TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
****************
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
(Học phần 2)
ĐỀ TÀI: Sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản độc quyền và
những ảnh hưởng đến Việt Nam trong tiến trình hội
nhập
ĐIỂM
NHẬN XÉT VÀ CHỮ KÝ CỦA GIẢNG VIÊN
Sinh viên thực hiện: Lại Thế Ngọc - 20176838
Lớp: 126374
Giảng viên hướng dẫn:TS.Ngô Quế Lân
TS.Phạm Yến Trang
Hà nội, tháng 08 năm 2021
Page | 1
Mục Lục
PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................4
1.Sự cần thiết của đề tài..............................................................................................4
2.Đối tượng nghiên cứu..............................................................................................4
3.Phạm vi nghiên cứu.................................................................................................4
4.Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................4
5.Giới thiệu nội dung nghiên cứu...............................................................................5
Chương 1: Lý luận của học thuyết kinh tế Mác-Lê nin về Chủ Nghĩa Tư Bản Độc
Quyền............................................................................................................................6
1.1. Quá trình phát triển từ thời kỳ Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đến thời kỳ
Chủ nghĩa tư bản độc quyền.......................................................................................6
1.2. Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền..........................................................6
1.2.1. Tích tụ tập trung sản xuất và sự hình thành độc quyền...............................6
1.2.2. Tư sản tài chính và bọn đầu sỏ....................................................................7
1.2.3. Xuất khẩu tư bản.........................................................................................7
1.2.4. Sự hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế và phân chia ảnh hưởng......7
1.2.5. Các cường quốc phân chia lãnh thổ thế giới...............................................7
1.3. Sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản độc quyền đến hình thái Chủ nghĩa tư bản
độc quyền Nhà nước...................................................................................................8
1.3.1.Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước(CNTBĐQNN):...............................8
1.3.1.1.Khái niệm:.............................................................................................8
1.3.1.2.Nguyên nhân ra đời của CNTBĐQNN:................................................8
1.3.1.3.Bản chất của CNTBĐQNN:..................................................................8
1.3.1.4.CNTB hiện đại có những biểu hiện mới................................................9
1.3.1.5.Những biểu hiện mới của CNTBĐQNN.............................................10
1.3.2.Xu hướng vận động của CNTB hiện đại....................................................11
Chương 2: Ảnh hưởng của Chủ nghĩa tư bản độc quyền đến sự hội nhập của Việt
Nam.............................................................................................................................13
2.1.Quá trình hội nhập của Việt Nam.......................................................................13
2.1.1. Hội nhập về kinh tế....................................................................................13
2.1.2.Hội nhập về chính trị..................................................................................15
2.1.3.Hội nhập về văn hố-xã hội........................................................................16
Chương 3: Một số khuyến nghị với tiến trình hội nhập của Việt Nam, trong bối cảnh
Chủ nghĩa tư bản độc quyền đang phổ biến trên toàn thế giới....................................17
3.1.Về mục tiêu của hội nhập quốc tế......................................................................17
Page | 2
3.1.1.Kinh tế........................................................................................................17
3.1.2.Chính trị......................................................................................................17
3.1.3.Văn hố-xã hội...........................................................................................17
3.2.Một số khuyến nghị............................................................................................18
PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................................19
Danh mục tài liệu tham khảo.......................................................................................20
Page | 3
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của đề tài
Quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam, thực tế là chúng ta đã tiến
hành cải tạo XHCN nhằm làm “trong sạch” ngay nền kinh tế một
cách vội vã theo hướng chỉ có tồn tại hai thành phần quốc doanh,
tập thể với loại hình sở hữu nhà nước và tập thể, cịn sở hữu tư nhân
gắn với thành phần kinh tế tư nhân bị coi thường, khơng cho phát
triển, thậm chí có lúc nóng vội địi xố bỏ ngay. Tình hình này tiếp
tục tái diễn sau ngày 30/4/1975, ở miền Nam nước ta sau khi được
giải phóng, cả nước thống nhất năm 1976. Chính vì thế việc sử dụng
các hình thức kinh tế quá độ của CNTBNN ở miền Bắc trước 1975, ở
miền Nam sau 1975 đến trước 1986 hầu như rất xem nhẹ, nếu như
khơng muốn nói là chúng ta khơng quan tâm cho phát triển. Hậu
quả là cùng với nhiều nguyên nhân khác nữa, kinh tế - xã hội Việt
Nam khi đó khơng thể phát triển được do lâm vào khủng hoảng và
lạm phát kéo dài vì nền sản xuất xã hội đình trệ trên tất cả các lĩnh
vực khác nhau.
Chỉ đến những năm sau đổi mới, kể từ Đại hội VI của Đảng ta (tháng
12/1986) cho đến nay, kinh tế nước ta mới thực sự khởi sắc dần với
những kết quả, thành tựu phát triển vượt bậc. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến sự phát triển này, song chắc chắn phải kể đến một
nguyên nhân quan trọng là chúng ta đã nhận thức lại đúng đắn hơn
về những nhiệm vụ, biện pháp, bước đi thích hợp cần phải tiến hành
mà trước hết về tư duy kinh tế là phải thừa nhận sự tồn tại khách
quan những đặc điểm vốn có của một nền kinh tế đang trong thời
kỳ quá độ tiến lên CNXH. Điều đó có nghĩa phải thừa nhận về mặt
biện pháp, chính sách kinh tế là phải vận dụng một cách đúng đắn,
sáng tạo về CNTBNN mà trước hết là thừa nhận sự tồn tại khách
quan của một nền kinh tế nhiều thành phần, bên cạnh các thành
phần XHCN cịn có cả các thành phần phi XHCN.
Mà để vận dụng tốt hơn về hình thức kinh tế đó, chúng ta cần
nghiên cứu thêm về nhiều hình thái phát triển khác nhau của CNTB,
mà trong đó có CNTB độc quyền. Chính q trình tìm hiểu đó, tơi đã
trình bày thành đề tài nghiên cứu “Sự phát triển của CNTB độc
quyền và những ảnh hưởng đến Việt Nam trong tiến trình hội
nhập”.
2.Đối tượng nghiên cứu
Page | 4
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài đó chính là CNTBĐQ và tác
động của nó đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.
3.Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề chủ nghĩa tư bản độc quyền là một vấn đề rộng. Trong
phạm vi của tiểu luận, bản thân chỉ nghiên cứu một số nột dung
chủ yếu về chủ nghĩa tư bản nói chung và chủ nghĩa tư bản độc
quyền nói riêng, cũng như đi sâu vào phân tích và nhận xét về
ảnh hưởng của CNTBĐQ đến Việt Nam.
4.Phương pháp nghiên cứu
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Leenin, Chính
sách của Nhà nước, của Đảng Cộng Sản Việt Nam là cơ sở
phương pháp luận định hướng nghiên cứu.
Ngoài các phương pháp luận, bài tiểu luận sử dụng các
phương pháp cụ thể, chú trọng phương pháp lịch sử kết hợp với
logic, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kế, khảo sát và tổng
kết thực tiễn,...
5.Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo nội
dung nghiên cứu được chia làm 3 chương.
Chương 1: Lý luận của học thuyết kinh tế Mác-Lê nin về Chủ Nghĩa Tư Bản
Độc Quyền
Chương 2: Ảnh hưởng của Chủ nghĩa tư bản độc quyền đến sự hội nhập của
Việt Nam
Chương 3: Một số khuyến nghị với tiến trình hội nhập của Việt Nam, trong bối
cảnh Chủ nghĩa tư bản độc quyền đang phổ biến trên toàn thế giới
Page | 5
Chương 1: Lý luận của học thuyết kinh tế MácLê nin về Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền
1.1. Quá trình phát triển từ thời kỳ Chủ nghĩa tư
bản tự do cạnh tranh đến thời kỳ Chủ nghĩa tư bản
độc quyền.
Chủ nghĩa tư bản là phương thức sản xuất được xác lập là tiến bộ và có nhiều ưu
điểm đã thay thế cho nền sản xuất phong kiến lỗi thời, lạc hậu. CNTB là một phương
thức sản xuất tất yếu khi có một nền đại cơng nghiệp cơ khí.
Phương thức sản xuất TBCN phát triển qua 2 giai đoạn:
-CNTB tự do cạnh tranh( Cuối TK 18 đầu TK 19). Trong thời kỳ tự
do cạnh tranh nhà tư bản đồng thời vừa là chủ sở hữu vừa là người
điều hành. Giữa các nhà tư bản có sự ganh đua đấu tranh gay gắt
nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá để thu lợi nhuận cao nhất.
-CNTB độc quyền( Từ cuối thế kỷ 19). Đây là hai giai đoạn của
cùng một phương thức sản xuất, cùng dựa trên quan hệ sản xuất
TBCN, chỉ khác nhau về trình độ xã hội hố của lực lượng sản xuất.
Trong giai đoạn này các doanh nghiệp độc quyền, những doanh
nghiệp do tập thể các nhà tư bản đầu tư, thống trị.1.
1.2. Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền
1.2.1. Tích tụ tập trung sản xuất và sự hình thành độc quyền
Cạnh tranh thúc đẩy tích tụ tập trung tự bản dẫn đến tập trung sản xuất, sản xuất
tập trung được biểu hiện là:
+ Số lượng công nhân trong các xí nghiệp quy mơ lớn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
lực lượng lao động xã hội, số lượng sản phẩm sản xuất ra trong các xí nghiệp qui mơ
lớn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩn xã hội.
+ Sản xuất tập trung vào một số xí nghiệp quy mơ lớn thì chúng có khuynh hướng
liên minh thỏa thuận với nhau, dẫn đến hình thành tổ chức độc quyền.
* Vậy: Tổ chức độc quyền là liên minh các xí nghiệp qui mô lớn nắm trong tay hầu
Page | 6
hết việc sản xuất và tiêu thụ một hoặc một số loại sản phẩm, chúng có thể quyết định
được giá cả độc quyền nhằm thu được lợi nhuận độc quyền cao.
- Quá trình hình thành của độc quyền diễn ra từ thấp đến cao, từ lưu thông đến sản
xuất và tái sản xuất, cụ thể:
+ Cácten là hình thức độc quyền trong lưu thơng ở trình độ thấp nó quyết định về mặt
hàng và giá cả.
+ Xanhdica là hình thức độc quyền trong lưu thơng ở trình độ cao hơn Cácten, nó
quyết định về mặt hàng , giá cả và thị phần
+ Tơ rơt là hình thức độc quyền sản xuất, nó quyết định ngành hàng, qui mơ đầu tư.
+ Congsoocion là hình thức độc quyền liên ngành tái sản xuất từ cung ứng vật tư sản xuất - tiêu thụ.
1.2.2. Tư sản tài chính và bọn đầu sỏ
- Sự hình thành độc quyền trong ngân hàng và vai trị mới của Ngân hàng: Cùng với
sự hình thành độc quyền trong cơng nghiệp thì trong ngân hàng cũng diễn ra cạnh
tranh quyết liệt, hàng loạt ngân hàng nhỏ bị các ngân hàng lớn thơn tính, một số ngân
hàng nhỏ tự nguyện sáp nhập lại thành ngân hàng lớn, một số ngân hàng lớn thì có xu
hướng liên minh, thỏa thuận với nhau hình thành độc quyền trong ngân hàng.
Khi độc quyền trong ngân hàng ra đời thì ngân hàng có một vai trò mới, thể hiện:
Giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp thâm nhập vào nhau thông qua chế độ
tham dự bằng việc mua cổ phiếu để các công ty cử người vào HĐQT của ngân hàng,
giám sát hoạt động của ngân hàng và ngược lại thì ngân hàng cử người vào HĐQT
của các công ty.
Sự dung nhập giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp bằng cách trên làm xuất
hiện một loại tư bản mới gọi là tư bản tài chính.
- Tư bản tài chính và đại diện cho nó là bọn đầu sỏ tài chính, chúng lũng đoạn cả về
kinh tế và chính trị:
+ Về kinh tế: Bằng cổ phiếu khống chế để nắm công ty mẹ, chi phối các công ty con,
các chi nhánh.
+ Về xã hội: Bằng sức ép tập đoàn để nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà
nước.
1.2.3. Xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu tư bản là đưa tư bản ra nước ngoài để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao:
- Trong giai đoạn cạnh tranh tự do, xuất khẩu tư bản chủ yếu là tư bản hàng hóa, tức
là đưa hàng ra nước ngồi để thực hiện giá trị.
- Trong giai đoạn độc quyền, xuất khẩu tư bản chủ yếu là tư bản hoạt động từ những
nước phát triển đến những nước đang phát triển hoặc kém phát triển ở những quốc
gia nhân công, nguyên liệu rẻ, hậu quả xuất khẩu tư bản là dẫn đến nền kinh tế phụ
thuộc, cạn kiệt tài nguyên.
1.2.4. Sự hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế và phân chia ảnh hưởng.
Xu hướng tịan cầu hóa diễn ra cạnh tranh quyết liệt, cạnh tranh giữa các quốc gia,
Page | 7
các tập đồn, dẫn đến hình thành các liên minh kinh tế quốc tế rất đa dạng (liên minh
về thương mại, thuế quan, sản xuất,…)
Các liên minh này phân chia nhau khu vực ảnh hưởng kinh tế.
1.2.5. Các cường quốc phân chia lãnh thổ thế giới.
- Do sự hoạt động của quy luật phát triển không đều trong giai đoạn độc quyền thì
một nước đang phát triển có thể đuổi kịp, vượt một nước đã phát triển.
- Sự phát triển không đều về kinh tế dẫn đến không đều về quân sự, chính trị làm thay
đổi tương quan lực lượng và đòi phân chia lại lãnh thổ thế giới dẫn đến xung đột
quân sự để chia lại lãnh thổ thế giới, đó là nguyên nhân dẫn đến 2 cuộc chiến tranh
thế giới.
Trong đó, đặc điểm đầu tiên : tích tụ Sản xuất là quan trọng nhất. Bởi đó chính là
ngun nhân hình thành và quyết định đến tính chất của CNTB độc quyền. Các đặc
điểm khác chỉ là hệ quả. Bởi có tập trung SX đến trình độ cao thì sẽ xuất hiện một số
doanh nghiệp quy mô lớn và do đó nếu cạnh tranh với nhau sẽ mang lại nhiều thiệt
hại, tất yếu họ bắt tay và thỏa hiệp với nhau, trên nguyên tắc cùng có lợi.
Đây là điểm mấu chốt, điểm đột biến chuyển đổi từ CNTB cạnh tranh sang CNTB
độc quyền
Lê nin đã nói :"Độc quyền phát sinh, là kết quả của sự tập trung SX, là một quy luật
phổ biến và cơ bản trong giai đoạn phát triển hiện nay của CNTB".
1.3. Sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản độc quyền
đến hình thái Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà
nước.
1.3.1.Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước(CNTBĐQNN):
CNTBĐQNN bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở các nước kinh
tế phát triển như Tây Âu đó là các nước: Đức, Ý,.. và CNTBĐQNN phát triển nhanh
chóng trở thành phổ biến từ sau đại chiến thế giới thứ II và là một đặc trưng cơ bản
của CNTB hiện đại.
1.3.1.1.Khái niệm:
CNTBĐQNN là sự kết hợp sức mạnh của Nhà nước tư bản thành một tư bản một
thiết chế thống nhất. Nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy
cho CNTB.
1.3.1.2.Nguyên nhân ra đời của CNTBĐQNN:
Sự ra đời của CNTBĐQNN bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hố và
trình độ cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất TBCN về tư liệu sản xuất,
được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: Do sự tích tụ và tập trung tư bản ngày càng lớn làm cho tích tụ tập trung
sản xuất ngày càng cao. Do đó là xuất hiện những cơ cấu sản xuất ngày càng lớn dẫn
đến xã hội hoá sản xuất ngày càng rộng địi hỏi phải có trung tâm điều tiết phối hợp
hành động. Đó chỉ có thể là Nhà nước.
Thứ hai: Do sự phân công lao động xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất nói
chung làm xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư nhân không thể hoặc
không muốn làm. Đặc biệt là các ngành kết cấu hạ tầng hoặc nghiên cứu cơ bản.
Page | 8
Thứ ba: CNTBĐQ làm mâu thuẫn thêm sâu sắc, đối kháng giữa giai cấp tư sản với
giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Để làm giảm mâu thuẫn đó Nhà nước phải
thực thi một số chính sách như: trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập, phúc lợi xã
hội…
Thứ tư: Với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế và bành chướng của các liên minh
độc quyền thế giới vấp phải hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột về lợi ích với các
đối thủ trên thị trường thế giới. Điều đó địi hỏi Nhà nước phải điều tiết các quan hệ
chính trị và kinh tế.
1.3.1.3.Bản chất của CNTBĐQNN:
CNTBĐQNN là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức
mạnh của các tổ chức Nhà nước tư bản thành một thiết chế và thể chế thống nhất
nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho CNTB.
CNTBĐQNN là nấc thang phát triển mới của CNTBĐQ(Chủ nghĩa đế quốc). Nó
là sự thống nhất của cả ba quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau: tăng sức mạnh của các
tổ chức độc quyền, tăng vai trò can thiệp của Nhà nước vào kinh tế, kết hợp sức mạnh
của độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước trong một thể chế thống nhất và
bộ máy nhà nước buộc vào các tổ chức độc quyền.
CNTBĐQNN là một quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội chứ khơng phải là một
chính sách trong giai đoạn độc quyền CNTB. Bất cứ nhà nước nào cũng có vai trị
kinh tế nhất định đối với xã hội mà nó thống trị, song ở mỗi chế độ xã hội, vai trò
kinh tế của Nhà nước có sự biến đổi thích hợp đến xã hội đó. Ngày nay vai trị của
nhà nước tư sản đã có sự biến đổi, khơng chỉ can thiệp vào nền sản xuất xã hội bằng
thuế, luật pháp mà còn có vai trị tổ chức và quản lý các xý nghiệp thuộc khu vực
kinh tế nhà nước. V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Bọn đầu sỏ tài chính dùng một mạng lưới
dày đặc những quan hệ lệ thuộc bao trùm hết thảy các thiết chế kinh tế và chính trị…
đó là biểu hiện rõ rệt nhất của sự độc quyền ấy”. Trong cơ cấu của CNTBĐQNN,
Nhà nước trở thành một tập thể tư bản khổng lồ. Như vậy CNTB đã chuyển sang một
giai đoạn mới với bản chất chính là CNTBĐQNN ra đời trong cách mạng khoa học
cơng nghệ.
1.3.1.4.CNTB hiện đại có những biểu hiện mới
*Sự kết hợp về nhân sự giữa tổ chức độc quyền và Nhà nước
V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh rằng sự liên minh các nhân của các ngân hàng với công
nghiệp được bổ sung bằng sự liên minh cá nhân của ngân hàng và cơng nghiệp với
chính phủ: “Hôm nay là bộ trưởng, ngày mai là chủ ngân hàng, hôm nay là chủ ngân
hàng ngày mai là bộ trưởng”.
Sự kết hợp về nhân sự thực hiện thông qua các đảng phái tư
sản. Chính các đảng phải này đã tạo ra cho tư bản độc quyền một
cơ sở xã hội được thực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội
ngũ công chức cho bộ máy nhà nước. Cùng với các đảng phái tư sản
là các hội chủ xí nghiệp mang những tên khác nhau ví dụ như: Hội
Cơng nghiệp tồn quốc Mỹ, Tổng liên đồn cơng nghiệp Italia,….
Các hội này trở thành lực lượng chính trị kinh tế to lớn, là chỗ dựa
cho CNTBĐQNN. Ngoài ra chúng còn lập ra các uỷ ban tư vấn bên
cạnh bộ nhằm “lái” hoạt động của Nhà nước theo chiến lược của
Page | 9
mình. Vai trị của các hội lớn đến mức mà dư luận thế giới đã gọi
chúng là những chính phủ đằng sau chính phủ, một quyền lực tế
đằng sau quyền lực của chính quyền. Thơng qua các hội chủ, một
mặt các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham gia vào bộ máy
nhà nước với những cương vị khác nhau, mặt khác các quan chức và
nhân viên chính phủ được cài vào các ban quản trị của tổ chức độc
quyền, giữ những chức vụ chủ yếu chính thức hoặc danh dự, hoặc
trở thành những người đỡ đầu các tổ chức độc quyền. Sự thâm nhập
lẫn nhau này tạo ra những biểu hiện mới trong mối quan hệ giữa
các tổ chức độc quyền và cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa
phương.
*Sự hình thành và phát triển sở hữu nhà nước.
Sở hữu độc quyền nhà nước là sở hữu tập thể của giai cấp tư
bản độc quyền ở nhiệm vụ ủng hộ và phục vụ lợi ích của tư bản độc
quyền nhằm duy trì sự tồn tại của CNTB. Nó biểu hiện khơng những
ở chỗ sở hữu nhà nước tăng lên mà còn ở sự tăng cường mối quan
hệ giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu độc quyền tư nhân, hai loại sở
hữu này đan kết với nhau trong q trình tuần hồn của tổng tư bản
xã hội.
Sở hữu Nhà nước không chỉ bao gồm những động sản và bất động
sản cần cho hoạt động của bộ máy Nhà nước mà gồm cả những
doanh nghiệp nhà nước trong công nghiệp và trong lĩnh vực kết cấu
hạ tầng kinh tế-xã hội.
Sở hữu Nhà nước được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau:
Xây dựng Doanh nghiệp Nhà nước bằng vốn của ngân sách, quốc
hữu hố các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại…
Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện các chức năng quan
trọng sau:
-Mở rộng sản xuất TBCN, bảo đảm địa bàn rộng lớn cho sự phát
triển CNTB.
-Giải phóng tư bản của tổ chức độc quyền từ những ngành ít lãi để
đưa vào những ngành kinh doanh có hiệu quả hơn
-Là chỗ dựa cho sự điều tiết kinh tế TBCN theo những chương trình
nhất định. Cùng với việc Nhà nước thực hiện kinh doanh thị trường
Nhà nước cũng hình thành. Sự tiêu thụ của Nhà nước được thực hiện
qua những đơn đặt hàng quân sự do ngân sách chi mỗi ngày một
tăng.
*Sự điều tiết kinh tế của nhà nước Tư sản
Một trong những hình thức biểu hiện quan trọng của CNTBĐQNN
là sự điều tiết quá trình kinh tế. Hệ thống điều tiết của Nhà nước Tư
sản hình thành một tổng thể những thiết chế và thể chế kinh tế của
Nhà nước. Sự điều tiết kinh tế của Nhà nước được thực hiện dưới
nhiều hình thức như: hướng dẫn, kiểm sốt, uốn nắn những lệch lạc
bằng các cơng cụ kinh tế và các cơng cụ hành chính pháp lý…
Page | 10
Các chính sách kinh tế của Nhà nước Tư sản là sự thể hiện rõ nét
nhất sự điều tiết kinh tế của CNTBĐQNN, chúng bao gồm nhiều lĩnh
vực như: Chính sách chống khủng hoảng chu kỳ, chống lạm phát về
tăng trưởng kinh tế, chính sách đối ngoại, chính sách xã hội. Các
công cụ chủ yếu của Nhà nước Tư sản để điều tiết kinh tế và thực
hiện các chính sách kinh tế như: Ngân sách, thuế, hệ thống tiền tệ
tín dụng,
Các Doanh nghiệp Nhà nước, kế hoạch hoá hay chương trình hố
kinh tế và các cơng cụ hành chính- pháp lý.
1.3.1.5.Những biểu hiện mới của CNTBĐQNN
*Đặc điểm nổi bật nhất, quan trọng nhất của những biến đổi
của CNTB sau chiến tranh thế giới thứ II là sự phát triển chưa từng
có và rộng khắp của CNTBĐQNN biểu hiện chủ yếu là:
-Tỉ trọng kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế TBCN tăng lên rõ rệt
-Sự kết hợp kinh tế Nhà nước và kinh tế Tư nhân tăng lên rõ rệt.
Trong năm 1979, trong 40 công ty công nghiệp lớn nhất Tây Âu có 7
Cơng ty hỗn hợp vốn giữa vốn nhà nước và tư nhân. Trong đó vốn
nhà nước chiếm một nửa.
-Chi tiêu tài chính của các Nhà nước Tư bản phát triển dùng để điều
tiết quá trình tái sản xuất xã hội tăng.
*Sự điều tiết kinh tế của Nhà nước Tư sản có những biểu hiện
mới:
-Mục tiêu của sự điều tiết kinh tế của Nhà nước Tư bản độc quyền
nhằm khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường TBCN, định
hướng cho sự phát triển kinh tế-xã hội nhằm tăng trưởng kinh tế,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của CNTB.
-Để điều kiện kinh tế, Nhà nước Tư bản độc quyền đã tổ chức bộ
máy điều tiết. Bộ máy gồm có cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp và về mặt nhân sự có sự tham gia của những đại biểu tập
đoàn lớn và các quan chức Nhà nước.
Cơ chế điều tiết của CNTBĐQNN là:
-Hạn chế sự quan liêu hoá Nhà nước bằng cách xem xét lại hệ thống
luật kinh tế, đơn giản hoá các thủ tục hành chính và xây dựng các
đạo luật mới thích hợp với cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước.
-Xác định lại sự trợ cấp của Nhà nước đối với một số ngành, một số
xí nghiệp.
-Thực hiện tư nhân hoá khu vực kinh tế Nhà nước nhằm tăng năng
lực cạnh tranh của các Doanh nghiệp và khắc phục sự hoạt động
kém hiệu quả của các Doanh nghiệp Nhà nước.
-Nơi lỏng sự điều tiết của Nhà nước, xoá bỏ những quy định của Nhà
nước có thể dẫn đến hạn chế sự cạnh tranh của thị trường.
-Xác định lại các thứ tự ưu tiên trong chính sách kinh tế.
Page | 11
-Tăng cường sự phối hợp chính sách kinh tế giữa các nước trong lĩnh
vực có tầm quan trọng đối với sự ổn định tình hình kinh tế-xã hội.
Nổi bật hơn trong những biểu hiện mới của CNTBĐQNN là việc
thực hiện các chính sách xã hội. Phương thức điều tiết của Nhà nước
linh hoạt hơn, mềm dẻo hơn, phạm vi rộng hơn:
-Điều tiết bằng chương trình và kế hoạch.
-Điều tiết cơ cấu kinh tế bằng quan hệ thị trường thông qua hợp
đồng, đồng thời hỗ trợ các ngành truyền thống cần được tiếp tục
duy trì và những ngành mũi nhọn, cơng nghệ cao.
-Điều tiết tiến bộ khoa học và công nghệ bằng tăng chi ngân sách
cho R và D, đề xuất các hướng ưu tiên phát triển công nghệ, tài trợ
cho nghiên cứu ứng dụng của các Công ty tư nhân.
-Điều tiết thị trường lao động bằng cách đào tạo và đào tạo lại,
khuyến khích phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ…
-Điều tiết thị trường tài chính, tiền tệ, chống lạm phát điều tiết giá.
-Điều tiết các quan hệ kinh tế đối ngoại, hệ thống tài chính, tiền tệ
quốc tế.
1.3.2.Xu hướng vận động của CNTB hiện đại
Khi phân tích sự vận động của CNTB, Lênin đã chỉ ra rằng: CNTB
đến giai đoạn độc quyền, nền kinh tế của nó vận động theo hai xu
hướng: Sự phát triển nhanh chóng song song với trì trệ thối nát.
Ngày nay, hai xu hướng đó vẫn tác động trong nền kinh tế Tư bản
chủ nghĩa. Xu thế phát triển nhanh chóng của Chủ Nghĩa Tư Bản
biểu hiện rõ rệt từ trong giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ II
đến nay, đặc biệt là vào những năm 1950 và 1960 của thế kỷ XX với
tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, năng suất chất lượng hiệu
quả tăng rõ rệt. Sự phát triển đó là do tác động của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ, sự điều tiết kinh tế của CNTBĐQNN, sự bành
chướng của các Công ty xuyên quốc gia và sự kích thích do cuộc
chạy đua giữa hai hệ thống kinh tế thế giới.
Xu thế trì trệ biểu hiện ở chỗ nền kinh tế Chủ Nghĩa Tư bản tăng
trưởng chậm so với tiềm năng to lớn của khoa học công nghệ cho
phép(Ví dụ hiệu xuất sử dụng thiết bị mát móc chỉ đạt 60->70%),
thất nghiệp cao gây nên sự lãng phí về nguồn lực, quân sự hoá nền
kinh tế.
Sự tồn tại song song của hai xu thế trong Chủ Nghĩa Tư Bản
hiện đại một mặt nói lên rằng CNTB hiện đại vẫn cịn sức sống,
quan hệ sản xuất TBCN cịn có thể tự điều chỉnh và trong giới hạn
nhất định nó cịn có thể thích ứng với nhu cầu phát triển của lực
lượng sản xuất và thúc đẩy xã hội Tư bản phát triển. Song mặt khác
cũng nói lên rằng Chủ nghĩa tư bản đang vấp phải những giới hạn
nhất định, mâu thuẫn cơ bản của CNTB vẫn tồn tại và vận động. Đó
là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Tư Bản
Chủ Nghĩa quyết định sự thay thế phương thức sản xuất Tư Bản Chủ
Page | 12
Nghĩa bằng phương thức sản xuất cao hơn, tiến bộ hơn. Đó là xu
hướng vận động của lịch sử mang tính tất yếu.
Chủ Nghĩa Tư Bản hiện đại đang thực hiện qáu trình đổi mới cải
cách để thích nghi với điều kiện lịch sử mới do sự tác động của cách
mạng khoa học công nghệ. Tuy vậy CNTB vẫn không tránh khỏi
những giới hạn và mâu thuẫn. CNTB thể hiện tính tiến bộ hơn so với
phương thức sản xuất trước đó song lại trở thành lỗi thời, do đó cần
thay thế bằng xã hội tiến bộ hơn.
Chương 2: Ảnh hưởng của Chủ nghĩa tư bản
độc quyền đến sự hội nhập của Việt Nam
Page | 13
2.1.Quá trình hội nhập của Việt Nam
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chỉ thực sự được đẩy
mạnh kể từ khi Việt Nam tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm
1986 cùng với việc bắt đầu công cuộc Đổi mới đất nước.
Trong gần 30 năm đổi mới, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
về hội nhập quốc tế đã trải qua một q trình cụ thể hóa và hồn thiện. Từ đó đã
đạt được các thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hố,.. Bên cạnh
đó cũng bộc lộ những mặt hạn chế.
2.1.1. Hội nhập về kinh tế
Nghị quyết số 22/NQ-TW về hội nhập quốc tế khẳng định: “Hội nhập kinh
tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập
kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo
đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy
phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng
bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp
với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước”.
Quan điểm này khẳng định vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế trong tiến
trình hội nhập chung của đất nước, như trong kết luận của Thủ Tướng Chính
phủ tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 08 của Ban Chấp hành
Trung ương đã nêu rõ: “Hội nhập kinh tế quốc tế cần được đặt trong mối quan
hệ hài hòa với hội nhập trong các lĩnh vực khác nhưng hội nhập kinh tế quốc tế
phải là trọng tâm, là nội dung chính, quan trọng nhất của tiến trình hội nhập. Hội
nhập kinh tế quốc tế cần đi trước một bước để tạo cơ sở, thúc đẩy hội nhập và
hợp tác trong các lĩnh vực khác”.
Về mối quan hệ của hội nhập quốc tế với các lĩnh vực hội nhập khác: ‘Hội
nhập kinh tế phải là trọng tâm, các lĩnh vực khác phải tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế”.
Thành tựu
Hiện nay, phạm vi đối tác FTA của Việt Nam đã khá rộng và toàn diện, trong 3 5 năm tới sẽ chạm đến các dấu mốc quan trọng của nhiều Hiệp định và dần tiến đến
tự do hóa thuế quan hầu hết các mặt hàng nhập khẩu với các đối tác thương mại
chính. Ngồi ra, việc ký kết 2 Hiệp định và tuyên bố kết thúc 2 Hiệp định quan trọng
TPP và Việt Nam - EU sẽ tác động đáng kể đến nền kinh tế của Việt Nam trong giai
đoạn tới. Cụ thể:
Đối với xuất, nhập khẩu: Quá trình thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan
trong hội nhập kinh tế quốc tế, hoàn thiện hệ thống quản lý hải quan theo tiêu chuẩn
quốc tế và cắt giảm hàng rào thuế quan đã tạo ra tác động tích cực đến hoạt động xuất
nhập khẩu của Việt Nam.
Cơ hội lớn nhất là mở rộng thị trường nhờ cắt giảm thuế và dỡ bỏ rào cản
thương mại để tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Kết quả
cho thấy, nếu như năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam là 111,3
tỷ USD (trong đó xuất khẩu là 48,5 tỷ USD và nhập khẩu là 62,7 tỷ USD), thì tới năm
2015 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng khoảng 3 lần đạt 328 tỷ
USD (trong đó nhập khẩu là 165,6 tỷ USD và xuất khẩu là 162,4 tỷ USD). Đến năm
Page | 14
2018, tổng kim ngạch xuất nhập đạt 480,17 tỷ USD lập kỉ lục về kim ngạch xuất nhập
khẩu. Cán cân thương mại của Việt Nam năm 2018 đạt thặng dư 6,8 tỷ USD, cao gấp
3,2 lần mức thặng dự năm 2017 (trong đó xuất khẩu đạt 243,48 tỷ USD, nhập khẩu
đạt 236,69 tỷ USD, tăng 11,1% (Theo vneconomy.vn).
Đối với chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu: Hội nhập kinh tế quốc tế
đã thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hóa
xuất khẩu theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương cơng nghiệp hóa theo hướng
hiện đại, theo đó tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và
hàm lượng cơng nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.
Năm 2015, tỷ trọng xuất khẩu các nhóm hàng sản phẩm dệt may, giày dép, nơng
sản có xu hướng giảm xuống trong khi đó tỷ trọng của các nhóm sản phẩm như máy
vi tính, linh kiện điện tử, điện thoại tăng lên, chiếm tới 27,7% tổng giá trị kim ngạch
hàng hóa xuất khẩu.
Đối với thu hút FDI: Cùng với việc cải thiện môi trường đầu tư, hội nhập
kinh tế quốc tế đã và sẽ mở ra các cơ hội lớn đối với lĩnh vực đầu tư của Việt
Nam. Đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư có thể tiếp cận và hưởng ưu đãi thuế
quan từ các thị trường lớn mà Việt Nam đã ký kết FTA như khu vực ASEAN,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ...
Khơng chỉ là nguồn lực quan trọng góp phần đẩy nhanh sự phát triển của nền
kinh tế, bổ sung nguồn vốn đáng kể cho tăng trưởng, chuyển giao công nghệ, tăng
cường khả năng xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm, FDI cịn có vai trị quan trọng
trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.
Đối với thu ngân sách nhà nước: Lộ trình cắt giảm thuế trong các FTA sẽ
dẫn tới giảm nguồn thu NSNN đối với hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, tác động
của việc giảm thuế đối với tổng thu NSNN về cơ bản là không lớn.
Hạn chế và thách thức
Xét về tổng thể, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đem lại
nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và nền kinh tế của Việt Nam. Tuy
nhiên, với 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động là doanh
nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, áp lực cạnh tranh đối với nền kinh tế Việt
Nam là rất lớn. Trong đó:
Đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu: Dù hàng rào thuế quan được dỡ
bỏ, song việc có tận dụng được các ưu đãi về thuế quan để mở rộng
thị trường hay không lại phụ thuộc vào việc đáp ứng các yêu cầu về
quy tắc xuất xứ cũng như các yêu cầu khác (an toàn thực phẩm, vệ
sinh dịch tễ...). Với năng lực tự sản xuất và cung ứng nguyên phụ
liệu còn hạn chế, thì những yêu cầu về quy tắc xuất xứ hàng hóa lại
đang đặt ra thách thức và mối lo ngại cho các doanh nghiệp Việt
Nam.
Đối với sản xuất trong nước: Việc tự do hóa thuế nhập khẩu sẽ
dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng nhập khẩu từ các
nước, đặc biệt là từ các nước TPP, EU vào Việt Nam do giá thành rẻ
hơn, chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ tác động
đến lĩnh vực sản xuất trong nước.
Page | 15
Ngoài ra, khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ nhưng các hàng
rào kỹ thuật không hiệu quả, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu
thụ các sản phẩm chất lượng kém, ảnh hưởng tới sức khỏe người
tiêu dùng trong khi lại không bảo vệ được sản xuất trong nước.
Đặc biệt, sản phẩm nông nghiệp và các doanh nghiệp, nông dân
Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt, trong khi đó hàng hóa
nơng sản và nơng dân là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất
trong hội nhập.
2.1.2.Hội nhập về chính trị.
Hội nhập về chính trị là q trình các nước tham gia vào các cơ
chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi
những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi
chung. Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các
nước, trong đó họ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (tư tưởng
chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và đặc biệt là
quyền lực. Một quốc gia có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế
thơng qua ký hiệp ước với một hay một số quốc gia khác trên cơ sở
thiết lập các mối liên kết quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh hay
đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (chẳng
hạn như ASEAN, EU) hay một tổ chức có quy mơ tồn cầu (chẳng
hạn như Liên Hiệp quốc).
Thành tựu
Hội nhập chính trị có sự trưởng thành rõ rệt. Tại các diễn đàn quốc tế và khu
vực như Liên Hợp quốc, Phong trào Không liên kết, ASEAN, ARF, ASEM, Cộng
đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp..., Việt Nam đã phối hợp với nhiều nước, trước
hết là các nước đang phát triển đấu tranh bảo vệ hồ bình, bảo vệ các nguyên tắc cơ
bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc. Việt Nam đã được bầu vào
Hội đồng chấp hành Tổ chức Kinh tế - Xã hội, trở thành uỷ viên hội đồng điều hành
của nhiều tổ chức quan trọng trực thuộc Liên Hợp quốc như UNDP, UNFPA,
UNICEF, Uỷ ban Giải trừ quân bị. Đặc biệt, thành tựu ấn tượng nhất trên lĩnh vực
ngoại giao đa phương là việc Việt Nam được bầu làm uỷ viên không thường trực Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 với số phiếu áp đảo, đánh dấu quá
trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã trở nên sâu rộng. Nếu việc tham gia Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) mở đầu sự hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế quốc tế, thì
khi trở thành thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã bắt đầu hội
nhập đầy đủ vào đời sống chính trị quốc tế. Với vị thế và trọng trách này, Việt Nam
không chỉ vươn lên tầm cao trong quan hệ đối ngoại ngoại, mà cịn có tiếng nói quan
trọng tại Liên Hợp quốc - diễn đàn quốc tế đa phương lớn nhất trên hành tinh. Thơng
qua đó, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia giải quyết những vấn đề chính trịxã hội, an ninh quốc tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời đóng góp tích
cực hơn và nhiều hơn trong nỗ lực duy trì hồ bình, ổn định và phát triển trên thế
giới.
Hạn chế và thách thức
Page | 16
Mối quan hệ giữa chính trị, đối ngoại trong một số trường hợp cụ thể chưa gắn
kết thật mật thiết với nhau. Sau thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại, chưa có nhiều
bước đột phá mới nhằm khai thác tốt nhất quan hệ lợi ích đan xen tuỳ thuộc lẫn nhau
giữa các nước, nhất là với một số nước lớn có liên quan đến lợi ích chiến lược của
nước ta.
Tiến trình hội nhập chính trị ở nước ta cũng đang đối diện trước thách thức của
một số nguy cơ đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, sự lựa chọn định hướng
chính trị, vai trị của nhà nước... Hội nhập quốc tế đối với nước ta rõ ràng không thể
tách rời cuộc đấu tranh chống "diễn biến hồ bình" của các thế lực thù địch trên nhiều
lĩnh vực.
2.1.3.Hội nhập về văn hoá-xã hội
Thành tựu
Hợp tác quốc tế về văn hóa được đẩy mạnh, góp phần tăng
cường quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa và con người Việt Nam
ra thế giới, tạo nên “sức mạnh mềm” cho đất nước. Giao lưu văn
hóa với nước ngồi ngày càng được mở rộng cùng với q trình đa
phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế của Nhà nước ta,
góp phần tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, quảng bá
cho hình ảnh đất nước, con người, văn hóa nghệ thuật Việt Nam đến
với bạn bè thế giới.
Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện là tiền đề
góp phần thúc đẩy việc hình thành thị trường tiêu dùng văn hóa với
nhu cầu ngày càng lớn. Văn hóa, từ một lĩnh vực bị xem là chủ yếu
mang nặng yếu tố tuyên truyền đang dần trở thành một lĩnh vực có
giá trị kinh tế, mang lại lợi nhuận cho xã hội. Đặc biệt, hoạt động du
lịch được đẩy mạnh, trong đó tiềm năng văn hóa được khai thác và
tạo ra sức hấp dẫn cho du lịch Việt Nam, đóng góp vào tăng trưởng
kinh tế, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân địa phương.
Nhiều phong trào, cuộc vận động văn hóa được thực hiện và có
những thành tựu nhất định, góp phần tạo mơi trường văn hóa, bảo
vệ và phát huy những giá trị nhân văn truyền thống tốt đẹp của dân
tộc. Nhiều giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống được tơn vinh, tính
năng động sáng tạo, tự chủ và tính tích cực xã hội của người dân
được phát huy, mở rộng.
Hạn chế và thách thức
Hội nhập quốc tế đặt ra những vấn đề mới về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn
bản sắc văn hố và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Về an ninh quốc gia, các nguy
cơ đe doạ an ninh ngày càng phức tạp hơn, bên cạnh các hiểm hoạ mang tính truyền
thống, đã xuất hiện các nguy cơ phi truyền thống (an ninh môi trường, dịch bệnh,
khủng bố...). Về văn hoá, hội nhập quốc tế đặt nước ta trước nguy cơ bị các giá trị
ngoại lai, nhất là các giá trị văn hoá phương Tây xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản
sắc văn hoá dân tộc.
Page | 17
Chương 3: Một số khuyến nghị với tiến trình
hội nhập của Việt Nam, trong bối cảnh Chủ
nghĩa tư bản độc quyền đang phổ biến trên
toàn thế giới.
3.1.Về mục tiêu của hội nhập quốc tế
3.1.1.Kinh tế
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên
ngoài (ngoại lực) phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực kinh tế, Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị
nêu rõ mục tiêu: “mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản
lý để đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, thực hiện dân
giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh”. Q trình hội nhập quốc tế
trước hết là đáp ứng lợi ích phát triển của đất nước; mặt khác thơng qua đó phát huy
vai trị của nước ta trong q trình hợp tác và phát triển khu vực và thế giới, đóng góp
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hồ bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội.
3.1.2.Chính trị
Xuất phát từ mục tiêu và lợi ích của hội nhập quốc tế, Đảng ta đề ra tư tưởng
chỉ đạo đối ngoại nói chung và hội nhập quốc tế nói riêng. Theo đó, trong hội nhập
quốc tế phải giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội
(CNXH), đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và
khu vực, phù hợp với từng đối tượng mà Việt Nam có quan hệ. Đây chính là sự kế
thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định về
nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo, linh hoạt về sách lược trong tư tưởng Hồ Chí
Minh đối với việc xử lý các vấn đề quốc tế của nước trong quá trình hội nhập. Quán
triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Việt Nam chú trọng mở rộng quan hệ quốc tế
Page | 18
cả song phương và đa phương nhưng có nguyên tắc, mà nguyên tắc cao nhất, đồng
thời cũng là lợi ích dân tộc cao nhất, đó là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và
phát triển theo định hướng XHCN. Đại hội XI của Đảng chỉ rõ chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế là vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa giàu mạnh, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp hồ bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
3.1.3.Văn hoá-xã hội
Bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo đảm vững chắc
an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Xây dựng nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
3.2.Một số khuyến nghị
- Quyết định chiến lược phát triển kinh tế xã hội, toàn bộ sự phát triển của nền
kinh tế phụ thuộc trước hết vào đường lối và chiến lược phát triển kinh tế. Để xây
dựng chiến lược đúng đắn có căn cứ khoa học, cần phải tính đúng thực trạng kinh tế
xã hội, xác định rõ mục tiêu phát triển lựa chọn phương án tối ưu. Muốn vậy cần thực
hiện dân chủ hoá, khoa học hoá, thể chế hoá chính sách.
-Cần tuyên truyền rộng rãi về những thách thức của nền kinh tế đòi hỏi sớm cải
thiện năng lực cạnh tranh quốc gia. Tạo bước đột phá mới về tư duy kinh tế, đẩy
nhanh tiến độ thiết lập thị trường các yếu tố sản xuất đầy đủ và đồng bộ, hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
-Nhà nước cần nhất quán quan điểm về định hướng xuất khẩu của nền kinh tế,
khơng duy trì bảo vệ lâu dài thay thế nhập khẩu bằng mọi giá để đảm bảo phát triển
bền vững.
-Sớm chuyển cơ chế cấp phát vốn cho các Doanh nghiệp nhà nước sang cơ chế
tín dụng đầu tư, có tiêu chí khoa học, rõ ràng và thống nhất cả nước về đánh giá hiệu
quả đầu tư ngay từ giai đoạn tiền khả thi của dự án. Đồng vốn nhà nước phải có chủ
cụ thể, bảo đảm sử dụng vốn có hiệu quả, các định chế ràng buộc về quyền hạn và
trách nhiệm phải cụ thể rõ ràng.
-Nhà nước cần có một cơ cấu tổ chức hồn chỉnh, chun nghiệp để thực hiện
có hiệu quả các công cụ của đất nước.
- Để chỉ huy nền kinh tế phải có cơ quan quản lý thống nhất, cơ quan đó có
quyền lực, có đầy đủ tự tin về các mặt để điều hoá phối hợp các mặt hoạt động của
nền sản xuất xã hội, giải quyết các vấn đề nảy sinh để đảm bảo cân bằng tổng thể của
nền kinh tế.
-Bằng các đòn bẩy kinh tế và động viên tinh thần, khuyến khích mọi tổ chức
kinh tế hoạt động theo định hướng của kế hoạch hoá, cố gắng thực hiện các nhiệm vụ
đã đề ra.
Page | 19
PHẦN KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu bản chất và những biểu hiện của Chủ nghĩa tư bản độc
quyền giúp chúng ta hiểu một cách rõ ràng và đúng đắn hơn về chủ nghĩa tư bản độc
quuyeenf Nhà nước là nấc thang phát triển mới của Chủ nghĩa tư bản độc quyền(chủ
nghĩa đế quốc). Ngoài ra Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước cịn là một quan hệ
kinh tế, chính trị, xã hội chứ khơng chỉ là chính sách trong giai đoạn độc quyền của
CNTB. CNTBĐQNN là hình thức vận động mối quan hệ sản xuất TBCN nhằm duy
trì sự tồn tại của CNTB, là cho CNTB thích nghi với điều kiện lịch sử mới.
Về việc nghiên cứu về Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có ý nghĩa quan
trọng đối với việc phát triển kinh tế ở Việt Nam và việc hội nhập quốc tế. Qua đó thấy
rõ hơn tầm quan trọng của việc Nhà nước điều tiết nền kinh tế, đối với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tứ đó chúng ta cần có những biện
pháp, chính sách chiến lược cả về đối nội và đối ngoại để thúc đẩy phát triển nền kinh
tế Việt Nam cũng như có các định hướng chủ trương hội nhập quốc tế chính xác
nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nước ta và các nước phát triển khác trên thế giới.
Page | 20
Danh mục tài liệu tham khảo
1.V.I.Lênin, 1978. Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ
nghĩa tư bản, Nxb Tiến bộ
2.Nguyễn Khắc Thân, 1996. Chủ nghĩa tư bản đương
đại-Mâu thuẫn và vấn đề, Nxb Chính trị Quốc gia.
3.Viện Thơng tin Khoa học Xã hội, 2001. Chủ nghĩa tư bản hịên
đại -Những điều chỉnh mới.
4.Tiêu Phong, 2004. Hai chủ nghĩa một trăm năm, Nxb Chính trị
Quốc gia.
5.Giáo trình Những NLCB của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính
Trị Quốc Gia
Page | 21