về mặt pháp lý...
Thứ 3, Vai trò giới: Vai trò giới là tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà
nam giới và nữ giới học được và thể hiện trong thực tế, dựa trên mong đợi từ phía xã hội
2


đối với họ. Các vai trò giới là đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đối theo thời

gian (tương ứng với sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay
đổi của quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành
vi ứng xử vai trị nào đó),
Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội. Tuy
nhiên, mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau, do những
quan niệm, chuẩn mực xã hội khác nhau quy định. Việc nữ giới và nam giới thực hiện
những công việc khác nhau như vậy được gọi là sự đảm nhận các vai trò giới.
Về bản chất, vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội. Do
vậy, nữ giới và nam giới được mong đợi làm những cơng việc khác nhau và có vị trí khác
nhau ngay trong cùng một công việc. Việc thực hiện những vai này khiến hai giới phụ
thuộc lẫn nhau. Tuy nhiên, sự phụ thuộc đó cũng có thể thay đổi, do thực tể việc “đóng
vai” của nam và nữ ln thay đổi (vai trò giới thay đổi nhanh hơn định kiến giới).
Vai trò giới thường được xem xét ở ba lĩnh vực: sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng:
- Vai trò sản xuất là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ để tiêu
dùng và trao đổi thương mại. Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập và được trả công.
Cả nữ giới và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất nhưng do định
kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị cơng việc mà họ
tạo ra cũng khơng được nhìn nhận như nhau.
- Vai trò tái sản xuất là các hoạt động chăm sóc, ni dưỡng, dạy dỗ... giúp tái sản
xuất dân số và sức lao động, bao gồm việc sinh con, các cơng việc chăm sóc gia đình,
ni dạy và chăm sóc trẻ em, nấu ăn, dọn đẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khỏe cho các thành
viên trong gia đinh... Ở hầu hết các xã hội, phụ nữ và trẻ em gái thường đóng vai trị và
chịu trách nhiệm chính trong các cơng việc tái sản xuất này.
- Vai trò cộng đồng bao gồm những hoạt động nhằm đảm bảo cung cấp và bảo vệ các
nguồn lực đáp ứng nhu cầu chung của cộng đồng như vệ sinh môi trường, nước sạch, dịch
vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục...
Thứ 4, Nhu cầu giới: Nhu cầu giới là nhu cầu mà mỗi giới có nguyện vọng, yêu cầu
được đáp ứng để thực hiện tốt vai trị của mình. Nhu cầu của nam khác nhu cầu của nữ và
do nhiều yếu tố khác nhau hình thành. Nhu cầu nảy sinh từ đời sống hàng ngày thường
góp phần củng cố phân cống lao động theo giới, có hai loại nhu cầu giới, gồm:

- Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu có liên quan đến cải thiện điều kiện sống hiện
tại nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lệ thuộc của phụ nữ vào nam giới (lệ thuộc về kinh tế,
việc ra quyết định...).
- Nhu cầu giới chiến lược (còn gọi là lợi ích giới) là những nhu cầu giúp phụ nữ thốt
khỏi vị trí lệ thuộc, yếu kém, làm thay đổi mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ.
Thứ 5, Phân biệt đối xử theo giới: Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006: Phân biệt
đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc khơng coi trọng vai trị, vị
trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội và gia đình.
Thứ 6, Bình đẳng giới: Bình đẳng giới là tình trạng khơng có sự phân biệt đối xử trên
cơ sở giới tính (về quyền, trách nhiệm và cơ hội). Nhờ vậy, nữ giới và nam giới được tôn
trọng ngang nhau, được tiếp cận các nguồn lực như nhau, được thụ hưởng thành quả như
nhau, có cơ hội và điều kiện như nhau để nhận biết được các quyền con người của mình
và khả năng đóng góp của bản thân vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội
3


của đất nước
Có ba kiểu quan niệm về bình đẳng giới là bình đẳng giới kiểu hình thức, bình đẳng
giới kiểu bảo vệ và bình đẳng giới kiểu thực chất.
- Bình đẳng giới kiểu hình thức xuất phát từ quan niệm coi nam và nữ là giống như
nhau, không để ý đến sự khác biệt về sinh học cũng như sự khác biệt do xã hội quy định.
Do vậy, xét về bản chất, kiểu quan niệm này tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ, buộc họ phải
thể hiện mình theo cách của nam giới.
- Bình đẳng giới kiểu bảo vệ nhận diện được sự khác biệt giữa nam và nữ, nhưng cho
rằng cần tập trung xem xét các điểm yếu của phụ nữ để tạo ra những sự đối xử khác biệt.
Quan niệm này dẫn đến việc cố gắng tạo ra những “vỏ bọc bảo vệ phụ nữ”. Tuy nhiên,
việc thực hiện bình đẳng giới theo quan niệm này thực ra là cản trở quyền tự do lựa chọn
của phụ nữ. Phụ nữ có thể bị tước đi hàng loạt cơ hội phát triển khiến tình trạng bất bình
đẳng giới ngày càng trở nên trầm trọng.

- Bình đẳng giới kiểu thực chất nhận rõ sự khác biệt giữa nam và nữ về sinh học và sự
khác biệt xã hội do lịch sử để lại. Do vậy, quan niệm này chú ý đến bình đẳng trong pháp
luật và bình đẳng trong thực tế, tập trung điều chỉnh các mơi trường có ảnh hưởng tiêu cực
đối với cả nam giới và phụ nữ, đồng thời chú ý tạo sự bình đẳng cho cả nam và nữ về cơ
hội, tiếp cận cơ hội và hưởng thụ cơ hội.
Thứ 7, Nhạy cảm giới: Nhạy cảm giới là sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhu
cầu, vai trò và trách nhiệm khác nhau của nam giới và nữ giới, hiểu được rằng những
khác biệt này có thể dẫn đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong tiếp cận và kiểm
soát các nguồn lực, mức độ tham gia, thụ hưởng các nguồn lực và thành quả phát triển.
Thứ 8, Trách nhiệm giới: Trách nhiệm giới là việc nhận thức được các vấn đề giới,
khác biệt giới và nguyên nhân của những khác biệt, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm
giải quyết và khắc phục bất bình đẳng trên cơ sở giới. Trách nhiệm giới chú trọng đến
những biện pháp hoặc hành động thường xuyên, tích cực và nhất quán trong cơng việc để
loại trừ ngun nhân bất bình đẳng giới, nhằm đạt được bình đẳng giới.
b) Đánh giá về nhận thức của xã hội nước ta nói chung, của giới lãnh đạo, quản lý
nói riêng về bình đẳng giới?
Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói
riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Ngay từ thời điểm năm 1955, Liên Hợp quốc đã
thống nhất quan điểm và thơng qua Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hội
nghị quốc tế về phụ nữ, lần thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); Năm 1979 tiếp tục thông
qua Cơng ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mục
tiêu thiên niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ.
Đại hội đồng Liên Hợp quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều sự
kiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Điều này cho thấy sự
ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng giới.
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho cơng tác bình đẳng giới những
ưu tiên nhất định. Cụ thể, trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
Hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn
bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Và trong di chúc của Bác, Người
cũng trăn trở về vai trị và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế

hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ
phụ trách mọi cơng việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn
4


lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và vấn đề này
đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật
Phịng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như:
Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình
hành động quốc gia về phịng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020… để đảm bảo quyền
lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay
chính trong gia đình của họ.
Có thể nói lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cơ quan đơn vị đã quan tâm triển
khai công tác bình đẳng giới thơng qua các luật, lồng ghép bình đẳng giới, các chương
trình hành động. Tuy nhiên, nhận thức trên thực tế hành động còn phụ thuộc vào khu vực,
lĩnh vực, điều kiện cụ thể. Cụ thể, sự quyết tâm giới lãnh đạo chưa cao trên thực tế, như
cụ thể trên lĩnh vực chính trị, các chỉ số tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội, HĐND các cấp chỉ
dừng lại ở khâu giới thiệu bầu, do vậy dẫn đến thực trạng sự tham gia phụ nữ còn hạn chế.
Việc ban hành một số văn bản luật, còn chưa quán triệt bình đẳng nam, nữ như tuổi quy
hoạch, tuổi nghỉ hưu nam, nữ, quy định tài sản chung vợ chồng trong luật đất đai. Do
nhận thức trong tâm lý bảo vệ phụ nữ nên một số chính sách, luật cịn chưa tạo ra cơ hội
bình đẳng chọn nam, nữ.
Tình trạng gia tăng sinh con thứ 3 trong đảng viên, kể cả trong cán bộ làm công tác
liên quan đến bình đẳng giới, trong đó dễ hiễu là tâm lý sinh con một bề còn nặng, cho
thấy nhận thức một lĩnh vực này một bộ phận cịn hạn chế.
Tình trạng phổ biến khuôn mẫu định kiến giới mạnh mẽ trong sách giáo khoa là ví dụ
điển hình, thể hiện nhận thức trọng nam, ăn sâu kể cả người làm chính sách, người làm
khoa học. Thể hiện cụ thể qua minh họa ngành nghề định kiến giới…
Công tác tuyên truyền về bình đẳng giới đã góp phần làm chuyển biến nhận thức và
hành vi của cộng đồng dân cư về giới và bình đẳng giới trong quan hệ đối xử giữa nam và

nữ, trong thực hiện kế hoạch hố gia đình, trong lựa chọn sinh con theo giới tính, về vị thế
của phụ nữ trong gia đình và ngồi xã hội. Trong cơng cuộc đổi mới, cơng tác này góp
phần khơng nhỏ vào việc thay đổi nhận thức của phụ nữ theo hướng tiến bộ về vị trí, vai
trị của họ và giúp họ khẳng định được bản thân mình trong xã hội. Tuy nhiên, nhận thức
vấn đề bình đẳng giới trong các nhóm xã hội (gia đình, dịng họ, làng xã, dân tộc, nghề
nghiệp) vẫn còn thiếu sự thống nhất. Tư tưởng“trọng nam khinh nữ”ngự trị dai dẳng
trong xã hội vẫn tiếp tục là hệ quả xấu đối với nam giới trong đối xử với nữ giới, là rào
cản trong quá trình thực hiện bình đẳng giới. Sự bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong nhiều
lĩnh vực như về quyền lợi, nghĩa vụ, phân công lao động, cơ hội việc làm, tiền lương, thu
nhập, cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ.
Nhận thức người dân còn phụ thuộc vào khu vực,việc chú trọng nâng cao nhận thức
cho cả nam và nữ còn hạn chế. Phụ nữ còn tự ti, an phận, cam chịu và chấp nhận với
những định kiến giới tồn tại trong xã hội. Phong tục, tập quán lạc hậu theo kiểu “xuất giá
tòng phu”, “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”…còn tồn
tại khá phổ biến ở nhiều nơi là một trong những nguyên nhân cản trở mục tiêu bình đẳng
giới. Ở khu vực vùng sâu, vùng xa còn nặng nề quan niệm con trai hơn con gái, cơng việc
gia đình là trách nhiệm của riêng phụ nữ, định hướng nghề nghiệp vẫn theo hướng truyền
thống… nên việc đầu tư cho trẻ em gái trong học tập không được chú ý và quan tâm nhiều
như với trẻ em trai.
Tình trạng định kiến giới trong tuyển dụng người lao động, bổ nhiệm còn tâm lý e
5


ngại khả năng, đặc điểm sinh học của phụ nữ.
Liên hệ địa phương: Các anh/chị tự liên hệ địa phương mình cơng tác. Chú ý mặt
đạt được/chưa được và giải pháp.
Đề 2: Đồng chí hãy phân tích những thách thức trong thúc đẩy bình đẳng giới ở
Việt Nam hiện nay. Đối với tổ chức (hoặc ngành/lĩnh vực) nơi đồng chí cơng tác,
thách thức nào là lớn nhất? Vì sao?
Bài làm

1: Phân tích những thách thức trong thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Theo Điều 5, Luật BĐG năm 2006): “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trị
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển
của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước thực hiện nhiều bước đột phá về nhận thức
và hành động, từ khía cạnh luật pháp, chính sách đến thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu
quan trọng về bình đẳng giới. Ở Việt Nam, Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong việc
thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về BĐG. Nhiều văn bản QPPL liên quan đến BĐG
được ban hành, điển hình như Luật BĐG 2006 và các bản hướng dẫn thi hành; Chiến lược
quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu nâng cao nhận thức, thu hẹp
khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; tích cực thực hiện các sáng kiến quốc
tế và khu vực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền của phụ nữ và chống phân biệt đối xử đối
với phụ nữ. Trong báo cáo “Triển vọng xã hội và việc làm của thế giới: Những xu hướng cho
phụ nữ năm 2018” của Liên hiệp quốc cho biết, thu nhập trung bình của nữ giới thấp hơn nam
giới tới 23%. Tỷ lệ này tại các nước Liên minh châu Âu khoảng 16%, tại Mỹ lao động nữ
được trả lương thấp hơn nam giới tới 20%, trong khi đó ở Việt Nam mức độ chênh lệch giữa
nam và nữ chỉ 9,4%. “Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XIV là 26,72%, tăng so
với hai khóa trước đó, cao hơn mức trung bình của thế giới (23,6%) và giữ vị trí tương đối
trong khu vực.
Đặc biệt, đây là lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam có Chủ tịch Quốc hội là nữ”, đưa Việt
Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới (đứng
thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong ASEAN). Phụ nữ đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh
đạo chủ chốt của đất nước như Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng;
14/30 Bộ hoặc cơ quan trực thuộc Chính phủ có Thứ trưởng là nữ. Ở các địa phương,
nhiều phụ nữ giữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đề
quan trọng.
Trong lĩnh vực kinh tế, Theo báo cáo thẩm tra năm 2017 của Ủy ban về các vấn đề xã
hội đánh giá, chỉ tiêu tỷ lệ nữ trong tổng số người được tạo việc làm mới, đạt 48% ngay từ
năm đầu thực hiện Chiến lược quốc gia về BĐG (so với kế hoạch là 40% cho mỗi giới) đã
được duy trì ổn định đến nay. Thời gian gần đây, nữ thành đạt trong lĩnh vực kinh doanh

ngày càng tăng mạnh thể hiện vai trị của phụ nữ trong xã hội khơng thua kém so với nam
giới.Phụ nữ làm chủ cơ sở kinh doanh chiếm 31,6%. Tuổi bình quân khi nghỉ hưu của lao
động nữ (54,1 tuổi 2016; 53,8 tuổi 2017) chỉ thấp hơn khoảng 3 tuổi so với lao động nam
(57 tuổi).
Bên cạnh những thành tựu đã nêu, quá trình thực hiện BĐG ở Việt Nam đã và đang đặt ra
khơng ít khó khăn, thách thức. Một trong những khung lý thuyết phổ biển hiện nay khi
6


nghiên cứu về bình đẳng giới là cách nhìn nhận về các rào cản, thách thức theo ba nhóm
yếu tố: cấu trúc, thể chế và văn hóa.
- Đối với những thách thức mang tính cấu trúc, bao gồm: trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ học vấn của phụ nữ và tỷ lệ phụ nữ trong các nghề nghiệp chun mơn và
quản lý.
Trước tiên, Về trình độ phát trỉển kinh tế - xã hội: Theo đánh giá của Ngân hàng thế
giới, Việt Nam là một trong những nền kinh tế đã thể hiện sự phát triển ngoạn mục trong
khoảng vài thập niên gần đây. Thu nhập bình quân đầu người thực tế đã tăng từ 260USD
vào năm 1995 lên 2.385 USD vào năm 2017. Tuy nhiên, vấn đề phát triển bền vững vẫn là
một thách thức lớn đối với Việt Nam. Công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những
thành tựu vô cùng to lớn, nhưng đồng thời cũng làm tăng khoảng cách giữa các nhóm
người trong một số lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bình đẳng giới. Chẳng hạn như: Trong
lĩnh vực kinh tế, cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao và các nguồn lực
kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới
+ Thứ 2, Về lao động và việc làm: Các báo cáo nghiên cứu và thống kê quốc gia cho
thấy, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới.
Tuy nhiên, đáng chú ý là có sự khác biệt giới rõ rệt trong thị trường lao động - điều có tác
động mạnh mẽ đến địa vị kinh tể - xã hội của nữ giới và nam giới.
Ví dụ: Theo báo cáo “Triển vọng việc làm và xã hội thế giới – Xu hướng cho phụ nữ”
của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 2017 thì: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của
phụ nữ Việt Nam là 72%, cao hơn mức trung bình thế giới (49%), mức trung bình của khu
vực châu Á và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp. LĐN tại Việt Nam chiếm 48,4%

tổng lực lượng lao động. Tuy nhiên tỷ lệ nữ giới tại Việt Nam có việc làm thấp hơn 9% so
với nam giới. Hiện có 7,8 triệu lao động nữ đang làm việc trong khu vực phi chính thức
với điều kiện lao động khơng bảo đảm. Tỷ lệ LĐN trong khu vực phi chính thức phải làm
cơng việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, trong khi đó ở nam giới là 31,8%. Khi DN cắt
giảm chi phí, lao động, đối tượng mà chủ doanh nghiệp hướng tới đầu tiên thường là LĐN
với nhiều lý do sức khỏe khơng bảo đảm, khơng có điều kiện nâng cao tay nghề, dẫn tới
năng suất lao động thấp. Báo cáo cũng cho biết, có tới 57,3% số LĐN thất nghiệp ở nhóm
lao động chưa qua đào tạo và 50,2% trong nhóm đã được đào tạo nghề. Đáng chú ý, tỷ
trọng LĐN trong nhóm thất nghiệp có trình độ đại học lên tới 55,4%
+ Thứ 3, Về giáo dục và đào tạo: Việt Nam đang nỗ lực thực hiện mục tiêu xóa bỏ
khoảng cách giới trong giáo dục phổ thơng và đã đạt được những thành tựu to lớn trong
việc mang đến cơ hội học tập cho cả nam và nữ. Tuy nhiên, các chính sách cải cách đã làm
gia tăng khoảng cách giới trong giáo dục. Sự bất bình đẳng bén rễ ngay trong hệ thống
giáo dục và biểu hiện ở tỷ lệ học sinh nữ tham gia ở cấp tiểu học và THCS thấp hơn tỷ lệ
học sinh nam, nhất là ở các vùng nghèo và vùng dân tộc thiểu số. Học sinh nam có nhiều
cơ hội quay trở lại học tiếp hơn học sinh nữ. Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnh miền núi đi học
còn thấp, chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, trường nội trú ở quá xa nhà và một
vài nơi vẫn còn tục lệ lấy chồng sớm. Báo cáo 'Ðánh giá tình hình giới ở Việt Nam 122006' do các tổ chức quốc tế: WB, ADB, DFID và CIDA phối hợp thực hiện cho thấy,
trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, mặc dù đã có nhiều cố
gắng trong việc lồng ghép giới vào chương trình và các hoạt động ngồi giờ lên lớp,
nhưng hiện nay vẫn cịn có các định kiến giới trong các tài liệu giáo dục và sách giáo khoa
trong việc chia sẻ việc nhà, phân biệt đối xử trong lực lượng lao động và các hành vi mang
7


lại rủi ro cho nam và nữ thanh niên (khảo sát sách giáo khoa Giáo dục Công dân lớp 9 mới
cho thấy: nữ nhân vật xuất hiện trong 5/20 trường hợp nghiên cứu hoặc câu chuyện kể
được xem xét tới, nam nhân vật xuất hiện 11/20 và nhân vật trung tính xuất hiện 4/20).. Bên
cạnh đó, tỷ lệ nữ cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn thấp, phần lớn chỉ giữ vị trí phó. Họ
thường khơng được tham gia vào q trình đưa ra quyết định, khơng được tiếp cận các

thông tin và thiếu cơ hội trao đổi, thảo luận, nhất là ở những vùng khó khăn, vùng dân tộc
thiểu số.
Sự phân tách giới trong giáo dục đã đẩy phụ nữ ra khỏi các vị trí cần bằng cấp cao
hơn, cũng như tạo tiềm năng đẩy họ ra khỏi việc tham gia đầy đủ vào một số lĩnh vực và
ngành nghề quan trọng.
- Đối với những thách thức mang tính thể chế:
Việt Nam đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp lý và bộ máy hoạt động vì mục
tiêu bình đẳng giới tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, thực tế ở nhiều cấp, nhiều địa phương,
hoạt động của các tổ chức này vẫn còn hạn chế; thiếu sự phối hợp, khơng rõ ràng, thậm chí
chồng chéo trong phân định trách nhiệm giữa các cơ quan, đơn vị hoạt động vì bình đẳng
giới.
Một số chính sách được tạo ra để “bảo vệ phụ nữ” khơng cịn phù hợp trong thời kỳ
mới, gây ra những tác động không mong muốn, mâu thuẫn với sự vận hành của cơ chế thị
trường, như nữ nghỉ hưu ở tuổi 55, nam 60 đã han chế rất nhiều cơ hội được lao động và
cống hiến của phụ nữ; hay như các quy định yêu cầu cơ quan, doanh nghiệp sử dụng lao
động thực hiện ưu đãi lao động nữ và đảm bảo một số điều kiện đặc biệt như chế độ thai
sản, chăm sóc trẻ em,....cũng là những yếu tố rào cản đáng kể khiến các doanh nghiệp
“ngại” không muốn tuyển dụng lao động nữ vào làm việc.
- Đối với, những thách thức mang tính văn hóa: Ở nước ta, nền văn hóa vẫn còn
mang nặng tư tưởng nho giáo nên các chuẩn mực giới thịnh hành trong quá khứ vẫn tiếp
tục gây áp lực đối với phụ nữ. Phụ nữ thường được coi là thấp kém hơn so với nam giới
trong hầu hết các lĩnh vực dẫn đến vai trò kém quan trọng hơn trong cơng việc và họ
thường có tiếng nói yếu ớt hơn trong việc đưa ra các quyết định trong cuộc sống.
Cho đến nay, nhiều người Việt Nam vẫn coi cơng việc chính của phụ nữ chi là sinh đẻ
và nấu ăn. Các bậc cha mẹ chú trọng hơn đến tính “hướng ngoại” cho con trai và quan tâm
nhiều hơn đến tính “hướng nội” cho con gái. Những quan niệm lệch lạc đó dẫn đến hệ quả
đàn ơng tiếp tục là người đưa ra các quyết định quan trọng trong khi tồn bộ gánh nặng
của những cơng việc khơng được trả lương trong gia đình đều dồn lên vai người phụ nữ.
Ngồi ra, những khn mẫu định kiến giới mạnh mẽ vẫn còn tồn tại trong sách giáo
khoa hiện hành đã góp phần củng cố sự thiên vị giới truyền thống. Ở nhiều bức tranh minh

họa, vai trò của nam giới chủ yếu là ở cộng đồng và xã hội với tư cách là các nhà lãnh đạo,
các học giả và cơng nhân có tay nghề kỹ thuật; tính cách mạnh mẽ, có lý trí, tự tin, độc lập
và được người khác tơn trọng. Trong khi đó, phụ nữ thường được mơ tả là nhút nhát, tình
cảm, chăm chỉ, phụ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác và chịu trách nhiệm chăm sóc
con cái.
Tư duy “trọng nam, khinh nữ” đã khiến nhiều phụ nữ trở thành nạn nhân của tình trạng
bạo lực, lạm dụng cả về thể chất và tinh thần, để lại những hậu quả nghiêm trọng về sức
khỏe. Do vậy, các cặp vợ chồng đã áp dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để kiểm soát
được giới tính của đứa con mà họ sẽ sinh, bao gồm cả việc phá thai lựa chọn giới tính.
2: Phân tích những thách thức thúc đẩy bình đẳng giới lớn nhất nơi đồng chí
8


cơng tác?
THAM KHẢO
Tại cơ quan đang cơng tác, thì những thách thức thúc đẩy bình đẳng giới lớn nhất
là:
Thách thức mang tính văn hóa: Tư tưởng xem nhẹ nữ giới vẫn tồn tại trong một bộ
phận cán bộ lãnh đạo đã tạo ra những rào cản hạn chế phụ nữ khẳng định bản thân trong
công việc và cuộc sống. Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền (nhất là người đứng đầu)
còn chưa thật sự sát sao, chưa thực chất nên chưa dành nguồn lực thỏa đáng cho cơng tác
bình đẳng giới tại cơ quan đơn vị. Chưa có chế tài xử lý việc khơng hồn thành các chỉ
tiêu của Chiến lược đối với các địa phương hoặc các bộ, ngành phụ trách thực hiện các
mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giớ
Những định kiến về văn hóa - xã hội và vai trị truyền thống đã ràng buộc phụ nữ làm
lãnh đạo cũng là những rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ nói chung và nữ lãnh đạo
nói riêng. Vẫn cịn nhiều định kiến tồn tại như quan niệm “nam trưởng, nữ phó” hoặc cho
rằng phụ nữ đóng vai trị quan trọng trong việc nội trợ, chăm sóc con cái, khiến phụ nữ ít
được ủng hộ vào các vị trí lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn.
Định kiến giới không chỉ từ xã hội, gia đình hay từ phía nam giới đối với phụ nữ mà

đơi khi cịn chính là định kiến, sự mặc cảm, tự ti của bản thân chị em phụ nữ về năng lực
lãnh đạo, quản lý của chính mình. Điều này dẫn đến tâm lý an phận, triệt tiêu ý thức phấn
đấu của chị em. Đây là một thách thức khơng nhỏ, địi hỏi chị em phụ nữ phải vượt qua
những rào cản từ chính bản thân mình./.
Đề 3: Đồng chí hãy trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh và của Đảng ta về bình đẳng giới ?
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về BĐG:
Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và xuất hiện tình trạng áp bức, bóc lột, người
phụ nữ ln ở vị trí thấp kém nhất trong xã hội và là đối tượng bị áp bức nhất trong tất cả
những người bị áp bức. Do vậy, từ rất sớm, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã chỉ ra con
đường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện b/đẳng nam nữ.
Thứ nhất, về nguồn gốc dẫn tới sự bất bình đẳng giữa PN và NG
+ C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ nguồn gốc thấp kém của phụ nữ so với nam giới ở
trong gia đình và ngồi xã hội là đo sự bất bình đẳng về kinh tế đã dẫn tới sự thống trị của
đàn ông đối với đàn bà và bất bình đẳng giới nảy sinh. Ph.Ăngghen khẳng định: "Tình
trạng khơng bình quyền giữa đơi bên, do những qũan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng
ta, tuy nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh
tế”.
+ Cùng với nguyên nhân kinh tế, C.Mác vả Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ, truyền thống văn
hóa và xã hội (phong tục, tập quán lạc hậu) được sự cổ vũ mạnh mẽ của tôn giáo và sự
bảo vệ vững chắc của pháp luật tư sản cũng là nguồn gốc rất cơ bản dẫn tới bất bình đẳng
nam nữ, làm tăng thêm gánh nặng áp bức đối với phụ nữ. Ph.Ăngghen cho rằng: “Tính
ràng buộc vĩnh viễn của hơn nhân, thì một phần là kết quả của các điều kiện kinh tế, trong
đổ chế độ một vợ một chồng phát sinh, và phần nữa là một truyền thống của thời kỳ trong
đó mối liên hộ giữa những điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ một chồng còn chưa
được người ta hiểu một cách đúng đắn, và đã bị tôn giáo thổi phồng lên”, Các ông cũng
9


nhấn mạnh, chính bản thân người phụ nữ với sự cam chịu, nhẫn nhục, kém hiểu biét càng

làm cho sự bất bỉnh đẳng giới trở nên trầm kha trong xã hội tư bản.
- Thứ hai, về điều kiện giải phóng PN, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ
+ Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con đường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực
hiện bình đẳng giới trên thực tế - đó là con đường cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ nguồn
gốc tình tế mà từ đó đẻ ra mọi sự bất bình đẳng trong xã hội, bao gồm cả bất bình đẳng
giữa nam và nữ, trong đó chế độ sở hữu tư nhân phải được thay thế bằng sở hữu xã hội;
phải đưa phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào cơng việc xã hội. “Một sự bình đẳng thực
sự giữa PN và NG chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư
bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong GĐ đã trở thành một nền công
nghiệp XH”.
+ Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “...điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ là làm cho
tồn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đó lại địi hỏi phải cho
gia đình cá thể khơng cịn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa”. Đồng thời cần phải tổ
chức lại cách phân công lao động xã hội và gia đình theo hướng giảm nhẹ gánh nặng gia
đình cho phụ nữ bằng cách xã hội hỏa một phần công việc gia đình.
+ Luật pháp hóa mục tiêu bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa 2 giới: “…phải xác lập sự
bình đẳng XH thật sự giữa hai bên, cũng như phương thức xác lập sự bình đẳng ấy, chỉ bộc
lộ ra hoàn toàn rõ ràng một khi mà cả vợ chồng đều bình đẳng trước PL”.
+ Cũng như C.Mác và Ph.Ẫngghen, V.I.Lênin xem xét tình trạng phụ nữ bị áp bức,
bóc lột, tình trạng bất bình đẳng giới từ những nguyên nhân kinh tế, xã hội, văn hóa... sâu
xa của chúng. Cải tạo tồn xẫ hội nhằm giải phóng tất cả những người lao động bị áp bức,
bóc lột cũng là con đưịng giải phóng phụ nữ.
+ V.LLênin rất quan tâm đến địa vị, vai trị của người phụ nữ. Ơng khẳng định một
quan điểm chung rằng: “Địa vị của phụ nữ về mặt pháp lý là cái tiêu biểu nhất cho trình
độ văn minh”. V.I.Lênin cho rằng: Để xóa bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗ
lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội nhưng truớc hết và quyết định nhất là sự nỗ
lực của chính bản thân phụ nữ, “Việc giải phóng phụ nữ lao động... phải là việc của bản
thân phụ nữ lao động . Và nội đung đầu tiên phải thực hiện là: “Muốn để giải phóng phụ
nữ, muốn làm cho họ thật sự bình đẳng vói nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã
hội, phải để cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung. Như thế phụ nữ mới có địa vị

bình đẳng vói nam giới .
+ Theo V.I.Lênin, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ khơng chỉ ghi nhận trong văn
bản mà cịn phải thực hiện. Biện pháp hữu hiệu là mau chóng xóa bỏ khoảng cách giữa
“bình đẳng về mặt pháp luật” và “bình đẳng trong thực tế đời sống” cũng đã được
V.I.Lênin chỉ ra và qut tâm thực hiện khi ơng cịn sống và giữ cương vị lãnh đạo Đảng
và Nhà nưởc Xôviết. Biện pháp đó là: “phải làm sao cho nữ cơng nhân ngày càng tham gia
nhiều hơn nữa vào việc quản lý các xí nghiệp cơng cộng, vào việc quản lý nhà nước”. Với
việc thực hiện biện pháp này, V.I.Lênin hoàn tồn tin tưởng rằng: “Phụ nữ sẽ học tập
nhanh chóng và đuổi kịp được nam giới”.
+ Toàn bộ hệ thống quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin về phụ nữ, giải phóng phụ
nữ và thực hiện quyền b/đẳng nam nữ được xây dựng trên cơ sở của triết học mácxít. Đây là
phương pháp tiếp cận khoa học, đồng thời là cơ sở lý luận đế phát triển khoa học về giới,
hướng tới mục tiêu b/đẳng giới trong XH hiện nay.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nam nữ bình quyền và giải phóng PN:
10


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh ln coi việc giải phóng phụ nữ là một trong những
mục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp cách mạng. Năm 1952, giữa lúc cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp đang trong thời kỳ đầy khó khăn, thách thức, nhân Ngày Quốc
tế phụ nữ 8-3, Người đã viết bài Nam nữ bình quyền, nêu rõ thực chất cuộc đấu tranh giải
phóng phụ nữ ở Việt Nam: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anh
nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình
quyền, Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng trai khinh gái là một
thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình,
mọi tầng lớp xã hội... Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế,
vãn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, tùng gia đỉnh, đến toàn dân. Dù to và khó
nhưng nhất định thành cơng” .
Những tư tường cốt lõi về bình đẳng giới của Ghủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở một số
luận điểm sau:

Thứ nhất, phụ nữ là một nửa xã hội, muốn xây đựng chủ nghĩa xã hội phải giải
phóng phụ nữ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ln khẳng định vị trí, vai trị của phụ nữ đối với lịch sử dân
tộc: “Non sơng gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà
thêm tốt đẹp, rực rỡ”.
Người có những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đề giải phóng
phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong tương quan phát triển của xã hội mới,
của chủ nghĩa xã hội: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nm khơng giải phóng phụ nữ
thì khơng giải phỏng một nửa lọài người. Neu khơng giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ
nghĩa xã hội chỉ một nửa .
Thứ hai, giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là nhiệm vụ của Đảng,
Nhà nước và bản thân chị em phụ nữ.
Để thực hiện nam nữ bình quyền, Hồ Chí Minh nhắc nhở chị em: “Phải nâng cao tinh
thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát
triển chí khí tự cường, tự lập”, Ngưòi chỉ rõ cho cảc cấp úy đảng và chính quyền “phải có
phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ”. Người còn nổi,
nếu cần bộ lãnli đạo là nữ mà ít, đấy là một thiếu sót của Đảng. Nguyên nhân của tình
trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lý, theo Người là vỉ: “Nhiều người còn đánh
giá không đúng khả nâng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy lả rất sai”. Người
khẳng định, giải phóng phụ nữ phải bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể: “Từ
nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào
trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa”, “Đảng và
Chính pHủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ đế ngày
thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì
phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho
phụ nữ”.
Đối vói Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữ bình
đẳng đã trở thành lý tưởng cách mạng, vừa thể hiện ý thức chính trị, lịng nhân ái vừa thể
hiện giá trị văn hóa, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản của Người.
3. Quan điểm của ĐCS Việt Nam về BĐG:

Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Nam nữ bỉnh quyền” là
một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Điều này được ghi nhận trong
11


Cương lĩnh chỉnh trị của Đảng năm 1930. Cương lĩnh cững nêu rõ giải phổng phụ nữ phải
gắn với giải phóng dân tộc và giải phổng giai cấp.
Tư tưởng Hồ Ghí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nam nữ bình
quyền được thể hiện và ghi nhận tại Điều 9 Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946:
“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.
Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ban
Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 152-NQ/TW ngày 10-1-1967 về “một số
vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận” ehỉ rõ: “Tư tường phong kiến đối với phụ nữ
còn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ
nhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng nam khinh nữ”, chưa tin vào khả năng quản lý kinh té của
phụ nữ, chưa thấy hét những khó khăn trở ngại của phụ nữ...”.
Sau khi đất nước hồn tồn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, việc phát huy hơn nữa
vị trí, vai trị của các tầng lóp phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân
là yêu cầu, đòi hỏi lớn. Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 7-6-1984 của Ban Bí thư về “một số
vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ” chỉ rõ: “Nhiều cấp ủy đảng và lãnh đạo các
ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyểt của Đảng về công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ nữ.. còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng
với chị em..
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã cụ thể hóa quan điểm bình đẳng giới bằng những
nghị quyết và chỉ thị về công tác phụ nữ. Cụ thể là:
Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị về “đổi mới và tăng
cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”, mục tiêu nhằm phát huy mạnh mẽ
vai ừị của phụ nữ trong cơng cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ
có những bước tiến mới và tâng số lượng, chất lượng cán bộ nữ ừong hệ thống tổ chức
Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế, xã hội.

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trang ương Đảng về “một số
vấn đề cơng tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, trong đó Đảng ta xác định rô: “Nâng cao
tỷ lộ cán bộ nữ tham gia quàn lý nhà nước, tham gia quản lý kinh tế xã hội là yêu cầu quan
trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chù của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng,
trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thường
phụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ”.
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ: “Phấn
đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chuyên
môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; có
việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng
nhiều hơn cơng việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho
xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng
giói tiến bộ nhất của khu vực”.
Thông báo số 196-TB/TW ngày 16-3-2015 về kết luận của Ban Bí thư về Đề án “Tăng
cưịng sự lãnh đạo của Đảng đối với cơng tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ
trong tình hình mới” tiếp tục thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về công
tác phụ nữ và bình đẳng giới.
Quan điểm chỉ đạo về cơng tác bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt từ Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cho đén các kỳ Đại hội Đảng sau này. Văn kiện Đại
hội lần thứ XII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới, hồn thiện chính
12


sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng, khám, chữa bệnh,
binh đẳng giới. Thực hiện tốt chiến lược dân số, gia đình, chương trình hành động vì
trẻ em..., đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chi số phát triển con người, bảo đảm tống
tỷ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh...”.
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghị
quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe
nhân dân trong tình hình mới và Nghị quyết sổ 21-NQ/TW về cơng tác dân số trong

tình hình mới, trong đó cổ những quan điểm chỉ đạo và mục tiêu cụ thể để đạt được
các mục tiêu liên quan đến bình đẳng giới./.
Đề 4: Trình bày khung pháp luật và chính sách về bình đẳng giới ở VN hiện nay.
Theo đ/c để hồn thiện khung luật pháp và chính sách về BĐG, VN cần làm gì trong
thời gian tới ?
1. Một số văn băn quốc tế về quyền phụ nữ và bình đẳng giới mà VN đã ký kết và
tham gia
* Công ước về xỏa bỏ mọi hình thức phân biệt đổi xử với phụ nữ (CEDAW): là một
điều ước quốc tế với mục đích nhằm thơng qua các biện pháp cần thiết để xóa bỏ phân biệt
đối xử với phụ nữ dưới tất cả các hình thức và biểu hiện. Ba trụ cột chính của CEDAW là
bình đẳng thực chất, khơng phân biệt đối xử và nghĩa vụ quốc gia.
Tinh thần của Công ước: bảo đảm nhân cách, phẩm giá và các quyền cơ bản của con
người cũng như quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Công ước không chỉ giải thích
rõ ý nghĩa của bình đẳng mà cịn chỉ ra phương thức giành quyền bình đẳng đó.
VN ký tham gia Công ước vào ngày 29-7-1980, phê chuẩn vào ngày 27-11- 1981 và
bắt đầu có hiệu lực vào ngày 19-3-1982.
* Cương lĩnh hành động Bắc Kinh
Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ tồn cầu đến năm 2000 được thông qua
tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ IV được tổ chức tại Bắc Kinh (TQ) vào năm 1995
với sự tham gia của 189 quốc gia nhằm cam kết thực hiện các mối quan tâm và quyền lợi
của phụ nữ toàn thế giới vào cuối thế kỷ XX.
Cho đến nay, Cương lĩnh hành động vẫn là văn kiện toàn diện nhất về những vấn đề
liên quan đến phụ nữ mà thế giới từng chứng kiến và vẫn còn nguyên giá trị.
* Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) của LHQ: bao gồm 8 mục tiêu chung,
trong đó có hai mục tiêu liên quan trực tiếp đến bình đẳng giới và phụ nữ, đó là Mục tiêu 3
- Đảm bảo bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ và Mục tiêu 5 - Tăng
cường sức khỏe bà mẹ.
Đối với VN, báo cáo kết quả 15 năm thực hiện MDGs, "VN cơ bản hoàn thành cả 8
mục tiêu, về mục tiêu thứ 3, VN đã đạt được nhiều tiến bộ về bình đẳng giới, đặc biệt
trong lĩnh vực giáo dục, việc làm và các hoạt động chính trị”.

* Mục tiêu phát triển bền vững của LHQ
Năm 2015, chương trình Nghị sự toàn cầu về phát triển đến năm 2030 với 17 mục tiêu
phát triển bền vững (SDGs) như một lộ trình để chấm dứt đói nghèo, chống bất bình đẳng
và chống biến đổi khí hậu trong 15 năm tới. Bình đẳng và bình đẳng giới được đặt ra như
một ưu tiên lớn của SDGs. Vấn đề giới được lồng ghép vào tất cả các mục tiêu, trong đó,
có một mục tiêu riêng về bình đẳng giới (Mục tiêu 5): Đạt được hình đẳng giới và trao
13


quyền cho tất cà phụ nữ và trẻ em gái.
2. Luật pháp, chính sách quốc gia về bình đẳng giới
Hệ thống pháp luật của VN được đánh giá là tiến bộ theo xu hướng đảm bảo các quyền
con người và khơng phân biệt đối xử. Trong đó, Hiến pháp là văn bản pháp lý cao nhất,
quy định:
“1, Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
và cơ hội bình đẳng giới;
2, Nhà nước, XH và gia đình tạo đ/kiện để phụ nữ phát triển tồn diện, phát huy vai trị của
mình trong XH;
3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.
Đối với các luật, bộ luật liên quan đến các quy định đảm bảo quyền phụ nữ và bình
đẳng giới gồm 2 nhóm: Luật pháp và chính sách về bình đẳng giới; Luật pháp và chính
sách lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
2.1. Luật pháp và chính sách về bình đẳng giới
* Luật Bình đẳng giới năm 2006
Tháng 11-2006, Quốc hội đã thơng qua Luật Bình đẳng giới, thể hiện rõ sự cam kết
của VN trong thúc đẩy bình đẳng giới. Mục tiêu của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối
xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển KT - XH và phát triển
nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan
hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống XH và gia đình
Luật đã quy định về những nguyên tắc cơ bản của bình đẳng giới, trong đó khơng phân

biệt đối xử về giới là một nguyên tắc căn bản. Đảm bảo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
trong xây dựng và thực thi pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng lần đầu
tiên được đề cập trong Luật Bình đẳng giới.
* Luật Phịng, chống bạo lực gia đình năm 2007
Ngày 21/11/2007, Quốc hội nước ta khóa XII thơng qua Luật PCBLGĐ.
- Nội dung cơ bản của Luật quy định về: Phòng ngừa BLGĐ; Bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân
BLGĐ; Trách nhiệm của các cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong PCBLGĐ; Xử lý vi
phạm PL về PCBLGĐ và khiếu nại, tố cáo.
* Luật Hơn nhân và Gia đình năm 2014:
Ngày 19/6/2014, Quốc hội nước ta khóa XIII đã thơng qua Luật HN&GĐ (Sửa đổi)
- Ng/tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những ng/tắc cơ bản của Luật HN&GĐ trên
cơ sở ng/tắc nam nữ bình đẳng mà Hiến pháp đã quy định.
- Luật có một số điểm mới đáng chú ý như: không cấm kết hôn đồng giới; cho phép
mang thai hộ; cơng việc nội trợ coi như lao động có thu nhập…
* Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 là một trong những công
cụ quan trọng để đưa Luật BĐG vào cuộc sống. Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, về cơ
bản, bảo đảm BĐ thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các
l/vực chính trị, inh tế, văn hóa, xã hội, góp phần vào sự pt nhanh và bền vững của đất nước
* Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020: Ngày 210-2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1696/QĐ-TTg phê duyệt
Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu:
- Truyền thông nâng cao nh/thức, thay đổi h/vi về BĐG
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ ĐB dân cử các cấp, nữ CB q/lý, nữ LĐ các cấp,
nữ CB thuộc diện quy hoạch
14


- Nâng cao năng lực cho các cq tham mưu trong c/tác hoạch định, t/chức triển khai các
CS t/động trực tiếp đến c/tác CB nữ
- Khuyến khích các Bộ, ngành, địa phương và các t/chức xd, thực hiện các mô hình
tăng cường sự tham gia của PN và thúc đẩy BĐG trong những l/vực có nguy cơ bất BĐG

cao
* Chương trình hành động quốc gia về phịng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020:
Ngày 6-2-2014, Chính phủ ban hành Quyết định số 215/QĐ- TTg, phê duyệt “Chương
trình hành động quốc gia về phịng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020” nhằm tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia
đình, cộng đồng và tồn xã hội trong cơng tác phịng, chống bạo lực gia đình; qua đó, từng
bước ngăn chặn và giảm dần số vụ bạo lực gia đình trên phạm vi tồn quốc.
Các hoạt động và giải pháp cụ thể: Tăng cường sự l/đạo, chỉ đạo, kiểm tra của các cấp
ủy Đảng, c/quyền đối với c/tác PCBLGĐ. Nâng cao n/lực QLNN, hoàn thiện h/thống CS,
PL về PCBLGĐ
- Tăng cường hiệu quả của c/tác truyền thông, giáo dục, v/động nâng cao nhận thức về
PCBLGĐ
- Đẩy mạnh phòng ngừa BLGĐ và hỗ trợ nạn nhân BLGĐ
2.2. Luật pháp và chính sách có lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
* Bộ luật Lao động năm 2012:
Bộ luật Lao động được QH nước CHXHCN Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông
qua ngày 18/6/2012 nhằm thay thế Bộ luật Lao động cũ (đã qua 3 lần sửa đổi).
- Điều 4 quy định: “Bảo đảm nguyên tắc BĐG; quy định chế độ lao động và chính
sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao
tuổi, lao động chưa thành niên”
- Khoản 1, Điều 187 quy định: “Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng
bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu
khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”
- Khoản 3, Điều 187 quy định “Người lao động có trình độ chun mơn kỹ thuật cao,
người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở
tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định”
Bộ luật Lao động sửa đổi 2012 quy định về lao động là người giúp việc gia đình được
xem là một bước tiến trong việc bảo đảm quyền lợi của lao động nữ vì hầu hết lao động
giúp việc gia đình là PN.
* Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015: Luật Tổ chức Quốc

hội (2014), Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa
phương (2015) là những VB pháp lý mới nhất quy định về bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND.
Các quy định chung liên quan đến bầu cử như ng/tắc bầu cử, tuổi bầu cử và tuổi ứng cử,
tiêu chuẩn của người ứng cử… đảm bảo ng/tắc khơng có sự phân biệt đối xử về giới.
- Lần đầu tiên trong Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND (2015) đã quy định về tỷ lệ nữ
trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH và ĐBHĐND ít nhất là 35%.
* Luật Đất đai năm 2013: Luật Đất đai được QH nước CHXHCN Việt Nam khố XIII,
kỳ họp thứ 6 thơng qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014.
- Điều 4 Luật Đất đai quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
theo quy định của Luật này”.
15


Khoản 2 Điều 5 về người sử dụng đất gồm “hộ gia đình, cá nhân trong nước” -> Nhà
nước giao đất cho người sử dụng đất, trong đó có cho hộ gia đình, cá nhân, khơng phân
biệt nam hay nữ, chủ hộ là nam hay chủ hộ là nữ.
* Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Luật Ban hành VBQPPL
(2015) mở rộng phạm vi các văn bản PL cần lồng ghép v/đề BĐG đến NĐ của Cp, QĐ của
Thủ tướng Cp, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cq ngang Bộ để thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn do luật giao và để quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết của QH,
UBTVQH có chứa đựng các chính sách BĐG.
3. Giải pháp hồn thiện khung luật pháp và chính sách về BĐG: Để hồn thiện
khung luật pháp, và chính sách về BĐG, nước ta cầu phải:
- Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực k/tế: Nam, nữ bình
đẳng trong tham gia trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động SX, k/doanh,
quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và
nguồn l/động. Điều chỉnh Luật doanh nghiệp cho phù hợp với xu thế chung của đất nước
hiện nay.
- Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị:

Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; nam, nữ
bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức;
nam, nữ bình đẳng trong tham gia trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu
Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được và được giới thiệu ứng cử vào
cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; nam, nữ bình đẳng về tiêu
chuẩn chun mơn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo cơ
quan, tổ chức.
- Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa,
lao động, xã hội, dân sự: Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được
đối xử bình đẳng tại nơi làm việc; bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ
nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh; bình đẳng về độ
tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng; bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và cơng
nghệ; bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa, tiếp cận và sử dụng các nguồn thơng tin; bình
đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thơng về chăm sóc sức khỏe, sức khỏe
sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế,…
- Chế tài pháp luật bình đẳng giới nói riêng cần phải được bổ sung theo hướng
nghiêm khắc hơn: sự phân biệt đối xử với phụ nữ là những vi phạm pháp luật về quyền
bình đẳng của phụ nữ, do đó, người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về hành vi của
mình. Vì vậy, chế tài pháp luật nói chung và chế tài pháp luật bình đẳng giới nói riêng cần
phải được bổ sung theo hướng nghiêm khắc hơn, đa dạng hơn áp dụng đối với nhiều loại
chủ thể vi phạm như hiện nay.
+ Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm dân sự liên quan đến hành vi xâm phạm quyền bình
đẳng giới.
+ Sửa đổi, bổ sung trách nhiệm hành chính liên quan đến hành vi xâm phạm quyền
bình đẳng giới được quy định trong các điều khoản về hành vi xâm phạm và mức xử phạt
cụ thể.
+ Sửa đổi, bổ sung chế tài hình sự đối với tội xâm phạm quyền bình đẳng giới. Chế tài
hình sự áp dụng cho những người có hành vi vi phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự
16



xâm hại tới quyền bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ.
Bên cạnh đó, cần coi trọng việc phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về
quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng, khơng chỉ cho phụ nữ, mà cịn cho mọi cơng dân,
các cơng chức nhà nước, nhất là những người có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện
và bảo vệ pháp luật. Nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giới
trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Pháp luật về quyền bình đẳng giới khơng chỉ cần hồn
thiện, mà cịn địi hỏi phải được các chủ thể trong xã hội, gia đình nhất là các cơ quan, tổ
chức trong hệ thống chính trị nhận thức, quán triệt và thực hiện đầy đủ trong thực tế.
Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp mà trung tâm là Tòa án để xét xử
nghiêm minh, kịp thời các tranh chấp, các hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới; đào
tạo lại và cập nhật đối với các công chức tư pháp các quan điểm về bình đẳng giới trong
pháp luật và trong các hoạt động tư pháp; phát triển các tổ chức nghề nghiệp tư vấn, hỗ trợ
cho phụ nữ, nhằm tăng cường ở họ khả năng, năng lực chọn, tiếp cận và khả năng sử dụng
có hiệu quả các phương thức, cũng như các cơ quan, tổ chức để bảo vệ tốt nhất quyền và
tự do cơ bản của mình./.
Đề 5. Đồng chí hãy đánh giá thực trạng bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam.
Theo đồng chí cần hải làm để hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy thúc đẩy BĐG ở
Việt Nam hiện nay? Liên hệ vấn đề này ở tổ chức nơi đồng chí cơng tác ?
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều bước đột phá về nhận
thức và hành động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới. Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam là
điểm sáng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về BĐG. Để thực hiện Chiến
lược quốc gia về BĐG, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống các quan điểm chỉ
đạo, cũng như xây dựng hệ thống các chính sách, pháp luật và bộ máy thúc đẩy về BĐG.
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BĐG được ban hành, tiêu biểu như Luật
BĐG 2006, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật hơn nhân và gia đình năm 2014 và các
chiến lược, chương trình như Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020,
Chương trình hành động quốc gia về phịng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020…
Bên cạnh việc xây dựng các chính sách, pháp luật, Việt Nam đã chú trọng xây dựng, củng
cố bộ máy thúc đẩy BĐG bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới… Thực

trạng bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay như sau:
Dưới góc độ lập pháp, liên quan thúc đẩy BĐG có Ủy ban các vấn đề xã hội của
Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: (1) Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc
lĩnh vực bình đẳng giói do Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; (2) Thẩm tra
việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội; (3) Giám sát việc thực hiện luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc
lĩnh vực bình đẳng giới; (4) Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tố chức, hoạt động của
các cơ quan hữu quan và các chính sách, biện pháp để giải quyết các vấn đề bình đẳng
giới.
Dưới góc độ quản lý nhà nước liên quan thúc đẩy bình đẳng giới, có các cơ quan
như sau:
(1) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì thực hiện quản lý nhà
nước về bình đẳng giới trong phạm vi cả nước, trong đó Vụ Bình đẳng giới có nhiệm vụ
tham mưu trực tiếp cho lãnh đạo Bộ về xây dựng các chiến lược, chương trình, kế hoạch
17


dài hạn và hàng năm; xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp
luật về bỉnh đẳng giới; xây dựng các chính sách nhằm xổa bỏ phân biệt đối xử về giới
trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội như lao động, giáo đục, văn hóa, y tế, gia đình; theo dõi
và đánh giá các chiến lược liên quan đến giói; tổ chức các hoạt động khảo sát, truyền
thông và nâng cao nhận thức; xây dựng các báo cáo về bình đẳng giới.
Phối hợp với các bộ liên quan chịu trách nhiệm về việc triển khai thực hiện Luật BĐG,
xây dựng và triển khai các chiến lược, kế hoạch và chương trình khác hỗ trợ cho việc triển
khai Chiến lược quốc gia về BĐG ở cấp quốc gia.
Ở cấp tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm tham mưu cho
UBND tỉnh về công tác quản lý Nhà nước về bình đẳng giới.
(2) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước.

Trong đó, Vụ Gia đình thực hiện các nhiệm vụ: Hướng dẫn, tổ chức thực hiện chiến lược
phát triển gia đình Việt Nam; Hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về cơng tác
gia đình và phịng, chống bạo lực gia đỉnh; Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, cách
ứng xử trong gia đình; Xây dựng tiêu chí gia đình văn hóa.
- Một số bộ và cơ quan ngang bộ khác, trên cơ sở phối hợp với Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong phạm vi
bộ, ngành mình.
Ngồi ra có các cơ quan tham mưu, thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến vấn
đề bình đẳng giới như sau:
- Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ: Được thành lập năm 1993, là một cơ quan
liên ngành trực thuộc Chính phủ, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu,
phối hợp giải quyết những vấn đề liên ngành liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ trong
phạm vi cả nước. Theo Quyết định số 114/2008/QĐ-TTg ngày 22-8-2008 của Thủ tướng
Chinh phủ về kiện toàn Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, ủy ban có
những nhiệm vụ chính sau: 1) Nghiên cứu, đề xuất vái Thủ tưóng Chính phủ phương
hướng, giải pháp để giải quyét những vấn đề liên ngành liên quan đến sự tiến bộ của phụ
nữ; 2) Giúp Thủ tướng Chính phủ phối hợp giữẩ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ biến và
vận động nhân đân thực hiện chủ trương, chính sách của Đàng và pháp luật của Nhà nước
liên quan đến sự tiển bộ của phụ nữ; 3) Giúp Thủ tướng Chính phù đơn đốc các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương toong việc phối hợp thực hiện các mục tiêu quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ;
4) Báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ 6 tháng hoặc theo yêu cầu về tình hình hoạt
động của ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Dưới ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, một hệ thống các ban vì sự tiến bộ của
phụ nữ đã được thành lập ở 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan trực thuộc Chính phủ và
63 tỉnh, thành phố.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Là tổ chức đồn thể chính trị - xã hội được thành lập
năm 1930 nhằm vận động phụ nữ tham gia đấu tranh giành độc lập dân tộc. Điều 30 Luật
Binh đẳng giới quy định chức năng, nhiệm vụ của Hội như sau: Tham gia xây dựng chính

sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước về bình đẳng giới; tham gia giám sát việc thực
hiện pháp luật bình đẳng giới; tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viên thực
hiện bình đẳng giới; tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình
18


đẳng giới; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu
chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham
gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính ữị; thực hiện phản biện xã hội đối
với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Việt Nam cịn có những cơ quan nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ
có nhiệm vụ thúc đẩy bình đẳng giới. Các cơ quan, đơn vị này thông qua các hoạt động
nghiên cứu đã góp phần cung cấp cứ liệu cho việc hoạch định luật pháp, chính sách về
bình đẳng giới ở nước ta.
Nhìn chung, các cơ quan, tổ chức hoạt động về bình đẳng giới có vai trị quan trọng
trong việc xây dựng, hồn thiện các chính sách, pháp luật liên quan vấn đề bình đẳng giới;
ln đi đầu trongcông tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới
trong xã hội.
Tuy nhiên, hoạt động của bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta hiện nay vẫn
cịn nhiều khó khăn, hạn chế như sau:
- Việc giao nhiệm vụ quản lý nhà nước và sắp xếp tổ chức, bộ máy, bố trí cán bộ làm
cơng tác bình đẳng giới ở các bộ/ngành, địa phương vẫn cịn chậm so với u cầu cấp thiết
của cơng tác và cuộc sống. Cho đến nay, bộ máy các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ cấp tỉnh,
huyện vẫn chưa được hồn thiện và các bộ, ngành cịn lúng túng cả về mơ hình tổ chức
cũng như phương thức hoạt động. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về bình
đẳng giới cịn mỏng, chưa được đào tạo kiến thức, kỹ năng chuyên môn đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ được giao.
- Hiện nay đang thiếu số liệu tách theo giới để theo dõi, giám sát, đánh giá mức độ
bình đẳng giới và tiến bộ xã hội. Ví dụ: Tháng 3-2016, Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc

hội có Báo cáo đánh giá việc thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011-2015, trong đó mới chỉ có 4 trong số 22 chỉ tiêu được hoàn thành, một nửa trong số
các chỉ tiêu đó khơng thể đo lường được mức thay đổi do không thu thập được dữ liệu hay
do dữ liệu không phù hợp…, do vậy không thể lập kế hoạch với những giải pháp can thiệp
hiệu quả nhất cũng như sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả cho vấn đề bình đẳng giới.
- Hàng năm các bộ, ngành, địa phương mới chỉ dành một phần ngân sách với tỷ lệ rất
nhỏ phục vụ trực tiếp cho một số hoạt động liên quan đến vấn đề giới. Mặt khác, các văn
bản quy định về lập và phân bổ ngân sách khơng có u cầu về lồng ghép giới, cũng như
khơng có hướng dẫn về các khía cạnh giới cần được quan tâm. Ví dụ, hàng năm vào
khoảng tháng 5-6, Bộ Tài chính ban hành thơng tư hướng dẫn lập dự tốn ngân sách nhà
nước cho năm sau, trong đó nêu rõ các nhiệm vụ ưu tiên chi từ ngân sách, nhưng chưa cụ
thể hóa các u cầu của bình đẳng giới trong thu và chi ngân sách mà chỉ nêu ra yêu cầu
chung là căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội… Ngay cả Luật Bình đẳng
giới năm 2006 cũng khơng đề cập vấn đề ngân sách có tính đến yếu tố giới mà chỉ quy
định tài chính cho các hoạt động cụ thể và trực tiếp về bình đẳng giới.
- Có nhiều cơ quan cùng làm công tác liên quan đến vấn đề bình đẳng giới với sự phân
chia trách nhiệm khơng rõ ràng, gây chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, làm hạn chế hiệu
quả cơng tác bình đẳng giới. Cụ thể như: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách
nhiệm chung trong việc chủ trì triển khai Luật Bình đẳng giới, trong đó có vấn đề bạo lực
trên cơ sở giới thì Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng có trách nhiệm phối hợp với một
số bộ, cơ quan liên quan như Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Công an
19


và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc triển khai các chương trình và kế
hoạch về phịng, chống bạo lực gia đình.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng Chương trình hành động quốc gia
về phịng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số
215/QĐ-TTg ngày 6-2-2014 của Thủ tướng Chính phủ) thì Đề án quốc gia về phịng ngừa
và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giói giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030 (Quyết định số

1464/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 22-7-2016) lại giao cho Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì, phối hợp triển khai công tác nâng
cao nhận thức và xây dựng năng lực cho các bộ, ngành liên quan và xây dựng, triển khai
các mơ hình thí điểm về bình đẳng giới.
Để hoàn thiện và nâng cao năng lực bộ máy thúc đẩy BĐG ở Việt Nam hiện nay, xin
đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền nhất là phát huy vai trò của
người đứng đầu cơ quan, địa phương trong thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng
giới; bố trí, phân cơng cơng tác đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo đúng
quy định về bình đẳng giới. Cần phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu khi các chỉ
tiêu về bình đẳng giới tại các cơ quan, đơn vị và địa phương không đạt được.
Thứ hai, cần tiếp tục rà soát sắp xếp, tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của các cơ
quan làm nhiệm vụ liên quan đến vấn đề bình đẳng giới để giảm thiểu tình trạng phân tán
cũng như chồng chéo; có thể đổi tên “Ủy ban quốc gia về sự tiến bộ phụ nữ” thành “Ủy
ban quốc gia về bình đẳng giới”; đồng thời có thể giao nhiệm vụ tổng hợp các vấn đề về
BĐG cho Văn phòng Chính phủ thay vì để một bộ nào đó để bảo đảm bao quát nhất.
Thứ ba, thiết lập cơ chế phối hợp hoạt động chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan thúc
đẩy bình đẳng giới. Tăng cường vai trị, vị thế của các tổ chức xã hội trong thực thi chính
sách bình đẳng giới, đặc biệt là cơng tác tuyên truyền, tham gia hoạch định, điều chỉnh và
giám sát chính sách.
Thứ tư, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hànhcác văn bản chỉ đạo, văn bản cụ thể
hóa các chính sách, luật pháp của Trung ương về bình đẳng giới của các bộ, ban, ngành và
các cấp chính quyền địa phương. Quan tâm hơn nữa công tác đào tạo nâng cao năng lực
cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là đội ngũ nữ cán bộ tiềm năng và cán
bộ làm tham mưu cơng tác bình đẳng giới và năng lực nghiên cứu, soạn thảo, tổ chức thực
thi và giám sát chính sách về các vấn đề liên quan đến BĐG trong LĐ, QL cho các cấp hội
phụ nữ.
Thứ năm, bố trí kinh phí và các nguồn lực cụ thể đi kèm các văn bản chỉ đạo, văn bản
cụ thể hóa các chính sách, luật pháp của Trung ương về bình đẳng giới nhằm đảm bảo thực
hiện hiệu quả các chính sách bỉnh đẳng giới đã ban hành.

Liên hệ thực tiễn cơ quan, đơn vị công tác: tự liên hệ, với các nội dung chính như sau:
Kết quả đạt được:
- Việc triển khai các chính sách, pháp luật:
- Nhận thức của cán bộ, công chức cơ quan về BĐG…
- Công tác cán bộ liên quan đến giới:
- Thực hiện chế độ liên quan đến giới:
….
Hạn chế:
20


- Nhận thức:…..
- Khơng có cán bộ chun trách nên khó khăn triển khai…
- Tỷ lệ cán bộ nữ….
- Kinh phí….
….
Đề 6. Đồng chí hãy phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong thực thi
bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay. Liên hệ vấn đề này ở tổ
chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác?
Bài làm
Bình đẳng giới (BĐG) trong lãnh đạo, quản lý (LĐQL) có nghĩa là nam giới, nữ giới
có vị trí, vai trị ngang nhau trong cơng tác lãnh đạo, quản lý, được tạo điều kiện và cơ
hội phát huy năng lực của mình ngang nhau và được thụ hưởng kết quả bổ nhiệm vào
những vị trí lãnh đạo, quản lý chính thức trong hệ thống chính trị ngang nhau.
1. Thực trạng thực thi bình đẳng giới trong LĐQL ở Việt Nam hiện nay
- Thực trạng bình đẳng giới trong các cấp ủy đảng
Nghị quyểt số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về cơng tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa (hay NQ11) đã đưa ra chỉ tiêu cán bộ nữ trong các cấp ủy đảng:
“Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên”.
Tuy nhiên, sau đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 và đến cuối năm 2017, tỷ lệ cán

bộ nữ trong các cấp ủy đảng vẫn chưa đạt chỉ tiêu (cụ thể như tỷ lệ cấp ủy viên là nữ tại
Đảng bộ, chi bộ cơ sở; Đảng bộ cấp huyện, tương đương và Đảng bộ trực thuộc Trung
ương lần lượt là 19,69%; 14,3% và 13,3%).
Sau Đại hội Đảng toàn quốc nhiệm kỳ 2016-2021, kết quả cho thấy, trong BCH Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tỷ lệ nữ ủy viên là 20/200 chiếm 10% và Bộ Chính trị có 3
nữ ủy viên trong tổng số 19 ủy viên, chiếm gần 15,8%.
Như vậy, tỷ lệ nữ giới tham gia cấp ủy tại các cấp cơ sở, huyện, tỉnh và Trung ương mặc
dù có tăng hơn nhiệm kỳ trước, nhưng chưa đạt tỷ lệ 25% đề ra trong NQ11 và Chiến lược
quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 (hay CLQG).
- Thực trạng bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử
NQ11 đã đưa ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020 “nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân đân các cấp từ 35% đến 40%”. Tuy nhiên, kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa
XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 cho thấy vẫn chưa đạt được chi
tiêu đề ra (như tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, HĐND cấp tỉnh, huyện, xã lần lượt là 26,72%,
26,54%, 27,85%, 26,59%).
Như vậy mặc dù nhiệm kỳ 2016-2021 bắt đầu có sự tăng tỷ lệ nữ trở lại và cũng là
nhiệm kỳ có tỷ lệ nữ ứng cử viên sau vòng hiệp thương 3 cao nhất so với một số nhiệm kỳ
gần đây (đạt 38/79%). Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng theo quy định cụ thể tại Luật bầu cử
Quốc hội và Hội đồng nhân đân năm 2015 đã nêu phải bảo đảm có ít nhất 35% tổng số
người trong đanh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ nhưng
trong đợt bầu cử vừa qua có đến 23 địa phương chưa đảm bảo, thậm chí có địa phương
khơng có nữ tham gia.
- Thực trạng bình đẳng giới trong bộ máy hành chính nhà nước cấp TƯ và ĐP
CLQG đề ra chỉ tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020 đạt 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
21


quan thuộc Chính phù, ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ”. Tuy nhiên,
tính đến hết tháng 8/2017, tình hình thực hiện và đánh giá khả năng thực hiện đến năm
2020 sẽ khó có khả năng đạt được, cụ thể:

Đến tháng 8-2017, có 12/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ
cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt; cấp tỉnh có 16/63 địa phương có nữ lãnh
đạo chủ chốt chiếm tỷ lệ 25,39%;
Ở cấp huyện, một số địa phương có tỷ lệ nữ LĐQL cấp huyện cao từ 20% trở lên như:
Bình Dương (24,24%), Thành phố Hồ Chí Minh (22,45%), Ninh Binh (20,69%). Các tỉnh
Cà Mau, Bình Thuận, Bình Định khơng có nữ LĐQL ở cấp này.
Ở cấp xã, một số địa phương có tỷ lệ nữ LĐQL cao là Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm
32,18%), thành phố Đà Năng (25,79%), Bình Dương (25,40%), Đồng Nai (24,8%). Tuy
nhiên nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ LĐQL cấp xã dưới 5%, trong đó phần lớn là các
tỉnh, thành phố miền Bắc.
- Thực trạng bình đẳng giới trong LĐQL trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các
tể chức chính trị - xã hội
Theo NQ11: Phấn đấu đến năm 2020 “các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên,
nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ”.
Theo CLQG: “Phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% cơ quan Đảng, Nhà nước, tố chức
chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức cổ tỷ lệ 30% trở lên
nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”,
Tuy nhiên, việc thu thập số liệu chỉ tiêu này hiện đang gặp nhiều khó khăn, chưa có cơ
quan được giao chủ trì thực hiện thống kê số liệu về “cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở
lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”, do đó khơng thu thập được số liệu
này.
2. Những vấn đề đặt ra đổi với bình đẳng giới trong LĐQL ở VN
- Từ số liệu thực tiễn dã nêu tính đến cuối 2017 nổi lên một số vấn đề chung như:
+ Thứ nhất, chưa có chi tiêu nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị mà Đảng
và Nhà nước ta đặt ra đạt được cho đến sau Đại hội Đảng lần thứ XII và cuộc bầu cử đại
biếu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2016.
+ Thứ hai, chế tài xử lý đối với những đơn vị không tuân thủ nghiêm những quy định
của luật, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới trong lĩnh vực
chính trị chưa được thực hiện.
+ Thứ ba, thiếu hệ thống số liệu cập nhật về tình hình nữ giới tham gia LĐQL trong

bộ máy hành chính nhà nước và trong các cơ quan của Đảng, các tổ chức CT - XH.
- Những nhóm khó khăn ảnh hưởng đến q trình thực hiện bình đẳng giới trong lãnh
đạo, quản lỷ trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
* Nhóm những khó khăn liên quan đến khung luật pháp, chính sách về bình đẳng
giới trong lĩnh vực chính trị và cơng tác cán bộ
+ Thứ nhất, hệ thống chỉ tiêu về bình đẳng giói trong lĩnh vực chính trị ở nước ta chưa
tồn diện vì hiện nay chưa có các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ giới làm lãnh đạo cấp vụ và tương
đương, cấp phịng và tương đương trong bộ máy chính quyền nhà nước, các cơ quan của
Đảng vả các tổ chức chính trị-xã hội các cấp. Việt Nam cũng chưa có quy định về tỷ lệ nữ
giới trong các khâu của quá trình cán bộ từ tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển cán bộ để
đảm bảo đạt được tỷ lệ cán bộ nữ ở khâu bổ nhiệm cán bộ.
Hệ thống chỉ tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị chưa mang tính tồn diện dẫn
22


đến tình trạng khó giám sát việc thực hiện bình đẳng giới trong cắc khâu của quá trinh cán
bộ trong bộ máy hành chính nhà nước, cảc cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị - xã
hội.
+ Thứ hai, hệ thống chỉ tiêu về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam cịn
chưa cụ thể, có lúc những chỉ tiêu cịn mang tính định tính và không xác định được tỷ lệ phần
trăm.
+ Thứ ba, các vãn bản quy định hệ thống chi tiêu đôi khi cịn dùng những cụm từ
mềm, khơng mang tính bắt buộc, chưa tồn diện và cịn mang tính định tính dẫn đến một
số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa nhận thấy tầm quan trọng trong việc thực hiện
chỉ tiêu về bình đẳng giới hoặc thực hiện một cách chung chung, đối phó, điều này giải
thích được tại sao tỷ lệ nữ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị chưa đạt được chỉ tiêu
đã đặt ra.
+ Thứ tư, quy định khác nhau 5 năm về độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ tuy mang
tính bảo vệ, nhưng đồng thời lại gây ra bất lợi cho phụ nữ làm hạn ché quyền và cơ hội
công bằng trong việc tham gia và đóng góp vào cơng việc LĐQL xã hội.

+ Thứ năm, một số chính sách liên quan đến công tác cán bộ chưa nhạy cảm giới đang
gây ra những khó khăn, bất lợi cho nữ giới trong tiếp cận các cơ hội LĐQL như:
++ Về quy hoạch cán bộ, hiện nay các văn bản về quy hoạch cán bộ đang gây ra một
số khó khăn trong việc thực hiện bình đẳng giới như việc quy định chỉ tiêu cấp ủy nữ và
chỉ tiêu quy hoạch cấp ủy nữ hiện hành cịn thiếu tính khoa học, bởi vì muốn đạt tối thiểu
15% nữ cấp ủy thì quy định về chi tiêu quy hoạch cấp ủy nữ phải cao hơn con số 15% hay
như quy định về độ tuổi chênh lệch 5 năm giữa nam và nữ trong các văn bản hướng dẫn
về quy hoạch cán bộ là một bất lợi cho nữ giới, đặc biệt là đối với cán bộ nữ có mong
muốn được quy hoạch vào các vị trí LĐQL cao hơn khi thâm niên cơng tác của họ cao
hơn.
++ Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, quy định về độ tuổi cử đi học Cao cấp lý luận chính
trị tập trung chênh lệch 5 năm giữa nam và nữ đã giới hạn đối với nữ yêu cầu dưới 35 tuổi
trong khi đây là độ tuổi thường đang trong thời gian sinh nở và nuôi con nhỏ, làm giảm cơ
hội đào tạo tập trang để thăng tiến của nữ giới.
++ Về luân chuyển, đi thực tể, biệt phải đối với cán bộ nữ, hiện nay, các quy định về
luân chuyến cán bộ là giống nhau đối với cả cán bộ nam và cán bộ nữ. Tuy nhiên, vai trị
giới trong gia đình giữa nam và nữ là khác nhau. Việc quy định luân chuyển, biệt phái cán
bộ giống nhau giữa nam và nữ đang hạn chế điều kiện, cơ hội được tiếp cận và hoàn thành
nhiệm vụ luân chuyển, biệt phái cán bộ đối với nữ giới. Kết quả là, tỷ lệ luân chuyển của
công chức nữ ở cấp TƯ và ĐP tương ứng là 0,8 và 0,9 (lần) trong 5 năm và thấp hơn tỷ lộ
này ở nam công chức.
++ Về đánh giá cán bộ, định kiến giới và suy nghĩ chủ quan có lúc, có nơi vẫn cịn
tồn tại trong q trình đánh giá cán bộ.
++ Về bổ nhiệm cán bộ, hiện nay các tiêu chuẩn cụ thể cho các vị trí LĐQL là giống
nhau cho cả cán bộ nữ và nam, nhưng cơ hội được bổ nhiệm của cán bộ nữ bị hạn chế hơn
cán bộ nam do sự chênh lệnh 5 năm về độ tuổi quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ và ngoài ra
cịn có định kiến giới tồn tại trong thực tiễn bổ nhiệm cán bộ.
++ Công tác phát triển đảng viên cấp xã/phường đang gặp khỏ khăn. Về thực chất
đây là một khâu trong công tác tạo nguồn cán bộ LĐQL,tuy nhiên trên thực tế ở cấp xã
của một số tỉnh gặp khó khăn lớn mà nguyên nhânqua khao sát cho thấy nữ giới ít được

23


gia đình ủng hộ để tham gia hoạt động xã hội vì trợ cấp thấp và ảnh hưởng đến thời gian
chăm sóc gia đình.
* Nhóm khó khăn liên quan đến văn hóa, nhận thức về bình đẳng giới với phụ nữ
+ Thứ nhất, định kiến giới thể hiện ngay trong các giai đoạn của quá trình tuyển dụng
cán bộ hoặc quy hoạch cán bộ trên thực tế vẫn có xu hướng trọng nam giới vì tâm lý và
nhận thức sợ trách nhiệm của nữ trong việc mang thai, sinh nở và chăm sóc gia đình sẽ
khơng đảm nhiệm được cơng việc được tốt bằng nam giới.
+ Thứ hai, định kiến giới về vai trị trong gia đình cịn tồn tại khá phổ biến đang hạn
chế các cơ hội phát triển sự nghiệp và phát triển mạng lưới nghề nghiệp của nữ giới.
* Những khó khăn liên quan đến năng lực và việc thực hiện vai trò của các cấp ủy
đảng, các cấp chỉnh quyền, các cơ quan, tồ chức hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ
trong việc thúc đẩy bình đẳng giới trong chỉnh trị.
+ Thứ nhất, một số nơi cấp ủy đảng và chính quyền chưa phát huy hiệu quả vai trị
lãnh đạo, chỉ đạo trong cơng tác thực hiện bình đẳng giới mà biểu hiện cụ thể trong các
văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về thực hiện bình đẳng giới thiếu tính cụ thể và quyết liệt.
+ Thứ hai, do một số cấp ủy đảng và chính quyền chưa phát huy hết vai trị lãnh đạo,
chỉ đạo trong thể hiện ở việc chưa ý thức đầy đủ vai trò và tầm quan trọng của các cơ
quan, đơn vị hoạt động vì bình đẳng giới tại cơ quan, đơn vị dẫn đến tình trạng thiếu
nguồn nhân lực tài lực và không ổn định về tổ chức dẫn đến hiệu quả cơng tác hoạt động
thúc đẩy bình đẳng giới không ổn định và chưa cao.
+ Thứ ba, năng lực của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp và
sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong hệ thống chính trị về việc thực hiện bình
đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đơi lúc và một số nơi cịn hạn chế.
3. Liên hệ thực tiễn tại địa phương, đơn vị hoặc tỉnh của các đồng chí.
THAM KHẢO
Vĩnh Thạnh là huyện miền núi tỉnh Bình Định với 09 đơn vị hành chính (08 xã, 01 thị
trấn), trong đó phụ nữ chiếm trên 51%, lao động nữ chiếm gần 85%, sản xuất chính là

nơng nghiệp. Một số kết quả đạt được về triển khai bình đẳng giới thời gian qua như:
Cơng tác quy hoạch, đào tạo, thực hiện chính sách đối với cán bộ, CCVC: Phụ nữ
tham gia ngày càng nhiều vào đời sống chính trị, cụ thể
- Tỷ lệ nữ tham gia BCH Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 tại cấp huyện: 06/38
đồng chí, chiếm tỷ lệ 15,78% (tăng 7,21%), cấp xã: 20/133 đồng chí, đạt 15,03% (tăng
2,8%), các chi, Đảng bộ trực thuộc Huyện ủy: 15/80 đồng chí, đạt 18,75%.
- Tỷ lệ đại biểu HĐND cấp xã là 38/211, đạt 18,01% (giảm 0,91%), cấp huyện là
07/30 đại biểu, đạt 23,33% (tăng 13,33%);
Nữ cán bộ lãnh đạo (trưởng, phó) cấp huyện 22 đồng chí; cấp xã 32 đồng chí. Nữ cơng
chức trong cơ quan hành chính Nhà nước từ cấp xã đến cấp huyện chiếm 30%,
Trong lĩnh vực kinh tế, lao động: Ban vì sự tiến bộ phụ nữ phối hợp với Hội Liên hiệp
phụ nữ tổ chức dạy nghề ngắn hạn cho 55 hội viên; tư vấn nghề cho hơn 100 chị; tạo điều kiện
cho phụ nữ nghèo và cận nghèo, các đối tượng chính sách khác vay vốn phát triển kinh tế, tạo
việc làm tăng thu nhập, góp phần ổn định cuộc sống; tỷ lệ giảm nghèo đạt bình qn
05%/năm.
Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo: Cơng tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp
vụ, lý luận chính trị, phát triển đảng viên nữ, đề bạt cán bộ nữ tham gia công tác LĐQL ngày
càng được quan tâm. Theo đó, tỷ lệ cán bộ chuyên trách cấp xã, LĐQL cấp huyện là nữ đạt
24


chuẩn trên 90%; Tỷ lệ cán bộ giáo viên nữ đạt chuẩn 100%, vượt chuẩn 85%. Có 09/09 xã, thị
trấn trên địa bàn huyện đạt chuẩn xóa mù chữ và trì kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ
tuổi và chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Trong lĩnh vực gia đình
Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa , qua đó tình trạng phụ nữ bị bạo lực gia
đình giảm đáng kể và khơng xảy ra tình trạng bn bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn, phát
động nhiều phong trào góp phần tạo sự bình đẳng của phụ nữ trong đời sống gia đình như: học
tập 4 chuẩn mực đạo đức của phụ nữ Việt Nam “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”; xây
dựng gia đình theo tiêu chí “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”; thực hiện Đề án “Giáo

dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước”, Đề án
“Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt” đạt kết quả cao.
Đề 7: Đồng chí hãy trình bày những giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh
đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay? Trong tổ chức hoặc ngành nơi đồng chí cơng tác
cần chú ý tới những giải pháp nào để thúc đẩy bình đăng giới, nâng cao vai trị của
phụ nữ ?
Bài làm:
Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý có nghĩa là nam giới, nữ giới có vị trí, vai trị
ngang nhau trong cơng tác lãnh đạo, quản lý, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng
lực của mình ngang nhau và được thụ hưởng kết quả bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo,
quản lý chỉnh thức trong hệ thong chính trị ngang nhau.
Thúc đẩy sự tham gia lãnh đạo, quản lý của nữ giới trong hệ thống chính trị ở Việt
Nam phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Đảng và Nhà
nước ta đã thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ đối với cơng tác thúc đẩy bình đẳng giới
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua việc phê duyệt các Cơng ước quốc tế
liên quan đén bình đẳng giới như Cơng ước CEDAW. Cam kết chính trị của Đảng và Nhà
nước về bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý cũng được thể hiện trong các vãn bản pháp
luật cao nhất như Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Luật
Bình đẳng giới năm 2006, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
năm 2015.
Qua những thực trạng, khó khăn trở ngại cũng như thách thức khi riển khai các chủ
trương bình đẳng giới… khi triển khai thực tế cần có những giải pháp khắc phục cụ thể để
có thể thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay. Chúng ta hãy
xét qua bốn nhóm giải pháp sau hướng đến tháo gỡ các nhóm khó khăn đã vả đang kìm
hãm sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ trong hệ thổng chính trị ở nước ta hiện nay
bao gồm:
- Thứ nhất, nhóm các giải pháp liên quan đến khung luật pháp, chính sách thúc
đầy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay:
Một là, rà soát lại những chỉ tiêu về tỷ lệ nữ làm lãnh đạo, quản lý cịn đang mang tính
định tính và thiếu cụ thể trong Chiển lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020

và Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về cơng tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bổ sung những chỉ tiêu cụ thể, định lượng về tỷ lệ nữ
lãnh đạo, quản lý như đưa chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong các bộ, ngành,
ủy ban nhân dân, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cảc tổ chức chính trị, xã hội, bổ
25


×