Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy với đổi mới kinh tế ở nước ta

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (150.16 KB, 15 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC
Đề tài: Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng phân
tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy với đổi mới kinh tế ở nước ta

Họ và tên: Đặng Ngọc Lan
Lớp: Anh 12 – KTKT – K59
Chuyên ngành: Kế toán Kiểm toán
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Tùng Lâm

QUẢNG NINH – THÁNG 6 NĂM 2021

MỤC LỤC


LỜI NÓI ĐẦU 2
I.
Lý luận và thực tiễn

3

1. Khái niệm lý luận............................................................................................3
Bản chất của lý
luận.......................................................................................3
1.2. Những đặc trưng và tính chất của lý
luận.......................................................3
1.1.


2. Khái niệm thực tiễn.........................................................................................4
2.1.
Những đặc trưng và tính chất của thực tiễn.........................................4
2.2.
Những hình thức của thực
tiễn..............................................................5
3. Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn 5

II.
1.

Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước
ta.7

Lý do đổi mới....................................................................................................7

2. Nội dung đổi
mới...............................................................................................8
2.1. Đổi mới tư duy.................................................................................................8
2.2. Đổi mới kinh tế................................................................................................9
3.

Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh
tế........................................10

KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………….14

1



LỜI NÓI ĐẦU
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản
của triết học Mác – Lênin. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống
nhất biện chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực
tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng khơng ngừng đổi mới,
phát triển, sự thống nhất biện chứng giữa chúng, vì thế, cũng có những nội
dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn
lịch sử.
Từ trước đến nay, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về q trình đổi mới ở
Việt Nam, dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, chưa có nhiều cơng
trình lý giải cặn kẽ về mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở
nước ta. Do đó, để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nghiên
cứu mặt lý luận của vấn đề này, bằng những kiến thức được học từ môn
“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là nội dung về
lý luận và thực tiễn, em xin trình bày đề tài: “Mối quan hệ giữa lý luận và
thực tiễn và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa đổi mới tư duy với đổi
mới kinh tế ở nước ta”.
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích vận dụng kiến thức đã học, nêu lên mối
liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta. Đồng thời, đề tài góp
phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho bản thân. Để đạt được mục
tiêu đó, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chung: phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các phương pháp nghiên cứu
cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia...

2


I.


Lý luận và thực tiễn

1. Khái niệm lý luận
- Theo nghĩa chung nhất, lý luận là sự khái quát hóa những kinh nghiệm thực
tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong
suốt quá trình tồn tại của nhân loại.
Như vậy, lý luận là sản phẩm cao cấp của nhận thức, là tri thức về bản chất,
quy luật của hiện thực khách quan, đồng thời thể hiện trình độ cao của nhận
thức. Các khái niệm lý luận gắn liền với những hệ thống lý luận nhất định.
Nhưng do là sản phẩm của nhận thức, nên lý luận là hình ảnh chủ quan của
thế giới khách quan.
1.1. Bản chất của lý luận
- Khái niệm, từ ngữ lý luận thường được hiểu với nhiều nội dung và ý nghĩa
khác nhau. Người ta thường hiểu lý luận là những học thuyết, quan điểm với
tư cách là cái kết quả mà quá trình nhận thức đạt được. Chẳng hạn, những hệ
thống lý thuyết, quan niềm được trình bày trong các tài liệu, báo cáo khoa
học, sách giáo khoa v.v. Nhưng lý luận còn được hiểu là một quá trình nhận
thức. Trong trường hợp này, lý luận có nghĩa là hoạt động lý luận và oạt
động ấy bao gồm cả những quá trình nội tại và những điều kiện bên ngoài
của hoạt động. Tùy theo những yêu cầu cụ thế mà người ta nêu lên, hoặc
quan tâm đến mặt này hay mặt khác của lý luận. ở đây chúng tơi nói về lý
luận với tư cách là hoạt động nhận thức lý luận (hoạt động lý luận)
Theo Lê – nin: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu
của nó, trong những quan hệ tồn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn
của nó, tự nó và vì nó”. Luận điểm đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của lý
luận cả về q trình và kết quả của nó. Lý luận phải hướng đến, nắm được
cái bên trong, tất yếu, những quan hệ toàn diện và mâu thuẫn của khách thể,
đồng thời phải trình bày, thể hiện được những cái đã nắm được ấy dưới hình
thức những quan điểm hoặc hệ thống lý luận. Từ luận điểm của Lê – nin,
cũng như từ việc xem xét những hình thức quan niệm, hoạt động lý luận

khác nhau, có thể xác định bản chất (định nghĩa) lý luận như sau: Lý luận là
nhận thức cái bên trong, tất yếu của đối tượng và biểu hiện nhận thức ấy
dưới hình thức các khái niệm, phạm trù, quy luật.
1.2. Những đặc trưng và tính chất của lý luận
3


- Đặc trưng:
Về nội dung phản ánh: lý luận phản ánh cái bên trong, tất yếu của đối tượng,
lý luận có thể phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của sự vật trong tính chỉnh
thể, tồn vẹn của nó, nhưng cũng có thể chỉ phản ánh cái bên trong, cái tất
yếu của từng mặt nào đó của đối tượng,
Về hình thức phản ánh: Lý luận biểu hiện, trình bày đối tượng trong hình
thức những khái niệm, phạm trù, quy luật hoặc hệ thống các khái niệm,
phạm trù, quy luật.
- Tính chất:
Lý luận có tính chất trừu tượng hóa, khái qt hóa, tổng hợpvà những tính
chất này hình thành trên cơ sở của phân tích, so sánh. Tính chất này thể hiện
khơng chỉ trong q trình hoạt động, mà cả trong kết quả của hoạt động lý
luận và nó thể hiện rõ ở việc chủ thể sử dụng những công cụ là các phạm trù,
khái nệm, quy luật trong các hoạt động nhận thức.
Do những tính chất trên mà hoạt động lý luận có một tính chất nổi bật khác
là tính gián tiếp đối với đối tượng nhận thức. Lý luận cịn mang tính khuynh
hướng. Có lý luận tiên tiến, cách mạng, có lý luận bảo thủ, phản cách mạng,
phản khoa học v.v. Tuy nhiên, tính khuynh hướng của lý luận khơng phải là
q trình tự thân của lý luận, mà do thực tiễn quy định.
 Lý luận học có quan hệ mật thiết với rất nhiều môn khoa học khác. Lý
luận là xuyên suốt và chi phối tư duy logic, qua đó chi phối ngày càng
mạnh mẽ mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của đời sống xã hội. Lý
luận thường mang tính hệ thống, dù là chân chính – khoa học hay giả tạo

– phản khoa học. Lý luận không tự thân xuất hiện, tồn tại, vận động, phát
triển. Tóm lại, giá trị cũng như sự xuất hiện, tiêu vong của một khái niệm
là ở khả năng phản ánh đời sống thực tiễn một cách trung thực, chính xác
và sâu sắc như thế nào và nhờ đó, nó có khả năng định hướng cho đời
sống thực tiễn như thế nào.
2. Khái niệm thực tiễn
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là những hoạt động vật chất có
mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và
xã hội.
2.1. Những đặc trưng và tính chất của thực tiễn
- Đặc trưng: thực tiễn là hoạt động vật chất, không phải hoạt động tinh thần,
mang tính mục đích và có ý thức của con người; mang tính lịch sử - xã hội,
tùy thuộc bối cảnh, không gian, thời gian mà thực tiễn có những cách thức,
phương pháp thực hiện khác nhau, hướng tới cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội
và từ đó cải tạo chính bản thân con người.
4


Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là dạng hoạt động
cơ bản và phổ biến của xã hội lồi người, mang tính lịch sử - xã hội cụ thể.
Con người phải lao động sản xuất, chế tạo và sử dụng công cụ lao động, để
tạo ra của cải vật chất ni sống. Do đó, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ
bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của quan
hệ giữa con người và thế giới.
Bản chất của hoạt động thực tiễn là sự tác động qua lại giữa chủ thể và
khách thể.
- Tính chất: thực tiễn có tính khuynh hướng và tính khuynh hướng này thường
do những lợi ích của những tập đồn xã hội nhất quy định. Vì vậy, thực tiễn
có thể tiến bộ, cách mạng nhưng cũng có thể bảo thủ, phản tiến bộ, phản
cách mạng; thực tiễn có thể mang tính chất nhân đạo, nhân văn chủ nghĩa,

cũng có thể mang tính chất vơ nhân đạo, phi nhân văn, phi nhân tính v.v.
2.2. Những hình thức của thực tiễn
Phân chia theo lĩnh vực hoạt động, có các hình thức thực tiễn là sản xuất vật
chất, hoạt động xã hội hiện thực, thực nghiệm khoa học. Trong đó hoạt động
sản xuất vật chất giữ vai trị trung tâm, tuy nhiên, các hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học cũng có tính độc lập tương đối của mình.
Nhưng cũng có thể nói, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động hiện thực của con
người thì có chừng ấy hình thức tồn tại của thực tiễn. Các hình thức hoạt
động thực tiễn quan hệ biện chứng với nhau, trong đó sản xuất vật chất, suy
đến cùng là lĩnh vực hoạt động nền tảng, có vai trị quyết định đến hoạt động
trên các lĩnh vực khác.
Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, song có thể chia thành 3 loại:
+ Hoạt động sản xuất vật chất
+ Hoạt động chính trị - xã hội
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học
Trong ba loại trên, hoạt động sản xuất có vai trị quyết định đối với các loại
hoạt động thực tiễn. Cịn hoạt động chính trị - xã hội là hình thức cao nhất
của thực tiễn. Hoạt động khoa học là loại hình đặc biệt nhằm thu nhận kiến
thức từ tự nhiên và xã hội.
3. Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn

5


Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn có thể được xem xét từ nhiều góc độ,
quan điểm khác nhau. Thực tiễn có vai trị quyết định đối với lý luận. Sở dĩ
như vậy vì thực tiễn là hoạt động vật chất, phản ánh thực tiễn. Thực tiễn là
cơ sở, động lực của lý luận. Tức là, thực tiễn là bệ phóng, cung cấp các
nguồn lực cho lý luận. Thực tiễn còn vạch ra tiêu chuẩn cho lý luận. Thông
qua các hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa, hiện thực hóa,
mới có sức mạnh cải tạo thế giới khác quan.

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn: thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
thể hiện ra là mối liên hệ không thể tách rời giữa lý luận và thực tiễn. Thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn cũng có nghĩa là đồng nhất giữa thực tiễn và lý
luận, đó là sự chuyển hóa lý luận thành thực tiễn, áp dụng lý luận thành công
trong thực tiễn, là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn. Đồng nhất giữa lý
luận và thực tiễn còn thể hiện ở chỗ lý luận như một thành tố, một quá trình,
một sản phẩm tất yếu của thực tiễn. Quan niệm về sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn có nội dung cơ bản là về sự phù hợp của lý luận với thực tiễn.
Nhưng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là thống nhất trong khác biệt,
đối lập.
Sự đối lập giữa lý luận và thực tiễn: với tư cách là hai mặt của thể thống
nhất, lý luận và thực tiễn đối lập với nhau với tự cách là đối lập của cái phản
án, cái sản phẩm với cái được phản ánh, cái nguồn gốc, cái cơ sở. Chúng còn
biểu hiện sự đối lập giữa cái bị quy định và cái quy định. Đối lập của lý uận
với thực tiễn còn thể hiện ở sự lạc hậu của lý luận so với thực tiễn hoặc
ngược lại, hoặc đối lập với tư cách sự sai lầm của lý luận so với thực tiễn và
ngược lại.
Tuy nhiên, lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thực
tiễn. Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn,
góp phần làm biến đổi thực tiễn thơng qua hoạt động của con người. Lý luận
là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Lê –
nin khẳng định: “Khơng có lý luận cách mạng thì cũng khơng thể có phong
trảo cách mạng”. Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức
mạnh vật chất. Điều đó cũng có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách
mạng. Như Bác Hồ đã khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là
một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn khơng có lý
luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lý luận suông”.
6



Mối liên hệ của thực tiễn với lý luận còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu
chuẩn chân lý, lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận. Vấn đề tìm hiểu xem tư duy
của con người có thể đạt tới chân lý khách quan khơng, hồn tồn khơng
phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn
mà con người phải chứng minh chân lý. Nhận thức khoa học cịn có tiêu
chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn logic. Nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay
thế cho tiêu chuẩn thực tiễn và xét đến cùng, nó cũng phụ thuộc vào tiêu
chuẩn thực tiễn.
Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội
cụ thể. Quan hệ giữa chúng là quan hệ biện chứng. Nắm bắt được tính chất
biện chứng của q trình đó, là tiền đề quan trọng giúp chúng ta có được lập
trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng thiển cận, cũng
như chủ nghĩa giáo điều máy móc và bệnh lý luận suông.

II.

Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta

1. Lý do đổi mới
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1975, cả nước độc lập
thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Nhiệm vụ chính lúc này là khơi phục, ổn định xây dựng và
phát triển đất nước trong điều kiện hịa bình. Tình hình đó đã đặt ra một u
cầu là cần phải có những chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp với tình
hình mới của đất nước để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Trên thực tế,
các chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng ở một số mặt trong thời kì
này chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, đặc biệt là những chủ trường,
đường lối trong lĩnh vực kinh tế.

Thời kì khơi phục kinh tế, Đảng nhận thấy rõ những khó khăn của nền kinh
tế đất nước: cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, năng suất lao động thấp,
sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu đời sống và tích lũy,... Đảng cũng vạch ra
những nguyên nhân sâu xa của tình hình trên là nền kinh tế nước ta là sản
xuất nhỏ, công tác tổ chức và quản lý kinh tế có nhiều hạ chế,... Nhưng
những điểm bất hợp lý trong quan hệ sở hữu Đảng lại chưa chỉ ra.
Trong giai đoạn ấy, Đảng đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm tịi, xây dựng
được lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng
Đảng đã phạm sai lần chủ qua duy ý chí, vi phạm luật khách quan: nóng vội
trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có
lúc đẩy mạnh q mức việc xây dựng cơng nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ
chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương sai
7


trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương; công tác tư tưởng và tổ chức
cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng.
Những sai lần chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan này đã dẫn
đến khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội ở Việt Nam những năm đầu
thập kỉ 80 của thế kỷ trước. Tình hình kinh tế - xã hội có những khó khăn
gay gắt: sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; đời sống nhân
dân lao động gặp nhiều khó khăn; hiệ tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và
có nơi nghiêm trọng...
Trong lĩnh vực tư tưởng đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và sự yếu
kém về vận dụng các quy luật trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Về tổ chức, khuyết điểm lớn nhất là thiếu quy hoạch và chậm đổi
mới cán bộ; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng,
phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc mang nặng chủ nghĩa quan liêu; tổ
chức bộ máy quá lớn, chồng chéo và kém hiệu lực; giáo dục và quản lý cán
bộ đảng viên thiếu chặt chẽ.

Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước,
trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính
sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện. Những sai lầm và
khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm
trong công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng.
Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề sống cịn là đưa đất nước thốt ra khỏi khủng
hoảng. Mặt khác, chính trị thế giới có nhiều biến động phức tạp, tiềm ẩn
những bùng nổ, thay đổi bất lợi cho sự phát triển của nước ta theo cơ chế lúc
bấy giờ. Trong tình thế cần lựa chọn, điều chỉnh, thay đổi, bằng kinh nghiệm
lãnh đạo sáng suốt nhìn thẳng vào sự thật, tin tưởng vào lực lượng quần
chúng và trách nhiệm lớn lao trước vận mệnh của Tổ quốc, Đảng ta đã kiên
quyết đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, trước hết là đổi mới về tư duy và
trọng tâm là đổi mới về kinh tế.
2. Nội dung đổi mới
2.1. Đổi mới tư duy
Đường lối đổi mới của Đảng được hình thành thơng qua hàng loạt
chuyển biến của tư duy. Đổi mới tư duy là yêu cầu đầu tiên mà Đảng ta
đã đặt ra khi bước vào thời kì đổi mới. Đây là điều quyết định để Đảng
xác định và từng bước phát triển trên đường lối đổi mới và đặc biệt quan
8


trọng là để đưa đường lối ấy vào cuộc sống, nhằm giành những thành tựu
ngày càng lớn hơn cho sự xây dựng và phát triển đất nước.
Mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội: mỗi quốc gia, dân tộc đều phải
suy nghĩ, tìm tịi, lựa chọn để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa
phù hợp với điều kiện, đặc điểm của nước mình. hiện này, nước ta cịn
đang ở thời kì q độ đi lên chủ nghĩa xã hội, có rất nhiều vấn đề cần
được nhận thức, vận dụng đúng đắn, phù hợp với thực tế và quy luật

khách quan, khơng thể nơn nóng, giáo điều, máy móc.
Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay, giải phóng và phát triển sức sản
xuất, đảm bảo cho kinh tế tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững phải là
nhiệm vụ chính trị trọng đại số một, nhiệm vụ trọng tâm. Phát triển kinh
tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, Đảng ta đã đặt đúng
tầm vấn đề xã hội trong mối quan hệ với kinh tế, càng về sau Đảng ta
càng khẳng định gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với
chính sách xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội. Phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm
cho văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội: văn hóa đồng bộ và
tương xứng với tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, tiến bộ chính tri, là
một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, thể hiện sự nhận thức mới, sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta.

2.2.

Giữ vững môi trường hịa bình, hữu nghị vì sự phát triển của đất nước,
đổi mới tư duy đối ngoại theo tinh thần “thêm bạn bớt thù”. Xây dựng
chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, từng bước
nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, giữa kinh tế và quốc phòng – an ninh –
đối ngoại, nhận thức toàn diện hơn về khái niệm “an ninh quốc gia” và
“bảo vệ Tổ quốc”. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân. Nâng cao vai trò lãnh đạo và năng lực
cẩm quyền của Đảng: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi
thắng lợi của cơng cuộc đổi mới cũng như tồn bộ sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta. Để có đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo đúng đắn và có
hiệu quả, Đảng càng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, coi đây
là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.
Đổi mới kinh tế

Đổi mới về kinh tế được định nghĩa là: quá trình chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
9


-

-

-

-

3.

phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể:
Từ quan niệm về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
một nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần xã hội chủ nghĩa đã đi đến quan
niệm về một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ quan niệm cho rằng, để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa, phải nhanh chóng hoàn thành cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế
cá thể, tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đi đến
quan niệm cho rằng việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản
xuất mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản
xuất.
Từ quan niệm chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất đi
đến quan niệm một nền kinh tế nhiều sở hữu.
Từ quan niệm kinh tế quốc doanh là chủ đạo đã đi đến quan niệm kinh tế
nhà nước là chủ đạo.

Từ quan niệm hợp tác xã thuần túy là kinh tế tập thể, đi đến quan niệm hợp
xtác xã là một tổ chức kinh tế được hình thành.
Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể đi đến
quan niệm muốn cho hai thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày
càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Từ quan niệm Nhà nước phải chỉ huy nền kinh tế theo một kế hoạch tập
trung với những chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đi đến quan niệm
phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản
công.
Từ quan niệm chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng là
phân phối theo lao động đã đi đến quan niệm thực hiện nhiều hình thức phân
phối.
Từ quan niệm thị trường xã hội chủ nghĩa đối lập với thị trường tư bản chủ
nghĩa, hạn chế quan hệ kinh tế quốc tế, đã đi đến quan niệm về một nền kinh
tế mở, thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ, chủ động hội
nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.
Từ chỗ quan niệm đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế tư bản chủ nghĩa
đã đi đến quan niệm coi sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường không phải
là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là thành quả phát triển qua nhiều
phương thức sản xuất mặc dù đến chủ nghĩa tư bản thì kinh tế thị trường
phát triển đến mức điển hình.
Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế
Tại sao Đảng ta lại đặt ra yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới, trước hết
là đổi mới tư duy? Bởi vì khơng có bước đổi mới tư duy đi trước thì khơng
có bất cứ một sự đổi mới nào cả. đổi mới tư duy để tìm ra những vấn đề lý
10


luận và thực tiễn nước ta, làm căn cứ phương pháp luận cho việc xác định
con đường và bước đi sắp tới. Đổi mới tư duy thực chất là một cuộc giải

phóng triệt để mang ý nghĩa lịch sử. Tư tưởng giải phóng là một q trình
rời bỏ khỏi bản thân mình và tồn xã hội những gì đang kìm hãm và cản trở
sự phát triển, là quá trình tổ chức lại xã hội và đưa vào cơ chế vận hành của
xã hội một hệ thống đồng bộ các yếu tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực đẩy
cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Ngày nay cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới khác về
chất: xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa –
một phương thức chưa từng có trong tiền lệ. Con đường mới lại diễn ra trong
xu thế tồn cầu hóa và sự cạnh tranh rất quyết liệt trước sức ép của chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, trước sự phát triển như vũ bão của
cách mạng koa học và công nghệ. Trong hoàn cảnh ấy, đổi mới tư duy và
phương thức lãnh đạo của Đảng trở thành nhu cầu không thể thiếu.
Thực tiễn cho thấy, sức sống của một Đảng chính trị tập trung trước hết là ở
đường lối của chính Đảng ấy. Là một Đảng cầm quyền, Đảng ta lãnh đạo
cách mạng cũng chính bằng đường lối chính trị của mình.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa rõ ràng là những vấn đề
hoàn toàn mới cả về lý luận và thực tiễn. Mác, Ăng – ghen, Lê – nin và kể cả
các lãnh tụ tiền bối của Đảng ta cũng chưa từng đề cập đến vấn đề này. con
đường phía trước địi hỏi chúng ta phải hồn tồn sáng tạo mới.
Con đường ấy vừa thể hiện sự trung thành với quá khứ, nhưng không lệ
thuộc vào quá khứ. Trong kinh tế, chúng ta một mặt rất muốn phát triển,
nhưng mặt khác lại rất sợ phát triển vượt khỏi khuôn khổ chuẩn mực của chủ
nghĩa xã hội theo những tiêu chí truyền thống. Vì vậy, đường lối kinh tế vẫn
mang nặng hơi thở của lối tư duy cũ, tư duy thời kế hoạch hóa, tư duy bao
cấp, đối lập với kinh tế thị trường. Kết quả là đường lối đổi mới trong kinh
tế chưa thực sự khơi dậy mọi nguồn lực hiện có. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế
ngày càng xa hơn là có thật. Do đó, Đảng đã chỉ đạo chuyển sang kinh tế thị
trường, thiết kế một hệ thống chính sách nhằm tạo điều kiện để tất cả mọi
công dân ở trong nước và các nhà đầu tư nước ngồi, có khả năng làm kinh
tế đều hồn tồn có thể tham gia làm kinh tế, theo những định hướng vĩ mô

của nhà nước, trong khuôn khổ của luật pháp.
Đường lối đổi mới là sản phẩm của đổi mới tư duy, của sự khảo nghiệm từ
thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhiều năm trước đó, là sự kế thừa
và phát triển đường lối đã hình thành qua các thời kỳ và tổng kết thực itiễn
một cách nghiêm túc, sáng tạo.
Khẳng định đổi mới tư duy là trước tiên, là cơ sở cho việc đổi mới ở các lĩnh
vực khác, Đảng ta cũng khẳng định đổi mới kinh tế giữ vai trị trọng tâm.
Điều đó khơng chỉ có ý nghĩa là kinh tế có vị trí hàng đầu, có tác dụng quyết
11


định mà cịn là vì phát triển kinh tế trong điều kiện bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội như nước ta, có tầm quan trọng đặc biệt, nếu
khơng muốn nói là quan trọng bậc nhất.
Nó cịn có ý nghĩa là vai trị kinh tế tuy chiếm vị trí hàng đầu nhưng tư duy
kinh tế của chúng ta trong nhiều năm qua còn quá lạc hậu so với cuộc sống,
cản trở khơng ít đến sự phát triển kinh tế. tư duy kinh tế lỗi thời bắt nguồn từ
căn bệnh giáo điều, bảo thủ, trì trệ, ln bám lấy cái cũ, khơng chịu đổi mới,
chính vì vậy mà nền kinh tế - xã hội nước ta đã lâm vào một cuộc khủng
hoảng kéo dài và đang trở thành vấn đề nóng bỏng, nổi lên hàng đầu. Đổi
mới tư duy kinh tế, vì vậy, là điểm xuất phát trong đổi mới lý luận của Đảng,
là điều hợp với thực tế, với logic cuộc sống.
Trong quá trình đổi mới, từ thực tế nền kinh tế nước ta ở điểm xuất phát
thaaos kém, lạc hậu, lại lâm vào khủng hoảng từ cuối thập niên bảy mươi,
Đảng ta chủ trương lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, tạo ra bước phát triển
có tính bứt phá để sớm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, ổn định và cải
thiện đời sống nhân dân. Đảng, Nhà nước ta đã đưa đất nước ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội từ năm 1996 và đạt thành tựu to lớn về kinh tế qua 20
năm đổi mới.
Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị có vị trí và tác động

to lớn tới kinh tế. Thấu triệt sâu sắc và xử lý thành công mối quan hệ giữa
chính trị và kinh tế trong cơng cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi
mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.

12


KẾT LUẬN
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, thống nhất hữu cơ với nhau. Lý
luận là kim chỉ nam cho hành động thực tiễn, thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực
và là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm lý luận. Trong thực tiễn cách mạng nước ta, có
những vấn đề mới nảy sinh, nằm ngồi phạm vi lý luận đã biết, buộc Đảng ta phải
vận dụng linh động, sáng tạo và chủ động tổng kết thực tiễn, xây dựng lý luận
nhằm tìm ra phương thức, biện pháp hoạt động phù hợp. Sự nghiệp đổi mới là một
trong những vấn đề như vậy, trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã chủ động, sáng
tạo, vừa thực hiện, vừa tổng kết lý luận, vừa xây dựng lý luận, vừa kiểm nghiệm và
định hướng cho hoạt động thực tiễn.
Trải qua hơn 20 năm đổi mới thành công, sự nghiệp đổi mới đã được rất nhiều học
giả nghiên cứu ở phạm vi thế giới cũng như ở Việt Nam. Trong phạm vi nghiên
cứu đề tài này đã cố gắng bám sát lý luận đã được trang bị ở môn “Những nguyên
lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, đặc biệt là nội dung về mối liên hệ giữa
lý ;uận và thực tiễn, từ đó phân tích về mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới
kinh tế trong sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta.
Tổng kết lại, nhìn vào chặng đường đổi mới kinh tế của chúng ta có thể nhận định
lại một lần nữa trước hết phải coi công nghiệp là mặt trận hàng đầu, cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp nơng thơn, khơng rập khn máy móc mơ hình cải
tổ kinh tế xuất phát từ công nghiệp nặng của Liên Xô, coi trọng quy luật quan hệ
sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. do vậy tiến
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa khơng có nghĩa là phủ nhận những

thành quả to lớn về khoa học kĩ thuật, trình độ lực lượng sản xuất. đổi mwois kinh
tế xuất phát điểm là cơng cuộc cơng nghiệp hóa theo hướng hiện đại để tạo cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Công tác tư duy phải được sửa
đổi tiếp thu qua mỗi thờ kì giai đoạn. Nền tảng đổi mới của nước ta phải dựa vào
nhân dân vì lợi ích của nhân dân phù hợp thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Đảng và
nhà nước ta cần nhìn nhận đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực
tiễn, không ngừng tổng kết thực tiễn để đúc kết lý luận. Sự nghiệp đổi mới kinh tế
ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Nó nhằm tới những mục tiêu cụ thể của đất
nước, nó thay đổi hàng loạt vấn đề cả về lý luận thực tiễn, cả về chính trị và kinh
tế. Nó bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong
hồn cảnh mới.

13


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.

4.

5.

Lý luận và thực tiễn: />Quan niệm chung veề lý luận và thực tiễn: />Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn và vận dụng phân tích mối liên hệ
giữa đổi mới tư duy với đổi mới kinh tế ở nước ta />Thực tiễn là gì? Phân tích vai trị của thực tiễn đối với nhận thức />Đổi mới tư duy kinh tế trong nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - />
14




×