TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TÊN ĐỀ TÀI:
THIẾT CHẾ VĂN HÓA TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HĨA TÍN NGƯỠNG CỦA
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần : Thiết chế xã hội và chính sách công
Mã phách:............................................................
Hà Nội - 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TÊN ĐỀ TÀI:
THIẾT CHẾ VĂN HÓA TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HĨA TÍN NGƯỠNG CỦA
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần : Thiết chế xã hội và chính sách công
Mã phách:............................................................
Hà Nội - 2021
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu..............................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu................................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................2
6. Bố cục đền tài.........................................................................................................3
Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THIẾT CHẾ VĂN HĨA VÀ CHÍNH
SÁCH CƠNG................................................................................................................. 4
1.1. Khái niệm............................................................................................................4
1.2. Đặc điểm và vai trò của thiết chế văn hóa...........................................................4
1.3. Các nguyên tắc xây dựng tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa...............7
Tiểu kết:.....................................................................................................................7
Chương 2: VAI TRỊ CỦA THIẾT CHẾ VĂN HĨA TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HĨA TÍN NGƯỠNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ...................................................................................................................... 8
2.1. Chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân
tộc thiểu số.................................................................................................................8
2.1.1 Nội dung chính sách......................................................................................8
2.1.2 Những hạn chế............................................................................................11
2.1.3 Biện pháp giải quyết....................................................................................11
2.2. Vai trò của thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số................................................................13
Tiểu kết:...................................................................................................................15
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THIẾT CHẾ VĂN
HÓA TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HĨA, TÍN
NGƯỠNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ.................................................16
3.1. Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở.........16
3.2. Nâng cao vai trị của bộ máy tổ chức, nhân sự làm công tác văn hóa................19
3.3. Tăng cường nguồn kinh phí, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và hoạt động
của hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở.....................................................................21
KẾT LUẬN..................................................................................................................24
LỜI CẢM ƠN
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giảng viên bộ môn “ Các thiết
chế xã hội và Chính sách cơng ” người đã trang bị cho em những kiến thức kỹ năng cơ
bản để em có thể hồn thành đề tài nghiên cứu này.
Em hi vọng tài liệu này sẽ là nguồn thông tin hữu ích cung cấp cho bạn đọc các
những kiến thức, hiểu biết về vai trò cũng như sự tác động của thiết chế văn hóa trong
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số
ở nước ta. Do kinh nghiệm thực tế của bản thân còn hạn chế, chắc chắn sẽ khơng tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy, cơ giáo đóng góp ý kiến để đề tài nghiên cứu
của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội,ngày 20 tháng 05 năm 2021
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số ” là cơng trình
nghiên cứu do em thực hiện. Các thông tin, tài liệu được sử dụng trong đề tài nghiên
cứu là hoàn toàn trung thực. Em xin chịu mọi trách nhiệm nếu có thiếu trung thực về
thông tin trong bài tiểu luận này. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đề tài
đã được cảm ơn và các thơng tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu đều được ghi rõ
nguồn gốc.
DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
DTTS
KT-XH
VHTTDL
DTTSRIN
TCVH
Chữ viết đầy đủ
Dân tộc thiểu số
Kinh tế - xã hội
Văn hóa truyền thơng du lịch
Dân tộc thiểu số rất ít người
Thiết chế văn hóa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc sống của con người, xã hội loài người bị chi phối bởi các thiết chế như
chính trị, văn hóa, xã hội... Thiết chế có thể hiểu là một tổ chức xã hội có kết cấu bên
trong chặt chẽ, đã gắn kết với nhu cầu của con người nên tồn tại bền vững trong đời
sống của họ. Trong đó, nhà văn hóa, các câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, rạp chiếu phim,
công viên, vườn hoa…là các dạng hình thức tồn tại của thiết chế văn hóa. Hoạt động
của các thiết chế văn hóa góp phần khẳng định những giá trị truyền thống của dân tộc,
tiếp thu những giá trị văn hóa mới của nhân loại
Trong xã hội hiện nay, chăm lo cho đời sống văn hóa của nhân dân khơng cịn
chỉ là chăm sóc tổng thể cho tồn bộ khu dân cư, khối dân cư mà cịn cần chăm sóc cho
từng bộ phận, các nhân nhân dân. Nhằm đáp ứng như cầu thẩm mỹ ngày càng nâng cao
của đại đa số người dân phát triển các thiết chế văn hóa cơ sở là điều cần thiết
Giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số có vị trí quan trọng
trong đời sống văn hóa của đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập, hướng tới xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhìn chung, đời sống của người dân các vùng DTTS cịn khó khăn, tỷ lệ hộ
nghèo cũng cao nhất cả nước, trình độ dân trí thấp. Bên cạnh đó, các điều kiện về kinh
tế - xã hội, hạ tầng giao thơng, trường học, bệnh viện cũng cịn thấp hơn so với các
vùng, miền khác. Còn nhiều thủ tục lạc hậu đã làm mai một những giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Mặt khác, đội ngũ cán bộ làm cơng tác văn hóa vùng
dân tộc thiểu số chưa đáp ứng yêu cầu. Những yếu tố trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến
công tác bảo tồn, phát huy các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc.
Xuất phát từ thực trạng đó địi hỏi phải có những giải pháp để gìn giữ, bảo tồn
và phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số miền núi trong
thời gian tới. Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao vai trị của các thiết
chế văn hóa ở cơ sở. Chính vì vậy, từ những vấn đề nêu trên em xin chọn chủ đề:
1
“Thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng
của đồng bào dân tộc thiểu số” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Nội dung đề tài hướng tới mục đích tìm hiểu nội dung của thiết chế văn hóa và
vai trị của thiết chế văn hóa đối với chính sách cơng nói chung và chính sách bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số nước ta nói
riêng. Từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng hiệu quả của vai trị quả trong cơng
tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số
3. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về vai trị,sự tác động của thiết chế văn hóa đối với chính sách cơng
chung và chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng của đồng bào
dân tộc thiểu số nói riêng. Trên cơ sở đó, em đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả vai trị của thiết chế xã hội đối với chính sách cơng và q trình phát triển KT-XH
của đất nước
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung của chính
sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số
mà Đảng và Nhà nước ta đề ra
- Không gian: các vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước
- Thời gian: từ năm 2010 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê xã hội học, nghiên cứu lý thuyết,
khảo sát thực tiễn để nghiên cứu các đối tượng trên.
2
6. Bố cục đền tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề
tài báo cáo gồm 3 chương chính:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về thiết chế văn hóa và chính sách cơng
Chương 2: Vai trị của thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số
Chương 3: : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Thiết chế văn hóa trong
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số
3
Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THIẾT CHẾ VĂN HĨA VÀ CHÍNH
SÁCH CƠNG
1.1. Khái niệm
- “Thiết chế văn hóa” Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Thiết chế văn hóa là
chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống
biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho các thiết chế đó”
- “Chính sách cơng”: được định nghĩa là một tập hợp các quyết định chính trị
có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn
đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định
1.2. Đặc điểm và vai trò của thiết chế văn hóa
Chủ trương của Đảng ta khẳng định, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, việc xây dựng một
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ trọng tâm,
xuyên suốt trong quá trình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Thiết chế văn hóa đóng
một vai trị quan trọng, là nơi truyền tải những thơng tin về chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân; là cầu nối trực tiếp giữa
đảng bộ, chính quyền các cấp với quần chúng nhân dân. Bởi vậy, vai trò của thiết chế
văn hóa trong xã hội thể hiện qua một số nội dung sau:
Thứ nhất, hệ thống thiết chế văn hóa là nơi để tổ chức các hoạt động tuyên
truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị, xã hội của các tỉnh thành trên cả nước nhằm
giáo dục cho nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh với những luận điệu sai
trái, chống phá cách mạng, Đảng, Nhà nước, âm mưu diễn biến hịa bình, bạo loạn lật
đổ của các thế lực thù địch. Nhà văn hóa, các câu lạc bộ, đài phát thanh… là những
thiết chế văn hóa để nhân dân đóng góp ý kiến với các cấp ủy đảng, chính quyền về
những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội đang diễn ra. Mặt khác, là nơi tổ chức các hoạt
động văn hóa phù hợp với phong tục, tập quán, lối sống của nhân dân, giáo dục về
4
pháp luật để giảm thiểu các tệ nạn xã hội, từ đó phát huy, gìn giữ bản sắc văn hóa của
các dân tộc trên cả nước.
Thứ hai, hệ thống thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi,
hưởng thụ, gìn giữ văn hóa, luyện tập thể dục thể thao của các tầng lớp nhân dân; từ đó
hỗ trợ điều phối, kiểm sốt hành vi của các cá nhân bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy
trình, quy tắc, bằng dư luận do những thế hệ con người trong tổ chức hệ thống thiết chế
văn hóa xây dựng lên. Hệ thống thiết chế văn hóa là điểm tựa tinh thần, giúp các cá
nhân phát huy trí lực để có những quyết định, sự lựa chọn đúng đắn. Xây dựng một hệ
thống thiết chế văn hóa tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều giá trị văn hóa quý báu
của dân tộc được các thế hệ sau giữ gìn, ni dưỡng, phát huy.
Thứ ba, hệ thống thiết chế văn hóa giữ vai trị quan trọng trong tổ chức các hoạt
động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, xã hội ở địa phương; đây chính là cơng cụ trực
tiếp, đắc lực của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm
vụ chính trị. Các quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước có
đến được với đại đa số quần chúng nhân dân hay không một phần quan trọng là nhờ ở
hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở.
Thứ tư, các thiết chế văn hóa truyền thống, hiện đại đã, đang góp phần phát triển
xã hội một cách bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các thiết chế văn hóa trở
thành nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm
linh của nhân dân, cịn bảo tồn, phát huy những vốn văn hóa sống mang tính dân gian
truyền thống, từ đó mà giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Khi tổ chức hoạt động của
thiết chế văn hóa cần tạo ra những dư luận tích cực để hạn chế những nguy cơ mâu
thuẫn, xung đột, biểu hiện tiêu cực trái với quy tắc, chuẩn mực thơng thường của đạo
đức; trong đó các thiết chế văn hóa truyền thống góp phần khắc phục, giải quyết xung
đột trên ngun tắc khơng để phá vỡ tính chỉnh thể.
Thứ năm, hệ thống thiết chế văn hóa góp phần thúc đẩy sự nghiệp cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong việc xây dựng nông thôn mới. Tiêu chí nhà
5
văn hóa, khu thể thao xã đạt chuẩn là một trong 19 tiêu chí của Bộ VHTTDL đã thúc
đẩy quá trình xây dựng nơng thơn mới, tạo điều kiện để người dân nơng thơn nâng cao
mức thụ hưởng văn hóa. Mặt khác, đối với các di sản văn hóa của dân tộc hiện nay có
một đội ngũ vừa có tâm, vừa có tầm cùng với nhân dân địa phương là chủ thể, khách
thể để xây dựng các thiết chế văn hóa.
Thứ sáu, xây dựng, hồn thiện các thiết chế văn hóa là góp phần xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để đáp ứng nhu cầu bức thiết, một
địi hỏi chính đáng của nhân dân. Bản sắc văn hóa này chỉ có thể hiện hữu, phát triển
mạnh mẽ, trường tồn trong điều kiện thiết chế văn hóa đầy đủ, vững mạnh, hoạt động
hiệu quả.
Thứ bảy, đình, chùa, đền thờ, nhà thờ... cũng là những yếu tố của thiết chế văn
hóa truyền thống, các giá trị đạo đức, giá trị truyền thống của dân tộc được thiết chế
văn hóa này bảo tồn, phát huy, thậm chí qua các mơ hình hoạt động sinh động thì thiết
chế văn hóa truyền thống vẫn có thể hội nhập, phát huy tốt trong đời sống văn hóa hiện
đại.
Thứ tám, cơng tác quản lý các thiết chế văn hóa phải được tiến hành trên nền
tảng của chủ nghĩa Mác, Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng. Để tổ
chức các hoạt động văn hóa một cách sáng tạo, hiệu quả cần một đội ngũ cán bộ giỏi
về chuyên môn, nghiệp vụ; mặt khác, mỗi địa phương, cơ sở cần bám sát vào chức
năng, nhiệm vụ của hoạt động thiết chế văn hóa để đi sâu vào thực tiễn, nhằm thu hút
đơng đảo quần chúng nhân dân, góp phần đa dạng hóa các loại hình hoạt động văn hóa
làm đời sống tinh thần của người dân phong phú hơn.
Hệ thống thiết chế văn hóa các cấp trên cả nước đã có những chuyển biến tích
cực, trở thành các trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao, bồi dưỡng nghiệp vụ, hạt
nhân cho phong trào văn hóa, thể thao ở cơ sở; là địa chỉ thu hút đông đảo nhân dân
đến vui chơi, giải trí, hưởng thụ, sáng tạo văn hóa, rèn luyện thể lực, tuyên truyền,
phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị. Thiết chế văn hóa là một chỉnh thể hội tụ đầy đủ 4
6
yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí. Xây dựng
nội dung, tổ chức hoạt động, phương thức quản lý hoạt động như thế nào để các thiết
chế văn hóa có thể phát huy tốt vai trò, ý nghĩa, làm phong phú, giữ gìn tốt hơn những
giá trị văn hóa cộng đồng, bản địa, mang thêm những điều hay, điều mới đến với cộng
đồng là các vấn đề cần quan tâm trong việc củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của
các thiết chế văn hóa ở nước ta hiện nay.
1.3. Các nguyên tắc xây dựng tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa
- Phải đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân lao động về quyền văn hóa để phát
huy tích cực tính chủ động và khả năng sáng tạo của nhân dân. Tạo mọi điều kiện
thuận lợi để nhân dân tham gia sinh hoạt và hưởng thụ những thành tựu tốt đẹp về văn
hóa nghệ thuật làm cho sự nghiệp xây dựng các nền văn hóa mới thực sự là của toàn
thể nhân dân
- Phải đảm bảo sự bình đẳng về văn hóa đối với mọi dân tộc đặc biệt các dân tộc
thiểu số, mọi thành phần xã hội giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán truyền
thống và văn hóa tốt đẹp của từng tộc người
- Phải đảm bảo tính thống nhất cân đối đồng bộ và hồn chỉnh. Q trình tổ
chức các hoạt động phải được bố trí đồn kết nhiều loại hình thể nhiều hoạt động từ
đơn giản đến phức tạp. Các nội dung hình thức, phương pháp phương tiện phải được sử
dụng kết hợp với nhau một cách hợp lý linh hoạt phù hợp với từng vùng miền nhằm tạo
điều kiện thuận lợi để toàn thể nhân dân cả nước tham gia sinh hoạt văn hóa trong q
trình giáo dục và tự giáo dục
Tiểu kết:
Ở nội dung Chương I em đã đưa ra những lý luận chung về thiết chế văn hóa,
các nguyên tắc xây dựng tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hóa cũng như vai trị,
sự tác động của thiết chế văn hóa đối với chính sách cơng. Từ đó làm cơ sở lý luận
7
đểlàm rõ vai trị của thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Chương II.
Chương 2: VAI TRỊ CỦA THIẾT CHẾ VĂN HĨA TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HĨA TÍN NGƯỠNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC THIỂU SỐ
2.1. Chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng của
đồng bào dân tộc thiểu số
2.1.1 Nội dung chính sách
Với chủ trương xây dựng nền văn hóa thống nhất, đa dạng trong cộng đồng các
dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam, trong đó ưu tiên phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số rất ít người (DTTSRIN), Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định, cùng với
chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, việc
bảo tồn, phát huy văn hóa các DTTS vừa là nhiệm vụ cấp thiết, vừa có ý nghĩa chiến
lược trong bảo đảm quyền văn hố của người DTTS, góp phần vào sự ổn định và phát
triển của đất nước.
Quyền của người DTTS trong lĩnh vực văn hóa được thể hiện xuyên suốt trong
quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật của Nhà nước ta. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” năm 1991 khẳng
định “Tơn trọng lợi ích, truyền thống, văn hố, ngơn ngữ, tập qn, tín ngưỡng của các
dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”. Điều
5 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là quốc gia thống
nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng,
đồn kết, tơn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia
rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập qn, truyền thống và văn
hố tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển tồn diện và tạo điều
8
kiện để tất cả các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Để bảo đảm
các quyền của các DTTS, Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định: “Cơng dân có quyền xác
định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”.
Với chủ trương xây dựng nền văn hóa thống nhất, đa dạng trong cộng đồng các
DTTS Việt Nam, trong đó ưu tiên phát triển văn hóa các DTTSRIN, Đảng và Nhà nước
xác định, cùng với chăm lo phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), bảo đảm an sinh xã hội,
xóa đói, giảm nghèo, việc bảo tồn, phát huy văn hóa các DTTS vừa là nhiệm vụ cấp
thiết, vừa có ý nghĩa chiến lược phải thực hiện kiên trì, lâu dài. Chính phủ đã phê duyệt
các chính sách, đề án nhằm thực hiện hiệu quả việc bảo tồn, phát huy và phát triển giá
trị văn hoá DTTS đặc biệt là văn hố DTTS rất ít người. Ngày 15-9-2020, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1409/QĐ-TTg về việc Ban hành kế hoạch triển
khai Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19-6-2020 của Quốc hội về phê duyệt chủ
trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KTXH vùng đồng bào DTTS
và miền núi giai đoạn 2021-2030 trong đó lĩnh vực văn hoá nhấn mạnh tập trung bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du
lịch và đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển nhóm DTTSRIN, nhóm dân tộc cịn nhiều
khó khăn. Nâng cao chất lượng phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn
hóa mới”. Qua đó tuyên truyền vận động để các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam hiểu về nhau, gần gũi tương hỗ giúp đỡ cùng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Tạo điều kiện để nhân dân tham gia và
phát huy vai trị làm chủ trong cơng cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới, góp phần
nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của người dân vùng DTTS và miền núi.
Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, ngơn ngữ, chữ viết, tập qn,
tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các DTTS
được thực hiện hiệu quả trong thời gian qua. Tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS
từng bước hạn chế tiến tới xóa bỏ các hủ tục lạc hậu. Nhiều lễ hội truyền thống lành
mạnh được phục hồi, phát triển và hình thành mới, góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc
9
văn hóa dân tộc. Việc triển khai “Dự án bảo tồn, phát huy giá trị làng truyền thống các
DTTS” vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa tạo nên mô hình hiệu quả, thiết thực,
đem lại lợi ích trên nhiều mặt của đời sống KT-XH, văn hóa tại vùng đồng bào DTTS
trên cả nước. Mở các lớp truyền dạy văn hóa truyền thống phi vật thể của DTTS có số
dân rất ít người như: Bố Y, Pu Péo, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Mảng, Cống, Lô Lô, Chứt,
Si La... tại các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Nghệ An, Kon Tum, Điện Biên, Lào Cai, Thái
Nguyên, Quảng Bình... Các lớp này do chính các nghệ nhân - chủ thể của văn hóa các
dân tộc, người nắm giữ kho tàng văn hóa phi vật thể trực tiếp tham gia truyền dạy cho
thế hệ trẻ. Đây chính là một trong các hình thức hiệu quả đem lại có sức lan tỏa mạnh
mẽ trong việc nâng cao ý thức tự giác giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình.
Tại các địa phương có đông đồng bào DTTS sinh sống đã gắn bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa các DTTS với phát triển du lịch bền vững, giúp người dân giảm
nghèo, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH tại địa phương nơi sinh sống (Dân tộc
Xtiêng, Chăm, Ba Na, Cơ Ho, Mnông, Ê Đê, Vân Kiều, Khơ Mú, Mường, Thái,
Mông… ). Ngôn ngữ, chữ viết dân tộc được quan tâm bảo tồn, phát huy với nhiều hình
thức như biên soạn, xuất bản sách theo tiếng dân tộc; lập hồ sơ khoa học về ngôn ngữ:
“Chữ Nôm của người Dao”, “Chữ Nôm của người Tày”, “Chữ viết cổ của người Thái”,
“Nói lý, hát lý của người Cơ Tu” đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia.
Đã có 62.283 di sản văn hóa phi vật thể của 63 tỉnh, thành phố được kiểm kê,
288 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc
gia (trong đó có 145/288 di sản của các DTTS – chiếm hơn 50% tổng số di sản); 05 di
sản thuộc loại hình tiếng nói, chữ viết... Trong giai đoạn từ 2016-2020, đã có 3 di tích
quốc gia đặc biệt, 8 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh liên quan đến đồng
bào DTTS được xếp hạng di tích quốc gia; có 126 di sản văn hóa phi vật thể, 276 nghệ
nhân ưu tú là người DTTS .
10
Các kết quả trên đã tác động tích cực đến các chiều, cạnh của các mối quan hệ
dân tộc, trong đó có vai trị của văn hóa, góp phần tăng cường và củng cố khối đại đoàn
kết các dân tộc. Đại bộ phận đồng bào các dân tộc đoàn kết, tin tưởng vào đường lối
đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
2.1.2 Những hạn chế
Thực tế vẫn còn một số thách thức đối với việc đảm bảo quyền văn hóa của
người DTTS trong điều kiện hiện nay như: chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân
lực còn hạn chế; bản sắc văn hóa có nguy cơ mai một, vẫn cịn tồn tại một số hủ tục lạc
hậu,…
Đồng bào DTTS nước ta phần lớn sống ở vùng núi, vùng có điều kiện KT-XH
khó khăn và đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, sản xuất chưa phát triển
nên khả năng tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ cơ bản cịn hạn chế. Việc tồn cầu hố
và làn sóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã mang lại những bước tiến
nhảy vọt về KT-XH là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, mang đến những thách
thức và sự tiêu cực như phân hoá giàu nghèo; thay đổi chuẩn mực xã hội; đảo lộn cấu
trúc nhân lực xã hội… Theo đó, sự va chạm giữa văn hố bản địa và văn hố ngoại
nhập là điều khơng thể tránh khỏi. Bên cạnh đó, cơng nghiệp hố - hiện đại hố và nền
kinh tế thị trường đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến bản sắc văn hoá của các DTTS.
Bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc đang đứng trước nguy cơ mai một, nhất là ở
các cộng đồng nghèo, các tộc người thiểu số rất ít người. Từ ngôn ngữ, các vật dụng
trong cuộc sống hằng ngày, đến kiến trúc nhà ở, các lễ nghi trong đời sống xã hội (hôn
nhân, tang ma, thờ cúng...) truyền thống của từng tộc người cịn ít được duy trì. Số
lượng và chất lượng cán bộ cũng là vấn đề cần quan tâm trong việc đảm các quyền cơ
bản của công dân, đặc biệt là quyền của đồng bào DTTS trong lĩnh vực văn hóa.
11
2.1.3 Biện pháp giải quyết
Bối cảnh và tình hình chính trị, KT-XH nói trên đã tác động khơng nhỏ đến bảo
đảm quyền của người DTTS trong lĩnh vực văn hóa. Để giải quyết những bất cập này,
cần thiết phải tiếp tục hồn thiện các chính sách cho phù hợp với bối cảnh trong nước
và quốc tế cũng như đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm quyền con
người, quyền cơng dân trong đó có quyền về văn hóa của đồng bào DTTS. Nghiên cứu,
tham mưu, đề xuất ban hành cơ chế, chính sách cho các nghệ nhân, người tổ chức thực
hành, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các DTTS trên cả nước. Tạo
điều kiện, tạo môi trường văn hóa, khơng gian văn hóa phù hợp để đồng bào các dân
tộc thường xuyên được giao lưu, trình diễn văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
trong các dịp như Ngày hội, giao lưu, liên hoan hay giao lưu văn hóa trong từng cộng
đồng hoặc giữa các cộng đồng dân tộc với nhau... Tiếp tục đổi mới hệ thống chính sách
về văn hóa dân tộc theo hướng cơ bản, đồng bộ, lâu dài. Trong điều kiện hiện nay, cần
ban hành các chính sách cụ thể tập trung vào lĩnh vực bảo tồn các giá trị văn hóa truyền
thống dân tộc, ngôn ngữ dân tộc, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc.
Thứ hai, tăng cường, nâng cao hiệu quả chỉ đạo và tổ chức thực hiện của bộ,
ban, ngành, địa phương, các đoàn thể, nhân dân, các tổ chức, cá nhân đối với công tác
bảo vệ và phát huy văn hóa truyền thống các DTTS.
Thứ ba, tiếp tục tăng cường các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ vùng
sâu, vùng xa, biên giới, vùng DTTS. Hỗ trợ đưa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật cấp
Trung ương và tỉnh phục vụ đồng bào dân tộc ở các xã, bản ở vùng sâu, vùng xa, ưu
tiên các xã, bản sát biên giới, vùng đặc biệt khó khăn; Có các hình thức khen thưởng,
động viên, hỗ trợ cho các nghệ nhân, người có uy tín trong cộng đồng tham gia với vai
trò đầu tàu trong các câu lạc bộ, truyền dạy văn hóa nghệ thuật dân tộc hoặc sáng tạo
các giá trị văn hóa nghệ thuật mới phục vụ nhân dân các dân tộc trên địa bàn.
12
Thứ tư, cân đối, bố trí ngân sách để triển khai thực hiện cơng tác bảo tồn văn
hóa truyền thống tốt đẹp các DTTS; Lồng ghép chương trình, dự án, đề án của Trung
ương và các địa phương để tăng cường nguồn lực đầu tư thực hiện các Chương trình,
đề án, dự án nghiên cứu, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa..; khuyến khích các
chương trình, dự án gìn giữ ngơn ngữ, trang phục, lễ hội… của DTTS đặc biệt đối với
các DTTSRIN. Kết nối hạ tầng công nghệ, liên thông và chia sẻ giải pháp công nghệ,
tài ngun thơng tin đã số hóa để tránh chồng chéo, lãng phí trong đầu tư; Đẩy mạnh
thực hiện xã hội hóa, khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp, các tổ chức phi chính phủ đầu tư cho cơng tác bảo tồn, phát huy văn hóa truyền
thống tốt đẹp của các DTTS.
Thứ năm, những kết quả nói trên có ảnh hưởng tích cực đến đời sống nhân dân
trong vùng đồng bào DTTS ở Việt Nam, tạo điều kiện phát triển KTXH giúp cho bà
con người DTTS yên tâm sinh sống, học tập, làm việc cũng như bảo tồn, gìn giữ và
phát huy bản sắc văn hố độc đáo của dân tộc mình. Điều này chứng tỏ chính sách bảo
đảm quyền văn hố của người DTTS của Đảng và Nhà nước đã và đang đi vào cuộc
sống, tạo sự chuyển biến quan trọng trong đời sống sinh hoạt, góp phần vào sự ổn định
và phát triển của đất nước.
2.2. Vai trị của thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số
Trên diễn đàn quốc tế, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của
Cơng ước UNESCO 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Cơng ước
UNESCO 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Công ước UNESCO 2005 về bảo
vệ và phát huy sự đa dạng các biểu đạt văn hóa. Đến nay, Việt Nam được UNESCO
công nhận 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 13 di sản văn hóa phi vật thể
(Khơng gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Ninh
(2009), Hát Ca trù (2009); Hát Xoan Phú Thọ (2011), Kéo co (2015), Nghệ thuật Bài
chòi Trung Bộ Việt Nam (2017), Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái (2019)…
13
Giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số có vị trí quan trọng
trong đời sống văn hóa của đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập, hướng tới xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhìn chung, đời sống của người dân cịn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cũng cao nhất
cả nước, trình độ dân trí thấp. Bên cạnh đó, các điều kiện về kinh tế - xã hội, hạ tầng
giao thông, trường học, bệnh viện cũng còn thấp hơn so với các vùng, miền khác.Hiện
tượng truyền đạo trái phép, sự xuất hiện một số “đạo lạ”, lôi kéo một bộ phận đồng bào
dân tộc đi theo, với những đức tin mới, đã làm mai một những giá trị văn hóa truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Mặt khác, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa vùng dân tộc
thiểu số chưa đáp ứng yêu cầu. Những yếu tố trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến công
tác bảo tồn, phát huy các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc.
Xuất phát từ thực trạng đó địi hỏi phải có những giải pháp để gìn giữ, bảo tồn
và phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
trong thời gian tới. Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao vai trò của các
thiết chế văn hóa ở cơ sở.
Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất,
bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngơi nhà hoặc
cơng trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa. Thiết chế văn hóa ở cơ sở có
vai trị đặc biệt quan trọng đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín
ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở bao gồm nhà văn hóa, trung tâm văn hóa,... là
nơi đáp ứng được nhu cầu trao đổi, giao lưu, hưởng thụ, gìn giữ và sáng tạo các giá trị
văn hóa của đồng bào dân tộc. Nhiều giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số ở
miền núi phía Bắc chứa đựng trong các điệu múa đặc sắc như múa khèn, múa sạp, hát
then, hát lượn,... và trong nhiều lễ hội truyền thống độc đáo như lễ hội Lồng Tồng, lễ
hội Gầu Tào, lễ hội xuống đồng, lễ hội xịe...; hay trong các tín ngưỡng thờ phụng
truyền thống như tín ngưỡng vịng đời; tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; thờ thần nông
14
nghiệp, thờ đá, thờ cây,... cũng như trong nhiều trò chơi dân gian được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác,...
Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở là địa điểm chủ yếu để tổ chức các hoạt động
tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương; giáo dục đồng bào
dân tộc nâng cao ý thức cảnh giác và đấu tranh với những luận điệu sai trái, chống phá
cách mạng, chống phá Đảng và Nhà nước và âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế
lực thù địch. Chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến được với
đông đảo đồng bào dân tộc là nhờ các hoạt động ở hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở.
Nhờ đó, đồng bào dân tộc được nâng cao ý thức giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ biên
cương ; tạo cơ sở tiền đề quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại nơi đây. Với hệ thống thiết chế văn hóa
cơ sở được tăng cường, đời sống tinh thần và ý thức chính trị của đồng bào được nâng
lên đáng kể, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa. Do đó, giảm thiểu tệ nạn xã hội, vi phạm
giao thơng, các hủ tục, mê tín...
Hệ thống thiết chế văn hóa là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với
phong tục, lối sống, nhất là tập quán, tín ngưỡng, đang phát huy vai trò quan trọng
nhằm bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc.
Các thiết chế văn hóa cơ sở được tăng cường, với đội ngũ cán bộ chuyên trách
có năng lực, tổ chức các hoạt động văn hóa một cách sáng tạo, hiệu quả; góp phần quan
trọng trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc.
Tiểu kết:
Từ những lý luận thực tiễn ở Chương I qua chương II em đã nêu lên vai trò của
thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng của
đồng bào dân tộc thiểu số từ đó giúp bạn đọc hiểu rõ được nội dung chính sách cũng
như định hướng, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về đời sống văn hóa của nhân
dân đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đây làm tiền đề để đưa ra một số giải pháp nhằm
15
nâng cao hiệu quả Thiết chế văn hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa,
tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Chương III.
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THIẾT CHẾ
VĂN HÓA TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HĨA,
TÍN NGƯỠNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Các thiết chế văn hóa cơ sở được tăng cường, với đội ngũ cán bộ chuyên trách
có năng lực, tổ chức các hoạt động văn hóa một cách sáng tạo, hiệu quả; góp phần quan
trọng trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc.
Để phát huy hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở các tỉnh miền núi phía
Bắc cần tiến hành đồng bộ các biện pháp sau:
3.1. Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở
Yếu tố cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở bao gồm
nhà văn hóa - khu thể thao ở thôn, bản; trung tâm văn hóa - thể thao ở xã, phường, thị
trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh.
Đến nay, cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa ở các tỉnh miền múi
phía Bắc, phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc đã được tăng
cường, tuy vậy so với yêu cầu thự tế còn thiếu và lạc hậu, hoạt động cịn nhiều hạn chế,
khơng thường xun và sơ sài, cịn chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa giữa thành
thị và nơng thơn cịn khá lớn. Điều này đã ảnh hưởng khơng nhỏ đến việc gìn giữ các
giá trị văn hóa dân tộc trên địa bàn, nhất là những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống
của đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa.
Do đó, việc tăng cường xây dựng và phát triển cơ sở vật chất hệ thống thiết chế
văn hóa cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc là cần thiết, cấp bách:
16
Thực hiện xã hội hóa đầu tư nhằm huy động mọi nguồn lực để phát triển hạ
tầng ngành văn hóa cơ sở ở các tỉnh miền núi phía Bắc, cụ thể là tổ chức các cuộc vận
động, đóng góp của nhân dân và các tổ chức, doanh nghiệp cho việc xây dựng các nhà
văn hóa, trung tâm văn hóa, nhà triển lãm, viện bảo tàng... Khuyến khích các tổ chức,
doanh nghiệp, thực hiện tốt cơ chế “Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm huy động
nguồn lực, dành quỹ đầu tư, xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, tích cực đóng góp xây
dựng hạ tầng văn hóa cộng đồng.
Vận động, khuyến khích các doanh nghiệp đóng góp, đầu tư vào các lĩnh vực
vui chơi giải trí, xây dựng các cơng trình văn hóa, tổ chức các sự kiện văn hóa và bảo
tồn các di sản văn hoá. Mặc dù những năm qua, Nhà nước đầu tư lớn, nhưng nguồn
kinh phí đó chỉ đáp ứng một phần và cũng chỉ tập trung vào những cơng trình văn hóa
trọng điểm ở Trung ương, ở cơ sở thì chỉ ở trung tâm xã. Việc tơn tạo, xây dựng các
cơng trình văn hóa như nhà văn hóa thơn, xóm thì hầu hết kinh phí là sự đóng góp cơng
sức của người dân địa phương.
Chính sách xã hội hóa văn hóa sẽ góp phần quan trọng trong việc tăng cường
vai trị trách nhiệm văn hóa của cá nhân và cộng động vào việc củng cố, xây dựng và
phát triển hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
Xây dựng các mơ hình hoạt động như câu lạc bộ gia đình văn hóa; các câu lạc
bộ trong thanh niên, phụ nữ, nơng dân... gắn kết với các nhà văn hóa nhằm khai thác
tối đa hiệu quả xã hội mà các thiết chế văn hóa mang lại.
Sửa chữa, tu tạo và xây mới cơ sở vật chất tại các thôn, bản, xã, thị trấn, nhằm
đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, giao lưu văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời
nhằm gìn giữ các giá trị văn hóa của đồng bào dựa trên tinh thần bảo tồn những nét
hay, nét đẹp truyền thống; khuyến khích đồng bào giới thiệu cái hay, cái đẹp của dân
tộc mình ra bên ngồi; từ đó giúp họ ý thức sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa của dân tộc
mình. Những giá trị văn hóa của tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc như: lễ hội Lồng Tồng, lễ cúng rượu, lễ cúng cốm (dân tộc
17
Tày); lễ cấp sắc (dân tộc Dao, Tày, Cao Lan, Sán Dìu...);tín ngưỡng vịng đời (dân tộc
Thái, Mường, Mơng); tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp,... cần được lưu truyền trong
cộng đồng các dân tộc để các thế hệ tiếp nối nhau hiểu, tự hào và có ý thức gìn giữ bản
sắc của dân tộc mình. Có như vậy, các giá trị văn hóa tín ngưỡng của đồng bào dân tộc
mới được bảo tồn và phát huy giá trị.
Chú trọng quan tâm đến công tác quy hoạch và đầu tư phát triển hệ thống thiết
chế văn hóa - thể thao cơ sở. Quy hoạch hợp lý quỹ đất phục vụ phong trào văn hóa,
thể dục - thể thao ở các xã. Xây dựng thiết chế văn hóa, thơng tin, thể thao bảo đảm
phục vụ hoạt động ở các xã miền núi. Duy trì ổn định và từng bước phát triển hoạt
động thể dục, thể thao miền núi; các môn thể thao dân tộc như bắn nỏ, kéo co, đẩy gậy,
đi cà kheo và một số trò chơi dân gian cần được tổ chức thường xuyên từ tỉnh, huyện
đến các xã, các xóm, bản.
Nâng cấp, tu sửa và xây dựng hệ thống trường lớp cho con em của đồng bào
dân tộc thiểu số; hỗ trợ học phí, sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh các bậc học
thuộc diện hộ nghèo, vùng đặc biệt khó khăn; duy trì dạy học tiếng nói và chữ viết dân
tộc.
Ngành văn hóa cần chú trọng hơn nữa việc thực hiện chủ trương đưa văn hóa
thơng tin về cơ sở nhằm khai thác tối đa tần suất hoạt động của các nhà văn hóa. Từng
bước cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa đã được đầu
tư; tổ chức liên hoan, hội diễn, ngày hội văn hóa... để bảo lưu và phát triển các di sản
văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc như các làn điệu dân ca, dân vũ: hát xoan
(Phú Thọ); hát Then, hát Cọi, hát Lượn (dân tộc Tày); hát Páo dung (dân tộc Dao); hát
Sình ca (dân tộc Cao Lan); hát Soọng cơ (dân tộc Sán Dìu)...
Nâng cao chất lượng phong trào văn nghệ quần chúng tại các nhà văn hóa,
trung tâm văn hóa... gắn với việc khai thác các chất liệu văn hóa dân gian truyền thống,
tạo điều kiện để tổ chức các hoạt động văn hóa trên địa bàn mang đậm bản sắc dân tộc.
Các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật; liên hoan nghệ thuật quần chúng các dân tộc
18