Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

QUAN ĐIỂM CỦA MÁCLÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (134.48 KB, 14 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------------***-------------

TIỂU LUẬN
MƠN: TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ VÀ
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP
CƠNG NGHIỆP HĨA, HIỆN ĐẠI HĨA Ở NƯỚC TA

năm

Giảng viên giảng dạy:

ThS Nguyễn Thị Tùng Lâm

Họ và tên:

Nguyễn Thị Thanh Vân

Lớp:

Anh 11- KTKT

Khóa:

K58

MSV:


1918813045

Quảng
Ninh,
tháng 07
2021

MỤC
LỤC:

Phần 1: Lời nói đầu


Phần 2: Nội dung
Chương 1: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người
1.1 Bản chất con người
1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người
Chương 2: Vấn đề con người trong cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta hiện
nay
2.1 Tính tất yếu khách quan của cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa
2.2 Mục tiêu con người trong cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa
2.3 Thực trạng và giải pháp cho vấn đề nguồn lực cho con người ở nước ta hiện
nay
Phần 3: Tổng kết

LỜI MỞ ĐẦU


Khi đất nước ta bước vào thế kỉ XXI, sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa vẫn
cịn đang dang dở. Trong bối cảnh các hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã làm cho các tư

tưởng tự do tìm kiếm con đường khả quan nhất cho sự phát triển của Việt Nam dễ đi
đến sự phủ nhận vai trò, khả năng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Song khi ta nhìn nhận lại một cách khách quan và tồn diện, nhìn vào khả năng
những gì đã đạt được, đang làm được và sẽ làm được của chủ nghĩa Mác-Lênin thì ta
khơng thể phủ nhận được sự nổi trội và triển vọng của nó trong sự nghiệp phát triển
con người trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài tiểu luận :
“Quan điểm Mác-Lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong
sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.


Chương 1: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người
1.1 Bản chất con người
a. Các quan điểm về con người của các nhà triết học trước Mác
Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết học
nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối
quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt
tới tự do?.... Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan – một nội dung
cấu thành thế giới quan triết học.
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải quyết vấn
đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thực
tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nho gia)
và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia). Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão
tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tính người từ giác độ khác và đi
tới kết luận bản tính tự nhiên của con người. Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với
những kết luận khác nhau về bản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những
quan điểm khác nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề
về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ.
Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tư tưởng của các trường phái triết
học ấn độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ

suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (siêu hình học) đối
với những vấn đề nhân sinh quan. Kết lụân về bản tính Vơ ngã, Vơ thường và tính
hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những
kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật.
Thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết học về
con nngười trong nền triết học phương Tây có nhiều điểm khác với nền triết học
phương Đơng. Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa
chọn giác độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất con người và các vấn đề khác có
liên quan. Ngay từ thời Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra quan niệm về
bản chất vật chất tự nhiên của con người, coi con người cũng như vạn vật trong giới tự
nhiên không có gì thần bí, đều được cấu tạo nên từ vật chất. Những quan niệm duy vật


như vậy đã được tiếp tục phát triển trong nền triết học thời Phục hưng và Cận đại mà
tiêu biểu là các nhà duy vật nước Anh và Pháp thế kỷ XVIII; nó cũng là một trong
những tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc. Trong một phạm
vi nhất định, đó cũng là một trong những tiền đề lý luận của quan niệm duy vật về con
người trong triết học Mác.
Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch sử
triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người. Do khơng
đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của con
người từ giác độ siêu tự nhiên...
b. Bản chất của con người trong tự nhiên và xã hội
Theo khoa học hiện nay đã chứng tỏ rằng con người là một sản phẩm của tự
nhiên theo q trình tiến hóa mà phát triển như ngày nay. Tuy con người đã vượt xa so
với nhưng lồi sinh vật cịn lại nhưng con người vanx khoongt hể lột bỏ hết được
những cái tự nhiên để tách biệt hoàn toàn với tổ tiên, với những loài sinh vật khác.
Trong đó con người vẫn tồn tại những thú tính hoang dại của tổ tiên mình, những cái
đó thuộc về bản năng của con người.
Điều giống nhau và cũng là điểm khác nhau giữa con người với những sinh vật

khác chính là sự phát triển về nhận thức và ý thức của con người. Lao động là phương
thức tồn tại của con người. Con người tồn tại được chỉ khi tiến hành lao động sản xuất
của cái vật chất để phục vụ cho chính cuộc sống của mình. Cũng chính nhờ lao động
mà con người hình thành được ý thức. Mặt khác, trong các mối quan hệ xã hội thì
quan hệ trong sản xuất lao động xuất hiện đầu tiên và trở thành quan hệ nền tảng cho
sự xuất hiện của các mối quan hệ xã hội khác trong các lĩnh vực đời sống và tinh thần
của con người.
Con người là sản phẩm của tự nhiên, con người sản xuất ra của cải vật chất, tác
động vào tự nhiên để làm thay đổi tự nhiên, do đó con người chính là chủ thể cải tạo tự
nhiên. Tuy nhiên con người sống phụ thuộc vào thiên nhiên. Con người tác động vào
thiên nhiên bằng cách không tự nhiên (nhân tạo), bắt thiên nhiên phải phục vụ cho con
người. Bằng hoạt động lao động sản xuất, con người sáng tạo ra tồn bộ nền văn hóa
vật chất, tinh thần. Cũng như trong hoạt động kinh tế ( một phương thức của sản xuất )
thì vai trị của con người đóng góp quan trọng nhất. Do đó, để xây dựng một nền kinh


tế vững mạnh, đẩy mạnh q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa thì hiểu rõ bản chất
con người, xây dựng một nguồn lực vững mạnh là một yêu cầu thiết yếu.
1.2. Lý luận của chủ nghĩa Mác về con người
a. Quan điểm của Mác về con người
Chủ nghĩa xã hội do con người và vì con người. Do vậy, hình thành mới quan
hệ đúng đắn về con người về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội nói
chung, trong xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được của thế
giới quan Mác - Lênin. Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người là khái niệm chỉ những
cá thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
của nó. Con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật.
Do vậy nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con người. Để tồn tại
với tư cách là một con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uống... Điều đó
giải thích vì sao Mác cho rằng co người trước hết phải ăn, mặc ở rồi mới làm chính trị.
Theo Mác thì bản chất con người gồm có 2 phần, đây cũng chính là 2 giác độ

để Mác phân tích bản chất con người.
+ Thứ nhất: Phần sinh học đó là phần cấu tạo cơ thể và cơ thể sinh hoạt. Con
người là kết quả tiến hoá và phat triển lâu dài của tự nhiên. Điều này không thể phủ
nhận bởi sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên đã chứng minh điều
đó. Với học thuyết tiến hóa của Darwin đã chứng minh được rằng mọi lồi sinh vật
đều có nguồn gốc chung và đều là sản phẩm của tự nhiên. Điều này đã bác bỏ mọi lí
luận rằng con người là sản phẩm của Thượng Đế tạo ra. Đàn ông được nặn từ đất sét
và đàn bà được làm từ chiếc sươn xườn của đàn ông. Cũng như có ý kiến cho rằng con
người, trái đất là trung tâm vũ trụ, con người được thần thánh hóa như thần linh. Thực
tế khoa học đã kiểm nghiệm rằng Trái Đất cũng chỉ là một phần rất nhỏ bé của vũ trụ,
và may mắn có được sự sống. Cũng như lồi người chỉ là một trong vơ số loài sinh vật
từng tồn tại trên Trái Đất và cũng may mắn tồn tại và phát triển đến ngày nay.
+ Thứ hai: Phần ý thức.
Con người là một bộ phân của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng là
“thân thể vô cơ của con người”. Do đó có những biên đổi của tự nhiên và các tác động
của quy luật tự nhiên trực tiếp hay gián tiếp đến sự tồn tại của con người và xã hội loài


người. Điều đó tương tự như sự trao đổi vật chất giữa sinh vật và môi trường. Ở đây là
sự vật chất của con người với môi trường. Khi môi trường tác động đến con người
đồng thời con người cũng tác động lại thiên nhiên, làm biến đổi thiên nhiên hình thành
quan hệ hai chiều. Đây chính là quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của con người, loài
người và các tồn tại khác của giới tự nhiên.
Một điều khác biệt rõ ràng giữa con người và các loài sinh vật khác chính là
bản năng của con người, nó khơng cịn hoang dại, mang tính tự nhiên mà đã phát triển
lên mức cao hơn và được xã hội hóa. Trong những luận điểm về con người của chủ
nghĩa Mác về con người thì luận điểm xem con người là sinh vật biết chế tạo ra công
cụ sản xuất được xem là luận điểm tiêu biểu, điển hình cho sự khác biệt của con người
và các loài sinh vật khác.
Về mặt xã hội, mỗi con người là phần tử của xã hội, tập hợp con người với

nhau ta được một tập gọi là xã hội trong đó các cá nhân liên hệ với nhau bằng các mối
quan hệ đặc biệt. Đó gọi là quan hệ xã hội. Từ quan hệ xã hội sẽ nảy sinh những mối
quan hệ khác.
Quan niệm của Mác về định hướng phát triển xã hội lấy sự phát triển của con
người làm thước đo chung càng được khẳng định trong bối cảnh lịch sử của xã hội loài
người. Ngày nay loài người đang sống trong bối cảnh quốc tế đầy những biến động,
cộng đồng thế giới đang thể hiện hết sức rõ ràng tính đa dạng trong các hình thức phát
triển của nó xã hội lồi người kể từ thời tiền sử cho đến nay bao giờ cũng là một hệ
thống thống nhất tuy nhiên cũng là một hệ thống hết sức phức tạp và chính vì sự phức
tạp đó đã tạo nên tính khơng đồng đều trong sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước,
các khu vực khác nhau. Đến lượt mình, tính khơng đồng đều của sự phát triển này lại
hình thành nên một bức tranh nhiều màu sắc về định hướng nào, thì mọi định hướng
phát triển vẫn phải hướng tới giá trị nhân văn của nó - tới sự phát triển con người.
Xã hội bao giờ cũng tồn tại nhiều giai cấp đó điều quan trọng là giai cấp đó có
phục tùng được lịng dân hay khơng. Trải qua thời kỳ phát triển của xã hội loại người
chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp đáp ứng đầy đủ mọi quy luật của cuộc sống và đó
chính là lý do tại sao mác lại lấy giai cấp vô sản để nghiên cứu trong đó Mác tập trung
nghiên cứu con người vô sản là chủ yếu.
Theo Mác, người vô sản là ngừơi sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội hiện


đại, nhưng lao động của họ lại bị tha hoá, lao động từ chỗ gắn bó với họ nay trở nên xa
lạ nghiêm trọng hơn nữa chính nó đã thống trị họ, tình trạng bất hợp lý này cần phải
được giải quyết. Với Mác, người vô sản là người tiêu biểu cho phương thức sản xuất
mới, có sứ mệnh và hồn tồn có khả năng giải phóng mình, giải phóng xã hội để xây
dựng xã hội mới tốt đẹp hơn. Theo Mác "đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, con người
khơng cịn thất nghiệp, khơng cịn bị ràng buộc vào một nghề nghiệp nhất định họ có
thể làm bất kỳ một nghề nào nếu có khả năng và thích thú, họ có quyền làm theo năng
lực, hướng theo nhu cầu tuy nhiên những ý muốn đó khơng xảy ra bởi vì cách mạng
cộng sản chủ nghĩa khơng diễn ra theo ý của họ. Nó khơng diễn ra đồng loạt tren tất cả

các nước tư bản, ít ra là ở các nước tư bản tiên tiến, trái lại nó lại diễn ra ở những nước
xã hội chủ nghĩa tiêu biểu là nước Nga (Liên Xô cũ)… Một nước công nghiệp chưa
phát triển, nơng dân chiếm số đơng trong dân số. Vì vậy quan niệm của ơng về con
người khó có điều kiện được chứng minh.
b. Vai trò của chủ nghĩa Mác trong xã hội nước ta hiện nay
Nước ta là nước đang phát triển do đó Đảng và nhà nước ta đã rất quan tâm
đến vấn đề con người trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Muốn
xây dựng một đất nước phát triển về nhiều mặt, trong đó đặc biệt là lĩnh vực về kinh
tế, va cần phải đào tạo con người một cách có chiều sâu lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm
cơ sở. Người lao động nước ta ngày càng đóng vai trị quan trọng trong sự nghiệp phát
triển đất nước theo cơ chế thị trường. Với khả năng của tư tưởng Mác-Lênin chúng ta
hoàn toàn tin tưởng vào con đường phát triển con người để phát triển đất nước của
Đảng và nhà nước đề ra. Thực tế đã chứng minh tur tưởng Mác-Lênin đã vạch ra nhiều
con đường đúng đắn cho lịch sử nước ta. Đó là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 hay
chiến thắng Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng đất nước. Tư tưởng Mác-Lênin hay sau
này được chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh của đất
nước và được biết đến tên tủ tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống tư tưởng Mác-Lênin đã trở
thanh hệ thống chính thống tồn xã hội, làm thay đổi nhanh chóng đời sống tinh thần
đại đa số nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên một đất nước đã có truyền thống lâu đời như Việt Nam thì khơng
phải ai cũng hiểu và thấm nhuần tư tưởng Mác-Lênin, tư tưởng Mác-Lênin cũng chỉ là


một trong số rất nhiều tư tưởng đang tồn tại ở nước ta. Các yếu tố tích cực thì phần
thúc đẩy cịn các yếu tố tiêu cực thì kìm hãm sự phát triển con người,
Chương 2: Vấn đề con người trong cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện
nay
2.1. Tính tất yếu khách quan của cơng nghiệp hóa hiện đại hóa
a. Hồn cảnh
Đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường được gần 20 năm, sau khi chế

độ bao cấp dược xóa bỏ, trong khoảng thời gian đó, thực hiện mục tiêu “dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” đất nước ta đã có nhiều khởi sắc về nhiều
mặt, trong đó, lĩnh vực kinh tế đã có những bước nhảy tột bậc, tham gia vào nền kinh
tế thế giới. Tuy nhiên trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới đang có những
dấu hiệu khủng hoảng. Điều đó ảnh hưởng khơng nhỏ đến nền kinh tế còn non trẻ của
nước ta. Trong khi đó ở nước ta, sự nghiệp cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa cịn chưa
hồn thành thì thúc đẩy q trình sẽ nhanh chóng làm cho nền kinh tế của chúng ta
phục hồi.

b. Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa,
sự phát triển con người
Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹ
thuật tương ứng. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các
yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật
(cơng nghệ) tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của
cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội. Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của
phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản - đòi hỏi một cơ sở vật chất
- kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với
thành tựu của cách mạng khoa học và cơng nghệ hiện đại. Do vậy, có thể hiểu,
cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền cơng nghiệp lớn hiện đại,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học
và cơng nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã


hội là một tất yếu khách quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được
thực hiện thơng qua cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với các nước quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, dù đã có cơng nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản tiến bộ đến đâu cũng chỉ là những tiền đề vật chất
chứ chưa phải là cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Muốn có cơ sở

vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, các nước này phải thực hiện quy luật
nói trên bằng cách tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất;
tiếp thu vận dụng và phát triển cao hơn những thành tựu khoa học và công nghệ
vào sản xuất; hình thành cơ cấu kinh tế mới xã hội chủ nghĩa có trình độ cao và
tổ chức, sắp xếp lại nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa một cách hợp lý, hiệu
quả hơn. Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã
hội như nước ta, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải
thực hiện từ đầu, từ khơng đến có, từ gốc đến ngọn thơng qua cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Mỗi bước tiến của q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố là một
bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh
mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hồn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa.
2.2 Mục tiêu con người trong cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa
Xây dựng nước ta thành nước cơng nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện
đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phấn đấu để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước cơng nghiệp hố theo hướng hiện đại.
- Cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh
tế và cơng nghiệp hố, hiện đại hoá.
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đơi với tranh
thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế


giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong
nước sản xuất có hiệu quả.
- Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của tồn dân, của mọi thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.

- Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
- Khoa học công nghệ là động lực của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp
cơng nghệ truyền thống với cơng nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở
những khâu quyết định.
- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án
phát triển, lựa chọn dự án đầu tư vào công nghệ.
- Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh.
2.3 Thực trạng và giải pháp cho vấn đề nguồn lực cho con người ở nước ta hiện nay
a. Thực trạng
Nhìn vào thực trạng của nguồn lao động ở nước ta, bên cạnh những ưu thế sẵn
có như nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam cần cù chịu khó, thơng minh chịu
khó sáng tạo, nhanh chóng tiếp thu được những thành tựu mới thì cịn có rất nhiều hạn
chế. Trong số hơn 65 triệu lao động ở Việt Nam thì số lao động được đào tạo bài bản
chiếm tỉ lệ rất nhỏ, số cịn lại hầu như khơng được đào tạo bài bản, chủ yếu là nguồn
lao động thủ cơng. Vấn đề phân bổ lực lượng lao động cịn rất nhiều vấn đề: Ở thành
phố là nơi tập trung đơng lao động, rất nhiều lao động có tay nghề nhưng lại khơng có
việc làm trong khi ở những làng quê vùng núi lại thiếu lao động trầm trọng. Hiện nay,
tình trạng đó cơ bản đã được giải quyết nhờ chính sách ưu tiên người tài của nhà nước.
Tuy nhiên, nếu không đáp ứng được những yêu cầu mà những người tài cần được
hưởng xứng đáng với công lao những gì họ làm được thì tình trạng trên khơng thể
ngừng lại hoàn toàn.

b. Giải pháp
Để đáp ứng những yêu cầu cơ bản về con người trong cơng nghiệp hóa – hiện


đại hóa thì chúng ta phải thực hiện một loạt những giải pháp nhằm phát triển tốt yếu tố
con người trong sự đi lên của đất nước.

Ngoài việc đào tạo, chăm sóc những nguồn lao động có tri thức, có lí thuyết
chúng ta phải đào tạo cho họ những kĩ năng về văn hóa, những kinh nghiệm thực tiễn.
Chỉ có cách đó thì chúng ta mới có thể có những thế hệ người lao động hoàn hảo về
moi mặt, đáp ứng những nhu cầu khắt khe của nguồn vốn tuyển dụng lao động, phục
vụ tốt cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Muốn có những con người đáp ứng được yêu cầu trong sự nghiệp cơng nghiệp
hóa -hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, cùng với sự giáo dục nhà trường và xã hội, bên
cạnh đó là sự chăm sóc, bồi dưỡng và những ưu đãi của nhà nước, mỗi con người
chúng ta phải biết phấn đấu hết mình trong học tập, lao động, nâng cao trí thức cá
nhân, địng thời học tậ noi gương chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy những phẩm chất
đáng quý cua con người Việt Nam, cùng góp phần trong cơng cuộc đổi mới đất nước.

TỔNG KẾT


Chủ nghĩa xã hội do con người và vì con người. Do hình thành mối quan hệ đúng
đắn về con người trong vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển của xã hội nói
chung, xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề khơng thể thiếu được trong lí luận tư
tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa nói riêng và sự nghiệp phát triển
đất nước nói chung, tuy chúng ta đã đạt được thành tựu đáng kể song đời sống vật chất
và tinh thần của đại đa số người dân cịn thiếu. Do đó, việc áp dụng triệt để coi chủ
nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho moi sự phát triển của đất nước vừa là mục tiêu,
vừa là nhiệm vụ đặt ra cho nhà nước, chính phủ và mọi cơng dân Việt Nam. Chỉ có
cách đó mới khiến chúng ta có thể hồn thành đươc cơng cuộc đổi mới đất nước, đưa
nước ta thoát khỏi cảnh nghèo nàn và lạc hậu, đưa nước ta lên một tầm cao mới, ngang
tầm với những nước phát triển trên thế giới.

Tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình Những ngun lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà xuất bản



Chính trị Quốc Gia.
2. />
thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam/02ce42a0



×