TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MARX-LENIN
Đề tài: Quan điểm duy vật biến chứng về mối quan hệ giữa
vật chất với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới ở
nước ta hiện nay.
Họ và tên: Trần Anh Hoàng
Lớp: Anh 12 – KTKT – K59
Mã sinh viên: 2014815015
Chuyên ngành: Kế Toán – Kiểm Toán
Giảng viên hướng dẫn: ThS.Nguyễn Thị Tùng
Lâm
MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG .............................................................. 1
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................... 3
Phần I. Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Phần II. Mối quan hệ biến chứng giữa vật chất và ý thức.
Phần III. Ý nghĩ phương pháp luận.
KẾT LUẬN.....................................................................................................15
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................15.
LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử thế giới đã trải qua bao cuộc đấu tranh sinh tồn để phát triển. Bước ra
từ các cuộc đấu tranh đó, nhân loại đã có những bước tiến quan trọng qua những
bước tiến của thời đại, từ thuở sơ khai khi loài người vừa mới bắt đầu xuất hiện
đến con người văn minh như ngày nay. Trong q trình phát triển ấy, nhân loại
đã tích lũy được những tư tưởng có giá trị đóng góp vào kho tàng tư tưởng của
thế giới. Lịch sử của triết học cũng là lịch sử của những cuộc đấu tranh xung
quanh vấn đề cơ bản của triết học với 2 phạm trù lớn: vật chất và ý thức. Dựa
trên cơ sở những giá trị, những tư tưởng đó và tổng kết thời đại, triết học đặc
biệt chủ nghĩa Mac Lênin hình thành và phát triển bao hàm nội dung rộng lớn
mang những giá trị khoa học và thực tiễn với chủ nghĩa duy vật biện chứng là
hạt nhân lí luận của triết học Mac Lênin. Nhìn nhận và đánh giá sự vật hiện
tượng dưới góc độ của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ăng-ghen viết: “Vấn đề
cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ
giữa tư duy và tồn tại”. Mặt khác, mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại (hay vật
chất và ý thức) có vai trị quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước, phát
triển nền kinh tế...
Vì vậy,với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “Quan
niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và vận
dụng vào công cuộc đổi mới của nước”
NỘI DUNG
I. Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Phạm trù vật chất
a. Định nghĩa
Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có rất nhiều quan niệm khác nhau về vật
chất đứng trên các giác độ khác nhau. Nhưng theo Lênin định nghĩa: “Vật chất
là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh,
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Khi định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học”, Lênin một mặt muốn chỉ
rõ vật chất là một khái niệm rộng nhất, rộng vô hạn, muốn phân biệt vật chất với
tư cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái quát và trừu tượng, với
những dạng vật chất cụ thể, với những “hạt nhỏ” cảm tính. Vật chất với tư cách
là phạm trù triết học khơng có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được. Định
nghĩa vật chất như vậy không chỉ khắc phục được những quan niệm siêu hình
của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của
nó, mà cịn cho thấy tính tồn diện và triệt để khi nó đáp ứng được cả hai mặt
của vấn đề triệt học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng,đồng thời
nó cũng khắc phục thiếu sót, siêu hình, hẹp hịi trong quan niệm về vật chất của
chủ nghĩa duy vật cũ.
b. Đặc tính và trạng thái tồn tại của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật
chất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vận động là mọi sự biến đổi
nói chung chứ khơng phải là sự chuyển định vị trí trong không gian, Anghen
cho rằng vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu
của vật chất nó bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ
trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
Các hình thức vận động đều quan hệ chặt chẽ với nhau. Một hình thức vận
động nào đó được thực hiện là do sự tác động qua lại với các hình thức vận
động khác trong đó những hình thức vận động cao bao giờ cũng bao hàm những
hình thức vận động thấp hơn, nhưng cũng không thể coi hình thức vận động cao
là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp. Mỗi sự vật, hiện tượng có thể
gắn với nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một
hình thức vận động cơ bản.
c. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới
vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của
vật chất, có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức,
lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật
chất. Do đó nó tồn tại vĩnh cửu, không do ai sinh ra và cũng không mất đi.
Trong thế giới đó, khơng có gì khác ngồi những q trình vật chất đang biến
đổi là chuyển hóa lẫn nhau, là nguyên nhân và kết quả của nhau
2. Phạm trù ý thức
a..Nguồn gốc ý thức
Theo triết học duy vật biện chứng, ý thức của con người là sản phẩm của quá
trình phát triển của cả tự nhiên và lịch sự xã hội.
Nguồn gốc tự nhiên gồm: bộ óc con người và thế giới khách quan.Bộ óc con
người là cơ quan vật chất của ý thức. Hoạt động ý thức của con người diễn ra
trên cơ sở hoạt động sinh lí thần kinh của bộ óc con người. Ý thức khơng thể
tách rời khỏi hoạt động của bộ óc.Để bộ óc con người sinh ra được ý thức cần
phải có sự tác động của thế giới khách quan. Mọi vật chất có thuộc tính chung là
phản ánh, ý thức là hình thức phản ánh thế giới hiện thực cao nhất của bộ óc
thơng qua mối liên hệ giữa bộ óc với thế giới khách quan.
Điều kiện cần cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc tự nhiên song vẫn chưa đủ
mà ngôn ngữ và lao động là hai nguồn gốc xã hội quyết định trực tiếp đến sự
hình thành và phát triển của ý thức.
b..Bản chất của ý thức
Ý thức được chủ nghĩa duy vật biện chứng coi là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo. Như
vậy, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngồi, là biểu thị nơi dung
được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tính
đó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy khách quan làm tiền đề,
bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan. Ý thức là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan.
Tuy thuộc phạm vi chủ quan, nhưng ý thức khơng phải là bản sao thụ động,
giản đơn, máy móc của sự vật. Tức là, không phải cứ sự vật tác động như thế
nào thì ý thức sẽ chép lại, chụp lại y nguyên như thế. Trong quá trình lao động
để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật một cách có định
hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương,
xây cầu…). Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động, sáng
tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan. Tính sáng tạo của ý thức
khơng có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự
phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh.
Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, hoạt động cải tạo thế giới của con
người. Hoạt động đó khơng thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. Như
thế, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy, mà bắt nguồn từ
thực tiễn lịch sử – xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan. Ý thức bị
chi phối không chỉ bởi các quy luật tự nhiên, mà chủ yếu bởi các quy luật xã
hội. Ở những thời đại khác nhau, thậm chí trong cùng một thời đại, ý thức về
cùng một sự vật, hiện tượng có thể khác nhau ở các chủ thể khác nhau. Theo
CácMac và Ăngghen, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào
trong óc con người và được cải biến đi trong đó”.
c..Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý – xã hội có kết cấu rất phức tạp gồm nhiều
thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Tính sáng tạo của ý thức thể hiện rất
phong phú. Nếu xét theo bình diện cắt ngang, ý thức bao gồm tri thức, tình cảm,
niềm tin, ước muốn... Trong đó, tri thức là hạt nhân của ý thức. Còn nếu xét theo
chiều sâu của ý thức, ý thứcbao gồm tiềm thức, vô thức và tự ý thức.
Ý thức không chỉ phản ánh bản chất của sự vật mà còn vạch ra quy luật vận
động phát triển của chúng, không chỉ phản ánh hiện thực mà còn sáng tạo hiện
thực.
II. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Theo chủ nghĩa duy tâm thì ý thức quyết định vật chất. Thuyết nhị tâm một
mặt thừa nhận vật chất là thực tại khách quan, mặt khác thừa nhận ý thức là một
khởi nguyên độc lập không phụ thuộc vào vật chất. Nhà duy tâm chủ quan
Beccoli thì cho rằng: “Tồn tại có nghĩa là bị tri giác”. Ơng coi tồn tại khơng
khách quan, bị tri giác, do cảm giác sinh ra. Những cái vốn là thực tại khách
quan nhưng khơng được tri giác thì cũng không tồn tại. Khác với quan điểm
trên, Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng vật chất là thực tại khách quan, đối
lập với ý thức. Vật chất là tính thứ nhất, cảm giác ý thức là tính thứ hai. Vật chất
là cái được phản ánh còn ý thức là cái phản ánh. Quan điểm này đã được đề cập
tới ngay trong định nghĩa của Lênin về vật chất. Với định nghĩa này, Lênin đã
phân biệt Chủ nghĩa duy vật biện chứng với Chủ nghĩa duy tâm đồng thời cũng
nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, giải quyết vấn đề cơ
bản của triết học. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thể hiện qua
vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức và tính độc lập tương đối, sự tác
động trở lại của ý thức đối với vật chất.
2.1. Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức
Trước hết, vật chất quyết định nguồn gốc, nội dung và sự biến đổi, phát triển
của ý thức.
Về nguồn gốc :Ý thức là sản phầm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ
óc con người. Con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật
chất, là sản phầm của thế giới vật chất. Như vậy xét đến cùng, vật chất có trước,
ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc sinh ra ý thức. Theo Cacmac và Angghen,
“ý thức cũng là tư duy của chúng ta dù vẻ siêu cảm giác như thế nào đi chăng
nữa cũng chỉ là sản vật của một khí quan vật chất, nhục thể, tức là bộ óc”.
Bên cạnh bộ óc, thế giới tự nhiên cũng quyết định sự ra đời của ý thức. Nếu có
bộ óc phát triển mà khơng sống trong thế giới tự nhiên đa dạng phong phú tức là
không có sự tác động của thế giới tự nhiên vào bộ não thì ý thức của con người
chẳng khác nào lồi vật, khó nhận thức đầy đủ được.
Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức. Chúng là những dạng tồn
tại của vật chất, cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành, tồn tại,
phát triển của ý thức.
Về nội dung: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con
người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tất cả những hiện tượng ý
thức đều hình thành trên những điều kiện sống và hoạt động thực tiễn của con
người và xã hội loài người.
Sự biến đổi, phát triển của ý thức:Vật chất là tiền đề cho sự phát triển của ý
thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức thay đổi theo. Ví dụ, những sinh hoạt
vật chất thay đổi sẽ làm cho thói quen, tâm lí con người thay đổi. Hay một
người bình thường nếu vì lí do nào đó mà não bị tổn thương thì hoạt động của ý
thức cũng bị rối loạn. Cơ sở vật chất của trường học được nâng cấp cải tiến thì
trình độ dạy vào học cũng được nâng cao.
2.2 Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
Nói ý thức là tính thứ hai, Chủ nghĩa duy vật không hề hạ thấp mà hiểu đúng
vai trị thực sự của ý thức. Nói đến vai trị của ý thức là nói đến vai trị của con
người vì ý thức là của con người và bản thân ý thức khơng làm thay đổi gì hiện
thực. Ý thức có tính tương đối tác dụng trở lại đối với vật chất thông qua hoạt
động thực tiễn của con người. Ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại
khách quan trên cơ sở ấy con người đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch,
lựa chọn phương pháp để thực hiện mục tiêu làm thay đổi hiện thực. Sự phản
ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần, sang tạo và chủ động
chứ khơng máy móc, ngun xi thế giới vật chất. Ý thức chỉ phát huy được vai
trò của mình khi có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhân tố chủ quan và điều kiện
khách quan. Nhiều cơng trình nghiên cứu đã xác nhận trạng thái tâm lí (vui,
buồn, phấn khởi, chán nản,…) ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ đến trạng thái thể
lực, tốc độ, năng suất lao động,..
Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu:
-
-
Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện vật chất, hồn cảnh khách quan thì
sẽ thúc đẩy, tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất.
Trong trường hợp này, ý thức có tác động trở lại tích cực đối với thực
tiến, đặc biệt là sự tác động của khoa học, lí luận. Đây là cơ sở quan
trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp chính xác
trong hành động và thực tiễn.
Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động
của con người không phù hợp với quy luật khách quan và kìm hãm sự
phát triển của vật chất. Tức là ý thức đã có tác động tiêu cực đối với
thực tiễn. Khi con người không nhận thức đúng, khơng hiểu rõ sự việc
hiện tượng thì họ sẽ hành động sai và thường chịu những thất bại trong
cược sống.
Vì vậy, con người phải thừa nhận tính khách quan của vật chất, thừa nhận
quy luật tự nhiên của xã hội để phát huy tính năng động của ý thức, nhận thức
đúng sự vật hiện tượng. Thế giới vật chất với những thuộc tính, quy luật của nó
tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người nên trong hoạt động
thực tiến phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn
cứ cho hoạt động của mình.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa có tình tuyết đối vừa có tính tương
đối. Vật chất quyết định ý thức là tuyệt đối. Nhưng trong một số trường hợp cụ
thể hoặc trong một giai đoạn ngắn, ý thức lại quyết định vật chất. Mác chỉ rõ lí
luận sẽ trở thành lực lượng vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng.
III. Ý nghĩa phương pháp luận:
Lênin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có nghĩa tuyệt đối
trong phạm vi hết sức hạn chế. Trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề
nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì có sau. Ngồi giới
hạn đó thì khơng cịn nghi ngờ gì nữa sự đối lập đó chỉ là tương đối. Như vậy,
để phân ranh giới chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, để xác định bản tính
và thống nhất của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức
trong khi trả lời câu hỏi cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái
nào. Không như vậy sẽ lẫn lộn hai đường lối cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật
chất với ý thức và cuối cùng sẽ xa dời quan điểm duy vật. Song sự đối lập giữa
vật chất và ý thức chỉ là tương đối nếu như chúng ta xét chung như là những
nguyên tố, những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người, đặc
biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người. Bởi vì, ý thức tự nó
khơng thể cải biến được sự vật, khơng có khả năng tự biến thành hiện thực.
Nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức có thể cải biết
được tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra
cho hoạt động của mình. Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh
sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý
thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên, biến tự nhiên xa lạ, hoang
dã, thanh tự nhiên trù phú, sinh động, tự nhiên của con người. Như vậy, tính
tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương
đối, tính năng động của ý thức. Mặt khác, đời sống con người là sự thống nhất
không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần trong đó những
nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất
cũng bị tinh thần hố. Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và
ý thức khơng có ý nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân tố có vai trò như nhau
trong đời sống và hoạt động của con người. Trái lại, triết học Mac-Lênin khẳng
định rằng, trong hoạt động của con người, những nhân tố vật chất và ý thức có
tác động qua lại, song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân
tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức.
Trong hoạt động của con người, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao
giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và qui định hoạt động của con người vì
nhân tố vật chất qui định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào
hoạt động của con người, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh
thần khác biến thành hiện thực và qua đó qui định mục đích chủ trương biện
pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa
bổ sung, cụ thể hố mục đích, chủ trương, biện pháp đó. Hoạt động nhận thức
của con người bao giờ cũng hướng đến mục tiêu để biến tự nhiên nhằm thoả
mãn nhu cầu cuộc sống, hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến
cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những
điều kiện vật chất hiện có. Khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực tiếp của
nhân tố vật chất, triết học Mỏc- Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trị của
nhân tố tinh thần, của tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác dụng trở
lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa, trong hoạt động của mình con
người khơng thể để cho thế giới khách quan, quy luật khách quan chi phối mà
chủ động hướng nó đi theo con đường có lợi của mỡnh.í thức con người khơng
thể tạo ra các đối tượng vật chất, cũng không thể thay đổi qui luật vận động của
nó. D đó, trong q trình hoạt động của mình, con người phải tuân theo qui luật
khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích, chủ trương trong phạm vi hồn
cảnh vật chất cho phép.
Vì vật chất quyết định ý thức nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải tôn
trọng khách quan, nhận thức và hoạt động theo đúng quy luật khách quan.
Vì ý thức tác động trở lại vật chất nên cần phát huy tính năng động chủ quan,
đặc biệt phát huy vai trò của tri thức, khoa học, chú ý giáo dục và nâng cao nhận
thức cho con người. Mác nói: “Cố nhiên vũ khí phê phán khơng thể thay thế sự
phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bởi lực lượng
vật chất nhưng lí luận một khi thâm nhập được vào quần chúng thì sẽ trở thành
lực lượng vật chất”.
IV.. Liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục với những bước hát triển với trình
độ ngày càng cao, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội, tăng thê khả
năng hội nhập với cộng đồng thế giới. Tuy nhiên do ưu thế công nghệ và thị
trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nước đang và chưa phát triển
đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao, mà điểm xuất
phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ mơi trường cạnh tranh khốc liệt.
Trước tình hình đó với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và Nhà nước ta cần
tiếp tục tiến hành đẩy mạnh cơng cuộc đổi mới tồn diện đất nước- một vấn đề
cơ cùng cấp bách vì đổi mới kinh tế và chính trị có mối quan hệ vật chất và ý
thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị,
giúp cơng cuộc đổi mới ngày càng giàu mạnh.
1.. Thực trạng nước ta trước giai đoạn đổi mới.
Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nền
kinh tế miền Bắc bị suy giảm nghiêm trọng. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ
cấu kinh tế mất cân đối, năng suất lao động thấp… sản xuất nông nghiệp chưa
cung cấp đủ lương thực cho dân, nguyên liệu cho cơng nghiệp, hàng hố cho
xuất khẩu, ngồi ra cịn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mỹ ở miền Nam sau 20
năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn, nơng nghiệp bị hoang hóa ở nhiều
vùng, lạm phát trầm trọng …
Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5
năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh tế 1975 phấn
đấu đạt 21 triệu tấn lương thực ,1 triệu tấn cá biển, 1 triệu ha khoai lang, 1 triệu
200 ha rừng mới, 10 triệu tấn than sạch… ngồi ra cịn đề xuất xây dựng thêm
các cơ sở mới về cơng nghiệp như cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo XHCN ở
miền Nam. Những chủ trương chính sách sai lầm đó đã gây tổn hại đến nền
kinh tế cuộc sống nhân dân… đến hết 1980, nhiều chỉ tiêu đề ra chỉ đạt được
50-60%, nền kinh tế tăng trưởng chậm, tổng sản phẩm xã hội bình qn là 1,5%
cơng nghiệp tăng 2,6% nơng nghiệp giảm 0,15% nhưng đến Đại hội Đảng lần V
vẫn chưa tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ, đồng thời cũng chưa đề ra các
chính sách mới cho nền kinh tế 1981-1985. Chúng ta chưa khắc phục chủ quan
trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế lại phạm
những sai lầm mới trong lĩnh vực phân phối lưu thơng. Nhìn chung vẫn chưa
đạt được mục tiêu đại hội V đề ra.
2. Những chủ trương, đường lối đổi mới đất nước và những thành tựu đạt
được.
Trước tình ngày càng nghiêm trọng trong khùng hoảng kinh tế và xã hội, Đảng
và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình, lấy ý kiến của nhân dân
và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế. Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm
lớn trong đó có: phải ln luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hoạt động theo
quy luật khách quan. Đảng đã đề ra đường lối đổi mới,đề ra nhiều phương
hướng nhiệm vụ trong việc đổi mới, nhất là về kinh tế, thực hiện chương trình
kinh tế với 3 mục tiêu: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, xuất khẩu,
hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng
hóa và kinh tế tư bản tư nhân, đổi mới cơ chế quản lý. Tại đại hội VII ta đã đánh
giá tình hình kinh tế chính trị của nước ta sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới
đã đạt được các bước tiến quan trọng. Tình hình chính trị ổn định nên nền kinh
tế có điều kiện phát triển bước đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt
động theo sự quản lý của nhà nước,lực lượng lao động huy động tốt hơn, tránh
được lạm phát, đời sống của người dân được cải thiện, cuộc khủng hoảng đã
giảm bớt, sinh hoạt dân chủ ngày càng phát huy.
Qua các dẫn chứng trên ta thấy sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức,
giữa kinh tế và chính trị, nhờ có đường lối đổi mới, nền kinh tế ngày càng phát
triển, cuộc sống của người dân ngày càng ổn định đã góp phần to lớn trong việc
phát huy dân chủ trong xã hội. Ngồi mặt tích cực cịn có tiêu cực như: lạm
phát vẫn cịn cao, nhiều cơ sở đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tăng
lên, và trong quản lý còn nhiều lúng túng sơ hở..
Sau đại hội ban chấp hành ,TW Đảng đã đề ra các nghị quyết giải quyết các vấn
đề đối nội đối ngoại. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ đã đánh giá cao
trong trong quá trình khắc phục khủng hoảng kinh tế ... khắc phục được nhiều
tồn tại trong 3 năm qua. Hội nghị đại biểu toàn quốc chỉ nêu lên thành tựu tiếp
tục giữ vững và củng cố ổn định chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo
đIều kiện cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc.
Vận dụng đúng đắn các mối quan hệ biện chứng duy vật,tại hội nghị đại biểu
toàn quốc đã vạch ra những điểm yếu kém, vấn đề kinh tế như "nền kinh tế vẫn
cịn mang tính chất nơng nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, kết cấu hạ tầng
kém phát triển, kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất chất lượng hiệu
quả còn kém ..." và vẫn còn những tồn tại về mặt văn hố, xã hội…
Cơng cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng đắn, chính vì Đảng ngày càng
nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận triết học toàn diện MácLênin. Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị ngày càng rõ nét.
KẾT LUẬN
Nói tóm lại, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có nghĩa tuyệt đối trong
phạm vi hết sức hạn chế. Trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận
thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì có sau. Ngồi giới hạn đó
thì khơng cịn nghi ngờ gì nữa sự đối lập đó chỉ là tương đối. Như vậy, để phân
ranh giới chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, để xác định bản tính và thống
nhất của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi
trả lời câu hỏi cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào.
Không như vậy sẽ lẫn lộn hai đường lối cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật chất
với ý thức và cuối cùng sẽ xa dời quan điểm duy vật. Song sự đối lập giữa vật
chất và ý thức chỉ là tương đối nếu như chúng ta xét chung như là những
nguyên tố, những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người, đặc
biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người. Bởi vì, ý thức tự nó
khơng thể cải biến được sự vật, khơng có khả năng tự biến thành hiện thực.
Tài liệu tham khảo:
1, Tr.17, 18 - Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin
(Nhà xuất bản chính trị quốc gia)
2, C.Mác và Ph.Ăngghen. Tồn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1995, tr. 528.