Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Phép biện chứng về mối liện hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (165.67 KB, 16 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: Phép biện chứng về mối liện hệ phổ biến và vận
dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với
bảo vệ môi trường sinh thái.
Họ và tên : Nguyễn Thị La
Lớp: Anh 12_KTKT-K59
Chuyên ngành: Kế tốn kiểm tốn
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hồng Văn Vinh

QUẢNG NINH – THÁNG 6 NĂM 2021


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………………………...1
I. PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN….…………..2
1.1. Khái quát về phép biện chứng………………………………………………......2
1.1.1. Khái niệm biện chứng, phép biện chứng………………………………….....2
1.1.2. Lịch sử phát triển và các hình thức cơ bản của phép biện chứng……....2
1.1.3. Phép biện chứng duy vật.….…………………………………………………3
1.2. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến………………………………………………5
1.2.1. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến………………………………..5
1.2.2. Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến………………………………..5
1.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận…………………………………………………….7

II. MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI………………………………………………..7
2.1. Tăng trưởng kinh tế……………………………………………………………….7


2.2. Bảo vệ môi trường sinh thái.…………………………………………………....8
2.3. Mối quan hệ biện chứng giữa tặng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái……………………………………………………………………...……8
2.3.1. Thực trạng mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh
thái…………………………………………………………………………………………....9
2.3.2. Một số khuyến nghị nhằm đảm bảo cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế
và bảo vệ môi trường…………..…………………………………………………………11

KẾT LUẬN……………………………………………………………………………...13
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………...14


LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỉ thứ 21 đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của loài người trên
nhiều lĩnh vực, những phát minh, sáng chế, những bước ngoặt làm thay đổi toàn
bộ thế giới. Chúng ta đã biết tất cả những mối liên kết trong sự sống sẽ không
tồn tại và phát triển được nếu không được hỗ trợ bởi môi trường. Nhưng với tốc
độ phá hoại môi trường như hiện nay của con người, môi trường của chúng ta
đang dần bị suy thoái, mối liên kết của các mạng lưới sự sống đang dần bị phá
vỡ. Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, một mặt nâng cao đời sống của
người dân, mặt khác lại đang gây 1 sức ép mạnh mẽ lên môi trường tự nhiên.
Cũng như các nước đang phát triện khác, để có những kết quả về kinh tế trong
giai đoạn trước mắt, cái giá ta phải trả là mất đi sự bền vững của các nguồn tài
nguyên về lâu dài. Một thập kỷ phát triển nhanh chóng ở Việt Nam đã dẫn đến
sự gia tăng ô nhiễm đất, không khí, nước và quan trọng hơn là gia tắng mức tiêu
thụ, phân hóa giàu nghèo.. mạng lưới sự sống đang dần mất đi sức mạnh của nó.
Vì vậy, em cuyết định chọn đề tài này để nghiên cứu, đây là vấn đề mang nhiều
giá trị cả về lí luận lẫn thực tiễn.

3



I. PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1.1. Khái quát về phép biện chứng
1.1.1. Khái niệm biện chứng, phép biện chứng
Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, vận động, chuyển hóa và
phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư
duy. Bao gồm biện chứng khách quan: biện chứng của thế giới vật chất và biện
chứng chủ quan: sự phản ánh biện chứng khách quan vào ý thức con người.
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế
giới thành hệ thống các nguyên lí, quy luật, phạm trù khoa học, từ đó xây dựng
hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận để chỉ đạo hoạt động nhận thức và
thực tiễn của con người.
Phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan và đối lập với phép siêu
hình (phương pháp tư duy về sự vậy, hiện tượng trong trạng thái cô lập, bất
biến).
1.1.2. Lịch sử phát triển và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Qua thời gian, cùng với sự phát triển của nhận thức, triết học nói riêng và
sự phát triển của xã hội, thế giới nói chung, phép biện chứng cũng thay đổi và
phát triển theo từng thời kì. Trong đó, phép biện chứng đã phát triển qua ba hình
thức cơ bản: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ
điển Đức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, ứng với các
trình độ nhận thức khác nhau của con người.
Hình thức đầu tiên của phép biện chứng là phép biện chứng chát phác thời
cổ đại, xuất hiện trong hệ thống triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại.
Có thể kể đến “biến dịch luận”, “ngũ hành luận” bàn về những nguyên lý tương
tác, quy luật phổ biến trong vũ trụ, thuộc thuyết âm – dương của triết học Trung
Quốc hay các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, nhận thức về vũ trụ trong triết
học của đạo Phật Ấn Độ. Ở hình thức này, tinh thần phép biện chứng được thể
hiện sâu sắc nhất trong triết học Hy Lạp cổ đại. Hêraclít cho rằng: “…mọi vật

4


đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trơi đi, mọi vật đều
khơng ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”. Đây là
cách nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới, tuy nhiên còn chất phác,
chưa được chứng minh bởi khoa học tự nhiên.
Hình thức thứ hai của phép biện chứng là phép biện chứng duy tâm cổ điển
Đức do Hêghen hồn thiện. Trong đó, những tư tưởng cơ bản nhất của phép
biện chứng duy tâm đã được trình bày rõ ràng với những hệ thống phạm trù, quy
luật, có tính logic chặt chẽ. Tuy nhiên, đây là phép biện chứng theo tư tưởng duy
tâm, cho rằng “tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực
chỉ là một bản sao chép của ý niệm”. Theo đó, Hêghen coi biện chứng là quá
trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối” và biện chứng chủ quan là cơ sở
cho biện chứng khách quan. Có thể thấy, ở Hêghen, phép biện chứng đã được
trình bày một cách bao quát, đồng thời đã có những hình thái vận động chung
nhất định, nhưng lại bị “lộn ngược” do đi theo chủ nghĩa duy tâm. Đây là hạn
chế còn tồn tại trong triết học Hêghen nói riêng và triết học cổ điển Đức nói
chung cần phải vượt qua. Bằng việc khắc phục hạn chế nói trên, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã sáng tạo nên hình thức thứ ba của phép biện chứng: phép biện
chứng duy vật. Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng trong
lịch sử triết học, kế thừa những tinh hoa và khắc phục những hạn chế của phép
biện chứng cổ điển Đức.
1.1.3. Phép biện chứng duy vật
Khái niệm và nội dung phép biện chứng duy vật
Ph. Ăngghen định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật như sau:
“Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận
động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”. Bên
cạnh đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng có một số cách định
nghĩa khác về phép biện chứng duy vật: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên

hệ phổ biến” (Ph. Ăngghen), “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát
triển” (V.I.Lênin). Qua đó, có thể thấy phép biện chứng duy vật là hệ thống các
5


nguyên lí, phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng và lý luận nhận thức
duy vật biện chứng. Nội dung phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý
(nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), ba quy luật
(quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật chuyển hóa từ
những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại; quy
luật phủ định của phủ định) và sáu cặp phạm trù (cái riêng và cái chung, nguyên
nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hìnhthức, bản chất và hiện
tượng, khả năng và hiện thực).
Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật
Thứ nhất, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin là phép biện
chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Do đó,
phép biện chứng duy vật có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm
cổ điển Đức và có sự khác biệt về trình độ so với tư tưởng biện chứng của triết
học cổ đại.
Thứ hai, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có sự thống
nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện
chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật, nhờ vậy, không chỉ dùng để giải thích
thế giới mà cịn trở thành cơng cụ cơ bản, trở thành nền tảng để con người dựa
vào đó nhận thức và cải tạo thế giới. Trên cơ sở khái quát những quy luật, mối
liên hệ phổ biến, khái quát nhất của sự vật, hiện tượng trên thế giới, phép biện
chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin cung cấp cho những nguyên tắc
phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, khiến
nó trở thành cơng cụ khoa học vĩ đại cho giai cấp cách mạng.
Nhờ các đặc trưng nói trên, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác –
Lênin được xem như hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng trong

triết học. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng, tạo nên tính khoa học và cách
mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời là thế giới quan và phương pháp
luận chung nhất của hoạt động sáng tạo và thực tiễn.
6


1.2. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1.2.1. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự phụ thuộc, quy định, tác động và
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố
của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở
nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới. Đó là các mối liên hệ giữa các mặt đối lập,
lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện
tượng, v.v.
1.2.2. Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lí cơ bản của
phép biện chứng duy vật. Đây là ngun lí đóng vai trị quan trọng trong nội
dung của phép biện chứng duy vật, mà để nhấn mạnh vai trò này, Ph. Ăngghen
đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”.
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật, hiện tượng hoặc các
mặt, yếu tố của mỗi sự vật hiện tượng vừa tồn tại tách biệt nhau và tồn tại khách
quan, ngoài ý muốn chủ quan của con người; lại vừa có sự liên hệ qua lại, phụ
thuộc, tác động và chuyển hóa lẫn nhau. Giữa các sự vật, hiện tượng vừa tồn tại
mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại mối liên hệ phổ biến ở phạm vi nhất định. Đồng
thời, cũng tồn tại mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù
là sự thể hiện của mối liên hệ phổ biến trong một số điều kiện nhất định.
Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đã tạo nên tính thống nhất
trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của mối liên
hệ trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Tính chất cơ bản của các mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ thể hiện rất rõ quan điểm biện chứng
duy vật. Theo đó, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt,
yếu tố của một sự vật, hiện tượng có tính khách quan, là cái vốn có, tồn tại độc
7


lập và khơng phụ thuộc vào ý chí của con người. Con người chỉ nhận thức và
vận dụng các mối liên hệ này cho hoạt động thực tiễn của con người.
Tính phổ biến của các mối liên hệ góp phần thể hiện sự khác biệt về trình
độ nhận thức giữa quan điểm biện chứng của triết học Mác – Lênin và tư tưởng
biện chứng của triết học cổ đại. Nếu như triết học Hy Lạp cổ chưa có được sự
phân tích giới tự nhiên, vẫn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và xem xét
chỉnh thể ấy một cách tồn bộ; thì ở đây, ta thấy được giới tự nhiên vốn bao gồm
nhiều yếu tố riêng biệt, thế giới được tạo thành từ rất nhiều sự vật, hiện tượng
cùng tồn tại. Hơn nữa, không một sự vật, hiện tượng nào tồn tại tuyệt đối độc
lập, biệt lập với các sự vật, hiện tượng khác. Mối liên hệ tồn tại phổ biến ở mọi
sự vật, hiện tượng trong thế giới. Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một cấu trúc hệ
thống, bao gồm những yếu tố cấu thành và những mối liên hệ bên trong của nó,
đồng thời tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và chuyển hóa
lẫn nhau.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự
vật, hiện tượng, q trình khác nhau có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ
vai trị, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó. Mặt khác, cùng
một mối liên hệ nhưng trong những giai đoạn vận động khác nhau, trong điều
kiện khác nhau thì tính chất, vai trị và vị trí của mối liên hệ đó cũng khác nhau.
Bên cạnh đó, trong mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể, trong điều kiện
không gian và thời gian cụ thể, các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc
thù trong sự vật, hiện tượng cũng có sự thể hiện phong phú, đa dạng khác nhau.
Như vậy, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong điều kiện nhất định,

không thể đồng nhất tính chất, vị trí, vai trị của các mối liên hệ khác nhau đối
với sự vật, hiện tượng đó; mà phải phân loại các mối liên hệ một cách cụ thể.
Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những loại mối liên hệ sau:
chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngồi, chủ yếu và thứ
yếu, khơng gian và thời gian,v.v.. Sự phân loại này là tương đối, vì mối liên hệ
chỉ là một bộ phận, một mặt trong tồn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung. Quan
8


điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối
trong sự phân loại đó. Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hố cho nhau.
Sự chuyển hố có thể diễn ra khi thay đổi phạm vi xem xét, nghiên cứu hoặc do
kết quả vận động khách quan của chính sự vật, hiện tượng ấy.
1.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ đòi hỏi ta cần có
quan điểm tồn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Điều đó có nghĩa là
khi nhận thức và xử lí các tình huống thực tiễn, cần xem xét sự vật, hiện tượng
trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các yếu tố, các mặt của chính sự vật,
hiện tượng đó; cũng như trong mối quan hệ biện chứng, qua lại của sự vật, hiện
tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác.
Thứ hai, tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ đòi hỏi ta phải có quan
điểm lịch sử - cụ thể trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Điều đó có nghĩa là
khi nhận thức và xử lí các tình huống thực tiễn, cần xét đến những tính chất đặc
thù của đối tượng nhận thức, xác định vai trị, vị trí của mỗi mối liên hệ cụ thể
trong những tình huống cụ thể, từ đó có giải pháp đúng đắn và hiệu quả trong xử
lí các vấn đề thực tiễn.

II. MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
2.1. Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc
tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tình bình quân
trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinht ế. Tuy vậy
ở một số quốc gia, mước đọ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu
nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trặng
nghèo khổ. Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trường tuyệt
đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
trong 1 giai đoạn.
9


Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa 2 kỳ cần
so sánh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy
mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh
tế được thể hiện bằng đơn vị %.
2.2. Bảo vệ môi trường sinh thái
Môi trường sinh thái là 1 mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với
nhau giữa đất, nước, khơng khí và các cơ thể sống trong phạm vi tồn cầu. Sự
tương tác hịa đồng giữa các hệ thống của thiên nhiên tạo ra môi trường tương
đối ổn định. Sự rối loạn bất ổn định ở 1 khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra
hậu quả nghiêm trọng. Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là 1 bộ phận
của thiên nhiên. Hoạt động của con người được xem là 1 khâu, yếu tố trong hệ
thống. Thơng qua q trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho
thiên nhiên. Cũng qua q trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự
nhiện. Do tiếng gọi của những lời ích nhất thời nào đó, cũng có thể là do sự
hoạch định thiển cận về mặt chiến lược, trong khơng ít nền kinh tế đã nảy sinh
tình trạng vơ tình hoặc cố ý khơng tính đến tương lai của chính mình. Người ta
khai thác tài ngun một cách tối đa, vay mượn cả tài nguyên của các thế hệ
tương lai, bất chấp quy luật tự nhiên và đạo lý xã hội, gạt sang 1 bên những bài

toán về mơi trường và những lợi ích chính đáng của thế hệ sau. Đầu tư nhăm vào
những lĩnh vực sinh lợi nhanh được kêu gọi 1 cách ồ ạt, đẩy trách nhiệm trả nợ
cho thế hệ kế tiếp. Lợi ích trước mắt được quan tâm wuas mức, gây nên tình
trạng phát triển thiếu cân đối hoặc phát triển theo kiểu “bong bong xà phịng”.
Vơ tình hay hữu ý, con người càng phá hủy mơi trường của chính mình 1 cách
nghiêm trọng.
2.3. Mối quan hệ biện chứng giữa tặng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
sinh thái
Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và
tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã
hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và
cả loài người trong q trình sống. Giữa mơi trường và sự phát triển có mối
10


quan hệ hết sực chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển,
còn phát triển là nguyên nhân tại nên các biến đổi của môi tường. Trong nền
kinh tế xã hôi, hàng háo được di chuyển từ nơi sản xuất, lưu thông, phân phối
và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm
và phế thải. Các thành phần đó ln ở trạng thái tương tác với các thành phần tự
nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó. Khu vực
giao nhau giữa hai hẹ thống trên là môi trường nhân tạo.
Tác động của hoạt động phát triển mơi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là
cải tại mơi trường tự nhiên hay tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, từ đó
năng cao ý thức của con người về việc bảo vệ mơi trường sinh thái, nhưng có thể
gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo từ những rác thải sinh hoạt,
rác thải công nghiệp, làm cạn kiệt tsif nguyên thiên nhiên. Mặt khác, môi trường
tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc
cung cấp nguyên liệu cho q trình sản xuất, nhưng cũng có thể gây ra thảm
họa, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực, hay tạo những

cản trở về địa hình, điều kiện thời tiết,..
2.3.1. Thực trạng mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh
thái
Điều rất rễ thấy và không thể bác bỏ là: hệ thống kinh tế và hệ thống môi
trường sinh thái khơng dung hịa nhau mà bộc lộ những mấu thuẫn mang tính
sinh tồn ngày càng trở nên rất rõ nét trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trặng trên là để làm kinh tế và đạt bằng
được các mục tiêu, các mối liên quan về môi trường sinh thái đã bị bỏ qua, thiếu
sự tôn trọng khi ứng dụng khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật. Đối với các
nước đang phát triển, nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trị rất to lớn, đóng
góp đáng kể vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Song nếu khai thác quá mức, dẫn đến
hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm trọng, ơ nhiễm mơi trường gia tăng. Đó chính
là hậu quả lớn nhất do tăng trưởng kinh tế mà không quan tâm bảo vệ môi
trường. Dẫn dến: ngày càng nhienf thấy rõ giưới hạn của sự tẳng trưởng là việc
11


chuyển đổi từ trạng thái con người bị thiên nhiên đe dọa trước đây sang trạng
thái con người xâm phạm đến môi trường, trong khi môi trường là yếu tố khơng
thể tiếu trong sự tồn tại của chính con người.
Cũng giống như 1 số nước đang phát triển khác, tình hình ơ nhiễm mơi
trường do tằn trưởng kinh tế gây ra ở Việt Nam là điều không thể tránh khỏi,
đang là một trong những vấn đề bức xúc đòi hỏi phải giải quyết hiện nay. Theo
đánh giá của các chuyên gia kinh tế quốc tế, tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong
những năm qua rất ngoạn mục. Tuy nhiên, cảnh báo của nhiều tổ chức quốc tế
dành cho Việt Nam rằng, chúng ta không thể chạy theo các chỉ số tăng trưởng
kinh tế mà bất chấp tình trạng mơi trường sống đang bị hủy diệt q nhanh. Nói
cách khác, mơi trường bị hủy diệt chính là mặt trái của tăng trưởng ở VIệt Nam.
Chương trình Mơi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã chỉ ra rằng, bây giờ là
thời điểm mà Việt Nam cần kiên trì theo đuổi phát triển bền vững. Nếu không

giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường thì Việt Nam sẽ có thể xóa đi tất cả
những thành tựu đã đạt được từ trước tới nay… Bộ trưởng Bộ trưởng bộ tài
nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã nhấn mạnh : 20 năm tăng trưởng
kinh tế liên tục, nhưng cứ tăng 1 GDP mà không có chiến lược mơi trường thì sẽ
mất đi 3 GDP về môi trường.
Đảm bảo 1 sự cân bằng giữa nhu cầu tăng trưởng kinh tế với đòi hỏi bảo
vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và tái tạo môi trường, vừa đáp ứng được nhu
cầu sử dụng của thế hệ hiện tại trong tăng trưởng và phát triển, vừa không làm
hại gì đến nhu cầu và khả năng ứng dụng các nguồn tài nguyên của các thể hệ
tương lai là 1 yêu cầu bức thiết của phát triển bền vững.
Thực tế cho thấy, trong vịng 10 năm kể từ Rio-92, mơi trường toàn cầu tiếp
tục bị xuống cấp, tài nguyên thiên nhiên tiếp tục bị hủy hoại, ô nhiễm gia tăng,
nguồn nước sạch ngày càng khan hiếm. Mỗi năm có từ 1 đến 13 triệu hecta rừng
bị xóa sổ trên bản đồ thế giới, hàng chục triệu hecta đất bị hoang mạc hóa. Tình
trạng đói nghèo trên thế giới ngày càng gia tăng trầm trọng, với 2,4 tỷ người
12


sống trong nghèo đói, các điều kiện xã hội, y tế không được cải thiện. Các nước
nghèo, các khu vực nghèo ngày càng nghèo hơn. Các nước giàu ngày càng giàu
lên. Khoảng cách Bắc-Nam ngày càng sâu rộng . Các nước phát triển chỉ huy
động 0,22% GNP cho ODA so với 0,7% mà Liên hợp quốc đã kêu gọi và được
nhiều nước cam kết tại Rio-92. Tác động tích cực lẫn tiêu cực. Nhất là, gần đây
đã xảy ra những diễn biến phức tạp trong đời sống chính trị thế giới, những cuộc
khủng bố lớn, trong đó có sự kiện 11-9-2001 tại Mỹ, tác động trực tiếp và chứa
nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với quá trình phát triển bền vững của toàn thế giới.
2.3.2. Một số khuyến nghị nhằm đảm bảo cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ mơi trường
Trong q trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tăng cường quan
hệ thương mại song phương với các nước trên thế giới và tiến hành thủ tục đàm

phán để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, tham gia tích cực vào các định
chế kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, ASEM,… và đặc biệt là hiệp định
thương mại Việt - Mỹ.
Để phát triển kinh tế mà vẫn đảm bảo được môi trường bền vững ta cần:


Xây dựng thể chế nhằm giám sát và thực thi các kế hoạch, chính sách,
pháp luật đối với quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên bền
vững. Khuyến khích đầu tư bền vững mang lại lợi ích cho môi trường
cũng như phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường sự phối hợp giữa các
thể chế công để khắc phục tình trạng ơ nhiễm mơi trường ngày càng



gia tăng cũng như thực thi nghiêm các luật lệ và tiêu chuẩn.
Cần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước trong các lĩnh vực tài nguyên, năng lượng và công nghiệp nặng.
Tăng trưởng theo hướng đó cũng địi hỏi cần xây dựng và thực hiện
các tiêu chuẩn, ví dụ: An tồn sinh học trong nuôi trồng thủy sản



hoặc nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng...
Cần tăng cường dữ liệu và thông tin sử dụng cho quản lý tài nguyên
thiên nhiên, làm cho thông tin dễ hiểu và dễ tiếp cận với đại bộ phận
13


dân chúng. Việt Nam có thể đẩy mạnh việc áp dụng cơng nghệ trong
nâng cấp hệ thống thơng tin có liên quan đến vấn đề môi trường.

Nhưng trước tiên, hệ thống này cần phải cập nhật, mở rộng quy mô


và hài hồ hơn nữa các nền tảng thơng tin hiện có.
Đảm bảo bền vững mơi trường có thể dựa trên ba yếu tố chính là
bảo vệ chất lượng khơng khí, đất và nước. Lồng ghép khả năng chống
chịu trước tác động khí hậu vào kế hoạch kinh tế, chính sách ngành
và đầu tư hạ tầng. Quá trình tăng trưởng bền vững địi hỏi phải có
thể chế và chính sách mạnh để phối hợp giữa hành động và đầu tư.

14


KẾT LUẬN
Trong những thập kỷ gần đây, thế giới đang đứng trước thách thức phải tìm
ra giải pháp cân bằng giữa phát triển kinh tế bền vững và những tổn hại đến môi
trường. Trong khi chúng ta thụ hưởng những lợi ích từ sự phát triển mạnh mẽ
của các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, chúng ta cũng đồng thời gánh
chịu những hệ lụy từ ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên. Do đó ta cần chủ trọng đến vấn đề môi trường một cách
nghiêm túc.
Chúng ta bảo vệ môi trường khơng phải nhằm mục đích hạn chế q trình
phát triển kinh tế mà nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế đi đôi với hệ sinh thái.
Chúng tác luôn tác động lẫn nhau, có phát triển mới có kinh phí đầy đủ để bảo
vệ mơi trường và có bảo vệ môi trường mới đảm bảo sự phát triển bền vững, tất
cả điều kiện đó đều phụ thuộc chủ yếu và hành vi và cách nhìn nhận của con
người.!

15



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.

Giáo trình triết học Marx-Lenin.
Thời báo Kinh tế Sài Gịn. Theo tạp chí ban tun giáo.
“Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển”, Nxb CTQG, H, 2006.
“Một vài giải pháp môi trường cho các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ”, Lâm
Minh Triết, Nguyễn Thanh Hùng. Tạp chí bảo vệ mơi trường, số 7, 2001.

16



×