Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.85 KB, 16 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề tài: Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa
vật chất với ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi
mới ở nước ta hiện nay.

Họ và tên: Đỗ Thị Phương Anh
Lớp: Anh 12-KTKT-K59 CSQN
Chuyên ngành: Kế toán - Kiểm toán
Giảng viên: Nguyễn Thị Tùng Lâm

1


MỤC LỤC
Lời

nói

đầu

3
Nội

dung

4
Chương I: Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất




ý

thức

4
1.1.Vật

chất

quyết

định

ý

thức

4
1.2.Ý

thức

tác

động

trở


lại

vật

chất

6
Chương II: Vận dụng quan điểm vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
2.1.Ý

nghĩa

của

phương

pháp

9

luận

9
2.2.Sự

vận

dụng

của


Đảng

vào

công

cuộc

đổi

mới

9
Kết

luận

14
Danh

sách

tài

liệu

15

2


tham

khảo


LỜI NÓI ĐẦU
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng lớn lao và quan trọng
nhất của Đảng và nhân dân ta hiện nay vì chỉ khi thực hiện được mục tiêu
này, chúng ta mới có thể xây dựng được một nước Việt Nam “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ công bằng, xã hội văn minh“ – theo cách nói của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Và cũng chỉ có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta
mới có thể thỏa mãn mong muốn cuối đời của Người đó là:“Làm sao cho dân
ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, ...“. Từ thực tế hiện nay
cùng với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản ở nước
ta, tại Đại hội lần thứ VII của Đảng ta lần đầu tiên đã khẳng định:“Chủ nghĩa
Mác-Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho
hoạt động của Đảng. Tức là chúng ta phải dùng lập trường, quan điểm,
phương pháp chủ nghĩa Mác-Lênin để tổng kết những kinh nghiệm cho Đảng
ta, phân tích một cách đúng đắn các đặc điểm của nước ta. Từ đó, chúng ta có
thể định ra đường lối, phương châm phù hợp với tình hình phát triển của đất
nước.
Xuất phát từ thực tế khách quan, việc tìm hiểu và vận dụng mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức theo Triết học Mác-Lênin là quan trọng và cần thiết.
Đây cũng là lý do em chọn làm đề tài tiểu luận này.

3


NỘI DUNG

Chương I: Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức
Quan điểm triết học Mác-Lênin đã khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức thì vật chất và ý thức tác động trở lại vật chất. Để làm rõ quan điểm này,
chúng ta chia làm hai phần.
1.1.Vật chất quyết định ý thức
Vật chất là phạm trù triết học có lịch sử phát triển hơn 2500 năm. Ngay từ thời
cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan
nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Phạm trù vật chất đã có quá
trình phát triển gắn liền với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức của loài người.
Theo Lênin:“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác và được cảm giác của chúng ta chép
lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác“. Như vậy:
-Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngồi ý thức và khơng phụ thuộc vào ý
thức.
-Vật chất là cái tạo lên cảm giác ở con người bằng cách gián tiếp hoặc trực tiếp
tác động lên các giác quan của con người.
-Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất.
Từ định nghĩa của Lênin đã khẳng định vật chất là thực tại khách quan vào bộ
não của con người thông qua tri giác và cảm giác. Thật vậy, vật chất là nguồn gốc
của ý thức và quyết định nội dung của ý thức.

4


Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh,
chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là một thuộc tính của vật
chất nhưng khơng phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng
vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý
thức. Khoa học cũng đã chứng minh được rằng, thế giới vật chất nói chung và trái

đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người và bộ óc người,
rằng ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi
xuất hiện con người và bộ óc người. Bộ não người bao gồm khoảng 15 đến 17 tỉ tế
bào thần kinh, các tế bào này tạo nên vô số các mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý,
truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với
thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ khơng điều kiện và có điều kiện. Vật chất
quyết định sự biến đổi của ý thức do ý thức là chức năng của bộ não người. Hoạt
động ý thức khơng diễn ra ở đâu ngồi những hoạt động sinh lý thần kinh của bộ
não. Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não, do đó khi bộ não bị tổn thương
thì hoạt động ý thức sẽ khơng được bình thường hoặc bị rối loạn.
Mặt khác, trong hoạt động của con người, nhu cầu vật chất bao giờ cũng giữ
vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì con người luôn
phải được thoả mãn nhu cầu vật chất tối thiểu: ăn, ở, mặc… rồi mới nghĩ đến vui
chơi, giải trí, các hoạt động tinh thần.Tức là, hoạt động nhận thức của con người
trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên để thoả mãn nhu cầu sống. Cuộc
sống tinh thần của con người phụ thuộc và bị chi phối bởi nhu cầu vật chất và
những điều kiện vật chất hiện có. Ý thức con người khơng thể tạo ra các đối tượng
vật chất, cũng không thay đổi được quy luật vận động của nó. Do đó, mọi mục tiêu
ước muốn của con người không dựa trên điều kiện vật chất hiện có, trên mảnh đất
hiện thực đều là ước mơ chủ quan, không tưởng.
1.1.
5


Khơng chỉ có thế, tính thứ nhất của vật chất so với tính thứ hai của ý thức cịn
được thể hiện ở chỗ vật chất là điều kiện để hiện thực hố ý thức. Nó quy định khả
năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người. Nó tạo
điều kiện cho nhân tố tinh thần này hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện
thực và qua đó quy định mục đích, chủ trương, biện pháp mà con người đề ra cho
hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa, bổ sung, cụ thể hố các mục

đích, chủ trương biện pháp đó.
1.2.Ý thức tác động trở lại vật chất
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ não của con
người thông qua hoạt động thực tiễn bằng ngơn ngữ. Nó là tồn bộ hoạt động tinh
thần của con người như: tình cảm yêu thương, tâm trạng, cảm xúc, ý chí, tập qn,
truyền thống, thói quen, quan điểm,...
Ý thức do vật chất sinh ra, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương
đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực
tiễn của con người. Ý thức đúng đắn là ý thức dựa trên quy luật khách quan của
con người, do đó nó có tác động tích cực, làm biến đổi hiện thực, vật chất khách
quan theo nhu cầu của mình. Ý thức sai lầm là ý thức trái quy luật khách quan của
con người, có tác động tiêu cực, thậm chí phá hoại các điều kiện khách quan, hoàn
cảnh khách quan, kéo lùi lịch sử. Bởi mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối
quan hệ tác động qua lại.
Trái với các nhà triết học duy tâm luôn muốn biến ý thức của con người thành
động lực của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định:“Xưa nay, tư tưởng
không thể đưa người ta vượt ra ngoài trật tự thế giới cũ, trong bất kì tình huống
nào, tư tưởng cũng chỉ có thể đưa người ta vượt ra ngoài phạm vi tư tưởng của trật
tự thế giới cũ mà thôi“. Thật vậy, muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con
người sử dụng lực lượng thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là con người muốn thực
6


hiện các quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn các quy luật
đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Như vậy vai trị của ý thức
ở chỗ nó giúp con người đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, những mục đích,
kế hoạch, biện pháp, phương hướng phù hợp với thực tế khách quan. Nói như vậy
có nghĩa là cũng có những ý thức khoa học và những ý thức không khoa học so với
hiện thực khách quan, tương ứng với nó là hai tác động trái ngược nhau tích cực và
tiêu cực của ý thức đối với vật chất.

Vai trị tích cực của ý thức, tư tưởng khơng phải ở chỗ nó trực tiếp tạo ra hay
thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức thế khách quan từ đó hình thành được
mục đích, phương hướng, biện pháp đúng đắn đồng thời có ý chí, quyết tâm cần
thiết cho hoạt dộng của mình. Sức mạnh của ý thức con người không phải ở chỗ
tách rời điều kiện vật chất, thoát ly hiện thực khách quan, mà là biết dựa vào điều
kiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới khách
quan một cách chủ động, sáng tạo với ý chí và quyết tâm cao nhằm phục vụ lợi ích
của con người và xã hội.
Mặt khác, do có tính vượt trước, nên ý thức giúp cho hoạt động của con người
trở nên tự giác, tích cực, chủ động hơn như trong việc dự báo, lập kế hoạch, đề ra
đường lối, phương pháp hành động. Vai trò của ý thức còn thể hiện ở vai trị của tri
thức, trí tuệ, tình cảm và ý chí. Nó khơng những là kim chỉ nam cho hoạt động thực
tiễn mà còn là động lực của thực tiễn. Khơng có sự thúc đẩy của tình cảm, ý chí,
hoạt động thực tiễn sẽ diễn ra một cách chậm chạp, thậm chí khơng thể diễn ra
được. Tuy nhiên, ý chí, tình cảm chỉ là động lực mà khơng thể là kim chỉ làm cho
hoạt động thực tiễn. Bởi vì, sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn, tác
dụng tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên và xã hội
chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo ý thức. Chính vì vậy phải biết kết hợp giữa
tri thức, trí tuệ, khoa học với ý chí, tình cảm vì tri thức càng được tích luỹ, con
người ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn.
7


Nếu như thế giới vật chất – với những thuộc tính và quy luật vốn có của nó –
tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người thì trong nhận thức và
hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực thể khách quan
làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình.
Qua đây, chúng ta có thể rút ra một ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt
động thực tiễn của con người: Mọi hoạt động của con người (cả hoạt động nhận
thức lẫn hoạt động thực tiễn) đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, phát huy

được tính năng động sáng tạo của ý thức, tư tưởng, của nhân tố chủ quan của con
người và đồng thời chống chủ quan duy ý chí.

8


Chương II: Vận dụng quan điểm vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
2.1.Ý nghĩa của phương pháp luận
Vì vật chất quyết định ý thức nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải xuất
phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và tuân theo quy luật khách quan.
Vì ý thức tác động trở lại vật chất nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải
chú ý giáo dục và nâng cao nhận thức cho con người.
Mác nói:“Cố nhiên vũ khí phê phán khơng thể thay thế sự phê phán bằng vũ
khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bằng lực lượng vật chất nhưng lý luận
một khi đã thâm nhập được vào quần chúng sẽ trở thành lực lượng vật chất“.
Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, không được lấy ý muốn chủ quan của
mình làm chính sách, khơng được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược
và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp
đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay thế cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh duy ý chí.
Bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình độ nhận thức nói chung và sự
hạn chế trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói riêng. Vì vậy, Lênin gọi
căn bệnh này là sự mù quáng chủ quan, là sai lầm tự phát dẫn đến rơi vào chủ
nghĩa duy tâm một cách khơng tự giác.
Ý thức có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công
khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan. Ngược lại, ý thức, tư tưởng có
thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới
khách quan. Nếu quá coi trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh bi quan. Vì vậy,
phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phụ bệnh bảo thủ
trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động. ỷ lại hoặc bênh chủ quan duy ý chí.
2.2.Sự vận dụng của Đảng vào cơng cuộc đổi mới

Chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản như chủ nghĩa tư bản
đã thay thế chế độ phong kiến. Đó là quy luật khách quan của lịch sử loài người. Ở
9


nước ta, chủ nghĩa xã hội cũng nhất định sẽ được xây dựng thành cơng trong sự
gắn bó giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Xuất phát từ những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước Việt Nam và con người Việt Nam, của dân
tộc và lịch sử trong bối cảnh khu vực thế giới hiện đại, theo quy luật chung mà chủ
nghĩa Mác-Lênin đã nêu ra.
Thực tế là, chúng ta bước vào con đường xã hội chủ nghĩa từ một xuất phát điểm
về kinh tế xã hội rất thấp - nhất là lực lượng sản xuất. Đó là tình trạng sản xuất
nhỏ, kinh tế tự nhiên, kinh tế hiện vật còn khá phổ biến, kỹ thuật thơ sơ, thủ cơng
nửa cơ khí. Sản xuất hàng hố cịn chưa trở thành phổ biến, thị trường bị chia cắt,
thậm chí có nơi, có lúc khép kín kể cả trong kinh tế đối ngoại. Muốn phát triển lực
lượng sản xuất, chúng ta phải đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố trên cả quy
mơ bề rộng lẫn chiều sâu. Phải xây dựng một chương trình khả thi cho cả công
nghiệp, nông nghiệp và các ngành kinh tế khác, chú trọng cho phát triển nông
nghiệp, cho các vùng kinh tế - xã hội trọng điểm, cho vùng núi, vùng sâu, vùng xa,
vùng căn cứ cách mạng cũ…
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 của Đảng ta đã
khẳng định: con đường cơng nghiệp hố, hiện đại hố của nước ta cần và có thể rút
ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự vừa có
những bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng
để đạt trình độ cơng nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ
sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn
những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, bảo đảm cho khoa học và công
nghệ thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu trong phát
triển kinh tế – xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu về khoa học và công nghệ. Trong
thời đại cách mạng thông tin hiện nay, chúng ta khơng có sự lựa chọn nào khác là
phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và cơng nghệ mới của thời đại để từng bước

phát triển kinh tế trí thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của
10


người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo là nền tảng và động lực của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi nhân tố con người đóng vai trị hết sức
quan trọng trong sự phát triển lực lượng sản xuất.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Muốn chủ
nghĩa xã hội thành cơng thì khơng thể khơng sử dụng chủ nghĩa tư bản với tư cách
là một nấc thang văn minh nhân loại. Như Mac đã nói: “chúng ta đau khổ vì chủ
nghĩa tư bản và cũng đau khổ vì khơng có nó”. Tức là, chúng ta đau khổ vì quan hệ
sản xuất sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhưng có lẽ chúng ta
cịn đau khổ hơn nếu như khơng có lực lượng sản xuất khổng lồ của nó, đó chính
là: “Tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết” (C.Mác và Ph.Ăngghen).
Ở nước ta, lực lượng sản xuất cần phát triển song hành hai phương thức:
tuần tự (từ thủ công đến nửa cơ khí rồi cơ khí) và nhảy vọt theo lối đi tắt, đón đầu
(từ thủ cơng đi thẳng vào hiện đại) sao cho trong một thời gian ngắn, thậm chí rât
ngắn chúng ta đạt trình độ với các nước tiên tiến trong khu vực…
Song, lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển gắn liền với quan hệ sản xuất
phù hợp. Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, phát triển lực lượng sản
xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kinh tế của chủ nghĩa xã hội,
nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại tới mức xã hội
hoá gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả 3 mặt: sở hữu,
quản lý và phân phối.
Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằng hệ
thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị
trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị

11


trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy được mặt tích
cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích
của người lao động, của tồn thể nhân dân.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua việc xác lập hệ thống chính trị của
chủ nghĩa tư bản khơng phải là khơng có kế thừa và chọn lọc những quan hệ sản
xuất, những hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa khi nó chưa hết tác dụng tích cực
ngya trong thời kỳ quá độ. Đây chính là những “cây cầu nhỏ”, những bước trung
gian quá độ đưa chúng ta tới “phòng chờ” trực tiếp đi và chủ nghĩa xã hội.
Một lần nữa chúng ta khẳng định vai trò của con người trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy nước ta phải đầu tư hơn nữa cho việc phát
triển con người mà cụ thể là sự nghiệp giáo dục- đào tạo phải được: đổi mới
phương pháp giảng dạy ở tất cả các bậc học từ mầm non tới sau đại học. Chú trọng
đến giáo dục đào tạo ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Bởi “khơng có cái lợi nào
bằng cái lợi đầu tư cho con người”. Mặt khác, ta còn phải nâng cao năng lực và
hiệu quả chủ động hội nhập quốc tế theo hướng đẩy nhanh tốc độ và khả năng nội
sinh hoá những sức mạnh bên trong nhằm thâu thức, tích tụ và tăng cường nội lực
đất nước để hội nhập một cách mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc mà vẫn giữ được bản
sắc Việt Nam. Hiện nay, các thế lực thù địch với những “diễn biến hồ bình” vẫn
đang đe dọa hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Từ thực tế đó, địi hỏi
Đảng và nhà nước ta phải ra sức tăng cường an ninh quốc phòng, ra sức đổi mới hệ
thống chính trị phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, của thời đại.
Bên cạnh một số chính sách, biện pháp nhằm đưa đất nước ta vững bước trên
con đường xã hội chủ nghĩa như đã trình bày ở trên, ta khơng thể khơng kể đến vai
trị thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến nhanh và xa hơn đó là tính
năng động, chủ quan, đó là khối đại đồn kết tồn dân và đó cịn là ý chí, nhiệt
tình, quyết tâm thực hiện cho được xã hội xã hội chủ nghĩa trên đất nước Việt
Nam.

12


Bản thân sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ mới mẻ, khó
khăn, phức tạp, địi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan, của tính
năng động chủ quan. Đó chính là những phát minh vĩ đại, những đường lối chính
sách đứng đắn có tính chất quyết thắng của tồn thể dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của đông
đảo quần chúng. Khơng có ý chí, hồi bão lớn, nghị lực lớn thì khơng thể thực hiện
được những nhiệm vụ trọng đại, khó khăn phức tạp chưa từng có trong lịch sử dân
tộc. Vấn đề là ở chỗ mọi nhiệt tình và ý chí cách mạng hiện nay phải gắn liền với
chi thức, hiểu biết, đặt trên cơ sở khoa học, sự phát triển tiềm lực trí tuệ của cả dân
tộc. Khơng có khoa học, khơng có sự phát triển mạnh mẽ nguồn lực trí tuệ thì
khơng thể dẫn dắt xã hội đi tới văn minh, hiện đại. Do đó, phải quy tụ mọi tài năng
của công dân, tập hợp trí tuệ và phát huy sức mạnh trí tuệ của cả dân tộc.
Trong khi đề cao vai trò của nhân tố chủ quan, của ý chí, nhiệt tình, cách
mạng cũng cần phải phân biệt với tư tưởng chủ quan duy ý chí. Chủ nghĩa duy vật
biện chứng cho rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội nhưng ý thức xã hội lại
có tác động ngược lại đến tồn tại xã hội, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của
xã hội. Khi con người xuất phát ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế thì
nó sẽ trở thành một vận cản đối với sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, mà mọi đường
lối, kế hoạch đều phải dựa vào tình hình thực tế, những điều kiện và khả năng thực
tế, tôn trọng quy luật khách quan.
Nêu cao, bồi dưỡng ý chí cách mạng và phê phán tư tưởng chủ quan duy ý
chí là hai mặt của một vấn đề. Tức là, khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm,
dám tạo ra những bước đột phá có tính cách mạng để phát triển chứ khơng phải là
kích thích những hành động chủ quan nóng vội, bất chấp quy luật khách quan. Phê
phán tư tưởng chủ quan duy ý chí là nhằm hướng tới sự tỉnh táo khoa học và tính
thực tiễn trong mọi mặt hoạt động chứ khơng phải là làm nhụt ý chí cách mạng.
13



KẾT LUẬN
Nói tóm lại, vật chất ln đóng vai trị quyết định đối với ý thức, nó là cái
có trước ý thức nhưng ý thức có tính năng tác động trở lại vật chất. Mối quan
hệ tác động qua lại này chỉ được thực hiện thông qua hành động thực tiễn của
con người. Chúng ta nâng cao vai trò của ý thức với vật chất cũng chính là
nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng quy luật
khách quan vào trong hoạt động thực tiễn của con người.
Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan. Với chủ trương này chúng ta
đã giành được một số thắng lợi to lớn tuy nhiên vẫn cịn một số thiếu sót, đặc
biệt ở khâu hành động. Qua đó, chúng ta có thể rút ra bài học hết sức cần
thiết cho sự nghiệp cách mạng lớn lao của Đảng và nhân dân ta – Sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội đó là: Chúng ta chỉ có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội
nếu như: Mọi đường lối, chính sách, phương hướng mục tiêu đề ra, hoạch
định ra phải được xuất phát từ thực tế điều kiện nước nhà. Thứ hai chúng ta
phải phát huy cao độ vai trị tích cực của ý thức hay chính là vai trị năng
động chủ quan của con người. Xây dựng hệ động lực tinh thần mạnh mẽ cổ vũ
lớn lao cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của tồn Đảng và nhân dân ta. Đó
chính là “xây dựng khối đại đồn kết dân tộc”, đó là “khơi dậy lịng u nước,
ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước
nhà ra khỏi nghèo làm lạc hậu”. Một điều hết sức quan trọng đó là làm sao để
vừa xây dựng nền kinh tế có sự tham gia của các thành phần kinh tư bản lại
vừa tránh được nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là một vấn
đề cấp thiết mà Đảng và nhà nước ta cần có phương hướng đi sao cho phù
hợp.

14



15


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình những ngun lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (NXB Chính
trị Quốc gia, HN)
2.Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH (NXB Sự
thật, HN, 1991)
3.Chủ nghĩa Mác-Lênin và công cuộc đổi mới trong sự nghiệp xây dựng
CNXH ở nước ta (NXB Thông tin lý luận, 1995)
4.Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ 9 (NXB Chính trị Quốc gia,
2001)
5.Triết học Mác-Lênin(NXB Giáo dục)
6.Lý luận chính trị số 1, 2002

16



×