Tải bản đầy đủ (.docx) (8 trang)

bai thu hoach thang hang 3 - mam non

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (54.23 KB, 8 trang )

Họ và tên: Phạm Thị Ngọc Ánh

Mã lớp: Q712102

Ngày sinh: 13/7/1989

Tên lớp: CDND Mầm non hạng 3

Số thứ tự (theo DS): 81

Địa điểm học: TTBDCT Quận 7
KIỂM TRA PHẦM II
BÀI LÀM

Câu 1:
*Khái niệm Phát triển chương trình giáo dục mầm non
- Phát triển chương trình giáo dục mầm non là quá trình nghiên cứu, thiết kế xây dựng,
điều chỉnh làm biến đổi và hồn thiện chương trình giáo dục cho trường- khối lớp từ chương
trình khung của Bộ GD&ĐT và tình hình thực tế của trường- khối lớp
- Phát triển chương trình khối, lớp có nghĩa là từ chương trình khung chung cho cả quốc
gia xây dựng thành chương trình cụ thể cho một độ tuổi cụ thể, cho một lớp học cụ thể. Chương
trình cụ thể là một kế hoạch có tính mở và linh hoạt để tạo ra các trãi nghiệm vừa bổ ích vừa vui
vẻ trên thực tế cho trẻ nhằm đạt đuộc các mục tiêu mong muốn ở trẻ.
1.1 Đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển chương trình giáo dục mầm non của khối
lớp
- Đáp ứng nhu cầu đổi mới chung của giáo dục việt nam, đòi hỏi của xã hội và thực tế
phát triển chung của đất nước, phù hợp với từng giai đoạn, từng vùng miền cụ thể.
- Thực hiện mục tiêu hội nhập theo xu hướng tồn cầu hóa
- Giúp giáo viên chủ động, sáng tạo trong công việc (không rập khuôn..) phù hợp với
điều kiện và khả năng thực tế của trẻ tại nhóm lớp
- Giáo viên tự đánh giá sự tiến bộ và phát triển của trẻ dưới tác động của chương trình điều chỉnh phù hợp.


- Giúp hình thành ở trẻ những kiến thức - kĩ năng 1 cách có hệ thống nhằm đạt được mục
tiêu hình thành năng lực, đáp ứng nhu cầu và hứng thú của trẻ.
1.2 Thực trạng về việc phát triển chương trình giáo dục mầm non tại nhóm lớp đang
cơng tác.


Tôi hiện đang công tác tại trường mầm non Mạ Non Huyện Nhà Bè. Được sự quan tâm
hướng dẫn tận tình trong cơng tác chun mơn của các cấp lãnh đạo cũng như ban giám hiệu
nhà trường về việc phát triển chương trình GDMN. Nhà trường ln nắm bắt kịp thời những đổi
mới trong chương trình, triển khai tốt tới từng cán bộ giáo viên trong nhà trường, tham gia học
tập các lớp tập huấn chương trình giáo dục mầm non do ngành tổ chức. Với những nhận thức
đúng đắn về việc phát triển chương trình GDMN tơi nhận thấy như sau:
*Thuận lợi
- Đội ngũ giáo viên có trình độ chun mơn vững vàng
- Đội ngũ cán bộ quản lí thật sự có trình độ chun mơn vững vàng và năng lực về quản
lí phù hợp với vị trí quản lí
*khó khăn
- Cịn thiếu cơ sở vật chất, khơng đảm bảo điều kiện làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo
dục
- Trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho cơng tác chăm sóc giáo dục trẻ chưa đồng
bộ nhất là đồ chơi ngồi trời chưa mang tính hiện đại.
- Tình trạng thiếu giáo viên vẫn chưa được khắc phục
- Là một huyện ngoại thành nên công tác huy động xã hội hóa giáo dục cịn hạn chế.
- Chế độ chính sách đối với giáo viên tuy đã được quan tâm song vẫn chưa đáp ứng được
so với nhu cầu hiện tại, Đội ngũ nhân viên hợp đồng thuê khoán của trường chiếm đến 30%,
mức lương quá thấp đời sống gặp nhiều khó khăn.
*Hướng giải quyết
- Với sự phát triển chương trình giáo dục mầm non bản thân tơi nắm vững tốt các nội
dung giáo dục theo lứa tuổi và xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với chương trình khung và
tiến hành soạn giảng dựa vào điều kiện thực tế của địa phương và khả năng của trẻ tại lớp.

- Tơi ln áp dụng theo chương trình GDMN mới giúp cho trẻ được thực hành, trẻ được
trải nghiệm, được khám phá bằng các giác quan, được rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm. Đồng
thời giúp trẻ bộc lộ khả năng của bản thân và ngày càng mạnh dạn, tự tin, phát huy vai trò chủ


động sáng tạo trong các hoạt động…
- Bản thân tôi luôn áp dụng phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm giúp trẻ tích cực
khai thác, tìm tịi phát huy trí tưởng tượng, nghĩ ra nhiều cách chơi, đáp ứng việc cung cấp và
củng cố kiến thức, kỹ năng cho trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm tham gia vào các
chương trình lễ hội tạo cho trẻ sự mạnh dạn tự tin...
- Bên cạnh đó bản thân tôi cũng đã thực hiện được việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm,
đó là:
- Dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng và thế mạnh của từng trẻ để xây dựng kế hoạch
giáo dục phù hợp với trẻ lớp mình.
- Ln tin tưởng rằng mỗi trẻ đều có thể thành công và tiến bộ.
- Tạo cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau gồm cả hoạt động vui chơi, vì vui
chơi cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội để học tập như khám phá, sáng tạo, đóng vai, tưởng tượng và
tương tác với bạn bè.
-Cần thể hiện vai trò của giáo viên là người tạo cơ hội, hỗ trợ và hướng dẫn quá trình học
tập của trẻ, cần tránh áp đặt trẻ;
- Cần tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào việc lập kế hoạch ( hỏi ý kiến trẻ, gợi ý cho trẻ trẻ
đề xuất và khởi xướng các hoạt động);
- Tạo cơ hội cho trẻ tích cực học hỏi qua vui chơi và các trải nghiệm của chính mình;
- chương trình cụ thể của khối, lớp cần có độ mở và linh hoạt để giáo viên có thể thay đổi
tùy vào diễn tiến của các hoạt động, hứng thú và khả năng của trẻ;
- chương trình cụ thể của khối, cần thể hiện sự liên kết giữa những gì trẻ đã, đang và sẽ
học, cách tiếp cận tích hợp trong xây dựng nội dung chương trình;
- Cần sử dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực, chú trọng hoạt động theo nhóm nhỏ
và cá nhân, tổ chức các hoạt động không chỉ trong lớp học mà cịn vượt ra ngồi phạm vi lớp
học ( hoạt động ngoài trời, tham quan,...)

Câu 2:Để xây dựng các mối quan hệ tích cực, thân thiện với trẻ, giáo viên mầm non cần
thực hiện các phương thức giao tiếp ứng xử:


Giáo dục mầm non mang tính chất của giáo dục gia đình, mang nặng yếu tố cảm xúc.
Giáo viên mầm non được ví như người mẹ hiền của trẻ. Do đó, cần xây dựng mơi trường tâm li
– xã hội trong trường mầm non gần gũi, ấm cúng, thân thiên tao cho trẻ sự an tồn, thoải mái,
tích cực tham gia các hoạt động trải nghiệm, khám phá. Làm sao để trẻ luôn cảm nhận “mỗi
ngày đến trường là một ngày vui".
Trong trường mầm non, giáo viên là người giữ vị trí trực tiếp, giữ vai trị chủ đạo trong
cơng tác chăm sóc và giáo dục trẻ, xây dựng được mối quan hệ tích cực, thân thiện giữa giáo
viên mầm non với trẻ sẽ đảm bảo trẻ phát triển toàn diện các mặt thể chất, nhận thức, ngơn ngữ,
tình cảm – kĩ năng xã hội cũng như đảm bảo hiệu quả của hoạt động giao tiếp sư phạm. Mối
quan hệ tích cực, thân thiện giữa giáo viên mầm non với trẻ được biểu hiện trong các phương
thức giao tiếp, ứng xử. Có nhiều phương thức tiếp cận với trẻ như: Phương thức áp đặt từ phía
người lớn; phương thức kết hợp giữa giáo dục và hoạt động tích cực của trẻ; phương thức tự lựa
chọn những định hướng giá trị xã hội mà cá nhân cho la có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát
triển của họ.
Từ vị trí xã hội quy định cho cơ giáo mầm non và để xây dựng các mối quan hệ tích cực,
thân thiện với trẻ, giáo viên mầm non cần thực hiện hai phương thức giao tiếp, ứng xử. Đó là:
phương thức giao tiếp ứng xử của cô giáo như mẹ hiền và phương thức ứng xử cơ là cơ giáo.
Vì:
* Phương thức giao tiếp ứng xử của cô giáo như mẹ hiển: Cô giáo mầm non không phải
là người mę sinh ra trẻ nhưng cô là người mẹ xã hội đối với trẻ, cô giao tiếp – ứng xử với trẻ
bằng phương thức mẹ - con. Cô giáo tạo ra mỗi quan hệ tình cảm với trẻ trên nền tảng của tình
yêu thương, coi trẻ như con, em của mình. Trẻ sống, hoạt động, vui chơi, ăn, ngủ ở trường mẩm
non khoảng 7 – 10 tiếng mỗi ngày. Do vậy, những thông tin, hiểu biết, nhận thức về con người,
sự vật, hiện tượng chủ yếu do cô giáo mầm non xây dựng cho trẻ. Cô giáo là người thay thế
người mẹ để chăm sóc – giáo dục trẻ.
- Mối quan hệ giữa cô và trẻ được biểu hiện trước hết ở cách xưng hơ cơ - con. Đó là sự

tiếp nối quan hệ mẹ - con từ gia đình vào nhà trường. Cách xưng hô này rất thân mật giúp trẻ có
cảm giác "lúc ở nhà mẹ cũng là cơ giáo, khi đến trường cô giáo như mẹ hiền". Xưng hô như vậy
vừa thân mật vừa nhắc nhở cô giáo bổn phận làm mẹ, tận tuy, khơng ngại khó khăn chăm sóc


cho những đứa con của mình và trẻ phải biết vâng lời cơ dạy, nghe lời cơ nói, chơi theo sự chỉ
dẫn của cơ.
- Với tình u thương của mình dành cho trẻ, trong chăm sóc, giáo dục trẻ, cơ giáo
luôn tận tuy, khéo léo, dịu dàng, hi sinh cho trẻ, thoả mãn những nhu cầu cơ bản trong
những lúc cần thiết cho trẻ như dỗ cho trẻ ăn hết suất, vệ sinh sạch sẽ cho trẻ khi tiểu tiện,
khi bệnh tật...; làm đồ chơi cho trẻ, dành thời gian chơi với các cháu, phục vụ các cháu
hết mình khơng kể thời gian, giờ giấc. Trên nền tảng tình thương yêu của người mẹ, cô
giáo đáp ứng đúng lúc, kịp thời những nhu cầu cơ bản của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát
triển những tiềm năng về cơ thể và tâm lí một cách thuận lợi. Nếu cháu có nhu cầu gì đó
mà chưa kịp thời thoả mãn thì cơ hãy thoả mãn cho cháu vào thời điểm thích hợp.
- Sự chăm sóc, giáo dục của cơ giáo với trẻ sao cho vừa có tình thương, vừa có cơng
bằng, khơng để cháu nào bị thiệt thịi, thiếu sự quan tâm chăm sóc của cơ. Do đó, cơ giáo phải
quan tâm chung đến cả lớp và quan tâm riêng từng trẻ. Mỗi trẻ có đặc điểm riêng về thể chất,
về nhu cầu, sở thích, hứng thú, khả năng... Bằng tình cảm của người mẹ, cơ giáo có thể nhận ra
sự khác biệt này và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của từng trẻ.
- Cơ giáo cần khích lệ, động viên các thành tích của trẻ, phải thực sự quan tám đén trẻ
với tâm lòng của người mẹ mới có được những thơng tin về sự phát triển thể chất, tinh
thần ở trẻ. Từ sự khích lệ, động viên của cô giáo mà trẻ tự tin vào hành vi, cử chỉ của mình và
cũng tạo điều kiện để trẻ tiếp xúc trực tiếp với cô.
- Dành nhiều thời gian chăm sóc từng trẻ, tạo điều kiện để trẻ được giao tiếp trực tiếp
với cơ. Khi nói chuyện với trẻ, cơ nhìn âu yếm, thân thương, nhìn vào mắt, vào mặt trẻ để
trẻ nói tự nhiên và có thói quen tập trung chú ý vào đối tượng tiếp xúc.
- Cơ giáo phải tạo bầu khơng khí gia định trong lớp học, cô yêu thương, quan tâm đến
trẻ và trẻ yêu thương, quan tâm đến cô, đến các bạn.
*Phương thức giao tiếp ứng xử của cô là cô giáo: Nhiệm vụ của cơ giáo là hình thành,

phát triển nhân cách của trẻ theo mục tiêu giáo dục mầm non. Đó là:
- Cô giáo phải giúp trẻ phát triển cơ thể một cách khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát,
hải hoà, cần đối. Để đạt mục tiêu này, cô giáo phải nuôi dưỡng trẻ hợp với khoa học dinh
dưỡng; đúng khẩu phần ăn đảm bảo trẻ không thiếu chất, không bị suy dinh dưỡng. Tổ chức vận


động cho trẻ từ thấp đến cao để kích thích sự phát triển cơ bắp, gần xương, tạo ra những phản
ứng nhanh, mạnh, hài hồ.
- Phát triển nhận thức: kích thích sự hoạt động của các giác quan bằng cách cho trẻ
tiếp xúc với đồ vật, đồ chơi có màu sắc, hình dạng, âm thanh hấp dẫn, các câu chuyện, các
sự kiện trong hiện thực xung quanh... Đặt các câu hỏi vừa sức để gợi trí tị mị, lịng ham
hiểu biết ở trẻ. Từ đó, giúp trẻ phát triển cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, khả năng
sáng tạo... Điều này đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ, tận tụy của cơ giáo vì sự phát triển trí tuệ và
tình cảm của trẻ.
- Phát triển ngơn ngữ: Ngơn ngữ là phương tiện để trẻ giao tiếp, tư duy, để bồi bổ tâm
hồn, để cải tổ các chức năng tâm lí bậc thấp thành các chức năng tâm lí bậc cao. Ngơn ngữ
khơng phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà ngơn ngữ được hình thành và phát triển
trong quá trình trẻ hoạt động, giao tiếp cùng với những người xung quanh. Việc học nói
diễn ra trong suốt đời người nhưng quan trọng nhất là 6 năm đầu tiên. Cơ giáo mầm non
là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ, bằng giao tiếp trực tiếp và thường xun cơ giáo
sử dụng nhiều phương pháp, hình thức giáo dục giúp trẻ phát triển khả năng nghe hiểu
lời nói của người khác và trình bày những hiểu biết của mình, những điều mình muốn
chia sẻ một cách rõ ràng, mạch lạc.
- Giáo dục trẻ yêu cái đẹp, biết giữ gìn và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh.
Hướng dẫn cho trẻ nhận biết vẻ đẹp thiên nhiên, sản phẩm nghệ thuật, sự hài hoà của con người,
cảnh vật… qua các tiết học, vui chơi. Biết cảm thụ cái đẹp trong thiên nhiên trước hết là nhũng
biểu cảm về cái đẹp như “bòng hoa này thật là đẹp", "bản nhạc này thật là hay , sau đó hướng
dân các cháu tạo ra cái đẹp như biết sắp xếp dổ chơi ngăn năp, gọn gàng; vẽ những bức tranh
dep.., dẫn dán xây dựng cho trẻ thói quen tạo ra cài dẹp và giữ gìn cái đẹp do chính các cháu tạo
ra, do mọi người xây dựng nên.

- Phát triển tình cảm - ki năng xả hội: Giáo dục trẻ lòng thương người, biết quan tâm,
nhường nhịn những người xung quanh, thật thà, lẻ phép, mạnh dạn, hón nhiên. Để giáo dục lòng
thương cho trẻ, trước hét cò giáo phải thể hiện tình thương yêu trẻ trong các quan hệ giao tiếp –
ứng xử. Ngoài ra, cỏ giáo phải tạo ra nhiều tình huống trong vui chơi, sinh hoạt để trẻ bộc lộ
tình cảm thương yêu với mọi người xung quanh. Cị giáo cũng có thể giáo dục lịng thương yêu
cho trẻ qua gương tốt của chính các cháu hoặc qua các câu chuyện kế, các bài thơ, câu hát... phê


phán thái độ, hành vi của các tiêu cực, dồng tình, cổ vũ, khuyến khích hành vi giúp đỡ người
khác, những hành vi thể hiện tình cảm trách nhiệm, tơn trọng mọi người.
Để đảm bảo đúng mục tiêu của ngành học, hai phương thức này ln gắn bó chặt chẽ với
nhau, lồng vào nhau tạo ra sự mềm mại trong giao tiếp ứng xử. Thiếu phương thức này hoặc
phương thức kia sẽ tạo ra sự khiếm khuyết mặt này hay mặt khác trong nhân cách của trẻ. Nếu
chỉ có tình thương mà thiếu tri thức khoa học sẽ tạo ra những người thiếu sáng tạo; nếu chỉ có
trị thức mà thiếu tình thương u, cơ giáo sẽ tạo ra những người "máy" khô lạnh. Xã hội cản
những con người nhân hậu, biết hành động hướng thiện đem lại niểm vui cho mọi người, tiếp
theo và đồng thời với con người dó là con người có trí tuệ để sáng tạo ra các giá trị vật chất, tinh
thần mới phục vụ cho mọi người trong xã hội. Cô giáo mầm non là người quyết định chắt lượng
chăm sóc, giáo dục trẻ. Để phát triển toàn diện nhân cách trẻ theo mục tiêu của giáo dục mầm
non, cô giáo không chỉ là hình mẫu nhân cách để trẻ nhập tâm, bắt chước và học tập mà cịn
phải tạo ra mơi trường tâm lí – xã hội các mối quan hệ tích cực, thân thiện.
Một số biện pháp để xây dựng mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và trẻ:
- Cơ cần đối xử công bằng với trẻ. Mọi trẻ đều cảm thấy được cô yêu thương và được đối
xử công bằng. Công bằng là nền tảng cho việc tạo ra mối quan hệ tốt.
- Cô phải tạo niềm tin ở trẻ. Tạo tâm lý tin cậy, mong muốn chia sẻ, gần gũi giữa giáo
viên và trẻ. Luôn cư xử với thái độ ân cần niềm nở, biết cách lắng nghe trẻ, luôn gọi tên trẻ khi
giao tiếp.
- Tạo mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với nhau thông qua tổ chức các hoạt động tập thể
- Chú trọng phát triển các kỹ năng xã hội trong các hoạt động nhóm (chờ đến lượt, phân
công, hợp tác chia sẻ, biết tôn trọng bạn, giải quyết xung đột, biết kiềm chế).

- Không can thiệp q nhiều vào q trình trẻ chơi, nếu khơng cần thiết (thiên về quan
sát, khơi gợi, giải quyết xung đột giữa trẻ).
- Tôn trọng sự phát triển tự nhiên, đăc điểm tâm lý lứa tuổi, đặc điểm cá nhân (năng lực,
đặc điểm cá nhân trong hành vi giao tiếp, ngôn ngữ). Chấp nhận trẻ học bằng cách Thử – Sai.
Cho phép trẻ được làm sai trước khi làm đúng. Không cần thiết chỉnh sửa quá nhiều.
- Động viên trẻ lạc quan, tin vào bản thân (động viên trẻ bằng: “không sao đâu”, “làm lại


nào”, “từ từ thôi”, “con sắp làm được rồi” mỗi khi trẻ gặp thất bại)
- Kiên nhẫn với trẻ. Tránh thúc ép, gây căng thẳng khi luyện tập các kỹ năng cho trẻ.
- Chấp nhận sự khác biệt. Tôn trọng ý kiến cá nhân (qua việc dạy trẻ phát biểu ý kiến).
Tránh áp đặt để trẻ dần hình thành ở trẻ thói quen suy nghĩ độc lập.
- Khuyến khích trẻ bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ và tự tin diễn đạt bằng lời nói.
- Hướng dẫn trẻ trở nên thoải mái, tự tin trước đám đông (qua các hoạt động trình diễn
trên sân khấu, trước bạn học lẫn người lạ).
- Khơng định kiến với trẻ.
- Chỉ cấm đốn khi khơng an tồn.
- Hạn chế ra mệnh lệnh, tăng cường khích lệ.
- Khơng nên nói “Khơng được làm thế này” mà nói “Con nên làm thế này”.
- Cẩn trọng trong việc đánh giá trẻ. Nên đánh giá sự tiện bộ của mỗi trẻ so với bản thân,
và đối chiếu với yêu cầu chung của lứa tuổi. Đánh giá với mục đích giúp đỡ trẻ phát triển tốt
hơn. Tránh việc so sánh trẻ với nhau. Ln nhìn nhận, khen ngợi mọi tiến bộ lớn, nhỏ của trẻ,
và ngay cả những trẻ khó dạy nhất.
- Tạo cơ hội cho trẻ tự phục vụ và giúp đỡ nhau tuỳ theo khả năng.
- “Lấy người học làm trung tâm” thực sự là phương pháp dạy học “thân thiện” với người
học.
- Thường xuyên lấy ý tưởng dạy học từ trẻ. Tổ chức cho trẻ tự làm đồ chơi, thậm chí đồ
dùng dạy học và cho trẻ tích cực tham gia vào việc tạo dựng mơi trường lớp học.
- Cân bằng giữa hoạt động tự do và hoạt động giáo dục có chủ đích.
- Khơng bắt nạt, chê bai, trách mắng (thậm chí khơng nhắc nhở q nhiều). Không được

đánh trẻ.
- Tránh tạo sự đột ngột (trong việc đón tiếp trẻ mới hay chuyển đổi các hoạt động). Tổ
chức đón trả linh hoạt.

--- Hết ---



×