BÀI THUYẾT TRÌNH TÂM LÝ DU KHÁCH
Đề bài: Tập quán giao tiếp của người Việt Nam
I.
Giới thiệu chung:
Mỗi một quốc gia, mỗi một dân tộc trên thế giới không chỉ có chủ quyền
lãnh thổ độc lập mà cịn có ngơn ngữ, tiếng nói riêng. Theo tháp Maslow, mỗi
con người trên thế giới đều có những nhu cầu như nhu cầu sinh lý cơ bản (ăn,
mặc, ở, nghỉ ngơi…), nhu cầu an tồn, nhu cầu được tơn trọng ngưỡng mộ,
nhu cầu tự thể hiện mình và nhu cầu quan hệ xã hội.
Lúc này chúng tơi muốn nói đến nhu cầu quan hệ xã hội của con người. Từ
nhu cầu này con người đã sáng tạo ra ngơn ngữ tiếng nói để nhằm đến mục
đích duy nhất, đó chính là giao tiếp.
Trong bài làm này chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn về “ Tập quán giao tiếp
của Việt Nam”.
II.
Đặc điểm tự nhiên và xã hội
1.
Đặc điểm tự nhiên:
Việt Nam là một quốc gia nằm ở cực đông nam bán đảo Đông Dương, có
hình chữ S, diện tích đất liền khoảng 331,698 km2. Phía nam giáp Vịnh Thái
Lan, phía đơng giáp Vịnh Bắc Bộ và biển Đơng, phía Bắc giáp Trung Quốc,
phía Tây giáp Lào và Campuchia.
-
Địa hình: đồi núi và nhiều đồng bằng phù hợp cho sự phát triển kinh
tế nông nghiệp Việt Nam là 1 quốc gia nơng nghiệp.
-
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều phù hợp để trồng
trọt nơng nghiệp lúa nước.
-
Nhiều sơng ngịi phát triển nông nghiệp
-
Tài nguyên đa dạng, phong phú
1
2
2.
Đặc điểm xã hội:
Việt Nam có khoảng hơn 90 triệu người ( năm 2013), có 54 dân tộc anh em,
trong đó chiếm số đơng là dân tộc Kinh
-
Ng̀n gớc:
Theo truyền thuyết dân tộc Kinh, những người Việt đầu tiên là con cháu của
một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người
này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những
người con sinh ra cùng một bọc gọi là "cùng bọc" (hay còn gọi là Đồng bào)
và "đồng bào" là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam
đều cùng có chung một nguồn gốc.
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ giao tiếp chính là tiếng Việt (Kinh), hệ chữ La tinh
- Tơn giáo: Người Việt có nhiều tơn giáo nhưng khơng có tơn giáo nào được
xem là quốc giáo. Trong đó, Phật giáo được ưa chuộng nhiều nhất.
- Thể chế xã hội: Xã hội chủ nghĩa, quyền lực nằm trong tay Quốc hội, đại
diện cho nhân dân.
III.
Giao tiếp của người Việt Nam
1.
Thích giao tiếp nhưng rụt rè.
Trước hết, xét về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp, có thế
thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rụt rè.
-
Như đã nói người Việt Nam sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng
cộng đồng, chính tính cộng đồng này là nguyên nhân khiến người Việt Nam
đặc biệt coi trọng việc giao tiếp, sự giao tiếp sẽ tao ra các mối quan hệ. Năng
lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá
con người, ca dao có câu:
“ Vàng thì thử lửa, thử than
Chng kêu thử tiếng, người ngoan thử lời”.
3
Vì coi trọng giao tiếp nên người Việt Nam rất thích giao tiếp. Việc
-
thích giao tiếp thể hiện ở 2 điểm:
+ Người Việt Nam có tính thích thăm viếng: vì khi đã thân nhau thì cho dù
hằng ngày có gặp nhau ở đâu, bao nhiêu lần thì lúc rảnh rỗi họ vẫn tới thăm
nhau khơng cịn là nhu cầu cơng việc, mà là biểu hiện của tình cảm, tình
nghĩa.
+ Người Việt Nam có tính hiếu khách: dù xa lạ hay thân quen, dù nghèo khó
thì cũng cố gắng đón tiếp thịnh tình.
-
Người Việt Nam có 1 đặc tính gần như ngược lại là rụt rè.
Sự tồn tại của 2 đặc tính trên bắt nguồn từ 2 làng xã cơ bản của làng xã
Việt Nam là tính cộng đồng ( trước phạm vi quen thuộc) và tính tự trị ( trước
phạm vi xa lạ ) không mâu thuẫn, biểu hiện cho sự ứng xử linh hoạt của
người Việt Nam.
2.
Lấy tính cảm làm nguyên tắc ứng xử.
Xét về quan hệ giao tiếp, nguồn gốc văn hóa nơng nghiệp với đặc điểm
trọng tình đã dân người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử
trong giao tiếp.
“ Yêu nhau, yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông ty họ hàng”
Nếu trong tổng thể, người Việt Nam lấy sự hài hòa trong âm dương làm
nguyên lý chủ đạo nhưng vẫn thiên về âm tính hơn, thì trong cuộc sống người
Việt Nam có lý có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn. Khi cân nhắc giữa tình
và lý thì tình đặt cao hơn lý.
“ Đưa nhau đến trước cửa quan
Bên ngồi là lý, bên trong là tình”
4
Người Việt Nam ln nhắc nhở nhau coi trọng tình cảm hơn mọi thứ
trên đời. Trong gia đình hay ngồi xã hội mọi người sống với nhau phải có
nghĩa tình.
3.
Ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá.
Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan
sát, đánh giá.
-
Tên tuổi, trình độ học vấn, địa vị xã hội…là những gì người Việt Nam
thường quan tâm. Chính vì thói quen ưa tìm hiểu này mà người nước ngồi
thường đánh giá là người Việt Nam rất tò mò. Đặc tính này cũng chỉ là 1 sản
phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra. Do tính cộng đồng, người Việt Nam
tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, muốn quan tâm thì phải
biết rõ hồn cảnh. Hay do phân biệt quan hệ xã hội, phải có xưng hơ riêng, vì
vậy cần biết rõ thơng tin về người đối thoại.
-
Tính hay quan sát khiến người Việt Nam có kinh nghiệm xem tướng
hết sức phong phú…biết được tính cách con người, đánh giá để mà chọn
người phù hợp giao tiếp. Trong trường hợp không thể chọn người giao tiếp thì
người Việt Nam phải ứng xử một cách linh hoạt.
4.
Trọng danh dự.
Tính cộng đồng cịn khiến Việt Nam dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có
đặc điểm là trọng danh dự.
Như đã nói, danh dự được người Việt Nam gắn với năng lực giao tiếp:
Lời nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm, nó được truyền đến tai nhiều
người, tạo nên tai tiếng. Chính vì q coi trọng danh dự nên nhiều người Việt
Nam mắc bệnh sĩ diện
5
Lối sống trọng danh dự, trọng sĩ diện dẫn đến cơ chế tin đồn, tạo nên
dư luận như một vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định
của làng xã.
5.
Ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận.
Về cách thức giao tiếp , người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự
hòa thuận.
Lối giao tiếp tế nhị , ý tứ khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp “
vịng vo tam quốc”, khơng bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vấn đề như
người phương Tây mà phải tạo khơng khí, đưa đẩy, người Việt Nam trước
đây có truyền thống “ miếng trầu là đầu câu chuyện”. Ngoài ra ngày nay để
bắt đầu nói chuyện cịn có thể là chén trà, điếu thuốc… chính lối giao tiếp
này kết hợp với nhu cầu tìm hiểu đối tượng giao tiếp tạo ra ở người Việt Nam
thói quen chào hỏi.
Lối giao tiếp này thói quen đắn đo cân nhắc thiếu tính quyết đốn
hay cười (để giữ sự hịa thuận cần thiết)
6.
Có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú
-
Với các mối quan hệ xã hội có nhiều cách xưng hơ khác nhau
-
Có thói quen xưng hơ khiêm tốn
-
Có tục kiêng kị trong lời nói
Một hệ thống xưng hô tinh tế và linh hoạt như vậy chỉ gặp trong tiếng
Việt. Nghi thức lời nói trong lĩnh vực các cách nói lịch sự cũng rất phong phú.
IV.
Thói quen giao tiếp khi đi du lịch của người Việt Nam
Với đặc điểm giao tiếp nói trên, người Việt Nam đã tạo cho mình những thói
quen giao tiếp khơng chỉ trong thường ngày mà còn cả khi đi du lịch.
6
1.
Thời gian và lý do đi du lịch của người Việt Nam:
-
Đa số người Việt Nam đi du lịch chủ yếu vào kỳ nghỉ hè hoăc các dịp
lễ đặc biệt ( 30/4,1/5 và 2/9) hơn là đi vào các dịp cuối tuần và các dịp kỉ
niệm của bản thân, gia đình.
-
Về mức độ thường xun, có lẽ do Việt Nam ít có các kỳ nghỉ dài nên
người Việt Nam thường chọn những chuyến du lịch ngắn, khoảng 2-4 ngày.
-
Người Việt Nam thường dùng những chuyến du lịch để gắn kết tình
cảm,vì vậy đa số những chuyến du lịch thường được sắp xếp để đi cùng người
thân trong gia đình, hoặc đi cùng bạn bè.
-
Mục đích chính là nghỉ ngơi thoải mái vui chơi, ít có nhu cầu tìm hiểu.
-
Đi du lịch nước ngồi: chủ yếu là đi thăm gia đình bạn bè ở nước ngồi
hoặc đi cơng tác, đi chữa bệnh, đa số là những gia đình có kinh tế khá giả.
2.
Phương tiện đi lại và tổ chức:
-
Phương tiện : đi cùng gia đình nên họ chủ yếu họ sử dụng ôtô khoảng
12-24 chỗ hoặc đi xe máy cùng bạn bè (rất nhiều bạn trẻ sử dụng xe máy để đi
phượt cùng bạn bè ).
-
Ngoài ra đi cùng cơ quan thì sử dụng nhiều xe 50 chỗ.
-
90% người VN vẫn có thói quen tự tổ chức tour riêng khi họ đi du lịch
hơn là phải thông qua các công ty du lịch vì suy nghĩ qua cơng ty sẽ phải trả
phí nhiều hơn.Thường những người đã đi rồi sẽ trở thành hướng dẫn cho gia
đình hoặc bạn bè mình, nếu khơng họ sẽ tự tìm hiểu sơ qua trước về các thắng
cảnh chính và tự đặt phịng khách sạn.
3.
Địa điểm du lịch:
-
Vào mùa xuân, người Việt Nam chủ yếu đi chùa kết hợp đi thắng cảnh
tham quan, đa số đi các chùa thắp hương cầu bình an và vãn cảnh chùa.
-
Các kỳ nghỉ hè thì bãi biển là lựa chọn hàng đầu cho các chuyến du lịch
của người Việt Nam,Việt Nam có đường bờ biển trải dài khắp đất nước từ bắc
vào nam: Hạ Long, Bãi Cháy, Sầm Sơn, Nha Trang, Phú Quốc..
7
-
Người Việt Nam thích những nơi bằng phẳng, ít nguy hiểm, khơng
thích leo trèo khám phá,có thể do tâm lý tiểu nơng từ xa xưa mà người Việt
Nam thích nghỉ dưỡng hơn là du lịch mạo hiểm,và quan niệm đi du lịch là để
nghỉ ngơi là chính nên người Việt Nam không muốn vận động nhiều.
4.
Mua sắm và ăn uống tại điểm du lịch
-
Đa số người VN đều có tiêu chí chung: tốt- rẻ- chất lượng. Một chuyến
đi cực kỳ thú vị và chất lượng nhưng giá phải rẻ,và khi đi chọn đồ mua sắm,
ăn uống cũng vậy.
-
Người Việt có tâm lý số đông: một quán ăn ngon sẽ đông khách,một
món hàng tốt chất lượng sẽ nhiều người mua,một danh lam thắng cảnh đẹp sẽ
có nhiều người đi…
-
Đối với người trung niên và các gia đình kinh tế bình thường, khi đi du
lịch thường xuyên mang theo đồ ăn thức uống,với tâm lý chịu mang một tý
nhưng rẻ, đỡ tốn tiền và đồ ăn ở điểm du lịch thường đắt hơn rất nhiều ở nhà.
-
Đi du lịch người VN thường mua đồ lưu niệm về làm quà, cho con,cho
cháu,cho ông bà,cho cơ quan và bạn bè..chủ yếu là đặc sản ở đó hay một một
món đồ gây liên tưởng tới nó như mũ, áo in hình và tên địa điểm du lịch..
-
Đi nước ngoài, người VN thường mua các sản phẩm cơng nghệ vì giá
cả ở VN có tính thuế nên giá cao hơn. Ngoài ra,phụ nữ thường mua quần áo
và nước hoa, một số đồ dùng thời trang theo tâm lý sính hàng ngoại và chất
lượng tốt hơn.
8
V.
Kết luận:
Về mặt giao tiếp, đa số người Việt Nam có những ưu điểm nổi bật:
Quan hệ tốt, chân thành , cởi mở giữa người với người, có thói quen lấy
-
tình cảm để ứng xử, giao tiếp nên tạo được sự tin cậy, tín nhiệm của người
khác.
Ln tìm hiểu, học hỏi quan tâm tới người đối thoại, thể hiện sự kính
-
trọng, tơn trọng lẫn nhau qua cách chào hỏi, xưng hô lễ phép, áp dụng nguyên
tắc của Khổng Tử “ Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” ( Cái gì mà ta khơng muốn
thì đừng làm cho người khác)
Tuy nhiên, có một số bộ phận người Việt Nam đi ngược lại với những ưu
điểm trên, cần khắc phục:
Như đã nói, người Việt Nam tuy thích giao tiếp nhưng vẫn cịn rụt rè,có
-
thể do bản tính hiền lành của cư dân nơng nghiệp đã hình thành nên đặc tính
đó. Điều này có mặt tốt nhưng cũng có sự hạn chế, đặc biệt trong giao tiếp
người Việt Nam rất dễ bị thiệt thịi, thụ động, vì đa phần trong giao tiếp công
việc người ta cần sự chủ động, giành lấy cơ hội.
Hay giới trẻ Việt Nam, do ảnh hưởng bởi môi trường và điều kiện sống
-
( như ở đô thị ) đã rèn luyện cho họ cách sống và giao tiếp táo bạo, tự tin. Do
đó nhiều trường hợp giới trẻ Việt Nam đã vơ tình đánh mất đi bản sắc văn hóa
trong tập qn giao tiếp của mình ( xưng hơ vơ lễ, nói chuyện thiếu văn hóa,
lịch sự).
Vì vậy cần đưa ra nhiều giải pháp để rèn luyện, để hội nhập trong giao
tiếp ứng xử phù hợp và vẫn giữ được bản sắc văn hóa, những đặc trưng tiêu
biểu trong tập quán giao tiếp của người Việt:
-
Rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong gia đình từ thuở ấu thơ
-
Rèn luyện trong môi trường giáo dục, sư phạm, “ Tiên học lễ, hậu học
văn”.
-
Mở những chương trình hội thảo, thực hành về giao tiếp, ứng xử
9
-
Tun truyền những thói quen giao tiếp tốt, giữ gìn bản sắc văn hóa
giao tiếp, ứng xử cho nhân dân.
Tập quán giao tiếp của người Việt Nam thật sự là tấm gương phản chiếu
văn hóa dân tộc. Cho dù sống ở đâu, đi bất cứ nơi nào, người Việt Nam vẫn
nên giữ những thói quen giao tiếp đặc trưng của mình, vẫn mang đậm bản sắc
thuần nơng, hiền lành, chất phác.
10