TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ
BIỂU HIỆN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Hà Nội năm 2020
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao.
Tại đó người mua và người bán tác động qua lại với nhau thơng qua rất nhiều
quy luật trong đó có quy luật giá trị. Đây chính là quy luật kinh tế cơ bản của
sản xuất hàng hóa, quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả
các quy luật khác của sản xuất hàng hóa. Ở đâu có sản xuất, trao đổi, lưu
thơng hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát triển của quy luật này. Quy luật
này tác động cả trong trường hợp giá cả bằng giá cả, giá cả lên xuống xung
quanh giá trị. Vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu rõ lý luận về quy luật giá trị
và tác động của quy luật giá trị và vận dụng nó trong nền kinh tế thị trường để
từ đó hiểu rõ được bản chất của quy luật giá trị và mối qua hệ của nó trong
nền kinh tế thị trường.
Bên cạnh đó, quy luật giá trị cũng chính là ngun nhân dẫn đến khủng
hoảng kinh tế chu kì, sự phân hóa giàu nghèo, sự cạnh tranh không lành mạnh,
…
Với mong muốn tìm hiểu rõ bản chất, mối quan hệ của quy luật giá trị và
sự tác động của nó trong nền kinh tế thị trường, em quyết định chọn đề tài tiểu
luận: “Quy luật giá trị và sự biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị
trường”, từ đó có cái nhìn sâu sắc, tồn diện hơn về quy luật giá trị và ảnh
hưởng của nó trong nền kinh tế thị trường để rút ra bài học, biện pháp khắc
phục những ảnh hưởng tiêu cực đồng thời phát huy những ảnh hưởng tích cực
của nó.
MỤC LỤC
I.
Quy luật giá trị và tác động của quy luật giá trị lên nền
kinh tế thị trường
1. Cơ sở lí luận chung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hố, ở đâu
có sản xuất và trao đổi hàng hố thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị đỏi hỏi việc sản xuất và lưu thơng hàng hố dựa trên
cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, cụ thể là:
- Trong sản xuất, hao phí lao động cá biệt phải phù hợp với hao phí lao
động xã hội cần thiết. Vì trong nên sản xuất hàng hố, vấn đề đặc biệt quan
trọng là hàng hố sản xt ra có bán được khơng. Để có thể bán được hàng
thì hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá của các chủ thể kinh doanh phải
phù hợp với mức hao phí lao động xã hơi có thể chấp nhận được. Mức hao
phí càng thấp thì họ càng có khả năng phát triển kinh doanh, thu được nhiều
lợi nhuận, ngược lại sẽ thua lỗ, phá sản…
- Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội
cần thiết, tức là tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá, hai hàng hố có giá
trị sử dụng khác nhau nhưng có lượng giá trị bằng nhau thì phải trao đổi
ngang nhau.
Đòi hỏi trên của quy luật là khách quan, đảm bảo sự cơng bằng, hợp
lý, bình đẳng giữa những người sản xuất hàng hoá.
Quy luật giá trị bắt buốc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá
phải tuân theo u cầu hay địi hỏi của nó thơng qua “mệnh lệnh” của giá cả
thị trường.
Tuy nhiên trong thực tế do sự tác động cuả nhiều quy luật kinh tế, nhất
là quy luật cung cầu làm cho giá cả hàng hoá thường xuyên tách rời giá trị.
Nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh giá trị, C.Mác gọi đó là vẻ đẹp
của quy luật giá trị. Trong vẻ đẹp này, giá trị hàng hoá là trục, giá cả thị
trường lên xuống quanh trục đó. Đối với mỗi hàng hố, giá cả của nó có thể
cao thấp khác nhau, nhưng khi xét trong một khoảng thời gian nhất định,
tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị của nó.
Giá cả thị trường tự phát lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện sự
hoạt động của quy luật giá trị.
2. Tác động của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường
2.1
. Điều tiết sản xuất và lưu thơng hàng hố
Thực chất điều tiết sản xuất của quy luật giá trị là điều chỉnh tự phát
các yếu tố sản xuất như: tư liệu sản xuất, sức lao động và tiền vốn từ ngành
này sang ngành khác, từ nơi này sang nơi khác. Nó làm cho sản xuất hàng
hóa của ngành này, nơi này được phát triển mở rộng, ngành khác nơi khác bị
thu hẹp, thông qua sự biến động của giá cả thị trường. Từ đó tạo ra những tỷ
lệ cân đối tạm thời giữa các ngành, các vùng của một nền kinh tế hàng hóa
nhất định.
Quy luật cạnh tranh thể hiện ở chỗ: cung và cầu thường xuyên muốn
ăn khớp với nhau, nhưng từ trước đến nay nó chưa hề ăn khớp với nhau mà
thường xuyên tách ra và đối lập với nhau. Cung luôn bám sát cầu, nhưng từ
trước đến nay không lúc nào thỏa mãn được một cách chính xác.
Chính vì thế, thị trường xảy ra các trường hợp sau đây:
- Khi cung bằng xầu thì giá cả bằng giá trị hàng hóa, trường hợp này
xảy ra một cách ngẫu nhiên và rất hiếm.
- Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy,
lãi cao. Những người đang sản xuất những loại hàng hóa này sẽ mở rộng quy
mô sản xuất và sản xuất hết tốc lực. Những người đang sản xuất hàng hóa
khác thu hẹp quy mơ sản xuất của mình để chuyển sang sản xuất loại hàng
hóa này. Như vậy tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền vốn được chuyển vào
ngành này tăng lên, cung về loại hàng hóa này trên thị trường tăng lên.
- Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị, hàng hóa ế thừa, bán
khơng chạy, có thể lỗ vốn. Tình hình này bắt buộc những người đang sản
xuất loại hàng hóa này phải thu hẹp quy mơ sản xuất, sức lao đôngk và tiền
vốn ở ngành hàng hóa này giảm đi.
Thực chất điều tiết lưu thơng của quy mô giá trị là điều chỉnh một cách
tự phát khối lượng hàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, tạo ra mặt
bằng giá cả xã hội. Giá trị hàng hóa mà thay đổi thì những điều kiện làm cho
tổng khối lượng hàng hóa có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay dổi. Nếu giá trị
thị trường hạ thấp thì nói chung nhu cầu xã hội sẽ mở rộng thêm và trong
những giới hạn nhất định có thể thu hút những khối lượng hàng hóa lớn hơn.
Nếu giá trị thị trường tăng lên thì nhu cầu xã hội về hàng hóa sẽ thu hẹp và
khối lượng hàng hóa tiêu thụ cũng sẽ giảm xuống, cho nên nếu cung cầu điều
tiết giá cả thị trường hay nói đúng hơn điều tiết sự chênh lệch giữa giá cả thi
trường thì trái lại giá cả thị trường điều tiết quan hệ cung cầu, hay cấu thành
trung tâm, chung quanh trung tâm đó những sự thay đổi trong cung cầu làm
cho những giá cả thị trường phải lên xuống.
Trong xã hội tư bản đương thời, mỗi nhà tư bản công nghiệp tự ý sản
xuất ra cái mà mình muốn theo cách mình muốn, và với số lượng theo ý
mình. Đối với họ số lượng mà xã hội cần là một lượng chưa biết, cái mà
ngày hôm nay cung cấp không kịp thì ngày mai lại có thể cung cấp nhiều quá
số yêu cầu. Tuy vậy người ta cung thoả mãn được nhu cầu một cách miễn
cưỡng, sản xuất chung quy là căn cứ theo những vật phẩm người ta yêu cầu.
“… Khi thực hiện quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá trong xã hội
gồm những người sản xuất trao đổi hàng hoá cho nhau, sự canh tranh lập ra
bằng cách đó và trong điều kiện nào đó một trật tự duy nhất và mộy tổ chức
duy nhất có thể có cuả nền sản xuất xã hội. Chỉ có do sự tăng hay giảm giá
hàng mà những người sản xuất hàng hoá riêng lẻ biết được rõ ràng là xã hội
cần vật phẩm nào và với số lượng bao nhiêu.” (C.Mác: Sự khốn cùng của
triết học, Nhà xuất bản Sự thật {8,9_20})
2.2.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao
động
Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội. Người sản
xuất có giá trị cá biệt nhỏ hơn gá trị xã hội, khi bán theo giá trị xã hội sẽ thu
được nhiều lợi nhân hơn. Ngược lại, người sản xuất có giá trị cá biệt lớn hơn
giá trị xã hội sẽ gặp bất lợi hoặc thua lỗ. Để đứng vững trong cạnh tranh và
tránh khong bị phá sản, người sản xuất phải ln tìm cách làm cho giá trị cá
biệt hàng hóa của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội. Muốn vậy, phải cải
tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới phương pháp quản lý, thực
hiện tiết kiệm… Kết quả lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất
lao động xã hội tăng lên, chi phí sản xuất giảm xuống. Trong lưu thơng, để
bán được nhiều hàng hóa, người sản xuất phải không ngừng tăng chất lượng
phục vụ, quảng cáo, tổ chức tốt khâu bán hàng… làm cho quá trình lưu thơng
được hiệu quả cao hơn, nhanh chóng, thuận tiện với chi phí thấp nhất.
2.3.
Phân hóa những người sản xuất thành những người giàu, người nghèo
một cách tự nhiên
Trên thị trường, các hàng hố có giá trị cá biệt khác nhau đều phải trao
đổi theo giá trị xã hội. Do đó, trong q trình sản xuất và trao đổi hàng hố
khơng tránh khỏi tình trạng một số người sản xuất phát tài, làm giàu, còn số
người khác bị phá sản.
Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, sự tác động của quy luật giá trị
dẫn đến kết quả là một số ít người mở rộng dần kinh doanh, thuê nhân công
và trở thành nhà tư bản, còn một số lớn người khác bị phá sản dần, trở thành
những người lao động làm thuê. Thế là sự hoạt động của quy luật giá trị dẫn
tới hệ phân hoá những người sản xuất hàng hoá, làm cho quan hễ tư bản chủ
nghĩa phát sinh. Lênin nói "… nền tiểu sản xuất thì từng ngày, từng giờ, luôn
luôn đẻ ra chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, một cách tự phát và trên quy
mơ rộng lớn".
Trong nền sản xuất hàng hố tư bản chủ nghĩa, quy luật giá trị cũng tác
động hoàn toàn tự phát "sau lưng" người sản xuất, hoàn toàn ngoài ý muốn
của nhà tư bản. Chỉ trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, do chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất chiếm địa vị thống trị, con người mới có thể nhận thức và
vận dụng quy luật giá trị một cách có ý thức để phục vụ lợi ích của mình.
Nghiên cứu quy luật giá trị không chỉ để hiểu biết sự vận động của sản
xuất hàng hố, trên cơ sở đó nghiên cứu một số vấn đề khác trong xã hội tư
bản chủ nghĩa, mà cịn có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa coi trọng việc
vận dụng quy luật giá trị trong việc qui định chính sách giá cả, kế hoạch hoá
nền kinh tế quốc dân, thực hiện hạch toán kinh tế v.v..
II.
Kinh tế thị trường và biểu hiện của kinh tế thị trường
1. Kinh tế thị trường
1.1 Khái niệm kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị
trường. Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất
và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các
quy luật thị trường.
Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sự: từ kinh tế
tự nhiên, tự túc, kinh tế hàng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành
kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường cũng trải qua quá trình phát triển khác
nhau từ kinh tế thị trường sơ khai đến khinh tế thị trường hiện đại ngày nay.
Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại.
1.2. Đặc trưng chính của kinh tế thị trường
- Có sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức sở hữu. Các
chủ thế bình đẳng trước pháp luật.
- Thị trường đóng vai trị quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực
xã hội thông qua hoạt động của các thị trường bộ phận như thị trường hàng
hóa, thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị
trường bất động sản, thị trường khoa học cơng nghệ…
- Giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; cạnh tranh vừa là
môi trường, vừa là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh; động
lực trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là lợi nhuận và lợi ích kinh
tế - xã hội khác; nhà nước là chủ thể thực hiện chức năng quản lí, chức năng
kinh tế; thực hiện khắc phục những khuyết tật của thị trường, thúc đẩy những
yếu tố tích cực, đảm cảo sự bình đẳng xã hội và sự ổn điịnh của toàn bộ nền
kinh tế.
- Là nền kinh tế mở, thị trường trong nước quan hệ mật thiết với thị
trường quốc tế.
Các đặc trưng trên mang tính phổ biến của mọi nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể, tùy theo chế độ chính trị xã hội
của mỗi quốc gia, ngoài những đặc trưng chung, mỗi nền kinh tế thị trường
quốc gia có thể có có đặc trưng riêng, tạo nên tính đặc thù và các mơ hình
kinh tế thị trường khác nhau.
2. Sự biểu hiện của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường
Với các đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường như đã nói ở trên, các
quy luật kinh tế được phép phát huy tác dụng của nó trong đó quy luật giá trị
đóng vai trị là quy luật kinh tế căn bản chi phối toàn bộ sự phát triển của nền
kinh tế.
Như đã phân tích ở trên, quy luật giá trị có vai trị lớn trong nền sản
xuất hàng hoá. Chúng ta đã vận dụng quy luật giá trị vào:
a. Trong lĩnh vực sản xuất:
Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự điều tiết của quy luật giá
trị mà chịu sự chi phối của quy luật kinh tế cơ bản của xã hội chủ nghĩa và
quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối của nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên quy luật giá trị khơng phải khơng có ảnh hưởng đến nền sản
xuất. Những vật phẩm tiêu dùng cần thiết để bù vào sức lao động đã hao phí
trong q trình sản xuất, đều được sản xuất và tiêu dùng dưới hình thức hàng
hóa và đều chịu sự tác động của quy luật giá trị. Một nguyên tắc căn bản của
kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức là thực hiện sự trao đổi hàng hóa
thơng qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng hóa. Nguyên tắc này đòi
hỏi phải tuân theo quy luật giá trị: sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên
cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:
- Xét ở tầm vĩ mô: Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất
lao động, chất lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết.
- Xét ở tầm vi mô: Mỗi cá nhân khi sản xuất các sản phẩm đều cố
gắng làm cho thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội.
Do vậy nhà nước đã ra các chính sách để khuyến khích nâng cao trình
độ chun mơn. Mỗi doanh nghiệ phải cố gắng cải tiến máy móc, mẫu mã,
nâng cao tay nghề lao động cho công nhân. Nếu không quy luật giá trị ở đây
sẽ thực hiện vai trò đào thải: loại bỏ những cái kém hiệu quả, kích thích các
cá nhân, ngành, doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả. Tất yếu điều đó dẫn
đến sự phát triển của lực lượng sản xuất trong đó đội ngũ lao động có tay
nghề chun mơn cao ngày càng tăng, công cụ, trang thiết bị lao động ngày
càng cải tiến.
Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì trong sản xuất giá trị cá biệt của
từng xí nghiệp phải phù hợp hoặc thấp hơn giá trị xã hội, do đó quy luật giá
trị thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh. Các cấp
quản lí kinh tế cũng như các nghành sản xuất, các đơn vị sản xuất ở cơ sở,
khi đặt kế hoạch hay thực hiện kế hoạch kinh tế đều phải tính đến giá thành,
quan hệ cung cầu ,để định khối lượng, kết cấu hàng hố…
b. Trong lĩnh vực lưu thơng
Theo “mệnh lệnh” của giá cả thị trường lúc lên, lúc xuống xoay quanh
quá trị mà có sự di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang
ngành khác, do đó quy mơ sản xuất của ngành đó mở rộng. Việc điều tiết tư
liệu sản xuất và sức lao động trong từng lúc có xu hướng phù hợp với yêu cầu
của xã hội, tạo nên những tỷ lệ cân đối nhất định giữa các ngành sản xuất. Đó
là biểu hiện vai trị điều tiết sản xuất của quy luật giá trị. Nhưng sản xuất trong
điều kiện chế độ tư hữu, cạnh tranh, vơ chính phủ nên những tỷ lệ cân đối hình
thành một cách tự phát đó chỉ là hiện tượng tạm thời và thường xuyên bị phá
vỡ, gây ra những lãng phí to lớn về của cải xã hội. Quy luật giá trị không chỉ
điều tiết sản xuất mà điều tiết cả lưu thơng hàng hố. Giá cả của hàng hố hình
thành một cách tự phát theo quan hệ cung cầu. Cung và cầu có ảnh hưởng đến
giá cả, nhưng giá cả cũng có tác dụng khơi thêm luồng hàng, thu hút luồng
hàng từ nơi giá thấpđến nơi giá cao. Vì thế, lưu thơng hàng hố cũng do quy
luật giá trị điều tiết thông qua sự lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị.
c. Trong nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn tài sản chính của đất nước trong quá trình
phát triển kinh tế hiện nay. Chi phí lương thấp cũng trở thành một trong những
thế mạnh của Việt Nam hiện nay. Chính sự gia tăng nhanh chóng trong q
trình kinh doanh đi liền với sự cải cách gây ra sự tăng vọt về cầu lao động
trong nền kinh tế hiện nay. Hiện tượng này dẫn đến sự di chuyển kép: di
chuyển về nghề nghiệp từ nông nghiệp đến công nghiệp, dịch vụ; di chuyển về
địa lý từ nông thôn ra đô thị. Và trong tình trạng dư thừa nguồn nhân lực vẫn
cịn phổ biến thì tình trạng luân chuyển quá mức những lao động có trình độ
mới chính là vấn đè của doanh nghiệp. Cùng với đó là sự thiếu hụt lao động có
tay nghề, chuyên môn cao. Bởi thế mà nhà nước cần có các chính sách khuyến
khích, động viên như điều tiết các xí nghiệp về các vùng nơng thơn, mở các
lớp đào tạo chuyên môn cho các công nhân,....
III.
THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NƯỚC
TA THỜI GIAN QUA VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM VẬN
DỤNG TỐT QUY LUẬT GIÁ TRỊ Ở NƯỚC TA
1. Thực trạng việc vận dụng quy luật giá trị ở nước ta thời gian qua
Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hố. Mơ hình kinh tế của nước ta được
xác định là: Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng XHCN.
Trước khi đổi mới, cơ chế kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chế tập
trung bao cấp. Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế một cách có kết hoạch mang
nhiều yếu tố chủ quan. Điều này đã phủ nhận tính khách quan của quy luật giá
trị làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, năng động của xã hội. Nền kinh tế rơi
vào tình trạng kém phát triển.
Sau khi đổi mới, quy luật giá trị được nhà nước vận dụng vào kế hoạch
hố mang tính định hướng. Nhà nước phải dựa trên tình hình định hướng giá
cả thị trường để tính tốn vận dụng quy luật giá trị vào việc xây dựng kế
hoạch. Do giá cả hàng hố là hình thức biểu hiện riêng của giá trị, nhưng nó
cịn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khác như quy luật cung cầu.
2. Những giải pháp của Đảng và Nhà nước ta
Để phát huy các tác động tích cực, đẩy lùi các tác động
tiêu cực của kinh tế thị trường cần nâng cao vai trị quản lý
của nhà nước thơng qua quy hoạch, kế hoạch, cơng cụ tài
chính; qua các phương thức kích thích, giáo dục, thuyết phục
và cả cưỡng chế nữa. Chủ trương của Đảng ta trong thời gian
tới là:
- Phát triển kinh tế, cơng nghiệp hố, hiện đại hố là
trung tâm. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
nhà nước ta. Phát triển kinh tế, cơng nghiệp hố, hiện đại hố
để từ đó tạo đà để thực hiện những nhiệm vụ khác, đưa nước
ta nhanh chóng phát triển, tiến theo con đường xã hội chủ
nghĩa.
- Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thi
trường, tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước. Đây
là một yêu cầu cấp thiết, là điều kiện cơ bản để xây dựng thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
trong thời gian tới.
- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực. Đây là nhiệm vụ nhằm vận dụng tốt hơn quy
luật giá trị với nền kinh tế nước ta.
- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ
gìn bản sắc văn hố dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
3.
Những giải pháp đề xuất
Xuất phát từ lý thuyết về quy luật giá trị và biểu hiện của quy luật giá
trị trong nền kinh tế thị trường, em xin đưa ra một số giải pháp nhằm vận dụng
tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta trong thời gian tới:
- Giải phóng lực lượng sản xuất, huy động mọi nguồn lực để thúc đầy
nhanh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải
thiện đời sống nhân dân. Nhà nước bằng các cơng cụ, chính sách kinh tế vĩ mơ
để dẫn dắt, hướng dẫn cho hệ thống thị trường phát triển, nhà nước có vai trị
quan trọng trong q trình phân phối đảm bảo công bằng, hiệu quả, hướng tới
xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
- Nhà nước cần chú ý hơn tới vấn đề đồng bộ hệ thống thị trường ở
nước ta.
Ở nước ta một số loại thị trường thì phát triển nhanh chongsm phát huy
được hiệu quả trong nền kinh tế thị trường, trong khi đó một số loại thị trường
cịn rất sơ khai, chưa hình thành một cách đầy đủ và bị biến dạng. Vì thế nhà
nước cần có những biện pháp để vực dậy một số thị trường còn bỏ ngỏ.
- Việc vận dụng quy luạt giá trị trong giá trị phải có giới hạn, có căn cứ
kinh tế. Như vậy mới có tác dụng trong việc phát triển sản xuất.
- Nhà nước ta khi vận dụng quy luật giá trị phải xuất phát từ nhieuf
quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội, căn cứ vào nhiệm vụ kinh tế, chính trị
từng thời kì.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở phân tích quy luật giá trị và vai trị của nó trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta
có thể thấy được vai trị và phạm vi ảnh hưởng của quy luật giá trị đối với nền
kinh tế của Việt Nam. Qua đây chúng ta cũng có thể thấy việc vận dụng chúng
vào các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị vào việc xây dựng các kế
hoạch của nhà nước là rất quan trọng. Đề án cũng đã đưa ra được một số giải
pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị vào nền kinh tế Việt Nam trong
giai đoạn tới.
Trên đây là phần trình bày tiểu luận về vấn đề: “Quy luật giá trị và sự
biểu hiện của nó trong nền kinh tế thị trường.” Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và
phân tích nhưng sẽ vẫn cịn nhiều thiếu xót. Em mong cơ có thể xem xét và
chỉnh sửa để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Các phương pháp tài chính về liên quan đến xóa đói giảm nghèo – Tạp
2.
chí kinh tế và phát triển.
Giáo trình Những nguyên lý vơ bản của chủ nghĩa Mác – Leenin (2016)
3.
– NXB Giáo dục.
3. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lweenin về phương thức sản xuất
4.
tư bản chủ nghĩa – NXB Chính trị quốc gia.
Lý luận chính trị số 1/2002.