TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MARX – LENIN
Đề tài: Nhà nước và vấn đề nâng cao vai trò của nhà nước trong
điều kiện hiện nay ở nước ta.
Họ và tên:Tương Ngọc Văn
Lớp: Anh 13– KTKT – K59
Chuyên ngành: Kế toán kiểm toán
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Tùng Lâm
QUẢNG NINH – THÁNG 6 NĂM 2021
MỤC LỤC
LỜI NĨI ĐẦU…………………………………………………………………………...……….1
CHƯƠNG 1: NHÀ NƯỚC LÀ GÌ? CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH NÊN NHÀ
NƯỚC……...2
1.1.
NHÀ
NƯỚC
LÀ
GÌ?
………………………………………………………………………...2
a, Định nghĩa…………………………………………………………………………….…….2
b, Các kiểu và các hình thức nhà nước…………………………………………………………
2
1.2.
CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH NÊN NHÀ NƯỚC…………………………………….
…..5
1.2.1. Hình thức nhà nước là gì?................................................................................................5
1.2.2. Các yếu tố cấu thành hình thức nhà nước……………………………………………....5
a) Hình thức chính thể……………………………………………………………………..…..5
b) Hình thức cấu trúc nhà nước…………………………………………………………….….6
c) Chế độ chính trị………………………………………………………………………….….7
CHƯƠNG 2: VAI TRỊ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ
NƯỚC………………………………………………………………………………………….....9
2.1. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC………….......…………………………………………..……9
2.1.1. Nhà nước và kinh tế………………………………………………………………...……..9
2.1.2. Nhà nước và tổ chức chính trị………………………………………………………………
9
2.1.3
Nhà
nước
và
trị……………………………………………………………………….10
chính
2.1.4.
Nhà nước và pháp luật……………………………………………………..……….
……..10
2.2.
VẤN
ĐỀ
NÂNG
CAO
NƯỚC……………………………………..11
VAI
2.2.1.
Tại
sao
phải
nâng
nước?.......................................................................11
cao
TRỊ
vai
CỦA
trị
của
NHÀ
nhà
2.2.1.1 Nâng cao vai trò của nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại……………….…….11
2.2.1.2. Nâng cao vai trò của nhà nước để xây dựng thành công chu nghĩa xã
hội………………..12
2.2.1.3. Để khắc phục hạn chế vai trò của Nhà nước hiện nay……………………………...….…
12
2.2.2. Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước…………………………..……
13
2.2.2.1. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc
hội….13
2.2.2.2. Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bọc hiện
đại hoá………………………………………………………………………………………..…..14
2.2.2.3. Cải cách và kiện toàn các cơ quan tư pháp………………………………………..…….15
KẾT LUẬN……………………………………………………………………………….……..16
DANH MỤC THAM KHẢO……………………………………………………………...……17
LỜI NĨI ĐẦU
Lịch sử lồi người đã trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội tương ứng với
nhiều kiểu nhà nước khác nhau, từ nhà nước chiếm hữu nô lệ nhà nước phong kiến
nhà nước tư bản chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa dù trong thời kỳ xã hội
nào nhà nước luôn là thiết chế quan trọng và có vai trị đặc biệt trong sự hình thành
phát triển của mỗi quốc gia. Dân tộc ở nước ta nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là lực lượng quản lý toàn dân và toàn xã hội nhà nước là người hoạch
định ra các chính sách chiến lược phát triển kinh tế xã hội an ninh quốc phòng.
Hiện nay chúng ta đang Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường thực hiện
cơng nghiệp hóa hiện đại hóa tiến tới hội nhập sâu sắc và toàn diện sự quản lý của
nhà nước là yếu tố cần thiết để phát huy tối đa những mặt tích cực hạn chế tối thiểu
những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường. Trong đó quan trọng nhất là sự định
hướng của nhà nước để kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta đã lựa chọn. Mặc dù nhà nước ta đã phát huy vai trị của mình một
cách có hiệu quả trong sự nghiệp này nhưng vẫn tồn tại những hạn chế nhất định
đó là sự đồng cảm của bộ máy chưa xóa bỏ được thói quen của cơ chế cũ chưa
thích nghi với cơ chế mới nên hiệu quả chưa cao nhận thức rõ hơn về vai trò của
nhà nước sau khi đã được học tập và tham khảo các chuyên đề của môn học những
nguyên lý triết học Mác-Lênin em xin chọn đề tài nâng cao vai trò của nhà nước.
1
CHƯƠNG 1: NHÀ NƯỚC LÀ GÌ? CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH
NÊN NHÀ NƯỚC.
1.
NHÀ NƯỚC LÀ GÌ?
a, Định nghĩa.
- Nhà nước là một tổ chức xuất hiện và gắn liền với sự ra đời của giai cấp,
nhà nước là cơ quan nắm giữ quyền lực, chính trị của xã hội quyết định
những vấn đề trọng yếu của đất nước và thực hiện điều hành, vận hành
hoạt động của nhà nước của xã hội.
- Nhà nước sẽ có vùng lãnh thổ nhất định, nhà nước sẽ tổ chức ra một bộ
máy chính quyền nắm giữ mọi quyền lực của đất nước, thiết lập các
chính sách chính trị- xã hội, ban hành và yêu cầu mọi người dân thực
hiện pháp luật, điều tiết tất cả các hoạt động của đất nước.
- Nhà nước thường được thiết lập thành một bộ máy bao gồm các cơ quan
thực hiện các nhiệm vụ chuyên trách trong các lĩnh vực như các cơ quan
nhà nước thực hiện quyền lập pháp tức cơ quan quyền lực nhà nước, cơ
quan hành chính nhà nước, cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
- Nhà nước là tổ chức duy nhất mang tính chất quyền lực nhà nước, đây
chính là đặc điểm cơ bản để có thể nhận diện nhà nước với các tổ chức xã
hội khác.
Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật thì tương đương với một quốc
gia, là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai
cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình.
b, Các kiểu và các hình thức nhà nước.
Các kiểu nhà nước
Lý luận Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật đã đưa ra khái niệm kiểu nhà
nước trong lịch sử: Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản,
đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát
triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Cơ sở để xác định
kiểu nhà nước là học thuyết Mác - Lênin về các hình thái kinh tế xã hội. Mỗi kiểu
nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một xã hội có giai cấp. Đặc
điểm chung của mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ quyết định những dấu hiệu cơ bản,
đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng.
2
Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu
nơ lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thái
kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước:
(i) Kiểu nhà nước chủ nô; (ii)Kiểu nhà nước phong kiến; (iii)Kiểu nhà nước
tư sản; (iv)Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mới tiến bộ nhất nhưng cũng là
kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử. Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của
mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong và sau đó sẽ khơng cịn một kiểu nhà
nước nào khác nữa.
Hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng.
Kết quả của việc tiến hành sự thống trị về chính trị phụ thuộc phần lớn vào việc
giai cấp thống trị tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo hình thức nào.
Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để
thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được
hình thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và
chế độ chính trị.
Thứ nhất, hình thức chính thể
Đây là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan tối cao của nhà nước và xác
lập những mối quan hệ cơ bản của các cơ quan đó. Hình thức chính thể có hai dạng
cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hịa.
(i) Chính thể qn chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập
trung tồn bộ (hay một phần) trong tay người đứng đầu nhà nước theo ngun tắc
thừa kế.
(ii) Chính thể cộng hịa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc
về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định.
Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều là nhà nước cộng hoà dân chủ được đặc trưng
bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan
đại diện của mình.
Thứ hai, hình thức cấu trúc nhà nước
3
Đây là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập những
mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương.
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là hình thức nhà nước đơn nhất và hình
thức nhà nước liên bang.
- Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền
lực và quản lí thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành
chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường). Ví dụ: Việt Nam, Lào,
Ba Lan, Pháp... là các nhà nước đơn nhất.
- Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại. Nhà
nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý; một hệ thống chung
cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên; có chủ quyền quốc
gia chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi nước thành viên cũng có chủ
quyền riêng: Ví dụ: Myơ, Đức, ấn Độ, Malaixia... là các nước liên bang.
Cần phân biệt nhà nước liên bang với nhà nước liên minh. Nhà nước liên minh là
sự liên kết tạm thời của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện một số mục đích
nhất định. Sau khi đã đạt được các mục đích đó, nhà nước liên minh có thể tự giải
tán hoặc có thể phát triển thành nhà nước liên bang.
Thứ ba, về chế độ chính trị
Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, thủ đoạn mà các cơ quan nhà nước
sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước.
Trong lịch sử, từ khi nhà nước xuất hiện cho đến nay, các giai cấp thống trị đã sử
dụng nhiều phương pháp và thủ đoạn để thực hiện quyền lực nhà nước. Những
phương pháp và thủ đoạn đó trước hết xuất phát từ bản chất của nhà nước đồng
thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố của mỗi giai đoạn trong mỗi nước cụ thể. Vì vậy,
có rất nhiều phương pháp và thủ đoạn khác nhau nhưng tựu chung chúng được
phân thành hai loại chính là: Phương pháp dân chủ va phương pháp phản dân chủ.
Những phương pháp dân chủ cũng có nhiều loại, thể hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau như những phương pháp dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ
rộng rãi và dân chủ hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp... Cần phân biệt
chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng việc sử dụng các hình thức
dân chủ thật sự, rộng rãi với chế độ dân chủ tư sản đặc trưng bằng các phương
pháp dân chủ hạn chế và hình thức. Các phương pháp phản dân chủ thể hiện tính
chất độc tài cũng có nhiều loại, đáng chú ý nhất là khi những phương pháp này khi
4
phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp tàn bạo, qn phiệt và
phát xít.
Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước ln có liên quan mật thiết
với chế độ chính trị. Ba yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành khái
niệm hình thức nhà nước, phản ánh bản chất và nội dung của nhà nước. Nhưng
trong một số trường hợp, ba yếu tố này có thể khơng phù hợp với nhau. Ví dụ: chế
độ chính trị phát xít, quân phiệt có thể có hình thức chính thể cộng hịa dân chủ.
Đây cũng là điều thường gặp trong các nhà nước bóc lột.
Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, ba yếu tố này phải phù hợp với nhau,
phản ảnh đúng bản chất và nội dung của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
1.1. CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH NÊN NHÀ NƯỚC.
1.1.1.
Hình thức nhà nước là gì?
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và những biện
pháp để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.
1.1.2.
Các yếu tố cấu thành hình thức nhà nước.
Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ 3 yếu tố:
hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.
a) Hình thức chính thể
Hình thức chính thể là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao của
nhà nước, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ giữa chúng và mức độ
tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.
Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể
cộng hồ.
Thứ nhất, chính thể qn chủ là hình thức nhà nước trong đó quyền lực tối
cao của nhà nước tập trung toàn bộ (hay một phần) vào trong tay người đứng
đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế.
Với việc tập trung quyền lực tối cao của nhà nước một phần hay toàn bộ vào
trong tay người đứng đầu nhà nước theo ngun tắc truyền ngơi mà chính
thể qn chủ có hai biến dạng: quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế.
Ở các quốc gia có hình thức nhà nước chính thể qn chủ tuyệt đối, vua
(hồng đế) có quyền lực vô hạn, các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
tối cao đều nằm trong tay người đứng đầu nhà nước. Hình thức này chủ yếu
tồn tại trong hai kiểu nhà nước đầu tiên là nhà nước chủ nô và nhà nước
phong kiến.
5
Ở nhà nước có chính thể qn chủ hạn chế, người đứng đầu nhà nước hình
thành bằng con đường truyền ngôi chỉ nắm một phần quyền lực nhà nước tối
cao, bên cạnh họ có các cơ quan nhà nước hình thành bằng bầu cử chia sẻ
quyền lực nhà nước với họ; ví dụ Nghị viện trong các nhà nước tư sản có
chính thể qn chủ nắm quyền lập pháp, Chính phủ tư sản nắm quyền hành
pháp và quyền tư pháp thuộc về Tịa án tư sản, cịn nữ hồng hay quốc
vương thông thường chỉ đại diện cho truyền thống và tình đồn kết dân tộc
(như Anh, Nhật bản).
Thứ hai, đối với chính thể cộng hồ là hình thức chính thể trong đó quyền
lực tối cao của nhà nước thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong
một thời hạn nhất định (như Quốc hội, Nghị viện). Chính thể cộng hồ cũng
có hai biến dạng là cộng hồ dân chủ và cộng hồ q tộc.
Trong những quốc gia có chính thể cộng hồ dân chủ, quyền tham gia bầu
cử để thành lập các cơ quan đại diện được quy định dành cho mọi cơng dân.
Tuy nhiên, để có thể hiểu đúng bản chất của vấn đề cần phải xem xét điều
kiện cụ thể để tham gia bầu cử trong từng nhà nước, chẳng hạn như trong
nhà nước dân chủ chủ nơ, chỉ có giai cấp chủ nơ với có quyền công dân, các
tầng lớp nhân dân khác, đặc biệt là nơ lệ khơng được cơng nhận có quyền
cơng dân trong xã hội (nhà nước A-ten). Trong thực tế, giai cấp thống trị của
các nhà nước bóc lột thường đặt ra nhiều quy định để hạn chế quyền bầu cử
của nhân dân lao động.
Trong các quốc gia có hình thức chính thể cộng hồ q tộc, quyền bầu cử
hình thành các cơ quan đại diện chỉ dành cho giai cấp quý tộc (nhà nước Spác, nhà nước La Mã)
Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như
tương quan giai cấp, truyền thống dân tộc, quan điểm pháp lý, đặc điểm kinh
tế – xã hội,… Với sự tác động của các yếu tố này đã làm cho hình thức chính
thể của mỗi nhà nước có những điểm khác biệt nhau. Vì thế khi xem xét
hình thức chính thể trong một quốc gia cụ thể cần phải xem xét nó một cách
tồn diện tất cả những yếu tố có ảnh hưởng đến nó.
Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều là nhà nước cộng hoà dân chủ được
đặc trưng bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành
lập các cơ quan đại diện của mình.
b) Hình thức cấu trúc nhà nước
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự tổ chức nhà nước thành các đơn vị hành
chính lãnh thổ, đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành
6
của nó, giữa cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa
phương.
Có mấy hình thức cấu trúc nhà nước?
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản là cấu trúc nhà nước đơn nhất và
cấu trúc nhà nước liên bang.
– Cấu trúc nhà nước đơn nhất là hình thức trong đó lãnh thổ của nhà nước là
toàn vẹn, thống nhất, nhà nước được chia thành các đơn vị hành chính – lãnh
thổ khơng có chủ quyền quốc gia, có hệ thống các cơ quan nhà nước thống
nhất từ trung ương xuống đến địa phương. Ví dụ: Trung Quốc, Việt Nam,
Campuchia, Lào, Pháp,… là những nhà nước đơn nhất.
– Cấu trúc nhà nước liên bang là những nhà nước có từ hai hay nhiều nước
thành viên hợp lại. Trong nhà nước liên bang khơng chỉ có liên bang có dấu hiệu
chủ quyền quốc gia mà trong từng bang thành viên đều có dấu hiệu chủ quyền, ví
dụ: Ấn Độ, Mỹ và Liên Xơ trước đây,… Ở nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ
quan quyền lực và hai hệ thống cơ quan quản lý: một hệ thống chung cho toàn liên
bang và một cho từng nhà nước thành viên.
Lưu ý: Cần phân biệt nhà nước liên bang với nhà nước liên minh. Nhà nước
liên minh là sự liên kết tạm thời của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện
một số mục đích nhất định. Sau khi đã đạt được các mục đích đó, nhà nước
liên minh có thể tự giải tán hoặc có thể phát triển thành nhà nước liên bang.
Ví dụ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 1776 đến 1787 là nhà nước liên minh,
sau đó trở thành nhà nước liên bang.
c) Chế độ chính trị
Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, biện pháp mà các cơ quan nhà
nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước.
Chế độ chính trị có quan hệ chặt chẽ với bản chất của nhà nước, với nội dung hoạt
động của nó và đời sống chính trị xã hội nói chung.
Trong lịch sử xã hội có giai cấp và nhà nước, giai cấp thống trị sử dụng nhiều biện
pháp, phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước, nhìn chung có thể phân các
phương pháp, biện pháp này thành hai loại chính: phương pháp dân chủ và phương
pháp phản dân chủ, tương ứng với hai phương pháp này có chế độ chính trị dân
chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
7
Trong chế độ chính trị dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng chủ yếu phương
pháp giáo dục – thuyết phục. Tuy nhiên, phương pháp dân chủ có nhiều dạng khác
nhau, phụ thuộc vào bản chất của từng nhà nước cụ thể, như: dân chủ hình thức,
dân chủ thực sự, dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi,…
Ví dụ như chế độ dân chủ trong nhà nước tư sản là biểu hiện cao độ của chế độ dân
chủ hình thức, còn chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ thực sự và rộng rãi.
Trong chế độ chính trị phản dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng các hình
thức, phương pháp mang nặng tính cưỡng chế, đỉnh cao của chế độ này là chế độ
độc tài, phát xít.
Lưu ý: Cần phân biệt chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng việc sử
dụng các hình thức dân chủ thật sự, rộng rãi với chế độ dân chủ tư sản đặc trưng
bằng các phương pháp dân chủ hạn chế và hình thức. Các phương pháp phản dân
chủ thể hiện tính chất độc tài cũng có nhiều loại, đáng chú ý nhất là khi những
phương pháp này khi phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp
tàn bạo, quân phiệt và phát xít.
Như vậy, hình thức nhà nước là sự hợp nhất của ba yếu tố: hình thức chính thể,
hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị. Ba yếu tố này có mối quan hệ mật
thiết với nhau, tác động qua lại chặt chẽ với nhau, thực hiện quyền lực chính trị của
giai cấp thống trị, phản ánh bản chất của nhà nước.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, ba yếu tố này có thể khơng phù hợp với nhau.
Ví dụ: chế độ chính trị phát xít, quân phiệt có thể có hình thức chính thể cộng hịa
dân chủ. Đây cũng là điều thường gặp trong các nhà nước bóc lột.
8
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC.
2.1. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC.
2.1.1. Nhà nước và kinh tế.
Nhà nước được quy định bởi kinh tế, do điều kiện kinh tế quyết định. Từ sự
xuất hiện của nhà nước, bản chất, chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước đều phụ
thuộc vào địi hỏi khách quan của cơ sở kinh tế.
Không phụ thuộc tuyệt đối, chỉ tương đối thể hiện ở 2 phương diện:
Nhà nước cùng các bộ phận khác của kinh tế tác động tích cực đến sự phát
triển kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh thơng qua các chính sách kinh tế có căn cứ
khoa học và phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại trong chừng mực nó phù
hợp với lợi ích giai cấp thống trị.
Thí dụ: . Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước Tư sản trong giai đoạn đầu
phát triển xã hội tư bản: xác lập và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Chính sách kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm
cho kinh tế nước ta từ 1986 đến nay phát triển mạnh.
Nhà nước có thể đóng vai trị tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế. Thể hiện
chính sách kinh tế lỗi thời, khơng còn phù hợp với sự phát triển chung của thế giới,
kìm hãm sự phát triển của quan hệ sản xuất tiến bộ.
Ví dụ: Nhà nước chiếm hữu nơ lệ, phong kiến vào giai đoạn cuối trong quá
trình phát triển lịch sử.
Trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhà nước đồng thời có tác động tích cực
hoặc tiêu cực đối với kinh tế phụ thuộc vào khả năng nhận thức và nắm bắt kịp thời
hoặc không kịp thời các phương diện khác nhau của quy luật vận động của kinh tế
cũng như phụ thuộc vào lợi ích của giai cấp thống trị.
2.1.2. Nhà nước và tổ chức chính trị.
xã hội. Các tổ chức chính trị của xã hội là những hình thức và phương diện
bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp.
9
Trong các tổ chức chính trị xã hội, nhà nước là trung tâm vì:
(i) Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị cơng cộng đặc biệt, là tổ chức mà
quyền lực của nó bắt buộc đối với mọi người trong quốc gia thông qua pháp luật.
(ii) Nhà nước là cơng cụ sắc bén nhất của quyền lực chính trị, là tổ chức có
sức mạnh cưỡng chế đủ sức thực hiện những nhiệm vụ mà khơng một tổ chức
chính trị nào làm nổi vì nhà nước có bộ máy chun cưỡng chế như: Tòa án, quân
đội, cảnh sát, nhà tù… nắm trong tay nguồn tài nguyên, có quyền đặt ra và thu
thuế…
(iii) Nhà nước là tổ chức chính trị độc lập có chủ quyền, thực hiện quyển đối
nội, đối ngoại độc lập không phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào.
Nhà nước thực sự là trung tâm của đời sống chính trị của hệ thống chính trị xã hội,
là bộ phận không thể thay thế được của bộ máy chuyên chính giai cấp, là tổ chức
thực hiện chức năng quản lý xã hội hiệu quả nhất.
Trong các tổ chức chính trị, Đảng chính trị có vai trị đặc biệt, là lực lượng có vai
trị lãnh đạo, định hướng sự phát triển xã hội. Các đảng chính trị là tổ chức của các
giai cấp, thể hiện lợi ích giai cấp và gồm những đại biểu tích cực nhất đấu tranh
cho lợi ích giai cấp mình. Đảng chính trị cầm quyền vạch ra chính sách lớn định
hướng cho hoạt động của nhà nước, kiểm tra hoạt động Đảng viên trong việc thực
hiện chính sách Đảng, các đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước.
Nhà nước và tổ chức xã hội: Tổ chức xã hội có vai trị quan trọng tùy thuộc vào
quy mơ, tính chất của tổ chức đó. Quan trọng nhất: cơng đồn, đồn thanh niên, hội
phụ nữ, hội nông dân, mặt trận tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng nhiệm vụ
khác nhau dưới sự lãnh đạo của đảng. Chúng có vai trị khác nhau trong đời sống
chính trị. Nhà nước và tổ chức xã hội có quan hệ chặt chẽ theo nguyên tắc hỗ trợ,
giúp đỡ lẫn nhau.
2.1.3 Nhà nước và chính trị.
Chính trị với tư cách hiện tượng phổ biến xác định quan hệ giai cấp, tương quan
lực lượng giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế trong xã hội có giai cấp.
Trong xã hội, nó là sợi dây liên kết giữa nhà nước với cơ sở hạ tầng kinh tế với các
bộ phận khác trong kiến trúc thượng tầng.
Các tổ chức chính trị đểu thơng qua chính trị để tác động lẫn nhau, đồng thời tác
động đến các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng như tác động đến cơ sở
kinh tế của xã hội.
10
2.1.4. Nhà nước và pháp luật.
Pháp luật là công cụ để nhà nước duy trì sự thống trị, thực hiện chức năng, nhiệm
vụ.
Quyền lực của nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật, được thực hiện thông qua pháp
luật và bị hạn chế bởi pháp luật.
2.2. VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC.
2.2.1. Tại sao phải nâng cao vai trò của nhà nước?
2.2.1.1 Nâng cao vai trò của nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại
Đại hội Đảng lần thứ IX đã dự báo: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến
đổi cụ thể như sau:
Một là, khoa học và Cơng nghệ sẽ có bộc phát triển nhảy vọt. Với tốc độ
phát triển nh vũ bão hiện nay, khoa học và công nghệ trong thế kỷ XXI chắc chắn
sẽ có nhiều kỳ tích, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, tin học, sinh học, vật liệu
mới, năng lượng, nghiên cứu vũ trụ... ,
Hai là, kinh tế tri thức có vai trị ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển
lực lượng sản xuất. Trong các thế kỷ trước, những yếu tố tạo ra sự phát triển lực
lượng sản xuất là lao động, vốn và Cơng nghệ thì hiện nay thêm một yếu tố nữa là
tri thức và khi nào yếu tố tri thức chiếm đa số trong những yếu tố tạo nên tăng
trưởng, đó là kinh tế tri thức, Sang thế kỷ XXI, lực lượng sản xuất tiếp tục phát
triển trong đó kinh tế tri thức có vai trị ngày càng nổi bật.
Ba là, tồn cầu hố kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng
nhiều nước tham gia. Xu thế này đang bị một số tác phát triển và tập đoàn kinh tế
tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực
vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh.
- Hiện nay, tổ chức thương mại thế giới (WTO) có 136 nớc tham gia, 25 nở
nộp đơn xin tham gia, trong đó có Việt Nam. Trong khn khổ WTO hiện nay
chiếm tới 90% thơng mại xuất nhập khẩu của thế giới. Nếu nớc nào không tham
gia sẽ bị phân biệt đối xử, sẽ bị thiệt hại không nhỏ về lợi ích kinh tế.
Thí dụ: Trung Quốc nếu đợc tham gia vào WTO thì hàng hố vào thị trờng
Mỹ sẽ có thuế suất bằng khơng, cịn hàng hố của ta khi chưa tham gia tổ chức này
xuất sang thị trường Mỹ sẽ bị đánh thuế tới 40%. Vì thế hàng hố của ta khó có thể
cạnh tranh đối với hàng hoá các nớc về mặt giá cả.
11
- Tồn cầu hố vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. Tham gia vào các tổ
chức quốc tế để có điều kiện phát triển và cũng để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của
mình. Q trình tồn cầu hơn là một q trình phức tạp, vừa là cơ hội, vừa là thách
thức rất lớn.
Bốn là, các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện lại những hình thức và
mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát trên, có mặt sâu sắc hơn. Từ trước tới nay,
Đảng ta vẫn xác định có 4 mâu thuẫn cơ bản là: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản
và chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn giữa các nước đi qua với đế quốc, nâu thuẫn giữa
để quốc với các dân tộc, mâu thuẫn giữa tư bản với công nhân. Trong đó đặc biệt
chú ý đến mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Đối với Trung
Quốc và Việt Nam các thế lực thù địch ln tìm cách chống phá, ngăn cản sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh
giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội sẽ hết sức quyết liệt trong tình hình mới.
Năm là, chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất
bại cũng như từ khát vọng và sự thức tính của các dân tộc, có điều kiện và khả
năng tạo ra các phát triển mới.
Trước những thời cơ và trách thức mới của thời đại, vai trò lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước đòi hỏi phải được thang cao lớn nữa nhằm đưa đất nước ta phát
triển nhanh chóng, vững chắc và tồn diện trên nhiều lĩnh vực: văn hố, kinh tế,
chính trị, xã hội...
2.2.1.2. Nâng cao vai trò của nhà nước để xây dựng thành công chu nghĩa xã hội.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một tất yếu lịch sử, nước ta xây dựng chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa to ra sự biến đổi về chất của xã hội
trên các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, tất yếu phải trải qua một thời
kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chăng đóng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có
tính chất qua đó. Để xây dựng thành cơng chủ nghĩa xã hội, trước mắt chúng ta cịn
rất nhiều cơng việc khó khăn, bề bộn địi hỏi sự dẫn dắt soi đường đúng đắn của
Đảng và vai trò tích cực của Nhà nước.
2.2.1.3. Để khắc phục hạn chế vai trò của Nhà nước hiện nay.
Trong thực tế 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đạt
đợc những thành tựu đó, bên cạnh bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối chỉ đạo
đúng đắn của Đảng và đóng góp to lớn của tồn dân Còn phải kể đến những cố
12
gắng lớn trong việc điều hành, quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu còn tồn tại khơng ít những hạn chế trong vai trị của Nhà nước cần phải
được khắc phục ngay. Đó là sự cồng kềnh không cần thiết của bộ máy nhà nước,
các thủ tục hành chính rờm rà, bất hợp lý gây khó khăn cho nhân dân; tình trạng
chủ quan, tự tiện trong tổ chức và hoạt động, cũng như tình trạng vừa chồng chéo,
vừa bỏ sót chức năng nhiệm vụ trong nội bộ cơ quan quyền lực Nhà nước,...
2.2.2. Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước.
2.2.2.1. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động
của Quốc hội.
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất ở nước ta, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Để
phát huy vai trị, vị trí của Cơ quan quyền lực nhà nợ cao nhất, Quốc hội phải đợ
kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động của mình theo hướng:
- Tăng cơng và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp nhằm nâng cao
chất lượng các đạo luật, tăng công ban hành luật, hạn chế ban hành các
pháp lệnh và nghị định, tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật trên Cơ sở
quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng phù hợp với thực tiễn Việt
Nam và luật pháp, thông lệ quốc tế, có tính khả thi cao. Muốn vậy, cần
phải xây dựng chương trình làm luật, đổi mới quy trình ban hành và
hướng dẫn thực thi pháp luật.
- Làm tốt chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nở, quyết
định và phân bổ ngân sách nhà nó.
- Làm tốt chức năng giám sát tối cao của quốc hội đối với toàn bộ hoạt
động của Nhà nước, trớ mất tập trung vào những vấn đề bức xúc như: sử
dụng vốn và tài sản của Nhà nước, chống tham nhũng, quan liêu: vấn để
bắt giam, điều tra, truy tố, xét xử. Việc giám sát của quốc hội đối với hoạt
động của Chính phủ, của các cơ quan tư pháp độ thực hiện dơi nhiều hình
thức, trong đó có hình thức báo cáo Công tác và trả lời chất vấn của các
thành viên Chính phủ, của Viện trong Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,
của Chánh án Toà án nhân dân tối cao tại các kỳ họp Quốc hội. Hình thức
này đang đọc cử tri cả nước đồng tình, hoan nghênh và coi đây cũng là
một hình thức giám sát của mình đối với hoạt động của Nhà nước. Việc
trả lời chất vấn trong các kỳ họp Quốc hội sắp tới cũng cần phải đổi mới
theo hồng tập trung vào những vấn đề lớn, quan trọng của Nhà nước,
13
những vấn để mà đông đảo nhân dân quan tâm và nâng cao trách nhiệm
của đại biểu Quốc hội và của các thành viên Chính phủ và chất lượng của
câu hỏi và câu trả lời. Khẩn chương trong nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung
một số điều của Hiến pháp 1992 cho phù hợp với tình hình mới.
2.2.2.2. Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh,
từng bọc hiện đại hố.
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nợ Cơng hồ xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ giữ quyền hành pháp, tức là chính phủ có chức
năng thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hố, xã
hội, quốc phịng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; đảm bảo hiệu lực của bộ máy
nhà nước từ trung ương đến cơ sở đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp,
pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân.
Trước hết, cần phải tập trung điều chỉnh chức năng và phong thức. hoạt
động của Chính phủ theo hướng tăng công quản lý vĩ mô các lĩnh vực hoạt động
của toàn xã hội bằng hệ thống pháp luật và hệ thống chính sách hồn chỉnh, đồng
bộ, giảm khối lượng xử lý các vụ việc cụ thể. Hoạt động của Chính phủ tập trung
vào việc xây dựng thể chế, chỉ đạo và kiểm tra việc xây dựng các văn bản quy
phạm pháp luật, hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển nông thể nền kinh tế
quốc dân, giải quyết những vấn đề quan trọng mang tính liên ngành, liên vùng đảm
bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, đáp ứng u cầu đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bà và cơ quan ngang bộ cũng đã điều chỉnh
theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bao quát tất cả các thành phần kinh
tế trong phạm vi cả nước cung cấp dịch vụ Công. Sắp xếp, tinh gọn các cơ quan
thuế Chính phủ, bộ máy giúp việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Cơ cấu bộ
máy và biên chế các bộ, cơ quan ngang bộ, Phân định rõ chức năng, thẩm quyền
quản lý hành chính nhà nước với nhiệm vụ cung cấp dịch vụ Cơng để bố trí bộ máy
và phương thức hoạt động phù hợp.
Tổ chức, bộ máy chính quyền địa phương được cải cách, kiện tồn theo
nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, không có quyền lực nhà nước ở địa
phương tách rời quyền lực nhà nước ở trung du được phân Công, phân cấp theo
hướng nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản
lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Chính quyền địa phương bao gồm Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đều thực hiện chức năng chấp hành pháp luật và
14
các quyết định hành chính của cấp trên. Trên cơ sở đó tổ chức hợp lý Hội đồng
nhân dân, bảo đảm hoạt động thiết thực, hiệu quả. Theo vị trí, trách nhiệm của từng
cấp hành chính, sắp xếp, kiện tồn, tinh gọn các Cơ quan chuyên môn của Ủy ban
nhân dân.
Xây dựng và kiến toàn bộ máy và cán bộ chính quyền cấp xã, phịng thị trấn
có đủ năng lực và phẩm chất để quản lý, giải quyết đúng thẩm quyền những vấn đề
do cuộc sống đặt ra.
Cùng với việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan,
tổ chức trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, cần xác định rõ trách nhiệm của
tập thể và trách nhiệm của cá nhân, trước hết là trách nhiệm cá nhân của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức; đổi mới phương thức làm việc của các cơ quan nhà
nước xây dựng và thực hiện nghiêm ngặt quy chế làm việc .
Cơng cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nó phải được lãnh đạo chặt chẽ
và tiến hành đồng bộ từ trung ông đến cơ sở, gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
2.2.2.3. Cải cách và kiện toàn các cơ quan tư pháp.
- Tiếp tục cải cách, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của Cơ quan tư
pháp theo nguyên tắc nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm tốt các Công tác điều tra,
bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử, không để xảy ra những trường hợp oan sai.
- Viện Kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát chung mà tập
trung làm tốt chức năng Công tố và kim sát hoạt động 1 phap, đảm bảo mọi hành
vi phạm tội đều bị phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đặc biệt là tội phạm an
ninh quốc gia và tội tham nhũng..
- Sắp xếp lại hệ thống Tòa án nhân dân, phân định thẩm quyền một cách hợp
lý theo nguyên tắc tổ chức tòa án theo cấp xét xử, tăng cường thẩm phán ở những
địa bàn trọng điểm, quy định rõ tiêu chuẩn, trách nhiệm và thẩm quyền của hội
thẩm nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao làm nhiệm vụ hướng dẫn áp dụng pháp
luật và thực hiện Công tác giám sát xét xử các bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật.
- Tổ chức lại các cơ quan điều tra theo nguyên tắc gọn đầu mối, có sự chỉ
đạo tập trung thống nhất. Kiện toàn cơ quan thi hành án và thành lập cảnh sát tư
Pháp. Cải cách và kiện toàn của Cơ quan bổ trợ tư pháp, cơ quan quản lý hành
chính tư pháp,
15
Xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật trong sạch,
có phẩm chất chính trị, trình độ chun mơn để đáp ứng u cầu nhiệm vụ.
KẾT LUẬN
Trong thời đại hiện nay, việc nâng cao vai trò của Nhà nước là một trong những
vấn đề then chốt cần được xem xét đúng mức và được triển khai có hiệu quả, đặc
biệt là vấn đề cải cách bộ máy hành chính nhà nước. Phải xây dựng một Nhà nước
xã hội chủ nghĩa thực sự là của dân, do dân, vì dân, một bộ máy nhà nước có khả
năng quản lí tốt để đưa đất nước phát triển đi lên một cách nhanh nhẹ, vững chắc,
tránh nguy cơ tụt hậu quá xa so với các nước khác trên khu vực và trên thế giới.
16
DANH MỤC THAM KHẢO
/>2. />3. />4. Vai trò lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kì đổi mới, NXB
CYQG, 2003.
1.
17