Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

TIỂU LUẬN - ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (170.38 KB, 21 trang )

TRƯỜNG…
KHOA …


TIỂU LUẬN
Chủ đề: ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ tên học viên:…………………….
Lớp:…………….,
Vị trí cơng tác:………………………..
Đơn vị cơng tác:……………...............

Hà Nội – 2020


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I.
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Hệ thống chính trị
1.1.
1.2.

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ

II.



THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1.
2.2.

1
3
3
3
4

8

Đặc trưng hệ thống chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay
Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị nước ta

8

hiện nay

12

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

18
19



MỞ ĐẦU
Gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân
dân ta đã làm nên những kỳ tích lịch sử vĩ đại, tiến hành cách mạng tháng tám
thành công lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở đông nam châu á, đánh thắng
hai đế quốc sừng sỏ là đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ giành lại non sông thống
nhất tổ quốc đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ một nước thuộc địa nữa
phong kiến, Việt Nam đã vươn lên đứng trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong
của thời đại đấu trnh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, và giải phóng nhân loại.
Sự nghiệp đổi mới đất nước, chúng ta đang thực hiện nhất quán và lâu dài
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là một giai đoạn phát
triển mới của cách mạng Việt Nam, đồng thời là một thử nghiệm mới về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội chưa có tiền lệ trong lịch sử. Sự thành công của
thử nghiệm ấy sẽ đưa dân tộc ta, một dân tộc đã từng đi tiên phong trong phong
trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX, tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong sự nghiệp
vĩ đại ấy, một vấn đề cơ bản giữ vai trò quyết định là phải thường xuyên xây
dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thật sự trong sạch vững mạnh.
Sau hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn,
một trong những thành tựu nổi bật đó là chúng ta không ngừng xây dựng cũng
cố, đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, đây không
chỉ là điều kiện, tiền đề cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao
động trên mọi lĩnh vực, tác động ảnh hưởng tích cực đến công cuộc đổi mới
kinh tế - xã hội của đất nước, mà còn là nền tảng đảm bảo cho nước ta thực hiện
thắng lợi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hệ thống chính trị ở nước ta cũng đã
bộc lộ những yếu kém bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực

hiện và vận động quần chúng. Đảng ta nêu rõ: “Tổ chức bộ máy của hệ thống
3


chính trị, nhất là bộ máy hành chính nhà nước, có quá nhiều đầu mối, trách
nhiệm tập thể và cá nhân không rõ ràng, chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp
…” [1, tr.35]. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó, để đáp ứng được với u cầu
tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, cần phải đổi mới và nâng
cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Đó là lý do mà em chọn đề tài
“Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận.

4


NỘI DUNG
I. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1. Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị (HTCT) là một thuật ngữ mới xuất hiện trong những
năm 70 của thế kỷ XX ở Liên Xô (trước đây); hiện nay được dùng nhiều ở nước
ta và trên thế giới. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các trước
tác của mình chưa dùng thuật ngữ này. Khi phân tích thiết chế quyền lực của
chủ nghĩa tư bản, C.Mác và Ph.Ăng ghen thường sử dụng khái niệm "Hệ thống
hành chính quan liêu"; "Hệ thống hành chính cai trị"; cịn quan niệm của các
ông gần với quan niệm HTCT mà chúng ta dùng hiệu nay là khái niệm "Hình
thức chính trị" "hình thức dân chủ", "hình thức chun chính", "cơ cấu nhà
nước" "cơ cấu chính quyền" "kết cấu chính trị của xã hội"...
Như vậy, HTCT là một khái niệm hiện đại. "Bách khoa từ điển Xô viết"
định nghĩa HTCT: "là một hệ thống các nhân tố bao gồm Nhà nước, các đảng

phái, cơng đồn, các tổ chức tơn giáo, các tổ chức và phong trào theo đuổi
những mục đích chính trị, các chuẩn mực và truyền thống" [6, tr.278].
Trong cuốn "Tìm hiểu một số khái niệm trong dự thảo cương lĩnh" khái
quát: HTCT là hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội và các mối
quan hệ giữa chúng với nhau, hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội,
cơ chế đó đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị
trong quan hệ với các giai cấp, tầng lớp và nhóm xã hội khác. Sách giáo khoa
Chủ nghĩa xã hội khoa học, chương trình cao cấp, Học viện chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh nêu: "Hệ thống chính trị là một phạm trù dùng để chỉ một chỉnh
thể các đảng phái, các đồn thể, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại trong
khuôn khổ pháp luật, với một nhà nước thuộc giai cấp cầm quyền để tác động
vào các quá trình xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội đó". Qua đó có thể
thấy, HTCT gồm hai yếu tố. Một là, hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội như
các đảng phái chính trị, Nhà nước, các đồn thể chính trị - xã hội khác theo đuổi
mục đích chính trị và được pháp luật thừa nhận. Hai là, các thiết chế, cơ chế
5


quy định các mối quan hệ giữa các tổ chức hợp thành HTCT phù hợp với vị trí,
chức năng của nó và của cả HTCT với tính cách là hệ thống quyền lực xã hội.
Xem xét dưới góc độ vật chất và tinh thần thì HTCT bao gồm hai mặt: mặt
tổ chức chính trị và mặt tư tưởng chính trị. Về tổ chức chính trị: Trước hết, đó là
Nhà nước, đây là công cụ quyền lực tập trung của giai cấp cầm quyền. Quyền
lực chính trị của giai cấp và quyền lực xã hội được biểu hiện dưới hình thức
quyền lực Nhà nước. Thứ hai, là các tổ chức chính trị - xã hội: các đảng chính
trị, các đồn thể chính trị - xã hội hoạt động hợp pháp. Trong đó đảng cầm
quyền là lực lượng chính trị có vai trị chủ đạo, quyết định và chi phối tới các
chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước đó. Tuy nhiên HTCT không phải là
sự cộng lại giản đơn các tổ chức chính trị - xã hội, mà nó là một chỉnh thể thống
nhất, một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ, thể hiện quyền lực của một chế độ

xã hội, một quốc gia. Cho nên, bên cạnh mỗi tổ chức chính trị - xã hội có chức
năng, phương thức tổ chức và hoạt động riêng, thì tồn bộ hệ thống phải xác lập
được những thiết chế, cơ chế giải quyết mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành
HTCT và của cả HTCT với toàn xã hội, bảo đảm cho HTCT vận hành thơng
suốt, nhịp nhàng và có hiệu quả. Về tư tưởng chính trị: Đó là các quan điểm tư
tưởng, chính trị, chuẩn mực chính trị, truyền thống chính trị, các động lực tinh
thần thúc đẩy ý thức và hoạt động chính trị của các tầng lớp xã hội. Trong đó,
đường lối, quan điểm chính trị của đảng cầm quyền giữ vai trị định hướng
chính trị và chi phối đời sống chính trị của xã hội.
1.2. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một hệ thống các tổ chức chính trị xã hội cùng với những thể chế bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân lao
động do chính đảng của giai cấp cơng nhân lãnh đạo. Về cấu trúc: Hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa bao gồm Đảng Mác - Lênin Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, các tổ chức chính trị - xã hội nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản.
6


Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được hình thành và hồn thiện trong
q trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cơ sở kinh tế của nó là chế độ kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Chế độ kinh tế này trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế nhiều
thành phần đa dạng về hình thức sở hữu, trong đó thành phần kinh tế xã hội chủ
nghĩa giữ vai trò chủ đạo, dần dần tiến tới xác lập chế độ công hữu về các tư
liệu sản xuất chủ yếu. Cơ sở xã hội - giai cấp của hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa (XHCN) là khối liên minh bền vững giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác dưới sự lãnh
đạo của Đảng của giai cấp cơng nhân.
Về bản chất, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là HTCT nhất nguyên thể
hiện ở vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với xã hội chủ nghĩa và toàn xã
hội; Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân,

dân chủ với đại đa số nhân dân, chuyên chính với các hành động vi phạm lợi ích
của nhân dân và dân tộc. Các đồn thể chính trị xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đại biểu
cho ý chí, lợi ích của các tầng lớp nhân dan, phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể thống nhất về mục
đích, tư tưởng chính trị và tổ chức theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa khác hẳn về bản chất so với HTCT tư sản và ở
tính khơng đối kháng của nó. Dĩ nhiên, trong q trình hoạt động, các thành tố
cấu thành hệ thống có vị trí, chức năng, phương thức tổ chức và hoạt động
riêng; hoặc trong mối quan hệ giữa các thành tố có thể nảy sinh mâu thuẫn
(khơng đối kháng) nào đó; hoặc vận hành thiếu đồng bộ, nhịp nhàng,... cần sớm
phát hiện điều chỉnh.
Thực chất hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là hệ thống chun chính vơ
sản; là thiết chế, cơ chế chính trị thể hiện và bảo đảm vai trị lãnh đạo của giai
cấp cơng nhân, quyền lực chính trị thuộc về nhân dân, lãnh đạo và tổ chức cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Do đó, có thể nói, xét về bản chất, HTCT
7


trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội và trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã được thiết lập về căn bản,
đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mang bản chất giai cấp công
nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong mỗi
giai đoạn cách mạng có mục tiêu nhiệm vụ cụ thể nên HTCT cũng có nhiệm vụ,
chức năng phù hợp tương ứng với điều kiện, đặc điểm lịch sử từng thời kỳ; thể
hiện biện chứng giữa tính liên tục và tính giai đoạn trong q trình phát triển
của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
Khi nghiên cứu hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nói chung, cũng cần
lưu ý một số trường hợp ở một số nước xã hội chủ nghĩa nào đó, trong HTCT

cũng bao gồm một số chính đảng khơng phải là Đảng Cộng sản, đại biểu cho
một tầng lớp nào đó, chấp nhận cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản không tranh giành quyền lãnh đạo với Đảng Cộng sản.
Tình hình đó là do xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể, trong cuộc cách mạng
dân tộc, dân chủ nhân dân, Đảng Cộng sản nắm ngọn cờ lãnh đạo, sau khi cách
mạng thành công thực hiện sự chuyển biến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ở
đây, chế độ đa đảng, song không phải đa đảng đối lập, khơng phải là đa ngun
chính trị.
Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, theo các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, ở đó là một thời kỳ “quá độ về chính
trị”. Thật vậy, trong tác phẩm phê phán cương lĩnh Gôta C.Mác chỉ rõ rằng:
“Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa thời kỳ ấy là một
thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy khơng thể là cái gì khác hơn
là nền chun chính cách mạng của giai cấp vô sản” [5, tr.267]. Cái xã hội mà
C.Mác nói ở đây khơng phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên
cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa “thoát thai”
từ xã hội tư bản chủ nghĩa. Do đó là một xã hội về mọi phương diện kinh tế, đạo
đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra.
Trong tập bút ký về “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Nhà nước”, bên cạnh câu trích
8


dẫn trên V.I.Lênin ghi chú; Vậy là: I.“Những cơn đau đẻ kéo dài”; II.“Giai
đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa”; III.“Giai đoạn cao của xã hội cộng
sản chủ nghĩa” [4, tr.478].
Như vậy, C.Mác và V.I.Lênin đều nhận thức rằng từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa cộng sản gồm một thời kỳ quá độ, một giai đoạn đầu mà ngày nay gọi
là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản đã đứng vững trên cơ
sở của chính nó. V.I.Lênin cịn cho rằng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn
bao gồm nhiều giai đoạn quá độ nhỏ, mà năm 1918 nước Nga mới ở giai đoạn

đầu của thời kỳ quá độ và nước Nga còn phải trải qua nhiều giai đoạn quá độ
nữa mới tiến bộ tới chủ nghĩa xã hội cũng khơng biết trước được, vì điều đó cịn
tùy thuộc vào cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu thực sự bắt đầu trên quy
mô lớn và thắng lợi dễ dàng hay chậm chạp. Chính vì thế, nhiệm vụ khó khăn
nhất trong những giai đoạn quá độ và chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống xã
hội là phải tính tới đặc điểm của bất kỳ một bước quá độ nào. Thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội lâu dài và khó khăn nhiều hay ít cịn tùy thuộc vào điểm
xuất phát, tại đó địa vị thống trị thuộc về chế độ “tiểu chiếm hữu ruộng đất” hay
thuộc về chế độ “đại chiếm hữu ruộng đất”, thuộc về chế độ canh tác quy mô
nhỏ hay, thuộc về chế độ canh tác quy mơ lớn. Sở dĩ có tính chất lâu dài và khó
khăn đó là vì: Một là, nhiệm vụ quan trọng nhất của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là phải tạo ra một năng suất lao động cao, vì xét đến cùng năng
suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã
hội mới, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới
chế độ nơng nơ, nhờ đó mà đánh bại chủ nghĩa phong kiến, chủ nghĩa tư bản
cũng sẽ bị đánh bại chừng nào chủ nghĩa xã hội tạo ra được một năng suất lao
động cao hơn nhiều. Hai là, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là xóa bỏ chế độ
người bóc lột người. Nhưng khơng thể đánh bại tức khắc giai cấp bóc lột bằng
bạo lực, khơng phải ngay lập tức tước quyền sở hữu của giai cấp địa chủ và giai
cấp tư sản.
9


Như vậy, quan điểm các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đều
thống nhất về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ
mà giai cấp vơ sản đã lên nắm chính quyền nhưng trong xã hội vẫn còn tồn tại
đan xen giữa các yếu tố tư bản chủ nghĩa và yếu tố xã hội chủ nghĩa trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội và đó là thời kỳ “quá độ về chính trị”.
II. ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CHÍNH
TRỊ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY
2.1. Đặc trưng hệ thống chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Cấu trúc - chức năng hệ thống chính trị nước ta hiện nay
Ở nước ta hiện nay, HTCT bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước
cộng hoà XHCN Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đồn thể chính
trị - xã hội và một số hội mang tính chính trị, hoạt động thống nhất dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chức năng chung của HTCT nước ta là xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền Dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Trên cơ sở chức
năng chung và căn cứ vào vị trí, vai trị của nó mà mỗi thành tố cấu thành
HTCT lại có chức năng, nhiệm vụ riêng.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động và của cả
dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo HTCT
và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời Đảng Cộng sản Việt Nam là thành
viên của HTCT, vừa là người lãnh đạo, vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân,
hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột của HTCT, tổ
chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, có đủ quyền lực và
10


khả năng định ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng
pháp luật.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân
dân và cá nhân tiêu biểu... là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; Mặt trận
hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành
động giữa các thành viên theo chương trình chung.

Các đồn thể nhân dân vận động đồn viên, hội viên giúp nhau chăm lo,
bảo vệ các lợi ích thiết thực; vừa giáo dục nâng cao trình độ mọi mặt cho đoàn
viên, hội viên; vừa tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
2.1.2. Một số đặc trưng của hệ thống chính trị nước ta hiện nay
* Đặc trưng thứ nhất là tính nhất nguyên chính trị
HTCT nước ta khơng có sự tồn tại của các Đảng chính trị đối lập. Đảng
Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo HTCT. Đây là vấn đề có tính nguyên
tắc, bảo đảm cho sự tồn tại và vững mạnh của HTCT, bảo chất giai cấp công
nhân của Nhà nước, thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
quyền lực thuộc về nhân dân.
Cơ sở lý luận của nó trước hết xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân là lực lượng xã hội xoá bỏ chế độ xã hội cũ, sáng tạo xã hội mới.
Giai cấp cơng nhân muốn hồn thành sứ mệnh lịch sử của mình tất yếu phải có
sự lãnh đạo của Đảng Mác - Lênin. Nói cách khác, Đảng Mác-Lênin là nhân tố
quyết định sự thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp cơng nhân. Do đó giữ
vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với HTCT và toàn xã hội là
điều kiện tiên quyết bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Thứ hai, xuất phát từ bản chất chính trị của Nhà nước, Nhà nước bao giờ
cũng mang bản chất của giai cấp tạo nên nó; đối với Nhà nước ta, đó là nhà
nước mang bản chất của giai cấp công nhân, là công cụ bạo lực sắc bén và tổ
chức duy trì, quản lý xã hội về mọi mặt. Vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản
của mọi cuộc cách mạng, do đó Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải được giữ vững
và tăng cường, trong sạch và vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối
11


với HTCT và Nhà nước là bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự mang bản chất giai
cấp công nhân, là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hiện dân chủ với nhân
dân, chuyên chính với những hành động xâm phạm lợi ích của nhân dân và lợi
ích dân tộc. Đồng thời sự lãnh đạo đó định hướng cho các hoạt động của Nhà

nước đúng đắn, khắc phục những khuyết tật nảy sinh của bộ máy và công chức
Nhà nước. Thứ ba, từ bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền
làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực xã hội; HTCT là thiết
chế, cơ chế bảo đảm thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm dân chủ của
mình. Tuy nhiên quyền dân chủ của nhân dân chỉ được thực hiện và phát huy
cao độ, có hiệu quả tích cực khi có định hướng chính trị đúng đắn, dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản, khắc phục những nhận thức và hành vi sai trái về dân
chủ như: dân chủ tư sản, dân chủ tự phát, cực đoan, vơ chính phủ, coi thường kỷ
cương, sự thờ ơ chính trị... Thứ tư, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với
HTCT và xã hội không phải là áp đặt, mà là sứ mệnh lịch sử giao phó cho Đảng
cộng sản Việt Nam; đồng thời, Đảng ta xứng đáng với sứ mệnh cao cả đó và sự
tin cậy của nhân dân ta đối với Đảng. Hơn nửa thế kỷ qua, Đảng ta là lực lượng
duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Có được vai trị đó là do Đảng cộng sản
Việt Nam - Tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, đội tiên phong
chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bao gồm những người
ưu tú giác ngộ nhất của giai cấp cơng nhân và nhân dân lao động, có mục đích
cao cả vì sự nghiêp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con
người. Mục đích đó phù hợp với xu thế khách quan của lịch sử và thời đại. Hơn
nữa Đảng cộng sản Việt Nam được trang bị chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, kế thừa giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa nhân loại, có khả
năng nắm bắt quy luật khách quan và vận dụng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử
của nước ta, do đó đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác [7, tr.178].
* Đặc trưng thứ hai là hệ thống chính trị mang tính định hướng xã hội
chủ nghĩa
12


HTCT nước ta ra đời gắn liền với chế độ xã hội mới sau cách mạng tháng 8
năm 1945. Trong hai cuộc kháng chiến, HTCT nước ta đã lãnh đạo, tổ chức

nhân dân ta hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa
nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
HTCT nước ta hiện nay là sự tiếp tục phát triển của HTCT trong cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân; về bản chất HTCT dân tộc dân chủ nhân dân và
HTCT trong giai đoạn hiện nay có sự đồng nhất về bản chất, đều do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo, thống nhất về mục tiêu cơ bản vì độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; thống nhất cơ sở xã hội - giai cấp, đó là khối liên minh cơng nơng
trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.
Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ, giai đoạn cách mạng, chức năng, nhiệm vụ
của HTCT nói chung và của mỗi thành tố cấu thành hệ thống về tổ chức, nội
dung và phương thức hoạt động, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của nó có những
biến đổi nhất định cho phù hợp với yêu cầu của tình hình xã hội đặt ra. Bởi vậy
khơng thể chia cắt hình thức hoặc tách rời tính kế thừa, tính liên tục của HTCT
nước ta qua các thời kỳ, đồng thời cũng tránh khuynh hướng đồng nhất, khơng
thấy tính giai đoạn của nó, đặt nó trong trạng thái bất biến.
Đặc trưng thứ ba là hệ thống chính trị mà mọi quyền lực thuộc về nhân
dân và do nhân dân, có tính nhân dân rộng rãi
Trong xã hội ta, nhân dân là chủ thể và nguồn gốc của mọi quyền lực.
Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thơng qua HTCT, qua các hình thức
dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Đảng, Nhà nước, các đồn thể chính trị xã hội đều là những tổ chức đại biểu cho lợi ích và quyền lực của nhân dân, có
vai trị lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, hướng dẫn nhân dân, lôi cuốn nhân dân thực
hiện quyền làm chủ, dân chủ của mình trên các lĩnh vực xã hội với hiệu quả
ngày càng cao; đồng thời ngăn chặn những hành động làm tổn hại đến quyền
làm chủ đó. Bởi vậy tồn bộ tổ chức và hoạt động HTCT nước ta trong giai
đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nên dân chủ xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; và Mục tiêu chủ yếu của đổi mới
13


HTCT là nhằm thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ

của nhân dân.
* Đặc trưng thứ tư của hệ thống chính trị nước ta là tính dân tộc sâu
sắc
HTCT nước ta ra đời là sản phẩm của quá trình đấu tranh cách mạng của
dân tộc ta nhằm giành nền độc lập dân tộc. Ngay từ khi mới ra đời (sau cách
mạng tháng 8 năm 1945), HTCT mới lại trực tiếp lãnh đạo, tổ chức đồng bào
các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam bao gồm các giai tầng xã hội,
các đảng phái, tôn giáo, nghề nghiệp, lứa tuổi, nam nữ... ở trong nước và ngoài
nước, tiến hành kháng chiến chống Pháp và Mỹ, giải phóng dân tộc và thống
nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn cách mạng mới, thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện
đại hoá hiện nay, các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc trong nước và
nước ngoài, đoàn kết trong HTCT, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng, nêu cao truyền thống yêu nước và
lòng tự hào dân tộc, đòng tâm hiệp lực xây dựng và bảo vệ HTCT của mình,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng dân chủ văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội [2, tr.67].
2.2. Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị nước ta hiện nay
2.2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở nước ta hiện nay
* Cơ sở lý luận
Để xây dựng và đổi mới HTCT ở nước ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về chính trị và HTCT. Chủ nghĩa Mác - Lênin coi đấu tranh
giai cấp là một động lực cơ bản của lịch sử. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp
công nhân là khách quan và tất yếu dẫn đến chun chính vơ sản. Trong thư gửi
Vay đơ maye 1852 Mác viết: "... cái mới của tôi chứng minh: 1. Sự tồn tại của
giai cấp chỉ gắn liền với những điều kiện phát triển lịch sử nhất định của sản
14



xuất; 2. Cuộc đấu tranh giai cấp (của giai cấp vơ sản) tất nhiên dẫn đến chun
chính vơ sản; 3. Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ
tiêu tất cả mọi giai cấp và tiến tới một xã hội không giai cấp" [3, tr.245].
Theo C.Mác, nhân tố quyết định tới sự phát triển lịch sử, xét đến cùng, là sự
phát triển kinh tế - xã hội. Đấu tranh giai cấp cũng bắt nguồn trước hết từ những
mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, mà điều đó lại là hệ quả của sự phát triển kinh tế xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Quan điểm tuyệt đối hoá đấu tranh giai
cấp, coi đó là động lực duy nhất của sự phát triển lịch sử là không đầy đủ và
phiến diện. Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp đối kháng, đấu tranh giai cấp là tất
yếu khách quan và nó là một động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Nội dung cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp cơng nhân bao gồm đấu
tranh chính trị, đấu tranh kinh tế và đấu tranh tư tưởng - lý luận diễn ra gay go,
quyết liệt, phức tạp, lâu dài ngay cả sau khi giai cấp cơng nhân giành được
chính quyền. Hình thức đấu tranh giai cấp cũng rất đa dạng: bạo lực, hồ bình,
chính trị, kinh tế, tư tưởng, ... bí mật, cơng khai, hồ hỗn, liên minh, đổ máu,
khơng đổ máu, thuyết phục, cưỡng chế... Cuộc đấu tranh này đặt ra yêu cầu
khách quan đối với các giai cấp công nhân phải tổ chức nên HTCT trong sạch,
vững mạnh, đủ sức làm trịn sứ mệnh lịch sử của mình.
Có thể nói, những luận điểm trên là cơ sở lý luận cơ bản nhất của quá trình
xây dựng và đổi mới HTCT của chúng ta hiện nay.
* Cơ sở thực tiễn của đổi mới hệ thống chính trị xuất phát từ
Thực tiễn quá trình xây dựng HTCT nước ta từ khi thành lập đến nay trải
qua các giai đoạn thời kỳ cách mạng, nhất là trong mười năm đổi mới từ Đại hội
VI (1986) đến nay. Từ kinh nghiệm dựng nước và giữ nước, truyền thống chính
trị, tổ chức bộ máy và các thiết chế chính trị của dân tộc ta được thiết lập và tồn
tại lâu dài trong lịch sử. Những kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong tổ
chức bộ máy Nhà nước, xây dựng Nhà nước Pháp quyền, các cơ chế, thiết chế
dân chủ. Những bài học thành công và không thành công về xây dựng đổi mới
HTCT của một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây (nhất là của Liên Xô và các
15



nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, trước đây) trong quá trình cải tổ, cải cách.
Xuất phát từ những kết quả trong quá trình đổi mới HTCT thời gian qua và thực
trạng những ưu điểm và hạn chế của HTCT nước ta hiện nay.
2.2.2. Một số quan điểm cơ bản về đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta
hiện nay
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với hệ thống
chính trị và tồn xã hội; Mở rộng và phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền
lực thuộc về nhân dân; Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hoà XHCN Việt
Nam trong sạch vững mạnh; Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
các đồn thể chính trị - xã hội; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và các
hình thức tập hợp quần chúng; Giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế văn
hoá xã hội; làm lành mạnh các quan hệ xã hội; Thường xuyên nắm chắc tình
hình trong nước và thế giới, đề cao cảnh giác, kịp thời phát hiện những vấn đề
nảy sinh, xử lý đúng đắn, không để xảy ra những hậu quả xã hội tiêu cực.
2.2.3. Nội dung và giải pháp chính đổi mới nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở nước ta hiện nay
a) Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo HTCT bằng cương lĩnh, chiến lược, các
định hướng về chính sách, chủ trương cơng tác; nắm vững tổ chức và cán bộ;
Đảng lãnh đạo HTCT thông qua tổ chức Đảng và đảng viên trong các tổ chức,
lãnh đạo bằng các quyết định của tập thể, bằng tuyên truyền, vận động, tổ chức
kiểm tra, khuyến khích, uốn nắn, bằng hành động gương mẫu của đảng viên.
Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong HTCT. Đối với Nhà
nước, Đảng lãnh đạo phát huy vai trị trách nhiệm, tính chủ động và hiệu lực của
Nhà nước chứ không điều hành thay Nhà nước. Đảng và mọi đảng viên đều hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp, Pháp luật và chịu trách nhiệm về các hoạt
động của mình.

16


Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đồn thể chính trị - xã hội,
Đảng tơn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tích cực, sáng tạo và chân
thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và đoàn thể; đồng thời các cấp uỷ
Đảng phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân
trong việc xây dựng và bảo vệ chính quyền giúp đỡ kiện tồn tổ chức, cán bộ.
Giải pháp: Xây dựng các tổ chức Đảng và đảng viên trong sách, vững
mạnh, có phẩm chất đạo đức, năng lực cơng tác, có ý thức tơn trọng chính
quyền, mặt trận và đồn thể. Thể chế hố quan điểm, chính sách của Đảng thành
pháp luật Nhà nước. Tăng cường công tác cán bộ, quản lý cán bộ của Đảng
trong các cơ quan Nhà nước và đoàn thể. Tăng cường công tác kiểm tra tổ chức
Đảng và đảng viên. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các ban cán
sự đảng, trong các cơ quan Nhà nước và đồn thể. Hình thành các cơ chế, quy
chế hoạt động, phân rõ chức năng, quyền hạn, khắc phục tình trạng chồng chéo,
ỷ lại, "lấn sân" giữa tổ chức Đảng và Nhà nước, các đồn thể chính trị - xã hội.
b) Cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh
Nhà nước là trụ cột của HTCT; cần phải trong sạch, vững mạnh, hoạt động
có hiệu quả. Trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước, quán triệt các quan điểm cơ
bản: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, cơ sở chính trị - xã hội, xây dựng
bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta, Nhà nước của dân, do dân, vì dân,
làm trịn chức năng nhiệm vụ của mình. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có
sự phân cơng, phối hợp các cơ quan về quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Thực hiện nguyên tắc tập trung - dân chủ. Tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật.
Giải pháp: Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quyền lực
(Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân...): lập pháp, giám sát... Cải
cách nền hành chính: (thể chế hành chính, vai trị quản lý xã hội, kiểm kê kiểm

sốt; cải cách bộ máy theo hướng gọn nhẹ, phân định về trách nhiệm từng cấp;
tăng cường công tác tổ chức thanh tra, kiểm tra xây dựng đội ngũ cơng chức có
17


phẩm chất năng lực. Mọi hoạt động đều thể hiện tính Đảng sâu sắc. Phải xử lý
nghiêm khắc những hiện tượng tiêu cực, biến chất trong bộ máy nhà nước như
tham ơ, lãng phí, quan liêu, vi phạm dân chủ của nhân dân...
c) Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể chính trị - xã hội
Củng cố, mở rộng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc để lôi cuốn
các tầng lớp nhân dân tham gia. Tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quản lý xã hội. Chăm
lo bảo vệ lợi ích chính sáng của các tầng lớp nhân dân; bảo vệ Đảng, chính
quyền; tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Duy trì
thường xun, nề nếp bàn bạc, đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về những
quyết sách lớn của đất nước theo phương thức hiệp thương dân chủ, phối hợp và
thống nhất hành động. Hoàn chỉnh các qui định và cơ chế của nhà nước để mặt
trận Tổ quốc và các đồn thể nhân dân thực hiện vai trị giám sát và phản biện
xã hội. Hướng về cơ sở, sâu sát thực tiễn, kịp thời nắm bắt tâm tự nguyện vọng
đoàn viên, hội viên để phản ánh cho Đảng và Nhà nước. Các hoạt động phải
trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
d) Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị và quản lý xã hội
Từ vai trò của nhân dân trong lịch sử, bài học "lấy dân làm gốc", do đó
muốn xây dựng HTCT trong sạch, vững mạnh, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội, chỉ có dựa vào sức mạnh của nhân dân. Cho nên mở rộng dân chủ xã hội
chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề có ý nghĩa sống còn
đối với chế độ và HTCT của nước ta. Nâng cao chất lượng dân chủ đại diện:
Trước hết cần đổi mới công tác bầu cử, để nhân dân có thể lựa chọn những

người thật sự có đạo đức và tài năng, tận tâm tận lực bầu vào các cơ quan dân
cử. Cải tiến thể chế và thủ tục hành chính các lĩnh vực trực tiếp chi phối đến
cuộc sống của nhân dân. Thực hiện công khai những vấn đề của người dân có
liên quan. Giải quyết đúng, nhanh, dứt điểm các khiếu tố của dân, quy định
18


trách nhiệm, thời hạn của thủ trưởng cơ quan đơn vị phải giải quyết, ngăn ngừa
các hiện tượng lợi dụng khiếu tố để vu cáo và gây rối. Bổ sung, sửa đổi các quy
định về các quyền giám sát, kiểm tra của dân trong các lĩnh vực sản xuất, phân
phối, tài chính, đối với các cơ quan và cán bộ Nhà nước, các đồn thể. Từng
bước thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp và thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thành qui chế dân chủ ở cơ sở. Nhân dân trực tiếp
tham gia đóng góp, thảo luận các vấn đề thuộc chính sách, pháp luật, các
phương án sản xuất và đời sống và được biểu quyết các vấn đề liên quan trực
tiếp đến cuộc sống của họ. Nhân dân trực tiếp và được tạo các điều kiện thuận
lợi nhất thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân theo luật định. Phát huy vai trò
của nhân dân trong đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực xã hội, tệ nạn xã
hội, tệ quan liêu, tham nhũng... có lãnh đạo và định hướng đúng đắn. Phê phán
và loại trừ các nhận thức và hành vi sai trái về dân chủ như các quan điểm dân
chủ tư sản, vơ chính phủ, tự phát, cực đoan, dân chủ tách rời kỷ luật, kỷ cương,
pháp luật. Quá trình mở rộng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa phải gắn liền
với việc giáo dục nâng cao trình độ văn hố chính trị, văn hố dân chủ cho nhân
dân phù hợp với kinh tế, chính trị, xã hội... của đất nước. Mở rộng dân chủ phải
đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quyền lợi đi đơi với trách nhiệm, nghĩa
vụ, hồn thiện pháp luật và pháp chế. Đồng thời phải kiên quyết thực hiện sự
chuyên chính với các lực lượng và hành động vi phạm quyền dân chủ của nhân
dân, sức mạnh quyền lực của nhân dân [8, tr.290].

19



KẾT LUẬN
Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thực chất là xây dựng hệ
thống chuyên chính cách mạng của giai cấp cơng nhân, đó cũng có nghĩa là xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Điều cốt lõi trong xây dựng hệ thống chính
trị hiện nay là việc giữ vững quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, hiệu
lực, hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực
hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân.
Sự thắng lợi của công cuộc đổi mới hiện nay phụ thuộc vào việc chúng ta
giữ vững quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, xây dựng được một nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, và vì dân; nhà nước đó có thực sự
trong sạch vững mạnh, làm tốt vai trò tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; phụ thuộc vào việc tiến hành xây
dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực quản lý xã hội
thuộc về nhân dân; phụ thuộc vào vấn đề xây dựng cũng cố khối đại đoàn kết
toàn dân, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng đấu
tranh cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị hiện nay là quy luật
khách quan của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đặc biệt trong sự
nghiệp đổi mới hiện nay, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội, vấn đề xây dựng củng
cố hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa lại càng có ý nghĩa chiến lược quan trọng
hơn bao giờ hết. Thực tiễn quá trìng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã
chứng minh, đổi mới và hồn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một
vấn đề phức tạp và nhạy cảm. Điều đó đặt ra một yêu cầu quan trọng là, trong
quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị nước ta phải nắm
vững các đặc trưng, bản chất của nó trên cơ sở đó mới có phương hướng và giải
pháp phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
20


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà
Nội, 1987.
2. Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà
Nội, 1991.
3. Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập 6, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1981.
4. C.Mác - Ph.Ăngghen, Tồn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995.
5. C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995.
6. Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay, Nxb
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015.
7. Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
nhiệm vụ quan trọng và bức thiết, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 2018.
8. Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đề tài KX-0504, Hà Nội, 2010.

21



×