TRƯỜNG ĐAI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUÂT TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
MƠN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
GVHD: TS. BÙI XUÂN DŨNG
Mã lớp học: 31CLC
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 05 năm2021
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Điểm: …………………………
KÝ TÊN
Mục Lục
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI..............................................................................1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.......................................................................1
NỘI DUNG.....................................................................................................2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẠNH TRANH TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.............................................................................2
1. Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh....................................................2
1.1 : Khái niệm cạnh tranh........................................................................2
1.2 : Đặc điểm của cạnh tranh...................................................................2
2. Các loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường................................... 4
2.1 : Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường.......................................... 4
2.2 : Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế..................................................4
2.3 : Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường......5
2.4 : Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh kinh doanh.........5
3. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường...............................6
3.1 : Đối với doanh nghiệp......................................................................... 6
3.2 : Đối với người tiêu dùng..................................................................... 7
3.3 : Đối với kinh tế.................................................................................... 7
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY........................................................ 9
1. Sự chuyển biến về nhân thức đối với cạnh tranh.............................9
2. Liên hệ vai trò vủa cạnh tranh trong nền kinh tế.......................... 11
KẾT LUẬN.................................................................................................. 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 13
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đứng trước xu hướng khu vực hóa và tồn
cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, nước ta
đang nỗ lực để có thể tham gia vào các tổ chức
kinh tế như AFTA và WTO. Điều này cũng có
nghĩa là đặt Việt Nam trước thách thức phải
mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào một số
ngành nhất định. Hòa vào dòng chảy hội nhập
kinh tế của đất nước cùng với thế giới và khu
vực đầy những khó khăn và thách thức như
vậy, các doanh nghiệp đã cạnh tranh với nhau
rất khốc liệt không chỉ cạnh tranh với các đối
thủ trong nước mà còn cả các doanh nghiệp
nước ngoài.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Hiện nay trong điều kiện sản xuất kinh
doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và phát
triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải
có lãi, để đạt được kết quả cao nhất trong sản
xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải
xác định rõ phương hướng, mục tiêu trong đầu
tư, biện pháp sử dụng trong các điều kiện sẵn
có về nguồn nhân tài, vật lực. Muốn vậy các
doanh nghiệp cần nắm bắt được các nhân tố,
mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố
đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành một
4
trong những mục tiêu quan
trọng nhất, mang tính chất
sống cịn của sản xuất kinh
doanh. Vì thế các
doanh
nghiệp người làm kinh doanh
với nhau không thể tránh khỏi
thứ gọi là cạnh tranh, cạnh
tranh về lợi nhuận, cạnh tranh
về khách hàng thị trường, cạnh
tranh về sản phẩm, cạnh tranh
với nhau về các thiết bị cơng
nghệ,…. Ta thấy được cạnh
tranh đóng vai trị quan trọng
và luôn tồn tại đối với bất kỳ
một doanh nghiệp nào. Vì vậy,
nhóm chúng em quyết định tìm
hiểu thế nào là cạnh tranh
nhằm mục đích thấy được các
đặc điểm của cạnh tranh, phân
loại được các loại cạnh tranh
đang tồn tại trong thực tế và
thấy rõ vai trò của cạnh tranh
là gì đặc biệt liên hệ được vai
trị của cạnh tranh trong nền
kinh tế hiện nay
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẠNH TRANH TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh
1.1: Khái niệm cạnh tranh
Sự đua tranh về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau
trên cùng thị trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất
về phía mình khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường, qua đó thu
lợi nhuận nhiều hơn.
Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là động
lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết hệ thống thị trường, mà còn là yếu
tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Cạnh tranh thúc đẩy các nhà
kinh doanh phải luôn đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng hiệu
quả các nguồn tài nguyên, áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ thuật trong sản xuất để
tăng năng suất lao động, tìm cách thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu
dùng và vì vậy mang lại sự tăng trưởng và cải thiện hiệu quả kinh tế.
Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà
phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế
tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho
mình
1.2: Đặc điểm của cạnh tranh
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất
phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách
biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu
dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần
nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt,
khoa học kỹ thuật phát triển... nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn
mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi cịn sản xuất
hàng hố, cịn phân cơng lao động thì cịn có cạnh tranh.
Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị
trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng
hố để đạt được lợi nhuận cao nhất. Câu nói cửa miệng của nhiều người hiện
nay "thương trường như chiến trường", phản ánh phần nào tính chất gay gắt
khốc liệt đó của thị trường cạnh tranh tự do
Cạnh tranh phải được diễn ra trong mơi trường pháp lí tự do và bình đẳng cho
mọi chủ thể kinh doanh, nếu khơng có mơi trường pháp lí đó, cạnh tranh có thể
đưa đến những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội.
Cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh. Cạnh
tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do hành xử trên thị
trường. Tự do khế ước, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho các
doanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội phát
triển trên thương trường.
Về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh
nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu
thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trị quyết định của
người tiêu dùng. Hình ảnh của cạnh tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay
ba giữa các doanh nghiệp với nhau và với khách
hàng.
Các
doanh
nghiệp đua nhau lấy lịng khách hàng. Khách hàng là người có quyền lựa chọn
người sẽ cung ứng sản phẩm cho mình. Quan hệ này cũng sẽ được mô tả tương
tự khi các doanh nghiệp cùng nhau tranh giành một nguồn nguyên liệu.
Mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị
trường mua hoặc bán sản phẩm. Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà kinh doanh
khi tham gia vào thị trường luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt
nhất nhằm mở rộng thị trường. Với sự giúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ
chọn ra người thắng cuộc và trao cho họ lợi ích mà họ mong muốn.
2. Các loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
2.1: Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
Gồm ba loại:
a)Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hố của
mình với giá cao nhất, cịn người mua muốn bán hàng hố của mình với gái cao
nhát, cịn người mua muốn muc với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình
thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên.
b) Cạnh tranh giứa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào
quan hệ cùng cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở
nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lê, người mua phải chấp nhận giá
cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần.
c) Cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật
khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua.
Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được
sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ
mạnh hơn.
2.2: Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Gồm hai loại :
a) Cạnh tranh trong nội bộ nghành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Kết quả của
cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
b) Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các
nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình
này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giuqã các nghành, kết quả là
hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
2.3: Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường
Gồm ba loại:
a) Cạnh tranh hồn hảo (Perfect Cometition): Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều
người bán trên thị trờng trong đó khơng người nào có đủ ưu thế khống chế giá
cả trên thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức,
tức là không khác nhua về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Để chiến thắng trong
cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành
hoặc làm khác biệt hố sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh.
b) Cạnh tranh khơng hồn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức cạnh tranh
giữa những người bán có các sản phẩm khơng đồng nhất với nhau.
Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc
ưu thế trong cạnh tranh, người bán phảo sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như:
Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh
tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
c) Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ có nột
hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản
phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào
quan hệ cung cầu.
2.4
: Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh kinh doanh
Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực
xã hội và đợc xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sịng phẳng, cơng bằng và
cơng khai.
Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hổ của luật pháp, trái
với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án (như trốn thuế buôn lậu, móc ngoặc,
khủng bố vv…).
3. Vai trị của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
3.1: Đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tố đầu vào của sản
xuất kinh doanh, phải triệt để khơng ngừng sáng tạo, tìm tịi, buộc các doanh
nghiệp phải không ngừng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, áp dụng
các công nghệ mới, hiện đại nắm bắt thơng tin kịp thời. Cạnh tranh khuyến
khích , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các
sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao.
Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường. Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh
nghiệp khơng thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn nên để chiếm ưu thế và
chiến thắng. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp ln tìm cách nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách
hàng.
Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “ bản
lĩnh” của mình trong q trình kinh doanh. Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng
vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường.
Cạnh tranh quy định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường thông qua
những lợi thế mà doanh nghiệp đạt được nhiều hơn đối thủ cạnh tranh. Đồng
thời cạnh tranh cũng là yếu tố làm tăng hoặc giảm uy tín của doanh nghiệp trên
thương trường
Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh
tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế
thị trường.
3.2 : Đối với người tiêu dùng
Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm
phù hợp với túi tiền và sở thích của mình.
Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì
người được lợi nhất là khách hàng. Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng khơng
phải chịu một sức ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh
mang lại như: chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục
vụ cao hơn… hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn
các nhu cầu của họ nhờ các dịch vụ kèm theo được quan tâm nhiều hơn.
Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu
cầu về chất lượng hàng hoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ… Khi đòi hỏi của
người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng
gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn.
Đó chính là những lợi ích mà người tiêu dùng có được từ việc nâng cao khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
3.3 : Đối với kinh tế
Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là điều kiện quan
trọng để phát triển lực lượng sản xuất, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng
cao vào sản xuất, hiện đại hố nền kinh tế xã hội. Cạnh tranh góp phần xoá bỏ
những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏ những bất bình đẳng trong kinh doanh.
Canh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội.
Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp
phát triển có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh
tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để
cùng phát triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra mơi
trường kinh doanh khơng bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích
kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế khơng ổn định.
Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trong
kinh doanh để tạo mơi trường cạnh tranh lành mạnh. Cạnh tranh hồn hảo sẽ đào
thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Do đó buộc các doanh nghiệp
phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả
kinh tế cao nhất. Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng
kinh tế.
Tuy nhiên không phải tất cả các mặt của cạnh tranh đều mang tính tích cực mà
bản thân nó cũng phải thừa nhận các mặt tiêu cực như: Bị cuốn hút vào các mục
tiêu cạnh tranh mà các doanh nghiệp đã không chú ý đến các vấn đề xung quanh
như: xử lý chất thải, ô nhiễm môi trường và hàng loạt các vấn đề xã hội khác.
Cạnh tranh có thể có xu hướng dẫn tới độc quyền. Cường độ cạnh tranh mạnh sẽ
làm ngành yếu đi.
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY
1.
Sự chuyển biến về nhân thức đối với cạnh tranh
Sau chiến tranh đất nước thống nhất, cả nước hăng hái bắt tay vào công cuộc
xây dựng, kiến tạo đất nước đưa đất nước tiến thẳng lên CNXH. Trong khi đó
trong tay chỉ có mơ hình kinh tế sau chiến tranh để lại - nền kinh tế tập trung bao
cấp của cải xã hội bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh. Việc áp dụng mô hình
kinh tế này trong chiến tranh đã đem lại hiệu quả cao, và được coi như mơ hình
ưu việt. Nhưng trong thời bình, nó đã khơng cịn phù hợp và Việt Nam đã phải
trả giá cho việc áp dụng nền kinh tế này đó là: nền kinh tế suy thối trầm trọng
chi vượt thu, lạm phát cao, đồng tiền mất giá, phương tiện kĩ thuật ngày càng lạc
hậu, chậm được đổi mới, năng lực sản xuất trong nước kém. Trong nền kinh tế
cũ - nền kinh tế tập trung bao cấp thì mọi hoạt động kinh tế của xã hội đều do
Nhà nước đảm nhiệm, nhà nước bao tiêu hết quá trình sản xuất của các doanh
nghiệp kể cả việc tiêu thụ sản phẩm do đó mà nó gây ra sức ì đối với các doanh
nghiệp được nhà nước bao cấp. Các doanh nghiệp cứ ung dung thực hiện theo kế
hoạch của nhà nước để sản xuất, không cần quan tâm đến việc phải cạnh tranh
với ai. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dường như chỉ biết đến khái niệm
cạnh tranh trên lí thuyết chứ chưa được thấy thực tế cạnh tranh là như thế nào.
Điều đó gây ra lãng phí nguồn lực xã hội, cạnh tranh khơng được coi trọng. Yêu
cầu phát triển xây dựng đất nước buộc chúng ta phải chuyển đổi nền kinh tế và
nền kinh tế thị trường đã được áp dụng nhưng nó chịu sự quản lý của Nhà nước.
Đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường với qui
luật cạnh tranh đã khơng cịn chỗ cho sự ỉ lại, trơng chờ vào trợ cấp, nó buộc các
chủ thể kinh tế phải luôn luôn hoạt động để tìm lấy vị trí tồn tại trong nền kinh
tế. Do tính chất khắc nghiệt của cạnh tranh nên việc yêu cầu nhận thức về cạnh
tranh một cách đúng đắn là điều cần thiết. Cùng với quá trình đổi mới, cạnh
tranh theo pháp luật đã dần dần được chấp nhận ở nước ta như một động lực
đảm bảo hiệu quả, tiến bộ xã hội, nhưng chịu sự điều tiết của nhà nước. Đảng và
Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp lí điều chỉnh hành vi có liên quan
đến cạnh tranh trên thị trường như:
- Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và sửa đổi vào các năm 1990,
2000.
Cạnh tranh trên thị trường có 4 cấp độ: cạnh tranh về hình thức sản phẩm, cạnh
tranh về loại sản phẩm, những loại sản phẩm có thể thay thế và cạnh tranh về
ngân sách. Cạnh tranh về hình thức sản phẩm là cấp độ thấp nhất của cạnh tranh.
Hình thức này chủ yếu tập trung vào sản phẩm hiện tại của các doanh nghiệp mà
không tập trung vào cái có thể xảy ra trong tương lai. Các doanh nghiệp cạnh
tranh với nhau về nhãn hiệu nằm trong cùng một chủng loại sản phẩm và sẽ thoả
mãn nhu cầu của cùng một đoạn thị trường. Loại hình cạnh tranh này dựa trên
thị hiếu của khách hàng. Ví dụ như các doanh nghiệp sản xuất dầu ăn như:
Tường An, Bình An, Neptune… họ đều sản xuất và tiêu thụ dầu ăn trên thị
trường Việt Nam do đó để cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này là điều tất
nhiên. Họ đều cố gắng đưa ra những loại sản phẩm tốt, mẫu mã đẹp đáp ứng
được thị hiếu của khách hàng để chiếm lĩnh thị trường. Cấp độ thứ 2 của cạnh
tranh là cạnh tranh về loại sản phẩm. Loại hình này dựa trên những sản phẩm và
dịch vụ với những đặc điểm tương tự được xác định như là đặc tính chứ khơng
phải giá trị cao hay thấp. ví dụ như hãng sản xuất điện thoại di động liên tục cải
tiến mẫu mã cũng như đặc tính, chức năng, cơng dụng để có thể đưa ra những
sản phẩm có tính năng sử dụng cao, kết hợp nhiều chức năng: xem ti vi, nghe
nhạc, đọc sách… Loại hình cạnh tranh này rộng hơn so với cạnh tranh về hình
thức sản phẩm. Nhưng cạnh tranh về loại sản phẩm hay hình thức sản phẩm vẫn
thuộc quan điểm ngắn hạn.
2. Liên hệ vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế hiện nay
Cạnh tranh xuất hiện cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Cạnh
tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất kinh doanh
với nhau để giành giật lấy những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng
hố, nhằm tối đa hố lợi nhuận của mình. Trong nền kinh tế thị trường cạnh
tranh vừa là môi trường, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế. Do đó mà
cạnh tranh đóng vai trị quan trọng trong nền kinh tế thị trường thể hiện qua một
số chức năng sau:
Thứ 1: Cạnh tranh trong nền kinh tế có 2 loại cạnh tranh: cạnh tranh trong nội
bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau. Việc cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong cùng một ngành là sự cạnh tranh nhằm giành giật lấy những
điều kiện có lợi cho sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu
ngạch. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau về sản phẩm. Do đó kết quả của
sự cạnh tranh này là hình thành nên giá trị thị trường của từng loại mặt hàng. Đó
là giá trị của hàng hố được tính dựa vào điều kiện sản xuất trung bình của tồn
xã hội. Nếu như doanh nghiệp nào có điều kiện sản xuất dưới mức trung bình sẽ
bị thiệt hại hay bị lỗ vốn. Cịn những doanh nghiệp có điều kiện sản xuất trên
mức trung bình của xã hội sẽ thu được lợi nhuận thông qua sự chênh lệch về
điều kiện sản xuất
Ngoài cạnh tranh trong nội bộ ngành cịn có cạnh tranh giữa các ngành với
nhau. Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng khác nhau.
Mục đích của cạnh tranh này là tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Các doanh nghiệp tự
do di chuyển TB của mình từ ngành này sang ngành khác. Cạnh tranh này dẫn
đến hình thành nên tỉ suất lợi nhuận bình qn, và giá trị hàng hố chuyển thành
giá cả sản xuất.
Việc hình thành nên giá thị trường của hàng hố và tỉ suất lợi nhuận bình qn
là điều quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Với giá trị thị trường của hàng
hố cho biết doanh nghiệp nào làm ăn có lãi hoặc khơng có hiệu quả. Từ đó sẽ
có những thay đổi trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động. Với tỉ suất lợi
nhuận bình quân cho biết lợi nhuận của các nhà tư bản sẽ là như nhau cho dù
đầu tư vào những ngành khác nhau với lượng TB như nhau.
Thứ hai: Cạnh tranh giúp phân bổ lại nguồn lực của xã hội một cách hiệu quả
nhất. Các doanh nghiệp sản xuất cùng một loại hay một số loại hàng hố cạnh
tranh nhau về giá bán, hình thức sản phẩm, chất lượng sản phẩm trong quá trình
cạnh tranh đó doanh nghiệp nào có điều kiện sản xuất tốt, có năng suất lao động
cao hơn thì doanh nghiệp đó sẽ có lãi. Điều đó giúp cho việc sử dụng các nguồn
nguyên vật liệu của xã hội có hiệu quả hơn, đem lại lợi ích cho xã hội cao hơn.
Nếu cứ để cho các doanh nghiệp kém hiệu quả sử dụng các loại nguồn lực thì sẽ
lãng phí nguồn lực xã hội trong khi hiệu quả xã hội đem lại khơng cao, chi phí
cho sản xuất tăng cao, giá trị hàng hố tăng lên khơng cần thiết.
Thứ ba: Cạnh tranh điều tiết cung, cầu hàng hố trên thị trường, kích thích
thúc đẩy việc ứng dụng khoa học cơng nghệ tiên tiến vào sản xuất và tăng vốn
đầu tư vào sản xuất trên thị trường, khi cung một hàng nào đó lớn hơn cầu hàng
hố thì làm cho giá cả của hàng hoá giảm xuống, làm cho lợi nhuận thu được
của các doanh nghiệp sẽ giảm xuống. Nếu như giá cả giảm xuống dưới mức
hoặc bằng chi phí sản xuất thì doanh nghiệp đó làm ăn khơng có hiệu quả và bị
phá sản. Chỉ có những doanh nghiệp nào có chi phí sản xuất giá cả thanh tốn
của hàng hố thì doanh nghiệp đó mới thu được. Điều đó buộc các doanh nghiệp
muốn tồn tại được thì phải giảm chi phí sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất
lao động bằng cách tích cực ứng dụng đưa khoa học cơng nghệ tiên tiến vào
trong quá trình sản xuất.
Ngược lại khi cung một loại hàng hố nào đó nhỏ hơn cầu hàng hố của thị
trường điều đó dẫn đến sự khan hiếm về hàng hoá điều này dẫn tới giá cả của
hàng hoá tăng cao dẫn đến lợi
Thứ tư: Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường khơng chỉ có cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp sản xuất với nhau mà cịn có sự cạnh tranh giữa những người
lao động với nhau, để có được một nơi làm việc tốt, cơng việc phù hợp. Điều đó
khiến cho mọi người trong xã hội ln ln phải nâng cao trình độ tay nghề của
mình. Với ý nghĩa đó cạnh tranh làm cho con người ta hồn thiện hơn, cạnh
tranh đóng góp một phần trong việc hình thành nên con người mới trong xã hội
mới thông minh, năng động và sáng tạo. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với
nhau tất yếu sẽ dẫn đến có kẻ thắng và người thua. Kẻ mạnh càng ngày càng
mạnh lên nhờ làm ăn hiệu quả. Kẻ yếu thì bị phá sản. Sự phá sản của các doanh
nghiệp khơng hồn tồn mang ý nghĩa tiêu cực. Bởi vì có như vậy thì các nguồn
lực của xã hội mới được chuyển sang cho những nơi làm ăn hiệu quả. Việc duy
trì các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ dẫn đến sự lãng phí các nguồn lực xã hội.
Do đó muốn có hiệu quả sản xuất của xã hội cao buộc chúng ta phải chấp nhận
sự phá sản của những doanh nghiệp yếu kém. Sự phá sản này khơng phải là sự
huỷ diệt hồn mà đó là sự hủy diệt sáng tạo.
KẾT LUẬN
Tóm lại, ta thấy cạnh tranh đóng vai trị khơng thể thiếu đối với nền kinh tế
hiện nay nói chung và các doanh nghiệp nói riêng và cả người tiêu dùng.
Mặc dù quy luật cạnh tranh có vai trị vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế
thị trường hiện nay, nhưng nó khơng chỉ tồn là những ưu điểm, mà nó cịn có
cả những khuyết điểm cố hữu mang đặc trưng của cơ chế thị trường. Cơ chế thị
trường bắt buộc các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn
tại và phát triển. Chính điều này địi hỏi cần phải có sự quản lý của nhà nước,
đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh và
có hiệu quả cao.
Nhưng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, là động lực
cho sự phát triển kinh tế hay khơng cịn phụ thuộc vào việc sử dụng quy luật này
của doanh nghiệp, nhà nước. Nếu có chính sách hợp lý thì đất nước sẽ được
hưởng lợi do cạnh tranh đem lại, bằng khơng nó sẽ là cỗ máy nghiền nát nền
kinh tế dẫn đến xu hướng độc quyền trong kinh doanh tạo môi trường kinh
doanh khơng lành mạnh làm yếu nền kinh tế.
Tìm kiếm lợi thế đặc biệt của doanh nghiệp là điểm thiết yếu giúp doanh
nghiệp trở nên có chỗ đứng trong thị trường, và Việt Nam áp dụng hiệu quả,
phát huy được hết ưu điểm của cạnh tranh kết hợp cùng nhiều yếu tố sẽ giúp nền
kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. />2. />3. />4. />5. />6. />