Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Tiểu luận cuối kỳ môn Triết học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (375.39 KB, 25 trang )

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MƠN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
VỀ NHÀ NƯỚC. LIÊN HỆ THỰC TIỄN

MÃ BỘ MÔN:
THỰC HIỆN: NHĨM…., THỨ 7, TIẾT 1215
GVHD:
TP.Hồ Chí Minh, ngày 20, tháng 12, năm 2020


DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU
LUẬN HỌC KỲ I NĂM HỌC 2020-2021
NHÓM SỐ…., THỨ 7 (TIẾT 12-15)
STT
1

Họ và tên

MSSV

Phân công
Phần mở đầu, và kết
thúc
Nội dung chương 1

2
3

Chú thích


100%

%
Phần mở đầu
Nội dung chương 2

4

100%

%

Nhận xét của giáo viên
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
Ngày 20 tháng 5 năm 202


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết của đề tài........................................................................................1
2.Lí do chọn đề tài....................................................................................................1
3.Mục tiêu chọn đề tài..............................................................................................1
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài...........................................................................1
NỘI DUNG....................................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN...................................................................................2
1. Khái niệm nhà nước.............................................................................................2
2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước.........................................2
2.1 Một số quan niệm ngoài móc xít về nguồn gốc, bản chất nhà nước...........2

2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước..................................3
3. Các kiểu và hình thức Nhà nước.........................................................................6
3.1 Khái niệm kiểu Nhà nước – Các kiểu Nhà nước..........................................6
3.2 Hình thức Nhà nước.......................................................................................8
4. Ý nghĩa phương pháp luận................................................................................10
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN ĐỂ TÌM HIỂU VỀ SỰ HÌNH THÀNH,
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.................................11
1.

Sơ nét về sự hình thành, xây dựng và phát triển Nhà nước ở Việt Nam.. .11

2. Kết quả thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và phát
triển.........................................................................................................................17
3.

Bài học kinh nghiệm......................................................................................18

KẾT LUẬN..................................................................................................................... 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................20



MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước là “một trong những vấn đề phức tạp nhất ,khó khăn nhất”, nhưng lại “là
một vấn đề rất cơ bản,rất mấu chốt trong tồn bộ chính trị”.Vì thế, ngay từ khi nhà nước
ra đời,con người đã khơng ngừng đi vào tìm hiểu bản chất của hiênh tượng phức tạp
này.Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các quan điểm này chưa xác định
đúng nguồn gốc, bản chất chức năng của nhà nước…
C.Mác và Ph.Ăngghen, đứng trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,

là những người đầu tiên đề xướng học thuyết khoa học về nhà nước.Học thuyết này sau
này được V.I.Lênin phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Học thuyết Mác – Lênin đã
tìm ra đúng nguồn gốc vật chất của nhà nước và bản chất giai cấp của nhà nước. Học
thuyết về nhà nước của hai ông đã thể hiện lợi ích của giai cấp vơ sản. Đồng thời đây là
cơ sở khoa học để giai cấp công nhân và nhân dân lao động xây dựng nhà nước mới của
mình – nhà nước xã hội chủ nghĩa.
2.Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ln
lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động. Do vậy, để xây dựng và ngày càng hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, chúng ta phải quán triệt và
vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lênin về nhà nước.
3.Mục tiêu chọn đề tài
Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa là một nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã
hội của đất nước. Do vậy, thấy rõ sự cần thiết,nội dung và những vấn đề có tính ngun
tắc là những bảo đảm quan trọng để chúng ta thực sự xây dựng và ngày càng hoàn thiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Tham khảo tài liệu sách giáo khoa.
- Tham khảo tài liệu internet.
- Tham khảo tài liệu khác về bộ môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácLenin.
- Áp dụng phương pháp luận biện chứng để giải thích các khái niệm và những mối
quan hệ giữa các khái niệm dẫn đến kết luận.

NỘI DUNG
1


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1. Khái niệm nhà nước
Nhà nước là tổ chức quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư
và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật nhằm thiết lập trật tự
xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt,
nên so với các tổ chức khác, Nhà nước có các dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau: phân bố
dân cư theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ khơng phụ thuộc vào giai cấp, dân tộc, tôn
giáo, huyết thống, địa vị xã hội, nghề nghiệp; có bộ máy quyền lực cơng với sức mạnh
cưỡng chế bao gồm quân đội, cảnh sát, Toà án và một đội ngũ công chức chuyên nghiệp
làm nhiệm vụ cai trị, quản lí xã hội; có chủ quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của đất
nước mình, quyết định các vấn đề quan trọng nhất của đất nước về đối nội cũng như đối
ngoại; có quyền ban hành pháp luật, những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đối
với mọi thành viên trong xã hội, với tư cách là một công cụ đắc lực trong cai trị, quản lí
xã hội; có quyền quy định các loại thuế mang tính bắt buộc đối với cá nhân và tổ chức
trong xã hội nhằm thiết lập nguồn tài chính nuôi bộ máy công quyền và thực hiện các
chức năng của mình.
2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước
2.1 Một số quan niệm ngồi móc xít về nguồn gốc, bản chất nhà nước.
Vấn đề nguồn gốc, bản chất của Nhà nước luôn là đối tượng của cuộc đấu tranh tư
tưởng gây gắt nhất. Đồng thời đây cũng là một trong những vấn đề khó nhất đã trở
thành trung tâm của mọi vấn đề chính trị và mọi tranh luận chính trị.
Từ thời cổ, trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng tiếp cận và đưa ra những quan niệm
khác nhau về nguồn gốc, bản chất Nhà nước. Thuyết thần học cho rằng: Thượng đế
sáng tạo ra Nhà nước để bảo vệ trật tự chung, do vậy nhà nước là lực lượng siêu nhiên,
quyền lực Nhà nước là vĩnh cữu và sự phùng tùng quyền lực Nhà nước cần thiết và tất
yếu. Trong khi đó, Thuyết gia trưởng lại tìm cách chứng minh rằng Nhà nước là sản
phẩm phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người.
Như vậy, nhà nước có trong mọi xã hội, về bản chất quyền lực nhà nước cơ bản như
quyền lực của người đứng đầu gia đình.

2



Đến thời kỳ cận đại đã xuất hiện hàng loạt quan niệm mới về nhà nước của các học
giả tư sản nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của Nhà nước phong kiến. Đa số
các học giả tư sản tán thành quan điểm cho rằng sự ra đời của Nhà nước là sản phẩm
của một khế ước được ký kết trước hết giữa những người sống trong trạng thái tự nhiên
khơng có Nhà nước. Do đó, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội
và phục vụ, bảo vệ lợi ích của các thành viên. Thuyết khế ước là tiền đề cho thuyết dân
chủ cách mạng và là cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản để lật đổ ách thống trị phong
kiến. Tuy vậy, thuyết này vẫn còn những hạn chế căn bản là giải thích nguồn gốc, bản
chất nhà nước trên lập trường duy tâm, coi sự ra đời của Nhà nước là do ý chí của các
bên tham gia khế ước, khơng giải thích được nguồn gốc vật chất và bản chất xã hội của
Nhà nước. Tiêu biểu cho thuyết khế nước xã hội là các nhà tư tưởng như: J.Bodin
(1530-1596), T.Hopben (1588-1679), J.Locco (1632-1704), Mongteckiuo (1689-1775),

Ngoài các quan niệm trên, cịn có nhiều học thuyết khác luận giải về bản chất và
nguồn gốc của nhà nước như: Thuyết bạo lực cho rằng Nhà nước ra đời là kết quả của
việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với các thị tộc khác, thị tộc giành chiến thằng
tổ chức ra Nhà nước để thực hiện việc thống trị của mình, thuyết tâm lý lại cho rằng
Nhà nước ra đời do tâm lý của người nguyên thuỷ luôn muốn phụ thuộc vào thủ lĩnh
của mình,…
Tóm lại, do nhiều ngun nhân khác nhau, lập trường duy tâm, lập trường giai cấp,
điều kiện lịch sử,… những học thuyết trên chưa giải thích đúng đắn nguồn gốc, bản
chất của Nhà nước
2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước
*Nguồn gốc, bản chất của Nhà nước
Với quan niệm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin đã
chứng minh một cách khoa học rằng Nhà nước là tổ chức chính trị của giai cấp thống trị
về kinh tế nhằm bảo vệ trật tự hiện hành và đàn áp sự phản kháng của các giai cấp khác.
Nhà nước không phải là một hiện tượng xã hội vĩnh cữu và bất biến. Nhà nước luôn vận

động, phát triển và sẽ “tự tiêu vong” khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của
nó khơng cịn nữa.
3


Nhà nước không phải là một hiện tượng vĩnh viễn, bất biến, mà là một phạm trù lịch
sử, có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong. Nhà nước là lực lượng nảy
sinh từ xã hội, là sản phẩm của sự phát triển nội tại của xã hội. Nhà nước xuất hiện
khách quan, nó là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định.
Nhà nước “không phải là một quyền lực từ bền ngoài áp đặt và xã hội” mà là “một lực
lượng nảy sinh từ xã hội”, một lực lượng “tựa hồ như đứng trên xã hội”, có nhiệm vụ
làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột nó nằm trong vịng “trật tự”.
Nhà nước ra đời dưới sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có hai tiền đề quan
trọng nhất: tiền đề kinh tế - chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và tiền đề xã
hội – sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng không thể điều hoà được. Sự
phát triển của lực lượng sản xuất cuối thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, trước hết là công
cụ lao động đã cho phép tiến hành sản xuất tương đối độc lập theo nhóm nhỏ hay đơn vị
gia đình. Lực lượng sản xuất phát triển cũng đưa đến sự dư thừa của cải tương đối trong
xã hội, điều này đưa đến sự thèm khát chiếm đoạt ở những người đứng đầu bộ tộc, và
như vậy, trong xã hội có sự phân hố giàu nghèo và giai cấp xuất hiện, sự đối kháng
giai cấp bắt đầu. Cùng với điều đó, chiến tranh ăn cướp giữa các bộ tộc làm cho quyền
lực của thủ lĩnh quân sự được củng cố và tăng cường. Cũng từ lúc này, cơ quan thị tộc,
bộ tộc, ra đời từ chỗ gắn bó với nhân dân, dân tách khỏi nhân dân và quay trở lại thống
trị nhân dân, áp bức nhân dân. Tất cả những điều kiện này làm cho mâu thuẫn trong xã
hội ngày càng thêm sâu sắc, do dó giai cấp thống trị tổ chức ra một cơ quan để duy trì
những mâu thuẫn đó trong vịng “trật tự” – Nhà nước ra đời
Sự ra đời của Nhà nước cụ thể ở các nơi trên thế giới cũng không hề giống nhau, do
những đặc điểm về giai cấp, địa lý, kinh tế, truyền thống, tập quan, dân tộc,… khác
nhau.
Như vậy, sự ra đời của Nhà nước khơng phải là cơ quan điều hồ mâu thuẫn giai

cấp. Ngược lại, nó ra đời do mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc, không thề điều hoà
được. Đề cập đến vấn đề này, V.l. Lênin đã viết: “ Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện
của những mâu thuẫn giai cấp khơng thể điều hồ được. Bất cứ đâu, hễ lúc nào và
chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được

4


thì Nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: “sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những
mâu thuẫn giai cấp là khơng thể điều hồ được”.
Nhà nước chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp và luôn mang bản chất giai
cấp sâu sắc. Trước hết, Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay của
giai cấp thống trị, là công cụ sắc bén nhất để thực hiện sự thống trị của giai cấp này đối
với các giai cấp khác thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực kinh tế, quyền lực
chính trị và quyền lực tư tưởng. Trong ba loại quyền lực này, quyền lực kinh tế đóng vai
trị quyết định, là cơ sở bảo đảm cho sự thống trị giai cấp. Nhưng bản thân quyền lực
kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột mà phải thơng qua quyền lực chính
trị, với tổ chức đặc biệt của nó là Nhà nước, để củng cố, tăng cường quyền lực của giai
cấp thống trị. Và như vậy, Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện chuyên chính giai
cấp cầm quyền đối với các giai cấp khác.
Để khái quát hoá bản chất của Nhà nước, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –
Lênin đã đưa ra nhiều luận điểm. Các luận điểm này đều khẳng định Nhà nước là một
bộ máy để thực hiện sự thống trị giai cấp. V.l. Lênin cho rằng Nhà nước là một bộ máy
dùng để duy trì sự thống trị giai cấp này đối với giai cấp khác. Người giải thích rõ thêm:
“Nhà nước theo đúng nghĩa của nó, là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối
với giai cấp khác”.
Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đã xác định bản chất và ý nghĩa xã
hội của Nhà nước. Nhà nước trước hết là bộ máy đặt biệt tách khỏi xã hội để thực hiện
quyền lực mang tính cưỡng chế. Xét về mặt bản chất, Nhà nước là công cụ để thực hiện
sự thống trị giai cấp.

Cần thấy rằng, tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của Nhà nước. Nhưng
bên cạnh đó, Nhà nước cịn thể hiện tính xã hội. Bởi lẻ, Nhà nước mặt chủ yếu là bảo vệ
địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, nhưng đồng thời cịn phải chú ý (dù ít hay nhiều)
đến lợi ích của tồn xã hội.
Như vậy, từ những kiến giải trên, có thể hiểu Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của
quyền lực chính trị, một bộ máy trấn áp của giai cấp thống trị nhằm duy trì trật tự xã
hội, bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp.
*Đặc trưng và chức năng của Nhà nước
5


Theo Ph.Ăngghen, bất kỳ Nhà nước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản sau:
-Thứ nhất, Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định. Đây là đặc
trưng cơ bản của mọi Nhà nước. Nhà nước đã lấy sự chia lãnh thổ làm điểm xuất phát
và để cho công dân “thực hiện những quyền và nghĩa vụ của họ theo nơi cư trú, không
kể họ thuộc thị tộc, bộ lạc nào”
-Thứ hai, Nhà nước có một bộ máy quyền lực chuyên nghiệp bao gồm bộ máy quản
lý hành chính và các lực lượng vũ trang đặc biệt mang tính cưỡng chế đói với mọi
thành viên trong xã hội.
Đây là đặc trưng thể hiện quyền lực công cộng đặc biệt của Nhà nước, khơng cịn
hịa nhập với dân cư nữa, mang tính chính trị và giai cấp. Để thực hiện quyền lực này
Nhà nước thiết lập một bộ máy cưỡng chế chuyên làm nhiệm vụ quản lý và “tựa hồ”
như đứng trên giai cấp. Bộ máy này bao gồm quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù,…
-Thứ ba, Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để ni dưỡng bộ máy của mình.
Học thuyết Mác – Lênin về Nhà nước cũng chỉ ra những chức năng cơ bản của Nhà
nước.
Chức năng của Nhà nước được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như chức
năng đối nội, đối nội, đối ngoại, chính trị, kinh tế, tư tưởng. Khi xem xét dưới góc độ
tính chất của quyền lực Nhà nước, Nhà nước có chức năng thống trị của giai cấp và
chức năng xã hội. Trong hai chức năng này, chức năng thống trị chính trị của giai cấp

đóng vai trị quyết định. Khi xem xét dưới góc độ phạm vi tác động của quyền lực Nhà
nước ở tầm vĩ mơ, Nhà nước có chức năng đối nội và đối ngoại.
Để thực hiện các chức năng của mình, Nhà nước áp dụng nhiều hình thức và
phương thức hoạt động khác nhau. Có ba hình thức hoạt động chính là: lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Nhà nước sử dụng hai phương pháp chủ yếu để thực hiện chức năng
của mình là: giáo dục – thuyết phục và cưỡng chế.
3. Các kiểu và hình thức Nhà nước.
3.1 Khái niệm kiểu Nhà nước – Các kiểu Nhà nước
Lý luận Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật đã đưa ra khái niệm kiểu nhà nước
trong lịch sử: Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của

6


nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà
nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định.
Cơ sở để xác định kiểu nhà nước là học thuyết Mác - Lênin về các hình thái kinh tế
xã hội. Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một xã hội có
giai cấp. Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ quyết định những dấu hiệu
cơ bản, đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng.
Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu
nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thái kinh
tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước: Kiểu Nhà nước chủ nô, kiểu Nhà nước phong
kiến, kiểu Nhà nước tư sản, kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản mặc dù có những đặc điểm riêng
nhưng đều là những kiểu nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất. Các nhà nước đó đều là "nhà nước theo đúng nghĩa", là công cụ để
bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, duy trì sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với
đơng đảo quần chúng nhân dân lao động. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước
mới có bản chất khác với các kiểu nhà nước bóc lột. Nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ

nghĩa là thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
thực hiện công bằng xã hội.

Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng một kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn là một quy
luật tất yếu. Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự phát
triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội. Cách mạng là con đường dẫn đến sự
thay thế đó. Một kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai cấp
cầm quyền cũ bị lật đổ và giai cấp thống trị mới giành được chính quyền. Các cuộc
cách mạng khác nhau diễn ra trong lịch sử đều tuân theo quy luật đó: Nhà nước phong
kiến thay thế nhà nước chủ nô, nhà nước tư sản thay thế nhà nước phong kiến, nhà nước
xã hội chủ nghĩa thay thế nhà nước tư sản.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mới tiến bộ nhất nhưng cũng là
kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử. Sau khi hồn thành sứ mệnh lịch sử của mình,
7


nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong và sau đó sẽ khơng cịn một kiểu nhà nước nào
khác nữa.
3.2 Hình thức Nhà nước.
*Khái niệm:
Hình thức nhà nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Kết quả
của việc tiến hành sự thống trị về chính trị phụ thuộc phần lớn vào việc giai cấp thống
trị tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo hình thức nào.
Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để
thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình
thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ
chính trị.
Thứ nhất, hình thức chính thể, đây là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan
tối cao của nhà nước và xác lập những mối quan hệ cơ bản của các cơ quan đó. Hình
thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hịa.

Chính thể qn chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung
toàn bộ (hay một phần) trong tay người đứng đầu nhà nước theo ngun tắc thừa kế.
Chính thể cộng hịa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về
một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định.
Cả hai hình thức đều có những biến dạng của mình. Chính thể qn chủ được chia
thành chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế. Trong các nước quân
chủ tuyệt đối, người đứng đầu nhà nước (vua, hồng đế …) có quyền lực vơ hạn; cịn
trong các nhà nước qn chủ hạn chế người đứng đầu nhà nước chỉ nắm một phần
quyền lực tối cao và bên cạnh đó cịn có một cơ quan quyền lực khác nữa, như nghị
viện trong các nhà nước tư sản có chính thể qn chủ.
Chính thể cộng hịa cũng có hai hình thức chính là cộng hịa dân chủ và cộng hòa
quý tộc. Trong các nước cộng hòa dân chủ, quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại
diện (quyền lực) của nhà nước được quy định về mặt hình thức pháp lý đối với các tầng
lớp nhân dân lao động (mặc dù trên thực tế, các giai cấp thống trị của các nhà nước bóc
lột thường đặt ra nhiều quy định nhằm hạn chế hoặc vơ hiệu hóa quyền này của nhân
dân lao động). Trong các nước cộng hồ q tộc quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp
8


quý tộc. Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do nhiều yếu tố khác nhau tác động, các
hình thức chính thể cũng có những đặc điểm khác biệt. Vì vậy, khi nghiên cứu hình
thức chính thể của một nhà nước nhất định cần phải gắn nó với những điều kiện lịch sử
cụ thể.
Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều là nhà nước cộng hoà dân chủ được đặc trưng
bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan đại
diện của mình.
Thứ hai, hình thức cấu trúc nhà nước, đây là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị
hành chính lãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước,
giữa trung ương với địa phương. Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là hình
thức nhà nước đơn nhất và hình thức nhà nước liên bang.

- Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền
lực và quản lí thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành chính
bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường). Ví dụ: Việt Nam, Lào, Ba Lan,
Pháp... là các nhà nước đơn nhất.
- Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại. Nhà
nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý; một hệ thống chung cho
toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên; có chủ quyền quốc gia
chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi nước thành viên cũng có chủ quyền
riêng: Ví dụ: Myơ, Đức, ấn Độ, Malaixia... là các nước liên bang.
Cần phân biệt nhà nước liên bang với nhà nước liên minh. Nhà nước liên minh là sự
liên kết tạm thời của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện một số mục đích nhất định.
Sau khi đã đạt được các mục đích đó, nhà nước liên minh có thể tự giải tán hoặc có thể
phát triển thành nhà nước liên bang. Ví dụ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 1776 đến 1787
là nhà nước liên minh, sau đó trở thành nhà nước liên bang.
Thứ ba, về chế độ chính trị, chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, thủ đoạn
mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước.
Trong lịch sử, từ khi nhà nước xuất hiện cho đến nay, các giai cấp thống trị đã sử
dụng nhiều phương pháp và thủ đoạn để thực hiện quyền lực nhà nước. Những phương
pháp và thủ đoạn đó trước hết xuất phát từ bản chất của nhà nước đồng thời phụ thuộc
9


vào nhiều yếu tố của mỗi giai đoạn trong mỗi nước cụ thể. Vì vậy, có rất nhiều phương
pháp và thủ đoạn khác nhau nhưng chúng được phân thành hai loại chính là: Phương
pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ.
Những phương pháp dân chủ cũng có nhiều loại, thể hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau như những phương pháp dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và
dân chủ hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp... Cần phân biệt chế độ dân chủ
xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng việc sử dụng các hình thức dân chủ thật sự, rộng
rãi với chế độ dân chủ tư sản đặc trưng bằng các phương pháp dân chủ hạn chế và hình

thức. Các phương pháp phản dân chủ thể hiện tính chất độc tài cũng có nhiều loại, đáng
chú ý nhất là khi những phương pháp này khi phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành
những phương pháp tàn bạo, qn phiệt và phát xít.
Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước ln có liên quan mật thiết với chế
độ chính trị. Ba yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành khái niệm hình thức
nhà nước, phản ánh bản chất và nội dung của nhà nước. Nhưng trong một số trường
hợp, ba yếu tố này có thể khơng phù hợp với nhau. Ví dụ: chế độ chính trị phát xít,
qn phiệt có thể có hình thức chính thể cộng hịa dân chủ. Đây cũng là điều thường
gặp trong các nhà nước bóc lột.
Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, ba yếu tố này phải phù hợp với nhau, phản
ảnh đúng bản chất và nội dung của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
4. Ý nghĩa phương pháp luận.
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân
dân và vai trò của các cá nhân đối với tiến trình lịch sử đã cung cấp một phương pháp
luận khoa học quan trọng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn:
- Thứ nhất, việc lý giải một cách khoa học về vai trò quyết định lịch sử của quần
chúng nhân dân đã xóa bỏ được sai lầm của chủ nghĩa duy tâm đã từng thống trị lâu dài
trong lịch sử nhận thức về động lực và lực lượng sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người.
Đồng thời, đem lại một phương pháp luận khoa học trong việc nghiên cứu và nhận định
lịch sử cũng như việc nghiên cứu và đánh giá vai trò của mỗi cá nhân, thủ lĩnh, vĩ nhân,
lãnh tụ trong cộng đồng xã hội.
10


- Thứ hai, lý luận về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân đã cung cấp
một phương pháp luận khoa học đề các đảng cộng sản phân tích các lực lượng xã hội,
tổ chức xây dựng lực lượng quần chúng nhân dân trong công cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Đó là, sự liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, trên cơ sở đó tập hợp mọi lực lượng có
thể nhằm tạo ra động lực to lớn trong sự nghiệp đưa cách mạng xã hội chủ nghĩa đi tới

thẳng lợi cuối cùng.Hiểu được vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, từ đó xây
dựng quan điểm quần chúng: tôn trọng và tin tưởng vào sức mạnh và khả năng to lớn
của quần chúng, dựa vào quần chúng, phát huy nguồn sức mạnh tiềm tàng của quần
chúng. Hiểu được quan điểm của Hồ Chủ tịch và Đảng ta: coi sự nghiệp cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng, người cán bộ là đầy tờ trung thành của nhân dân.
- Thứ ba, hiểu được vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, từ đó xây dựng
quan điểm quần chúng: tôn trọng và tin tưởng vào sức mạnh và khả năng to lớn của
quần chúng, dựa vào quần chúng, phát huy nguồn sức mạnh tiềm tàng của quần chúng.
Hiểu được quan điểm của Hồ Chủ tịch và Đảng ta: coi sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng, người cán bộ là đầy tờ trung thành của nhân dân.

CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN ĐỂ TÌM HIỂU VỀ SỰ HÌNH THÀNH,
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.
1. Sơ nét về sự hình thành, xây dựng và phát triển Nhà nước ở Việt Nam.
Các cuộc khảo cổ gần đây đã chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ Việt
Nam từ thời Đồ đá cũ (300.000 -500.000 năm). Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn
hố Hồ Bình - Bắc Sơn (gần 10.000 năm trước CN) đã chứng tỏ sự xuất hiện của nông
nghiệp và chăn ni, có thể là cả nghệ thuật trồng lúa nước.
Dân tộc Việt Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển trên vùng châu thổ
sông Hồng và sơng Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay. Con người từ các vùng đồi
núi xuống vùng đồng bằng, từ đời này sang đời khác đã khai hoá đất để trồng trọt đã tạo
ra một hệ thống đê điều để chế ngự dịng sơng Hồng gây nhiều lũ lụt hàng năm. Quá
11


trình lao động khơng ngừng để chế ngự nước - chống lũ, lụt, bão, hạn hán, xây dựng đê
điều, đào kênh phục vụ cho việc trồng lúa - đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn
hoá làng xã.
Vào thời đại Đồ đồng đã ra đời một nền văn minh thống nhất và độc đáo, đạt mức
độ kỹ thuật và nghệ thuật cao - nền văn minh Đông Sơn rực rỡ. Các nghiên cứu nhân

chủng, lịch sử và khảo cổ gần đây đã khẳng định sự tồn tại một thời kỳ các Vua Hùng
khoảng 1.000 năm trước Công nguyên trên Vương quốc Văn Lang, sau đó đổi tên là Âu
Lạc. Đến thế kỷ thứ II trước Công nguyên, Âu Lạc đã bị xâm chiếm và sáp nhập vào đế
chế phong kiến Hán hùng mạnh ở phương Bắc. Nhưng sự thống trị của phong kiến
Trung Hoa kéo dài 10 thế kỷ đã không bẻ gẫy được sức kháng cự của dân tộc và khơng
đồng hố được nền văn hố Việt Nam.
Vào thế kỷ thứ X sau Công nguyên đất nước đã giành được độc lập vững chắc và
xây dựng một nhà nước độc lập mang tên Đại Việt. Đất nước đã trải qua nhiều triều đại
vua chúa phong kiến mà quan trọng nhất là triều Lý (thế kỷ XI và XII), triều Trần (thế
kỷ XIII và XIV), triều Lê (thế kỷ XV, XVI và XVII) với một nền hành chính tập quyền,
một lực lượng quân đội mạnh, một nền kinh tế và văn hoá phát triển cao. Trong suốt
thời kỳ này, Việt Nam phải liên tục đấu tranh chống lại các âm mưu xâm lược của các
đế chế phong kiến Trung Hoa và Mông Cổ. Các cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ
chống quân xâm lược Tống (thế kỷ XI), Nguyên (thế kỷ XIII), Minh (thế kỷ XV) đã
giành những thắng lợi vang dội. Sau mỗi cuộc kháng chiến, Việt Nam trở nên mạnh
hơn, các dân tộc đoàn kết hơn và đất nước bước vào một thời kỳ cường thịnh mới.
Nền văn hố Đơng Sơn được bổ sung bởi ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đã phát
triển qua nhiều thế kỷ trong khuôn khổ một nhà nước độc lập. Phật giáo, Nho giáo,
Khổng giáo thâm nhập vào Đại Việt mang theo nhiều yếu tố văn hoá quần chúng và
nhiều hình thức đặc biệt. Tuy vậy, Việt Nam vẫn có ngơn ngữ riêng và một nền văn
minh nơng nghiệp phát triển khá cao.
Đến thế kỷ XVII và XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam suy yếu nghiêm trọng. Các
cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục diễn ra đã dẫn đến phong trào Tây Sơn (1771-1802).
12


Tây Sơn đã tiêu diệt các chế độ vua chúa cát cứ, thống nhất đất nước, đánh đuổi quân
xâm lược Thanh (Trung Quốc) đồng thời ban hành nhiều cải cách xã hội và văn hố.
Nhưng khơng lâu sau đó với sự giúp đỡ của ngoại bang, Nguyễn Ánh đã giành được
quyền thống trị và lập nên triều đình nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt

Nam.
Vào giữa thế kỷ XIX (1858), thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm chiếm Việt Nam.
Triều đình nhà Nguyễn bất lực đã dần dần nhân nhượng quân xâm lược và từ năm 1884,
Pháp thiết lập chế độ bảo hộ và thuộc địa trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngay từ
những ngày đầu, các phong trào kháng chiến quần chúng dưới sự lãnh đạo của các sĩ
phu yêu nước nổ ra ở khắp mọi nơi, nhưng cuối cùng đều thất bại.
Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc (sau đó trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã hoạt
động ở nước ngồi để tìm con đường cứu nước. Người đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt
Nam vào ngày 3/2/1930. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quần chúng nhân dân
đã đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và quân chiếm đóng Nhật, thực hiện cuộc
Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ngày 2/9/1945.
Nước Việt Nam non trẻ vừa mới ra đời lại phải đương đầu với các âm mưu xâm
lược và can thiệp của Pháp và Mỹ, phải tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
kéo dài suốt 30 năm sau đó. Trước hết, sự trở lại xâm lược của Pháp đã gây ra cuộc
kháng chiến 9 năm (1945-1954) của Việt Nam, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên
Phủ và Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954. Theo Hiệp định này, đất nước tạm
thời bị chia làm hai vùng lãnh thổ miền Bắc và miền Nam lấy vĩ tuyến 17 làm giới
tuyến và sẽ được thống nhất hai năm sau đó (1956) thông qua một cuộc tổng tuyển cử.
Miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ này mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Lao động với Thủ đô là Hà Nội. Miền Nam mang tên Việt Nam
Cộng hồ nằm dưới sự quản lý của chính quyền thân Pháp, rồi thân Mỹ đặt tại Sài Gịn.
Chính quyền Sài Gòn sử dụng mọi sức mạnh để ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử, đàn áp
và loại bỏ những người kháng chiến cũ, do vậy xuất hiện phong trào đấu tranh vì hồ
13


bình, thống nhất đất nước. Chính quyền Sài Gịn đã không thể ngăn cản được nguyện
vọng thống nhất đất nước của quần chúng, đặc biệt từ ngày Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, ngày 20/12/1960.

Để duy trì chế độ Sài Gịn, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự. Đặc biệt kể từ giữa
thập kỷ 1960 Mỹ đã gửi nửa triệu quân Mỹ và đồng minh đến miền Nam Việt Nam trực
tiếp tham chiến, và từ 5/8/1964 bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam. Nhưng nhân dân
Việt Nam, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Khơng có gì q hơn độc lập tự do",
đã đứng vững và giành nhiều thắng lợi ở cả hai miền Nam và Bắc. Năm 1973,
Washington buộc phải ký Hiệp định Paris về lập lại hồ bình ở Việt Nam và rút toàn bộ
quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại đồn kết dân tộc
và được sự đồng tình của nhân dân u chuộng hịa bình, cơng lý và tiến bộ trên thế
giới, các lực lượng vũ trang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến cơng giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Ngày 2/7/1976, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước Cộng
hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc.
Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc.
Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề. Từ năm 1975 1986, Việt Nam phải đối phó với vơ vàn khó khăn. Những hậu quả và tệ nạn xã hội do
chiến tranh để lại, dòng người tị nạn, chiến tranh ở biên giới Tây Nam chống diệt chủng
Khme đỏ, chiến tranh ở biên giới phía Bắc, bao vây, cấm vận của Mỹ và các nước
phương Tây, thêm vào đó thiên tai liên tiếp xảy ra... đã đặt Việt Nam trước những thử
thách khắc nghiệt. Hơn nữa, những khó khăn càng trầm trọng do xuất phát từ các
nguyên nhân chủ quan, nóng vội và duy ý chí muốn xây dựng lại đất nước nhanh chóng
mà khơng tính đến những điều kiện cụ thể. Vào đầu những năm 1980, khủng hoảng
kinh tế - xã hội ở Việt Nam trở nên gay gắt, tỉ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm
1986.

14


Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc Đổi mới tồn diện nhằm vượt
qua khó khăn, đi vào vào con đường phát triển và từng bước hội nhập khu vực và quốc
tế. Tại Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã nghiêm khắc kiểm điểm
sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được, phân tích những sai lầm khuyết

điểm, đề ra đường lối đổi mới tồn diện trong đó đổi mới kinh tế được đặt lên hàng đầu
với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN, đi đôi với việc tăng
cường cơ sở pháp lý, đổi mới tổ chức Đảng và Nhà nước. Nền kinh tế Việt Nam thực sự
mở cửa, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp dựa trên việc nhập khẩu và nhận
viện trợ của nước ngoài sang cơ chế thị trường, tự chủ về tài chính nhằm cân bằng ngân
sách nhà nước và hướng tới xuất khẩu. Trước năm 1989, hàng năm Việt Nam đều phải
nhập khẩu lương thực, có năm trên 1 triệu tấn. Từ năm 1989, Việt Nam đã bắt đầu xuất
khẩu 1-1,5 triệu tấn gạo mỗi năm; lạm phát giảm dần (đến năm 1990 còn 67,4%). Đời
sống của nhân dân được cải thiện, dân chủ trong xã hội được phát huy. Quốc phòng, an
ninh được giữ vững. Quan hệ đối ngoại được mở rộng, đẩy lùi tình trạng bị bao vây, cơ
lập.
Tháng 6/1991, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lại quyết tâm
tiếp tục chính sách Đổi mới với mục tiêu vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát
triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực đảm bảo công bằng
xã hội, đưa đất nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng. Đại hội cũng đề ra chính
sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ với
mục tiêu Việt Nam "Muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn
đấu vì hồ bình, độc lập và phát triển."
Mặc dù bị tác động sâu sắc do việc Liên Xô, Đông Âu tan rã, các thị trường truyền
thống bị đảo lộn; tiếp tục bị bao vây cấm vận và phải đối phó với các âm mưu hoạt
động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, Việt Nam đã
từng bước khắc phục khó khăn, trở ngại, tiếp tục giành nhiều thắng lợi to lớn. Từ năm
1991-1995 nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt
8,2%. Đến tháng 6/1996, đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 30,5 tỷ USD. Lạm
15


phát giảm từ mức 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995) và 4,5% (1996). Đời sống vật
chất của phần lớn nhân dân được cải thiện. Trình độ dân trí, mức hưởng thụ văn hoá của

nhân dân được nâng lên. Sự nghiệp giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, các hoạt động
văn hố nghệ thuật thể dục thể thao, thơng tin đại chúng, cơng tác kế hoạch hố gia
đình và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ. Chính trị ổn
định, độc lập chủ quyền và mơi trường hồ bình của Việt Nam được giữ vững, quốc
phòng an ninh được củng cố tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc Đổi mới. Hệ
thống chính trị từ trung ương đến cơ sở được củng cố, bộ máy nhà nước pháp quyền
được tiếp tục xây dựng và hồn thiện. Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương
hoá và đa dạng hoá quan hệ của Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp.
Trong gần 1 thập kỷ qua, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội cho 10 năm
đầu của TK 21, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng và phát triển tương đối toàn diện.
Trong 5 năm 2001 - 2005 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trưởng bình quân
7,5% và trong giai đoạn từ năm 2005-2008, GDP tăng trưởng bình qn 7,84%. Văn
hố và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các
vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trong cơng cuộc xố đói, giảm nghèo; đời sống
các tầng lớp nhân dân được cải thiện. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh
được tăng cường; quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới. Việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy.
64 năm qua, kể từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu hết sức to lớn. Đó là thắng lợi của cuộc
kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội;
thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng đề ra và lãnh đạo đã đưa nước ta bước vào
một thời kỳ phát triển mới. Từ những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX và nhất là
từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã làm cho đất nước ta từ một
nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo
16



con đường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam "Dân giàu,
nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh". Việt Nam hiện có quan hệ quốc tế
rộng rãi, có vị trí ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.Hiện nay Việt
Nam đã thiết lập hơn 80 cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngồi, có quan hệ ngoại
giao với 176 quốc gia, quan hệ kinh tế thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh
thổ, trong đó khoảng 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào nước ta.
2. Kết quả thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển.
Công cuộc cải cách kinh tế từ 1986 đã đưa đất nước ta vào một giai đoạn phát triển
mới với việc xóa bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp từng bước chuyển
sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như một điều hiển
nhiên và cơ bản đã được khẳng định trong lý luận và thực tiễn vận hành cơ chế thị
trường ở nước ta, Nhà nước với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, đóng
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy, để phát huy được
sức mạng của Nhà nước trong quản lý, điều hành kinh tế cần có cách nhìn tồn diện
hơn vai trị của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Nhà nước cịn là người đại diện chính thức cho các giai cấp và tầng lớp trong xã hội.
Điều đó làm cho Nhà nước có một cơ sở xã hội rộng rãi để có thể triển khai nhanh
chóng và thực hiện tốt những quyết định, chính sách của mình. Nhà nước cũng là chủ
thể của quyền lực chính trị, là tổ chức chính trị thể hiện tập trung nhất quyền lực nhân
dân; có sức mạnh cưỡng chế tồn diện, ban hành và sử dụng pháp luật để quản lý các
quá trình xã hội.
Nhà nước cũng có đầy đủ các phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện vai trị của
mình. Nhà nước còn là chủ sở hữu tối cao đối với những tư liệu sản xuất quan trọng
nhất của xã hội. Bằng việc nắm giữ các tư liệu sản xuất đó, Nhà nước thực hiện việc
điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, đảm bảo cho nó phát triển vì lợi ích của nhân dân.
Nhà nước nắm giữ nguồn tài chính và cơ sở vật chất to lớn, bảo đảm cho hoạt động
của bộ máy nhà nước và của các tổ chức chính trị xã hội khác. Nhà nước có quyền tối
17



cao trong việc quyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước. Những quan
hệ quốc tế trong lĩnh vực chính trị và kinh tế càng làm cho Nhà nước có vai trị nổi bật
hơn trong các quan hệ đối nội, giúp Nhà nước củng cố và phát triển các quan hệ đó
trong một thể thống nhất.
3. Bài học kinh nghiệm.
Vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ an ninh trật tự, tuyên truyền cho người dân
có ý thức tự giác, tích cực tham gia vào phong trào toàn dân bảo vệ an ninh - trật tự,
phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.
Là nơi có khả năng phát hiện, quản lý, giáo dục, cải tạo các loại tội phạm để thu hẹp
dần đối tượng phạm tội.
Nhà nước quản lý chặc chẻ, làm chủ làm cho cuộc sống người dân trở nên lành
mạnh, khắc phục dần những sơ hở.
Ban hành những chính sách giúp đất nước phát triển về mọi mặt, giúp nhân dân có
cuộc sống tốt.

18


KẾT LUẬN
Nhà nước cịn có vai trị trong việc đề ra hệ thống chiến lược và xây dựng hệ thống
pháp luật về phát triển kinh tế bền vững. Các chiến lược này sẽ được cụ thể hóa thơng
qua các chính sách phát triển kinh tế bền vững ở những mức độ nhất định, có thể từng
giai đoạn, từng cấp, ngành, hay từng lĩnh vực cụ thể.
Các chính sách cơ bản mà Nhà nước cần xây dựng và tổ chức thực hiện để đạt mục
tiêu phát triển kinh tế bền vững rất đa dạng, bao gồm: Chính sách về phát triển nguồn
nhân lực; chính sách phát triển khoa học và cơng nghệ; chính sách về xây dựng cơ cấu
kinh tế cân đối và hợp lý…
Quản lý xã hội của Nhà nước ta là một quá trình, với nghĩa rộng là bao hàm chủ yếu
về quản lý giáo dục, y tế, văn hố, khoa học nói chung và một số lĩnh vực liên quan, ảnh
hưởng cũng như tác động không nhỏ đến chính trị, kinh tế, quốc phịng, an ninh, đối

ngoại, dân tộc, tôn giáo của đất nước. Theo chiều hướng phát triển đất nước, quản lý xã
hội của Nhà nước chính là quản lý phát triển xã hội, bảo đảm cho nước ta phát triển bền
vững, bao trùm, với chất lượng tăng trưởng không chỉ về kinh tế, mà bao gồm cả xã
hội, vì mục tiêu trên hết là cho con người và vì con người.
Nhà nước đã và đang sử dụng các cơng cụ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch và bộ máy của mình để quản lý tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội,
môi trường cũng như quản lý các nguồn tài nguyên quốc gia. Qua đó, Nhà nước quản lý
phát triển xã hội, góp phần vào quản lý các hoạt động đối nội và các hoạt động đối
ngoại của Nhà nước ta, trong đó có quản lý các hoạt động xã hội và quản lý các hoạt
động phát triển xã hội
Thực trạng ở nước ta hiện nay cho thấy, Việt Nam được đánh giá là có sự ổn định
chính trị và ổn định xã hội ở mức cao. Các quy định pháp luật của Nhà nước nói chung
là tương đối đầy đủ để triển khai việc quản lý phát triển xã hội.

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
-Các kiểu và hình thức nhà nước.
/>-Lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển Nhà nước Việt Nam.
/>gHop/lichsu?fbclid=IwAR3cB5FxieB4NTGer9-w3vbhesS32C5vw_ovF9fs-wV21aj_aNiQm5YkHs
-Khái niệm Nhà nước.

/>-Vai trò của Nhà nước.
/> />fbclid=IwAR0Q2TfdbNtDGOF56uNaHCsqPboYoVLKv8MpAyso2kYnPCK_oLEkoJ18RE
/>fbclid=IwAR2bWAyZSLqbWN9vUaaKDK29nSQu9TKB2HIKz5jLqCAkVEczUT
Z1eltVLRY

20



21


×