Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (164.37 KB, 16 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MARX-LENIN
Đề tài: Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận
dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo
vệ môi trường sinh thái
Họ và tên: Hoàng Thị Kim Hằng
Lớp: Anh 12 – KTKT –K59
Chuyên ngành: Triết học Marx-Lenin
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Tùng Lâm

HẠ LONG – THÁNG 6 NĂM 2021




MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Chương I. Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

3

1.1. Sự ra đời của phép biện chứng

3

1.2. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến


4

1.2.1. Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

4

1.2.2. Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến

5

Chương II. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở
Việt Nam

7

2.1. Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường

7

2.2. Mơi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam

8

2.2.1. Trong công nghiệp

8

2.2.2. Trong nông nghiệp


9

2.2.3. Trong du lịch - biển

10

2.3. Hậu quả của ô nhiễm môi trường

11

2.4. Giải pháp giải quyết vấn đề

12

Lời kết

13

Tài liệu tham khảo

14

1


LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một mạng lưới sự sống rộng lớn. Giống như một mạng
nhện, càng có nhiều mối liên hệ thì mạng lưới càng bền vững. Chúng ta đã biết tất
cả những mối liên kết trong sự sống sẽ không tồn tại và phát triển được nếu không

được hỗ trợ bởi môi trường. Với tốc độ phá hoại môi trường như hiện nay của con
người, môi trường của chúng ta đang dần bị suy thoái, mối liên kết của các mạng
lưới sự sống đang dần bị phá vỡ. Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, một mặt
nó nâng cao đời sống của người dân nhưng mặt khác nó đang gây một sức ép mạnh
mẽ lên môi trường tự nhiên. Cũng như các nước đang phát triển khác, để có những
kết quả về kinh tế trong giai đoạn trước mắt, chúng ta phải trả giá là mất đi sự bền
vững của các nguồn tài nguyên về lâu dài. Một thập kỷ phát triển nhanh chóng ở
Việt Nam đã dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm đất, khơng khí, nước và quan trọng hơn
là gia tăng mức tiêu thụ, phân hoá giàu nghèo… mạng lưới đang dần mất đi sức
mạnh của nó. Chính vì vậy tơi quyết chọn đề tài này để nghiên cứu.
Với nghiên cứu " Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích
mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ", tôi muốn
góp một phần cơng sức nhỏ bé của mình vào việc tìm kiếm con đường phát triển
của Việt Nam trong những năm tới nhằm đưa Việt Nam trở thành một nước phát
triển trong khu vực và trên thế giới. Hoàn thành tiểu luận này tôi đã gia tăng được
tri thức cũng như hiểu biết về các vấn đề cấp thiết của Việt Nam.

2


Chương I. Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1.1. Sự ra đời của phép biện chứng
Triết học ra đời từ thời cổ đại đánh dấu sự ra đời của phép biện chứng. Trải qua
hàng ngàn năm tồn tại và phát triển có phồn vinh có suy vong. Khởi đầu là phép
biện chứng tự phát cổ đại, thể hiện rõ nét trong thuyết “âm - dương” của Trung
Quốc, đặc biệt là trong nhiều học thuyết của Hi Lạp cổ đại. Đến khoảng thế kỷ
XVII nửa đầu thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hình thống trị trong tư duy triết học
mà đại diện là Descartes - ông được coi là linh hồn của phương pháp siêu hình.
Trong khoảng nửa sau thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, đây là thời kỳ tổng kết các
lịch sử triết học nhân loại và hình thành hệ thống lớn. Đó là phương pháp biện

chứng duy tâm mà đại diện là Hegel - ông được coi là tiền đề của phương pháp
biện chứng duy vật sau này. Ngày nay phép biện chứng đã đạt đến trình độ cao
nhất đó là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ
một loạt những phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện
thực phù hợp với hiện thực. Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và
sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nhờ vậy nó đã khắc phục được những
hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh
thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào
nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới và các bộ phận cấu thành thế
giới ấy không ngừng vận động và phát triển. Tuy nhiên sự hạn chế của phương
pháp biện chứng này là tuy nó cho chúng ta thấy một bức tranh về sự tác động qua
lại, sự vận động và phát triển nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như
những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển. Hơn nữa phép biện chứng
duy vật còn sửa được sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cổ đại
mà đại biểu là Hegel - đại diện lỗi lạc của phép biện chứng. Hegel cho rằng sự phát
triển biện chứng của thế giới bên ngoài chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý
niệm tuyệt đối ” mà thôi. Phép biện chứng duy vật đã chứng minh rằng: những ý
3


niệm trong đầu óc của chúng ta chẳng qua là sự phản ánh của các sự vật hiện thực
khách quan, do đó bản thân biện chứng của ý niệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh có
ý thức của sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực khách quan. Như vậy
phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động
và sự phát triển chung nhất của thế giới. Vì vậy P.Ăngen đã định nghĩa: “Phép biện
chứng…là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát
triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.”
1.2. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1.2.1. Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật có vai trị làm sáng tỏ những quy luật của sự liên hệ

và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy. Vì vậy ở bất kỳ cấp độ
phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vẫn
được xem là một trong những ngun lí có ý nghĩa khái qt nhất. Ngun lí về
mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật hiện tượng và các q trình cấu thành thế
giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hố lẫn
nhau. Trong đó liên hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau, là điều kiện tiền đề tồn tại
cho nhau, là sự quy định lẫn nhau, là sự nương tựa lẫn nhau, sự chuyển hoá lẫn
nhau của các mặt, các yếu tố, các thuộc tính cấu thành sự vật, hiện tượng trong thế
giới khách quan. Ngoài ra những người theo quan điểm duy vật biện chứng còn
khẳng định cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng chính là tính
thống nhất vật chất của thế giới. Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng
trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng
chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất.
Các mối liên hệ diễn ra trong mỗi sự vật, giữa các sự vật với nhau, trong tồn bộ
vũ trụ, trong mọi khơng gian và thời gian. Quan điểm duy vật biện chứng không
chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, các
hiện tượng, các quá trình mà nó cịn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó.
4


Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát
triển của chính các sự vật và hiện tượng quy định. Có mối liên hệ bên trong là mối
liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc
tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trị quyết định đối với sự tồn tại,
vận động và phát triển của sự vật. Cịn có mối liên hệ bên ngồi là mối liên hệ giữa
các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó khơng có nghĩa quyết định, hơn
nữa nó thường phải thơng qua các mối liên hệ bên trong mà phát huy. Tuy nhiên
mối liên hệ bên ngồi cũng hết sức quan trọng, đơi khi cịn giữ vai trị quyết định.
Ngồi ra cịn có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu, có mối liên hệ chung
bao qt tồn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh

vực riêng biệt của thế giới. Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà
trong đó sự tác động qua lại được thực hiện thơng qua một hay một số khâu trung
gian. Có mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu
và mối liên hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau, có mối liên
hệ khác nhau của cùng một sự vật. Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát
triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với
nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương
ứng. Quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương
đối trong sự phân loại đó. Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hố cho nhau.
Sự chuyển hố đó có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét
hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật hiện tượng ấy.
1.2.1 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nó phản ánh
tính thống nhất của vật chất và thế giới. Các sinh vật, hiện tượng trên thế giới dù có
đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng
khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất. Xét dưới góc độ nhận
thức lí luận, nó là cơ sơ lí luận của quan điểm toàn diện. Với tư cách là một nguyên
tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn
5


diện địi hỏi để có nhận thức đúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó. Một là :
trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác
nhau của chính sự vật đó. Hai là : trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với
các sự vật khác, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Hơn thế nữa quan điểm tồn diện địi
hỏi để nhận thức đúng sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mối quan hệ với nhu
cầu thực tiễn của con người. Quan điểm tồn diện địi hỏi chúng ta phải đi từ tri
thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra bản
chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó. Nhưng quan
điểm tồn diện khơng đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những quy định

khác nhau của sự vật hay hiện tượng đó, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản
nhất, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó. Với tư cách là nguyên tắc
phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lí về mối liên hệ phổ biến đòi
hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta phải bằng hoạt động thực tiễn của mình biến
đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật cũng như mối liên hệ qua lại giữa sự vật
đó với các sự vật khác. Muốn vậy phải sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp, nhiều
phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng. Để
tránh những phưng pháp luận sai lầm trong việc xem xét sự vật, hoạt động cần
tránh chủ nghĩa chiết trung, thuật nguỵ biện. Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại
trong không gian thời gian nhất định và mang dấu ấn của khơng gian thời gian đó.
Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn
đề thực tiễn đặt ra.

Chương II. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt
Nam
2.1. Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Môi trường sinh thái là tồn bộ các điều kiện vơ cơ, hữu cơ của các hệ sinh thái
ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội lồi người.
Nó là những điều kiện tự nhiên, xã hội; trong đó con người hay một sinh vật tồn
6


tại, phát triển trong quan hệ với con người. Còn tăng trưởng kinh tế nhằm cải thiện
và phát triển đời sống của con người. Vì vậy giữa mơi trường sinh thái và tăng
trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ. Như chúng ta đã biết môi
trường sống được sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, vì vậy có thể nói nó tồn tại một
cách khách quan độc lập với ý thức con người. Tuy nhiên sự phát triển của mơi
trường lại hồn tồn phụ thuộc vào ý thức của con người, con người có thể tác
động làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi. Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra,
tồn tại và phát triển hồn tồn phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại chủ quan.

Môi trường chịu tác động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc
vào con người từ đó ta có thể thấy mơi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng
kinh tế và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể đó là
con người. Mơi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì tăng trưởng
kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ
cho lợi ích của con người. Nhưng tài nguyên của môi trường không phải là vô hạn.
Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo mơi trường thì một
ngày nào đó tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi trường bị suy thối. Lúc đó
con người phải gánh chịu hậu quả do chính con người gây ra. Ngược lại, nếu tăng
trưởng kinh tế gắn với việc bảo vệ môi trường thì khơng những nó làm cho đời
sống của con người ngày càng được cải thiện mà nó cịn làm cải thiện cả môi
trường.
2.2. Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở VN
2.2.1. Trong cơng nghiệp
Thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng tồn quốc lần thứ 6, kể từ năm 1986, Việt
Nam bước vào công cuộc đổi mới. Công cuộc đổi mới này được tiến hành trên
toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như đổi mới tư duy, hệ
thống kinh tế, chính sách, thể chế quản lí hành chính… Trong lĩnh vực kinh tế, Việt
Nam chuyển từ nền kinh tế chỉ huy, tập chung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế
7


hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà
nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Trong gần hai thập kỷ qua thực hiện chủ
trương và đường lối đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu to
lớn. Chính sách đổi mới đã mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng
động, một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ. Sự phát triển của q trình cơng
nghiệp hố trong những năm qua một mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế,
tạo công ăn việc làm cho người dân nhưng mặt khác nó đã ít nhiều bộc lộ những
mặt trái của nó, mà nếu khơng có biện pháp bảo vệ cụ thể thì trong tương lai khơng

xa chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do chính chúng ta gây
ra.
Cùng với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh đó, hiện
nay trên cả nước tổng lượng chất thải rắn ước tính khoảng 49.000 tấn/ngày, trong
đó chất thải rắn cơng nghiệp chiếm khoảng 27.000 tấn/ngày. Việc quản lý chặt chẽ
chất thải rắn nguy hại đang gặp nhiều khó khăn, khơng có đủ kho chứa đủ tiêu
chuẩn để lưu giữ các chất thải độc hại trước khi xử lí, khơng có nhà máy xử lí chất
thải độc. Phần lớn chất thải rắn nguy hại này thuần tuý chỉ được chôn chung lẫn
lộn với rác thải sinh hoạt hay thậm chí đổ ngay tại nhà máy gây mối nguy hại rất
lớn đối với môi trường sống.
Ngồi ra, trong q trình sản xuất, kinh doanh, các cơ sở doanh nghiệp thường
thải ra một lượng nươc thải khá lớn. Đặc biệt là khoảng hơn 90% cơ sở sản xuất cũ
chưa có thiết bị xử lí nước thải. Phần lớn các nhà máy xí nghiệp nếu có tiến hành
xử lí thì chỉ xử lí sơ bộ rồi thải thẳng ra nguồn nước mặt, gây ô nhiễm trầm trọng
đối với nhiều dịng sơng. Trong nhiều trường hợp, nuớc thải ứ đọng lâu ngày cịn
gây ơ nhiễm khơng khí, mất mỹ quan, lan truyền bệnh dịch và nhiều tác động tiêu
cực khác. Nước thải cơng nghiệp chính là một trong những nguyên nhân gây ô
nhiễm cho môi trường đô thị.

8


Khí thải của các cơ sở doanh nghiệp sản xuất cũng là vấn đề cần bàn tới. Ơ
nhiễm mơi trường khơng khí chủ yếu do các ngành nhiệt điện, cơng ngiệp hố chất
gây nên. Ví dụ nhà máy nhiệt điện ng Bí, nồng độ bụi đo trong một giờ từ 4 đến
4,7 mg/m3, gấp 13 đến 16 lần trị số cho phép. Nồng độ các chất khí độc hại khác
như CO2, NO2, SO2… trong khơng khí xung quanh nhiều nhà máy và khu công
nghiệp đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,5 lần. Tuy trong thời gian qua,
phần lớn các nhà máy đã trang bị thiết bị xử lí bụi nhưng số lượng các nhà máy có
thiết bị xử lí khí độc hại cịn rất ít mà chủ yếu được thải thẳng ra ngồi khơng khí,

ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người.
Q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố càng phát triển thì nhu cầu khai thác các
thành phần môi trường để làm nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất ngày
càng tăng. Quá trình này thể hiện mối liên hệ cơ bản giữa phát triển và môi trường
đồng thời cũng là một vấn đề nan giải. Việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hao kiệt về tài nguyên, mất cân bằng sinh thái và
suy giảm chất lượng mơi trường.
Cịn nhiều nhiều vấn đề ơ nhiễm do công nghiệp gây ra như việc nhập khẩu các
thiết bị lạc hậu từ nước ngoài, hay tiếng ồn từ các cơ sở sản xuất… mà trong phạm
vi bài tiểu luận triết học của mình, tơi khơng thể trình bày hết được, trên đây là
những vấn đề mà theo tôi là cấp thiết và cần có hướng giải quyết kịp thời.
2.2.2 Trong nơng nghiệp
Nước ta là một nước có nền kinh tế xuất phát điểm là nông nghiệp và cho đến
nay, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tài nguyên, nông sản
và hàng sơ chế. Kim ngạch xuất khẩu khống sản và hàng hố nơng lâm, thuỷ hải
sản chiếm tới 63% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nước ta đang trên đà
hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình này hứa hẹn nhiều cơ hội cho Việt Nam đẩy
mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường quốc tế. Tuy nhiên đi
đôi với sự gia tăng này của các hoạt động sản xuất là khả năng gây ô nhiễm và huỷ
9


hoại môi trường ngày càng lớn. Sự gia tăng xuất khẩu các mặt hàng từ nguồn tài
nguyên không tái tạo được và việc khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên có thể
tái tạo nhằm phục vụ xuất khẩu có thể làm cạn kiệt nguồn tài nguyên của nước ta
trong tương lai. Mặt khác, các ngành nông nghiệp, trồng trọt, chăn ni cũng có
nhiều cơ hội để thâm canh, gia tăng sản lượng dẫn đến việc phá huỷ tài nguyên
thiên nhiên do khai thác, trồng trọt và chăn nuôi không hợp lí. Để tăng sản lượng
các loại rau, củ, quả… người nơng dân thường phun các loại chất kích thích, phân
bón, thuốc trừ sâu… Trình độ nhận thức và chun mơn của người dân cịn thấp,

thêm vào đó đội ngũ cán bộ nơng nghiệp cịn chưa nhiều vì vậy người nông dân
chưa ý thức được hành động của họ sẽ dẫn đến hậu quả gì. Việc sử dụng các loại
hố chất và sau đó vứt ngay các loại vỏ, bao đựng trên ruộng trước tiên gây ô
nhiễm nguồn nước, sau là gây nguy hiểm cho những người sử dụng các loại rau,
củ, quả đó. Những việc làm này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nông
thôn.
2.2.3 Trong du lịch biển
Trước tình hình tăng trưởng kinh tế, các phương tiện thông tin, giao thông vận tải
ngày càng dễ dàng và thuận tiện. Đây là điều kiện để hoạt động du lịch phát triển
trở nên nhanh chóng. Ngành du lịch nước ta hãy còn rất nhỏ bé so với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên trong 10 năm qua, cùng với quá trình đổi
mới và chuẩn bị hội nhập nền kinh tế thế giới du lịch nước ta cũng đã có những
bước phát triển ban đầu. Năm 2001 tồn ngành đón 2,33 triệu lượt khách quốc tế,
tăng gần 9%so với năm 2000, vượt kế hoạch 6% so với năm 2000. Du lịch phát
triển tạo nhiều công ăn việc làm cho dân cư và thu được một lượng ngoại tệ lớn
cho ngân sách quốc gia. Tuy nhiên cũng như sự phát triển trong công nghiệp và
nông nghiệp, hoạt động du lịch cũng đang tác động đến môi trường về nhiều mặt.
Do nhu cầu phát triển du lịch, nhiều diện tích đất đai bị khai phá để xây dựng cơ
sở hạ tầng như làm đường giao thông khách sạn, các cơng trình thể thao, các khu
10


vui chơi giải trí. Điều đó gây phá hoại hoặc tổn thất tới cảnh quan thiên nhiên, các
hệ sinh thái. Hoạt động du lịch có thể gây tác động khác tới tài nguyên nước, đặc
biệt là các chất thải, các chất gây ô nhiễm do các khách sạn, nhà hàng, các hoạt
động vận tải thuỷ và khách du lịch tạo nên. Hiện nay ở nước ta, tình trạng rác thải
bừa bãi tại các điểm du lịch, vui chơi giải trí cịn phổ biến, điều đó khơng những
ảnh hưởng tới vệ sinh cơng cộng và mơi trường mà cịn gây cảm giác khó chịu cho
du khách.
2.3 Hậu quả của ơ nhiễm môi trường

“Nếu chúng ta bắn vào thiên nhiên một phát đạn, thì thiên nhiên sẽ bắn trả lại ta
bằng đại bác”. Thực tế cho thấy, đi kèm với quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại
hố, chúng ta đang phải gánh chịu những hậu quả do chính chúng ta gây ra. Trong
vòng 7 năm trở lại đây, các thảm hoạ tự nhiên như bão xoáy, lụt lội, hạn hán…
ngày càng tăng nhanh cả về tần suất lẫn cường độ như hạn hán ở miền Trung, bão
lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, cháy rừng ở U Minh… đã cướp đi sinh mạng của
nhiều người, thâm hụt vào ngân sách quốc gia hàng trăm tỷ đồng - một con số
không nhỏ đối với một quốc gia cịn nghèo như Việt Nam. Ngồi ra, đi đôi với sự
suy giảm môi trường, các bệnh về thời tiết cũng gia tăng, thiệt hại người do các
bệnh về đường nước tăng như sốt rét, tiêu chảy... Các bệnh liên quan đến đường
ruột bệnh giun, bệnh sán máng, giun trong máu… Các bệnh về hô hấp như viêm
phổi, ung thư phổi… Cuộc sống của con người đang bị đe doạ.
2.4 Giải pháp giải quyết vấn đề
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tăng cường quan hệ
thương mại song phương với các nước trên thế giới và tiến hành thủ tục đàm phán
để gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), tham gia tích cực vào các định
chế kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, ASEM… và đặc biệt là hiệp định thương
mại Việt - Mỹ. Để hàng Việt Nam có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh với các
nước khác chúng ta cần:
11




Khuyến khích sử dụng cơng nghệ và dây chuyền sản xuất tiết kiệm năng
lượng, nguyên liệu, phát triển nguồn năng lượng sạch, ít khí thải.



Lập quy hoạch mơi trường song song với việc quy hoạch và phát triển công

nghiệp.



Đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống tiêu thoát nước, xử lí nước thải, chất thải rắn
cơng nghiệp trước khi thải ra mơi trường.



Thực hiện chủ trương xanh hố đơ thị và khu công nghiệp, xây dựng hành
lang xanh và vùng chuyển tiếp giữa khu công nghiệp và khu dân cư.



Tăng cường vai trò của Nhà nước trong khâu thẩm định, kiểm tra các mặt
hàng nhập khẩu vào nước ta như máy móc, thiết bị vật tư, nguyên vật liệu,
các giống mới…



Cần bảo vệ, tôn tạo, khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lí, đảm bảo sự phát
triển bền vững.



Các sản phẩm về nông nghiệp cần hạn chế các loại thuốc gây hại cho người
sử dụng cũng như cho đất trồng.




Có hình phạt nặng hơn nữa đối với những kẻ chặt phá rừng trái phép





12


Lời kết

Việt Nam đang trên con đường cơng nghiệp hố hiện đại hoá đất nước với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta phải đi từ mục tiêu cơ
bản nhất của mọi sự phát triển xã hội đó là phát triển để cải thiện nâng cao chất
lượng cuộc sống và vì sự sống trường tồn bền vững. Đây là vấn đề quan trọng
trong công cuộc cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước hiện nay cũng như về lâu
dài. Tất cả các bài học kinh nghiệm đã rút ra trong quá trình quy hoạch phát triển
trước đây cần phải được vận dụng triệt để cho quá trình phát triển của tương lai sao
cho tránh được những hậu quả có thể xảy ra và đảm bảo hiệu quả cao nhất cho quá
trình phát triển kinh tế. Chúng ta bảo vệ môi trường không phải nhằm mục đích
hạn chế q trình phát triển kinh tế mà nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả kinh tế
cao hơn cho quá trình phát triển tất yếu này, đồng thời nhằm bảo vệ chất lượng
cuộc sống của mỗi con người chúng ta. Do đó, bảo vệ mơi trường và tăng trưởng
kinh tế có sự thống nhất. Có phát triển mới có kinh phí đầy đủ dành cho việc bảo
vệ mơi trường và có bảo vệ mơi trường mới đảm bảo sự phát triển lâu dài và ổn
định.

13



Tài liệu tham khảo
G.s Lê Quý An, Du lịch và mơi trường, Tạp chí Du lịch, số 12, 1999.
Nguyễn Anh, Hội thảo khoa học về môi trường chuyên ngành mỏ, luyện kim, hố
chất, Tạp chí Cơng nghiệp, số 19, 1999.
Craig Leisher, Môi trường Việt Nam những điều cần làm, Tạp chí Bảo vệ mơi
trường, số 7, 2001.
Lê Minh Đức, Bảo vệ môi trường và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam, Con
số và sự kiện, số 12, 1999.
Th.s Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Đặng Thị Thu Hoài, Hội nhập kinh tế thế giới với
bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Tạp chí Chun đề mơi trường kinh tế, 2001.
T.s Nguyễn Đắc Huy, Đinh Đức Tường, Nguyễn Mỹ Hoàng, Một vài suy nghĩ về
quản lý môi trường trong nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam, Tạp chí Chun đề
Mơi trường kinh tế, 2001.
T.s Trần Thanh Lâm, Một tiếp cận mới trong quản lý thương mại và bảo vệ môi
trường ở Việt Nam, Tạp chí Xây dưng, số 3, 2002.
Nhiều tác giả, Bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển bền vững, Tạp chí Bảo
vệ mơi trường, số 6, 2002.
Nhiều tác giả, Định hướng nhà nước và hiện trạng mơi trường ở Việt Nam, Tạp chí
Cơng nghiệp, số 18, 2000.
Nhiều tác giả, Môi trường, quá khứ, hiện tại, tương lai, Tạp chí Khoa học cơng
nghệ và mơi trường, số 7, 2002.
T.s Danh Sơn, Các lợi ích về bảo vệ môi trường ở nước ta, Tạp chi Bảo vệ môi
trường, số 2 năm 2001.
Lâm Minh Triết, Nguyễn Thanh Hùng, Một vài giải pháp môi trường cho các cơ
sở sản xuất vừa và nhỏ, Tạp chí Bảo vệ mơi trường, số 7, 2001.

14




×