TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MAC-LÊNIN
Đề tài: Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận
dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Họ và tên: Nguyễn Thị Hương Giang
Lớp: Anh 12–K59
Chuyên ngành: Kế toán - Kiểm toán
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Tùng Lâm
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………… ..1
PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................2
CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN.......2
1.1.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
Khái niệm về phép biện chứng...............................................................2
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến..........................................................2
Nội dung của nguyên lí...........................................................................2
Ý nghĩa của nguyên lí..............................................................................3
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ
BIẾN VÀO VIỆC PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN
KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ...........................................................................................................4
2.1. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế.........................................................4
2.2. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của đất nước.......4
2.3. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới...........................................5
2.4. Khái niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ........................................................6
2.5. Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế
quốc
tế....................................................................................................................7
CHƯƠNG III: NHỮNG THÁCH THỨC, VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI NƯỚC TA...............................8
3.1. Những thách thức đối với nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế..8
3.1.1. Cơ hội.........................................................................................................8
3.1.2. Thách thức.................................................................................................10
3.2. Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc đối với nước ta..........................11
KẾT LUẬN CHUNG.......................................................................................13
DANH MỤC THAM KHẢO...........................................................................14
LỜI MỞ ĐẦU
Tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế đang là xu thế tất yếu của thời đại, nó
diễn ra mạnh mẽ kháp các châu lục chi phối đời sống kinh tế của hầu hết các
quốc gia trên thế giới: Hệ quả tất yếu của tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế là
trên thế giới kinh tế của các quốc gia sẽ ngày càng thu hẹp phù hợp sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế sẽ ngày càng trở nên chặt chẽ. Nền kinh tế
thế giới đang từng ngày, tưng giờ biến đổi làm xuất hiện xu thế hình thành nền
kinh tế tồn cầu.
Đứng trước tình hình quốc tế có nhiều biến động đảng đã nhận định, đánh
giá tình hình mới trong bài phát biểu bế mạc hội nghị lần thứ 10 ban chấp hành
trung ương Đảng khóa VIII, đồng chí Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã chỉ rõ “
trong quá trình đổi mới, Đảng đã xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”.
Cũng trong Đại hội này, Ban chấp hành trung ương đã luận về một vấn đề
rất quan trọng là xây dựng nền kinh tế quốc tế chúng ta khẳng định và nhất quán
chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa, tranh thủ hội nhập kinh tế nhưng phải
độc lập, tự chủ kinh tế làm nền tảng cơ sở, giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có mối quan hệ biện chứng, gắn bó
chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, chúng ta chỉ có thể nghiên cứu mối quan hệ
này một cách sâu sắc và toàn diện trên cơ sở vận dụng nguyên lí về mối liên hệ
phổ biến – một trong hai nguyên lí cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Trước vấn đề cập nhật của thời đại và nhận biết được phương hướng xây
dựng đổi mới của đất nước ta em quyết định chọn đề tài: "Phép biện chứng về
mối liên hệ phố biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế" để tìm hiểu sự vận dụng
sáng tạo của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng đổi mới đất nước là
hoàn toàn đúng đắn.
1
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ
PHỔ BIẾN
1.1.
Khái niệm về phép biện chứng
Có nhiều khái niệm khác nhau về phép biện chứng. Có khái niệm cho
rằng phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến. Khái niệm khác lại
cho rằng phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học nghiên cứu những qui
luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Vì vậy, phép biện chứng
đã thừa nhận các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tồn tại trong mối
liên hệ phổ biến, phát triển theo những quy luật nhất định phép biện chứng có
nhiệm vụ phải chỉ ra những quy luật đó.
1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.2.1. Nội dung của nguyên lý
Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều nằm trong mối liên hệ phổ biến
khơng có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập mà chúng tác động lẫn
nhau, rằng buộc quy định và chuyển hoá lẫn nhau, các mối liên hệ quy định
trong mỗi tổng thê của nó quy định sự biến đổi của sự vật, khi các mối liên hệ
thay đổi tất yếu sẽ dẫn đến thay đổi sự vật .Quan điểm biện chứng duy vật cịn
khẳng định tính khách quan và đa dạng hố của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện
tượng. Mối liên hệ là khách quan, là thống nhất vật chất của thế giới. Tính đa
dạng của mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp; có mối liên hệ chung bao qt tồn
bộ thế giới, có mối liên hệ bao qt một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng
biệt của thế giới đó, có mối liên hệ bản chất và khơng bản chất, có mối liên hệ
tất yếu và ngẫu nhiên.... các loại liên hệ khác nhau có vai trị khác nhau đối
với sự vận động và phát triển của sự vật về mối liên hệ cũng đòi hỏi phải thừa
nhận tính tương đối trong sự phân loại của các mối liên hệ.
1.2.2. Ý nghĩa của nguyên lý
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, đòi hỏi trong
quá trình nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn chúng ta cần thực hiện nguyên
tắc toàn diện và lịch sử cụ thể.Theo nguyên tắc về quan điểm toàn diện thì trong
nhận thức và hoạt động thực tiễn con người cần xem xét sự vật trong tính tồn
vẹn của nhiều mối liên hệ nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể cả các q
trình, các giai đoạn phát triển của sự vật, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai,
2
có như vậy mới nắm bắt được thực chất của sự vật khi tuân thủ nguyên tắc con
người sẽ tránh được sai lầm cực đoan, phiến diện một chiều, không đồng nhất
và san bằng các mối liên hệ, các mặt của sự vật phải phản ánh đúng vai trò của
từng mối liên hệ phải rút ra được mối liên hệ bản chất chủ yếu của sự vật. Khi
tuân thủ nguyên tắc này con người sẽ tránh được mối quan hệ thứ yếu và chiết
trung. Theo quan điểm lịch sử cụ thể thì khi nghiên cứu xem xét sự vật phải đặt
nó trong điều kiện hồn cảnh cụ thể trong khơng gian và thời gian xác định mà
nó đang tồn tại phát triển, đồng thời phải phân tích vạch ra ảnh hưởng của điều
kiện hoàn cảnh đối với sự tồn tại của sự vật, với tính chất của sự vật và với xu
hướng vận động phát triển của nó. Khi vận dụng một lý luận nào đó vào trong
thực tiễn cần tính đến điều kiện cụ thể của nơi vận dụng, tránh bệnh giáo điều
dập khuân máy móc.
3
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ
MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀO VIỆC PHÂN TÍCH MỐI
LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP
TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ
2.1. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình"mở cửa"nền kinh tế, đưa các doanh
nghiệp trong nước tham gia tích cực vào cạnh tranh quốc tế, sự tham gia vào
phân công lao động quốc tế sẽ tạo điều kiện mở rộng không gian và môi trường
để chiếm lĩnh những vị trí phù hợp nhất có thể được trong quan hệ kinh tế quốc
tế. Đó cũng là quá trình chúng ta tham gia vào các tổ chức kinh tế, tài chính khu
vực và thế giới, qua đó mà thiết lập mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư,
khoa học và công nghệ với các nước trên thế giới. (Tạp chí nghiên cứu -trao đổi
-Vương Thị Bích Thuỷ)
2.2. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của đất nước
Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường duy nhất để đưa một quốc gia
không ngừng phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của
nước mình.
Theo quan điểm biện chứng về mối quan liên hệ phổ biến của các nhà
triết học đã khẳng định ở trên:"Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều nằm
trong mối liên hệ phổ biến khơng có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt
lập mà chúng tác động lẫn nhau, rằng buộc quy định và chuyển hoá lẫn nhau".
Khi áp dụng quan điểm này vào thực tế là hoàn tồn đúng khi một quốc gia tự
mình tách ra khỏi mối quan hệ với các quốc gia khác thì nó khơng thể tồn tại và
phát triển được. Bởi vì trước hết một quốc gia khơng thể tự mình cung cấp
những nhu cầu cho quốc gia mình, do mỗi quốc gia trên thế giới đều có một thế
mạnh riêng như Nhật Bản mặc dù là một quốc gia phát triển mạnh về khoa học
kỹ thuật nhưng lại là một nước nghèo tài nguyên khoáng sản, thị trường tiêu thụ
hàng hoá trong nước nhỏ bé. Nếu như Nhật Bản không hội nhập kinh tế giao lưu
với các quốc gia khác về trao đổi hàng hố và mua ngun vật liệu thì Nhật Bản
sẽ không thể tồn tại và phát triển như ngày nay. Và cả Mỹ mặc dù là một quốc
gia phát triển bậc nhất thế giới hiện nay, là trung tâm khoa học kỹ thuật của thế
giới nhưng để có sự phát triển như vậy là do Mỹ có chính sách đúng đắn mở cửa
hội nhập kinh tế và thu hút nhân tài khắp thế giới cũng như mua được những
nguyên vật liệu với giá rẻ và có thị trường rộng lớn trên tồn thế giới. Đó là
những quốc gia có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới phát triển được nền
4
kinh tế như hiện nay là do sự phối hợp kinh tế quốc tế. Còn các quốc gia đang
phát triển hoặc chậm phát triển thì sao? Ta có thể khẳng định rằng dù quốc gia
giàu hay nghèo nhưng cũng phải tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế. Sở dĩ
như vậy bởi vì các quốc gia nghèo có nền kinh tế kém phát triển là do trình độ
khoa học kĩ thuật lạc hậu, trình độ hiểu biết thấp. Nên các nước này càng cần
phải tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế để tiếp thu thêm những thành tựu
khoa học kĩ thuật của các nước phát triển, các nước đi trước đồng thời trao đổi
mua bán với các nước phát triển phát triển như xuất khẩu nhân công dư thừa,
xuất khẩu nguyên vật liệu và mua các thiết bị máy móc kĩ thuật hiện đại nhằm
nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật trong nước, phát triển công nghiệp góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cần phải khẳng định rằng trước xu thế tồn cầu
hóa khơng một quốc gia nào có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Sự xã
hội hóa mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ
thuật và công nghệ hiện đại đã làm nảy sinh yêu cầu hợp tác đa dạng nhiều
chiều, ổn định bền vững trên phạm vi toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế giúp
chúng ta có cơ hội tích lũy những tiền đề, những điều kiện cho một trình độ phát
triển mới. Trước hết chúng ta có cơ hội thu hút vốn, khoa học kĩ thuật công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí kinh tế từ bên ngồi và mở rộng thị trường
để đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa, đưa đất nước ra khỏi tình
trạng kém phát triển.
2.3. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề
nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay. Thế giới đang chứng kiến sự phát triển như
vũ bão của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và
sinh học. Làm tăng nhanh lực lượng sản xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ
cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng thúc đẩy quá trình quốc tế hóa, xã hội hóa
nền kinh tế, cũng như quá trình tham gia của mỗi quốc gia vào phân cơng lao
động và hợp tác quốc tế. Đây chính là đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thế giới
hiện nay các định chế và tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã
được hình thành để phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo lập hành
lang pháp luật chung và để các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các
vấn đề lớn của kinh tế thế giới mà khơng một quốc gia nào có thể thực hiện một
cách đơn lẻ. Đặc điểm cơ bản của hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới hiện nay
thể hiện qua một số xu hướng chính như sau:
-
Xu hướng tăng cường hợp tác đa phương
Xu hướng tự do hóa và khu vực hóa
Thương mại dịch vụ đóng vai trị quan trọng trong thương mại thế giới
Sự tăng cường chính sách bảo hộ với các rào cản thương mại hiện đại
(trích bài viết của Thứ trưởng Bộ thương mại Lương Văn Tự đăng trên tạp chí
Thương mại số ra tháng 3/2004)
5
2.4. Khái niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ
Một nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh tồn cầu hóa có thể được
hiểu là nền kinh tế có khả năng thích ứng cao với những biến động của tình hình
quốc tế và trong bất cứ tình huống nào nó cũng có thể cho phép duy trì các hành
động bình thường của xã hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội của đất nước. Đó là nền kinh tế phải có cơ cấu kinh tế hợp lí, hiệu
quả và đảm bảo độ an tồn cần thiết, có tốc độ phát triển bền vững và năng lực
cạnh tranh cao, cơ cấu xuất nhập khẩu cơ bản cân đối, cơ cấu mặt hàng đa dạng
phong phú với tỉ lệ các mặt hàng cơng nghệ và có giá trị tăng lớn chiếm ưu thế,
cơ cấu thị trường quốc tế, đối tác cũng đa dạng và tránh chỉ tập trung quá nhiều
vào một vài mục tiêu đảm bảo nền tài chính lành mạnh, đặc biệt giữ cân bằng
cần thiết trong cán cân thanh toán và có nguồn dự trữ quốc gia mạnh ( Nguồn:
báo đầu tư chứng khoán )
Như vậy nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc vào
các nước khác, hoặc một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối chính sách, chính
sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính để áp
đặt làm tổn hại đến lợi ích chủ quyền quốc gia. Nền kinh tế độc lập tự chủ là
nền kinh tế không bị lung lay trước những biến động, khủng hoảng của nền tài
chính kinh tế bên ngồi, nó vẫn có khả năng cơ bản duy trì sự ổn định, và phát
triển trước sự bao vây, chống phá của thế lực thù địch. Trong thời đại ngày nay,
độc lập tự chủ về kinh tế khơng cịn được hiểu là một nền kinh tế khép kín, tự
cung tự cấp, mà còn được đặt trong mối quan hệ biện chứng với mở cửa, hội
nhập, chủ động tham gia giao lưu, hợp tác, cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát
huy tối đa nội lực và lợi thế so sánh quốc gia.
2.5. Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế
quốc tế
Nếu như chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế mà khơng có xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ thì quốc gia đó sẽ khơng phát triển bền vững được. Qua những
bài học kinh nghiệm sâu sắc mà một số nước Châu Á rút ra sau khi rơi vào cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ nặng nề năm 1997-1998, là sự phụ thuộc của nền
kinh tế về vốn, thị trường nước ngoài và sự đầu tư trục lợi của những nhà kinh
doanh tiền tệ qua thị trường chứng khoán và các luồng vốn ngắn hạn. Các nền
kinh tế này vượt qua được giai đoạn khó khăn, nhanh chóng phục hồi một phần
rất quan trọng, theo đánh giá của các nhà phân tích kinh tế nước ngồi là do nền
kinh tế Mỹ mấy năm qua có sự tăng trưởng khá. Tuy nhiên nền kinh tế Mỹ hiện
nay đang ngập trong khó khăn và dự đốn rằng một số nước khu vực Châu Á
khó bề vươn dậy vì đã phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu, không tranh thủ cơ
hội cải cách trong nước để đảm bảo sự ổn định nền kinh tế của mình. Những
hậu quả nghiêm trọng về chính trị, lật đổ, chiến tranh giữa các phe phái,.. là
minh chững cho thấy chỉ biết sống dựa, phụ thuộc vào bên ngồi. Qua đó,
6
chúng ta thấy rằng nếu một quốc gia không tự mình xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ mà chỉ biết dựa dẫm vào các phe phái mạnh hơn thì sẽ dẫn đến hạu
quả nghiêm trọng, tình trạng lạc hậu và chậm tiến cũng xảy ra đối với nền kinh
tế của quốc gia đó. Đó chính là lí do vì sao trong quá trình hội nhập kinh tế phải
gắn liền với nền kinh tế tự chủ, chúng có mơi quan hệ biện chứng, tác động qua
lại lẫn nhau đi đến mục đích cuối cùng là phát triển nền kinh tế của quốc gia đó.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ khơng có nghĩa là tự biệt lập hoặc cơ lập
mình mà phải chủ động hội nhập quốc tế, mở cửa khơng có nghĩa là ngó cửa,
hội nhập khơng có nghĩa là hịa tan. Phải nắm bắt được nội lực của quốc gia để
linh hoạt hợp tác đối ngoại kinh tế. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang trở
thành xu thế lớn trên thế giới và quan hệ kinh té quốc tế vài năm trở lại đây. Xu
hướng này lôi cuốn nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu
cực, vừa thúc đẩy hợp tác vừa tăng sức ép cạnh tranh. Vì vậy, để hội nhập
khơng hịa tan cần phải có sự tỉnh táo nhìn nhận thực tế tự do hóa thương mại
một số nước giàu lên trong khi một số nước khác nghèo hẳn đi.
7
CHƯƠNG III: NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC,
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG
VÀ NHÀ NƯỚC TA
3.1. Những cơ hội, thách thức đối với nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế
3.1.1. Cơ hội
Đầu tiên, phải nói tới cơ hội do tính chất của thời đại, do bối cảnh tình
hình quốc tế ngày nay tạo ra. Đảng CSVN luôn xác định, để sự nghiệp cách
mạng của Việt Nam thắng lợi phải phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc và
kết hợp với sức mạnh của thời đại. Việt Nam là một nước kinh tế phát triển còn
thấp, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng Việt Nam có thể
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thể phát triển quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là do tính chất của thời đại ngày nay là thời đại quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, đúng như nguyên lý mà C.Mác, đã nêu ra: loài người chỉ đặt ra
những vấn đề mà điều kiện, những yếu tố để giải quyết vấn đề đó đã xuất hiện.
Thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới đã tạo ra cơ hội
để một đất nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa có thể phát triển
theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Ngày nay, trong thời đại tồn cầu hóa, hội nhập quốc tế trở thành xu thế
chung của tất cả các quốc gia để phát triển. Hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ, vốn đầu
tư của các nước đều có thể lưu thơng, ln chuyển trên quy mơ tồn cầu; phân
cơng và hợp tác sản xuất cũng có thể diễn ra ở nhiều quốc gia trên quy mơ tồn
cầu; doanh nghiệp của một nước có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu…
Toàn cầu hóa tạo ra cơ hội cho mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia nghèo,
chậm phát triển. Việt Nam, trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, thực hiện đường
lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã sớm chủ trương
hội nhập quốc tế, bắt đầu từ hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước mở rộng ra các
lĩnh vực khác. Đến nay, Việt Nam đã hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có
quan hệ ngoại giao, kinh tế với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới;
tham gia, trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế có uy tín, tồn cầu và
khu vực (Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại quốc tế, Ngân hàng thế giới, Quỹ
tiền tệ quốc tế, tổ chức ASEAN…), đã ký 16 hiệp định thương mại tự do song
phương, đa phương, trong đó có những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Nhờ hội nhập, Việt Nam đã mở rộng thị trường cho xuất, nhập khẩu hàng hóa,
dịch vụ; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn, thành tựu khoa học
– công nghệ, để đạt được những thành tựu phát triển như những năm qua. Trong
những năm tới, những nền tảng hội nhập kinh tế quốc tế đã xây dựng được,
những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đã ký kết sẽ có hiệu lực và những
8
hiệp định sẽ được ký kết mới, sẽ tiếp tục mở ra cơ hội cho Việt Nam tiếp tục
phát triển.
Những biến động phức tạp gần đây trên thế giới, trong quan hệ quốc tế,
sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy, chủ trương bảo hộ thị
trường trong nước, cản trở tồn cầu hóa ở một số nước lớn, nhất là cuộc chiến
tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc, đang và sẽ ảnh hưởng lớn tới lưu thơng
hàng hóa, đầu tư quốc tế, tăng trưởng kinh tế thế giới. Bối cảnh này có những
ảnh hưởng nhất định tới Việt Nam, tạo ra những khó khăn, thách thức cho Việt
Nam; nhưng đồng thời, cũng tạo ra cơ hội cho Việt Nam, khi Việt Nam có thể
đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ, vào thị trường Trung Quốc thay thế cho
hàng hóa của một số nước bị cản trở xuất khẩu vào những thị trường này. Việt
Nam có cơ hội thu hút các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi Trung Quốc và thu
hút cả các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam sản xuất hàng hóa để
xuất khẩu vào Mỹ, đi vịng, tránh thuế quan cao và hàng rào thương mại của Mỹ
với hàng hóa Trung Quốc.
- Thời đại ngày nay là thời đại cách mạng khoa học – công nghệ, trực tiếp
hiện nay là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang diễn ra mạnh mẽ,
tạo ra những bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất xã hội; trong đó,
khoa học – công nghệ, tri thức trở thành nguồn lực và động lực quan trọng nhất
đối với sự phát triển. Vai trò của các yếu tố sản xuất khác, như vốn, đất đai, tài
nguyên thiên nhiên, trước đây từng là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của
các quốc gia, giảm xuống. Với sự phát triển của hệ thống internet và các mạng
thơng tin kết nối tồn cầu, tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận và truyền
bá tri thức. Những điều này tạo ra cho Việt Nam, một nước luôn quan tâm tới
phát triển giáo dục, có nền giáo dục phát triển; có hệ thống hạ tầng công nghệ
thông tin, tỷ lệ người sử dụng internet cao so với nhiều nước có thu nhập bình
qn đầu người như Việt Nam, cơ hội để có thể đi ngày vào hiện đại, phát triển
theo hình thức rút gọn, đi tắt đón đầu, phát triển kinh tế nhanh, rút ngắn khoảng
cách về phát triển kinh tế với các nước tiên tiến trên thế giới.
- Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đơng Nam Á,
trở thành khu vực phát triển năng động, có vai trò ngày càng quan trọng đối với
phát triển kinh tế thế giới. Trong khu vực, có nhiều nền kinh tế lớn, có tiềm lực
tài chính, khoa học – cơng nghệ mạnh, phát triển năng động như Mỹ, Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, có những thị trường lớn, các nguồn vốn
đầu tư lớn. Là một nước nằm trong khu vực phát triển năng động nay, thu hút
được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, cũng tạo ra những cơ hội phát triển
cho Việt Nam.
- Việt Nam là đất nước có sự ổn định chính trị - xã hội cao, con người
thơng minh, nhân hậu, mến khách, có phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nhiều
danh lam thắng cảnh nổi tiếng, nhiều bãi biển đẹp, nhiều di sản văn hóa - lịch sử
có sức thu hút lớn, có nhiều món ăn và nghệ thuật ẩm thực được bạn bè quốc tế
yêu thích. Sau nhiều năm phát triển, đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng
giao thông, sân bay, cảng biển, đường cao tốc, hệ thống điện, nước, công nghệ
9
thông tin, viễn thông khá đồng bộ, hiện đại, kết nối quốc tế. Nền kinh tế của
Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường đã có nhiều yếu tố của kinh tế thị
trường hiện đại, hội nhập ngày càng phù hợp với các thông lệ và tiêu chuẩn
quốc tế. Cải cách các thủ tục hành chính được đẩy mạnh, các quy định về điều
kiện kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh có điều kiện được thu hẹp, ngày càng
cơng khai, minh bạch; môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, thơng
thống, được nâng bậc theo xếp hạng của các tổ chức quốc tế có uy tín. Nền
kinh tế năng động, đạt được tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức cao hàng đầu
các quốc gia trên thế giới; dân số Việt Nam đông, gần 100 triệu người với mức
thu nhập ngày càng được cải thiện, đang ở giai đoạn dân số vàng, là thị trường
và địa chỉ đầu tư hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trên thế giới.
Nền kinh tế Việt Nam đang được cơ cấu lại, đổi mới mơ hình tăng trưởng để
phát triển nhanh, bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ và nguồn nhân
lực chất lượng cao… Những điều này tạo ra cơ hội lớn cho kinh tế Việt Nam
phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới
3.1.2. Thách thức
Tuy nhiên bên cạnh thời cơ trong hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam vẫn
còn thách thức sau:
Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về
hội nhập kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và
thực hiện nghiêm túc. Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận
phiến diện, ngắn hạn và cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và
ứng phó hữu hiệu với các thách thức.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước,
nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế,
chính sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với
quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phịng an ninh, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an tồn xã hội, mơi trường sinh thái,
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Hội nhập kinh tế quốc tế chưa được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với hội
nhập trong các lĩnh vực khác. Chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến
lược, lâu dài với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng. Việc ứng phó với
những biến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn
bị động, lúng túng và chưa đồng bộ.
Việc khắc phục những hạn chế, yếu kém, tồn tại và triển khai thực hiện
các cam kết quốc tế mới cũng sẽ đặt ra nhiều khó khăn, thách thức khơng chỉ về
kinh tế mà cịn cả về chính trị, xã hội. Sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt,
nhiều ngành, doanh nghiệp và sản phẩm của nước ta sẽ gặp khó khăn hơn. Việc
10
thực hiện các cam kết sâu rộng và cao hơn, nhất là vấn đề lao động, việc làm,
bảo vệ môi trường... đáp ứng yêu cầu nội luật hóa các cam kết nếu khơng được
nghiên cứu, chuẩn bị kỹ, có lộ trình, bước đi phù hợp, sẽ tác động tiêu cực đến
q trình đổi mới, hồn thiện thể chế, giải quyết những vấn đề phức tạp, nhạy
cảm. Việc thực hiện các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng
đặt ra những thách thức mới không chỉ đối với quản lý của Nhà nước mà cịn có
thể ảnh hưởng đến ổn định chính trị - xã hội. Những cơ hội và thách thức nêu
trên có mối quan hệ qua lại và có thể chuyển hóa lẫn nhau. Cơ hội có thể trở
thành thách thức nếu khơng được tận dụng kịp thời. Thách thức có thể biến
thành cơ hội nếu chúng ta chủ động ứng phó thành cơng.
3.2. Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc đối với nước ta
Thứ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của tồn dân và chỉ có thể thành cơng
khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống
chính trị, các cấp, các ngành cần quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh
HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập
quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương
đến năm 2030 và các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch cơng tác
hội nhập của Chính phủ.
Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần
nâng cao năng lực phòng chống, giải quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại,
khiếu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi
dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của người dân và DN.
Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có
điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong chiến lược phát triển, tận dụng triệt để
những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2019 (tháng 6/2019), Ban
Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa
phương cần coi trọng, tăng cường nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới
của HNKTQT tác động tới Việt Nam…
Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện rõ những thách thức của các FTA để có
hội nhập phù hợp song không để bị lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn
hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn sóng
FTA.
Thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa
là mục tiêu vừa là yêu cầu của hội nhập. Để có được điều này cần có những
chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu
quả cải cách hành chính cơng nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ
chi phí giao dịch vốn có ảnh hưởng khơng nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.
11
Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trị của địa phương, của
DN trong cơng tác HNKTQT. Dư địa phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ
lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi DN, mỗi người dân. Địa phương, DN là
chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quả của hội nhập.
DN, người dân phải chủ động hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế,
chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, khơng để tình trạng vi phạm quy
định pháp luật tiếp diễn, ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước, con người
Việt Nam.
12
KẾT LUẬN
Trên cơ sở vận dụng nguyên lí về mối liên hệ phổ biến chúng ta đã tìm
hiểu một cách khá sâu sắc và toàn diện về hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng
nền kinh tế độc lập – tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có mối liên hệ
chặt chẽ, tác động lẫn nhau, độc lập tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản
đảm bảo sự bền vững độc lập tự chủ về chính trị, chủ động hội nhập về kinh tế
quốc tế là để tạo điều kiện xây dựng thành công nền kinh tế độc lập tự chủ,
chúng ta xây dựng nền kinh tế độc lập – tự chủ trên cơ sở phát huy cao độ các
nguồn lực bên ngoài, kết hợp tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Trong xây dựng kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã
đạt được những thành tựu rất đáng tự hào bên cạnh đó là những khó khăn, thách
thứ đặt ra cho tồn đảng, tồn dân ta trong giai đoạn sắp tới, vì vậy chúng ta cần
có định hướng chiến lược, thực hiện đồng bộ các giải pháp để chủ động và tham
gia hội nhập, bảo vệ và xây dựng nền kinh tế độc lập – tự chủ, tạo thế và lực
mới, xây dựng nước Việt Nam ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh hơn.
13
DANH MỤC THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mac-lênin
2. Cơ hội và thách của nền kinh tế Việt Nam khi tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế />3. Phát triển kinh tế đôi ngoại và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong
bối cảnh hội nhập TS. Võ Văn Đức Học viện chính trị quốc gia HCM
14