Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

CAU HOI ON THI CAO HOC GDTC LY LUANY SINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (396.53 KB, 20 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>I.SINH LÝ HỆ MÁU 1. Khái niệm, thành phần, chức năng của máu Khái niệm: Máu là một thể lỏng được lưu thông trong mạch kín. Thành phần: Máu gồm 2 thành phần là: - Huyết tương (55 - 60% thành phần máu): Là thành phần lỏng, chiếm 91% là nước và 9% là các chất khác bao gồm đường, đam, mỡ, VTM , muối khoáng, các chất chuyển hóa trung gian. - Các tế bào máu(40 - 45% thành phần máu): Là thành phần hữu hình bao gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. * Trong yên tĩnh thành phần của máu nói chung là ổn định. Các chỉ số chỉ thay đổi khi cơ thể vận động. Sự thay đổi này thể hiện ở sự thay đổi tỷ lệ phần trăm giữa thành phần hữu hình của máu trên khối lượng máu chung gọi là hệ số hêmatocrít. Theo Kox, khi vận động hệ số hêmatocrít ở nam tăng từ 47% lên 50,7%. ở nữ tăng từ 42% lên 47%. Theo Kox một người châu Âu có 5,5 lít máu lưu thông gồm : + 2,6 lít tế bào hữu hình của máu + 2,9 lít huyết tương Chỉ số hêmatocrít của người đó là (2,6 x100) /5,5 = 47% VD :VĐV chạy 800m mất 0.5 lít nước trong huyết tương ,như vậy lượng máu lưu thông chỉ còn 5 lít, 2.9 lít huyết tương 2,6 lít tế bào hữu hình của máu và như thế chỉ số Hematocrit bằng (2,6 x100) /5 = 52%. Theo Kox điều này được giải thích rằng khi vận động, cơ thể mất nước qua con đường mồ hôi. Do lượng nước trong huyết tương đi ra khỏi thành mạch, nhanh chóng vận chuyển vào khoảng gian bào của các tế bào cơ đang hoạt động. Kết quả là khối lượng máu tuần hoàn chung giảm đi nhưng các tế bào máu trong một đơn vị thể tích tăng lên, máu bị cô đặc lại. Chức năng của máu. - Chức năng hô hấp: Máu thực hiện chức năng hô hấp nhờ huyết cầu tố Hêmôglôbin. Hêmôglôbin vận chuyển ôxy từ phổi vào tế vào và CO2 từ tế bào ra bằng sự kết hợp hoá học: Hb + O2 HbO2 Hb + CO2 HbCO2 Cơ chế vận chuyển này chủ yếu do hệ tim mạch (hệ tuần hoàn) quyết định. - Chức năng dinh dưỡng: Các chất dinh dưỡng như axít, amin, glucose, axít béo và vitamin được hấp thụ từ ống tiêu hoá vào máu và được vận chuyển đến các mô để đảm bảo hoạt động sống của tế bào. - Chức năng đào thải : Máu đưa các chất cuối cùng của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết : thận, da, ruột, phổi để bài tiết ra ngoài. - Chức năng bảo vệ : Máu thực hiện chức năng bảo vệ bằng hai cách: + Máu tạo ra các kháng thể có tác dụng chống lại vi trùng xâm nhập. Thành phần chất tạo kháng thể là dạng đạm đặc biệt có trong huyết tương + Các tế bào bạch cầu ở trong máu có khả năng tiêu diệt vi trùng.. - Chức năng điều hoà thân nhiệt: Máu theo mạch máu thực hiện chức năng dẫn nhiệt từ trung tâm ra ngoại biên. Nhờ máu mà nhiệt độ cơ thể chỉ đạo động trong phạm vi hẹp. - Chức năng điều hoà: Các hormone của hệ thống nội tiết ra đều được đổ trực tiếp vào máu. Do vậy máu đi đến các cơ quan đem theo hormone điều khiển sự hoạt động của các cơ quan đó. Ngoài các chức năng trên, máu còn có một số chức năng khác như chức năng ổn định nội môi. Động lực huyết dịch trong vòng tuần hoàn Khái niệm: Là động lực gây nên sự chuyển động của máu trong vòng tuần hoàn Động lực huyết dịch trong vòng tuần hoàn của người tập luyện TDTT khác với người bình thường Động lực huyết dịch gồm 2 nhóm: Nhóm 1: Động lực tim mạch: là động lực tạo ra bởi tim và mạch máu, có 2 động lực: + Sự chênh lệch về áp suất giữa đầu và cuối vòng tuần hoàn, yếu tố quyết định độ lớn của lượng máu được tống vaò động mạch được xác định qua thể tích tâm thu và bị chi phối bởi buồng tim và độ dày thành tim, độ dày càng lớn thì lực bóp càng lớn.Thể tích buồng tim lớn, áp lực tạo ra khi tim co càng mạnh, được đo bằng áp suất phun,bằng kết quả siêu âm tim + Nhu động thành mạch: Là hoạt động cơ phối hợp đồng thời 3 lớp cơ: Lớp ngoài chạy dọc Lớp giữa chạy vòng Lớp trong chạy chéo Sự chuyển động đó thúc đẩy lượng máu trong mạch. Nhu động thành mạch phụ thuộc vào trương lực của thành mạch và sự phát triển của các cơ ở thành mạch:Trương lực giảm, lớp cơ phát triển tạo tính đàn hồi cao thì nhu động thành mạch tốt và vận chuyển máu tốt. Tính đàn hồi thành mạch có ý nghĩa quan trọng giảm lực cản ( R) của thành mạch. Khi đường kính của thành mạch nhỏ thì lực cản lớn và ngược lại. Tính đàn hồi thành mạch còn có ý nghĩa tạo dòng máu liên tục và đều đặn ở ngoại vi vì thời kỳ tâm thu của tâm thất là thời kỳ tống máu ra động mạch chủ, tâm trương là thời kỳ nạp máu về tim sẽ tạo ra sự ngắt quãng theo mỗi thời kỳ của chu chuyển tim, nhưng thành động mạch đàn hồi co và giãn liên tục kế tiếp nhau đẩy máu ra ngoại vi. Nhóm 2: Động lực ngoài tim: những yếu tố tác động không phải do thành mạch mà chỉ xuất hiện khi có hoạt động. vận động bao gồm 4 động lực: + Sự co và duỗi của cơ khi vận động ép lên tĩnh mạch dồn máu chuyển động, đặc biệt tĩnh mạch nửa dưới của cơ thể, khi cơ co và duỗi gây chèn ép lên tĩnh mạch và tác dụng đẩy máu hồi tim + Lực hút do áp suất âm trong lồng ngực tạo nên áp lực hạ thấp. Khi áp lực âm hạ thấp thành động lực hút máu hồi tim tạo nên mức chênh lệch huyết áp. + Hiện tượng tăng áp lực khoang bụng trong vận động dẫn đến sự chèn ép tĩnh mạch cửa gan đẩy máu hồi tim. + Do hoạt động gấp duỗi của khớp gây chèn ép tĩnh mạch để thúc đẩy máu hồi tim. Kết luận: Từ các động lực cho thấy hoạt độngTDTT sẽ góp phần làm tăng lưu thông máu. 2. Hồng cầu Hồng cầu là tế bào không nhân, hình đĩa, lõm 2 mặt, có đường kính từ 7-7,5, hồng cầu có thể thay đổi hình dạng khi đi qua thành mạch. Số lượng hồng cầu ở nam là 4,2 triệu/1 mm3 máu, ở nữ là 3,8 triệu/1 mm3 máu. Theo Kox năm 1982, người Châu âu, ở nam là 5,1 triệu/1 mm3 máu, nữ là 4,6 triệu/1 mm3 máu. *Quá trình tạo hồng cầu Hồng cầu được tạo ra từ tuỷ đỏ của xương, các tế bào này có khả năng sinh sản suốt cuộc đời .mỗi giây có chừng 10 triệu hồng cầu được tạo ra . Trong quá trình tạo máu luôn luôn giữ mối cân bằng giữa lượng hồng cầu bị phá huỷ và lượng hồng cầu mới sinh ra. • Quá trình tạo hồng cầu và phát triển hồng cầu trải qua các giai đoạn sau : Tiền nguyên hồng cầu ↓ Nguyên hồng cầu ưa kiềm ↓ Nguyên hồng cầu đa sắc ↓ Nguyên hồng cầu ưa a xít ↓ Hồng cầu lưới ↓ Hồng cầu trưởng thành Hồng cầu lưới từ tủy xương vào máu sau 1 - 2 ngày thì trở thành hồng cầu *Đời sống và phân huỷ hồng cầu: Đời sống của hồng cầu kéo dài từ 100 - 120 ngày, có một số men tham gia quá trình chuyển hoá glucose để. tạo ra một lượng nhỏ ATP của hồng cầu nhằm duy trì tính mền dẻo của tế bào. Sự vận chuyển Ion qua màng giữ cho sắt (hem) luôn luôn có hoá trị 2 để vận chuyển ô xy. Hệ thống men trong hồng cầu cạn dần, màng hồng cầu trở lên dễ vỡ rồi vỡ ra đi theo mao mạch nhỏ ở lá lách. Hemoglobin được giải phóng khỏi gan, lá lách tổ chức lưới. Sắt của Hemoglobin đưa vào máu được vận chuyển đến tuỷ xương dưới dạng Transferin để tạo hồng cầu mới hoặc nằm ở gan dưới dạng feritin dự trữ. Phần xác của hồng cầu được chuyển hoá qua nhiều công đoạn, tạo thành sắc tố bilirubin ( sắc tố mật), chất này vào máu đến gan được bài tiết vào mật, làm cho mật có màu xanh. Chức năng của hồng cầu. - Hồng cầu có cấu tạo đặc biệt bởi vậy nó có thể tăng diện tích tiếp xúc, tăng tốc độ khuyếh tán khí nhờ Hêmôglôbin. - Chức năng của hồng cầu là vận chuyển ô xy dưới dạng kết hợp hoá học HbO2 đến các mô. - Hồng cầu chứa một lượng men anhydraza cac bon nic. Men này có tác dụng xúc tác cho phản ứng CO2 và H2O làm tăng tốc độ phản ứng chuyển CO2 từ mô qua máu đến phổi để đào thải CO2 . - Hêmôglôbin là một chất đệm điều hoà toan kiềm .  Nồng độ Hêmôglôbin trong máu Theo Serba ở nam là 32.9g % , nữ là 30.4 g%. Nồng độ Hb có thể tính bằng g/ 100ml máu. Ở người Việt nam , trung bình là 15 g/100 ml máu ( Nam khoảng 16g/ 100ml máu, Nữ khoảng 14g/ 100ml máu) 1g Hêmôglôbin có khả năng kết hợp với 1,39ml ôxy. Vậy 15 g Hêmôglôbin kết hợp được với 20,85 ml ôxy gọi là dung tích ôxy của máu. Như vậy nồng độ Hêmôglôbin trong máu được xác định bằng khả năng kết hợp tối đa ôxy với Hêmôglôbin đó là dung tích ôxy của máu. Dung tích ôxy của máu phụ thuộc vào nồng độ Hb và phân áp ô xy. - Hàm lượng Hêmôglôbin trong máu càng cao thì dung tích ôxy càng lớn. - Nồng độ a xit lactic tăng thì khả năng phân ly HbO2 tăng ( Hiệu ứng Bor ). * Sự biến đổi hồng cầu trong hoạt động TDTT. Egorốp nghiên cứu sự biến đổi số lượng hồng cầu. *Cơ sở nghiên cứu: Egorốp dựa vào cách phân vùng I của Farơfen. Trong các môn thể thao có tính chất chu kỳ Ông Farơfen chia 4 vùng cường độ. Egorốp gọi Fa 1 ứng với vùng cường độ I. Fa 2 ứng với vùng II , Fa 3 ứng với vùng III, Fa 4 ứng với vùng IV. Ông quan sát thấy hồng cầu tăng ở Fa 1, Fa2, đến giữa pha 3 giảm ở cuối Fa 3, Fa 4..

<span class='text_page_counter'>(2)</span> * Giải thích nguyên nhân tăng hồng cầu trong vận động : Trong quá trình vận động, để đáp ứng với nhu cầu vận động, số lượng hồng cầu tăng lên làm nhiệm vụ vận chuyển ôxy cho tổ chức và tế bào hoạt động. Hồng cầu tăng trong vận động có thể do : - Tăng hồng cầu thật: Tăng từ nơi sản xuất (cơ quan tạo máu) là tuỷ xương.Ví dụ VĐV tập luyện trên núi cao hoặc người dân sống trên vùng núi cao, đây là cơ chế thích ứng với sự hoạt động trong điều kiện thiếu ô xy tương đối. - Tăng hồng cầu giả : Do mất nước làm tăng tỷ lệ % giữa tế bào hữu hình của máu với huyết tương dẫn đến số lượng hồng cầu trong một đơn vị thể tích máu tăng lên. Điều này được giải thích rằng, khi vận độnghuyết tương trong máu đã nhanh chóng vận chuyển vào khoảng gian bào của các tế bào cơ đang hoạt động. Kết quả là khối lượng máu tuần hoàn giảm nhưng các tế bào máu trong một đơn vị thể tích máu thì tăng lên do mất nước, máu bị cô đặc cũng dẫn đến sự tăng hồng cầu. *Giải thích nguyên nhân làm giảm hồng cầu trong vận động. - Chủ yếu hồng cầu bị phá huỷ do chấn thương cơ học vì khi hoạt động, tốc độ dòng máu tuần hoàn tăng. - Các tế bào hồng cầu già rất nhạy bén với sự thay đổi thành phần máu và dễ bị phá vỡ do va chạm dẫn đến sự thiếu máu giảm quá trình vận chuyển ôxy cho tổ chức. 3 . Nhóm máu Năm 1900 Lansteiner nhận thấy sự ngưng kết hồng cầu xảy ra khi trộn máu của 2 cá thể cùng loài.Từ đó ông đã tìm ra kháng nguyên và kháng thể đặc hiệu của hồng cầu. Dựa trên cơ sở đó ông đã phân chia ra 4 nhóm máu . 1.Kháng nguyên A và B của hồng cầu Trên bề mạt của hồng cầu có kháng nguyên A và B. Có thể trong hồng cầu của người có một trong 2 loại(A, B hoặc AB) và có thể không có loại nào (0). Dựa trên cơ sở kháng nguyên của hồng cầu , người ta phân thành 4 nhóm: - Nhóm máu O ( không có kháng nguyên A và B ) - Nhóm máu A( không có kháng nguyên B) - Nhóm máu B ( không có kháng nguyên A ) - Nhóm máu AB ( có cả 2 loại kháng nguyên A và B). 2. Kháng thể α và õ của huyết tương Khi người không có kháng nguyên A của hồng cầu thì trong huyết tương sẽ có kháng thể anti A( α) Khi người không có kháng nguyên B của hồng cầu thì trong huyết tương sẽ có kháng thể anti B(õ).Người ta phân ra các nhóm máu như sau : Nhóm máu O không có 2 loại kháng nguyên A và B của hồng cầu . Bởi vậy trong huyết tương có anti A( α) và anti B (õ) Nhóm máu A có kháng nguyên A và kháng thể (õ) Nhóm máu B có kháng nguyên B và kháng thể ( ( α) Nhóm máu AB có kháng nguyên A và B , không có kháng thể ( α) và(õ) 3.Cơ chế truyền máu ở người có 4 nhóm máu : I (O); II ( A) ; III ( B ) ; IV (AB ). II A I O AB IV. B III Nhóm máu I có thể truyền cho các nhóm máu II, III, IV. Nhóm này được gọi là nhóm cho phổ thông vì nhóm máu này không có các kháng nguyên A và B nên không gây phản ứng với kháng thể an ti A và B. Nhóm máu II A Có thể truyền cho nhóm máu AB và cho chính nó , không thể truyền cho nhóm I và III vì có kháng thể gây ngưng kết hồng cầu. Nhóm máu III B Có thể truyền cho nhóm máu AB và cho chính nó , không thể truyền cho nhóm I và II vì có kháng thể gây ngưng kết hồng cầu. Nhóm máu IV (AB) có 2 loại kháng nguyên A và B chỉ truyền cho chính nhóm đó và nó có thể nhận máu của nhóm I, II, III và được gọi là nhóm nhận phổ thông. Sự phân nhóm máu rất quan trọng trong việc truyền máu, nhất là trong chiến tranh. Muốn truyền máu phải tránh sự ngưng kết những hồng cầu truyền vào bởi huyết thanh của người nhận máu .. 4. Tai biến do truyền nhầm nhóm máu Sự truyền nhầm nhóm máu thường là sự ngưng kết hồng cầu của người cho, ít khi ngưng kết hồng cầu của người nhận. Giải thích : Huyết tương của máu người cho ngay lập tức được pha loãng bởi toàn bộ huyết tương của máu ngườì nhận, do nồng độ kháng thể truyền vào thấp không thể gây ngưng kết hồng cầu người nhận. Mặt khác, máu người cho không đủ để pha loãng kháng thể trong huyết tương người nhận. bởi vậy các kháng thể sẽ làm ngưng kết trong hồng cầu người cho. Tất cả phản ứng truyền máu thường làm vỡ hồng cầu, Hb được giải phóng chuyển thành bilirubin về gan rồi bài tiết theo một nồng độ bilirubin cao gây vàng da. 5.Yếu tố Rh Ngoài nhóm máu ra, khi truyền máu phải lưu ý đến một hệ thống có vai trò cực kỳ quan trọng là hệ Rh. Có sự khác nhau giữa kháng thể tự nhiên OAB và yếu tố Rh. OAB là kháng thể tự nhiên, còn kháng thể của yếu tố Rh là kháng thể miễn dịch. Có 6 kháng nguyên Rh, mỗi loại kháng nguyên Rh được gọi là một yếu tố Rh có ký hiệu C,D,E,c,d,e(C - c, D - d, E e). Khi người có kháng nguyên C sẽ không có c, D không có d, E không có e. Vì mỗi người chỉ có một kháng nguyên trong mỗi cặp C-d-E, CDE …Kháng nguyên D là phổ biến nhất và cũng có tính kháng nguyên mạnh nhất. Người có kháng nguyên D là người có Rh+, Người không có kháng nguyên D là người có Rh-, Ở Việt Nam có 99,92 % người có Rh+, Người Mỹ có 95 % người có Rh+, Châu Phi có 100 % người có Rh+. Nếu người có Rh - , chưa hề tiếp xúc với máu Rh+, bao giờ thì việc truyền máu Rh+cho họ không có phản ứng ngưng kết nào xảy ra. Tuy nhiên ở một số người Rh- nhận máu của người Rh+, sẽ có sự tạo thành kháng thể anti Rh, lượng kháng thể này đủ gây ngưng kết hồng cầu Rh+ của người cho vẫn còn tồn tại trong máu người nhận ở thể nhẹ, Nếu lần sau lại tiếp tục truyền máu Rh+ sẽ xảy ra các tai biến truyên máu ở thể nặng. 4. Độ pH của máu . Cơ chế điều hòa độ pH của máu(Cân bằng toan kiềm của máu) - Độ pH của máu Máu có độ pH =7.35 -7.45 tức là có tính kiềm yếu. Giới hạn độ pH của máu mà cơ thể chịu đựng được là từ 6.8 đến 8.0. Nếu dung dịch trung tính pH = 7.1; Kiềm pH > 7.1; A xit pH < 7.1 Độ pH của máu luôn được ổn định nhờ hệ thống đệm. của máu, nhờ vào hô hấp, trao đổi chất ở thận. Các sản phẩm của quá trình trao đổi chất có ảnh hưởng đến độ pH của máu Khi hoạt động cơ trong điều kiện yếm khí, quá trình trao đổi đường sẽ gây sự tích tụ a xitlactic trong cơ hoặc trong máu: C 6H12O6 + 2 ADP + 2 H 3PO4  2 C3H6O3 + 2 ATP + 2 H2O (C6H10O5)n+ 3 ADP +3 H3PO4  2 C3H6O3+3 ATP+2H2O+(C6H10O5)n-1. Trong điều kiện yên tĩnh axitlactic trong máu vào khoảng 10 mg %, trong vận động tăng lên 120 200mg%. Độ pH của máu thay đổi phụ thuộc vào lượng axitlactic sản sinh ra trong vận động. Độ pH giảm, cơ thể bị nhiễm a xit gây rối loạn nhiều chức năng cơ thể, Ví dụ giảm quá trình tổng hợp ATP, Đặc biệt khi axitlactic sản sinh ra ở trong cơ của các VĐV chưa kịp vào máu sẽ làm tăng sự kết hợp bền vững Actomiozin gây ra hiện tượng co cứng cơ, một trong những nguyên nhân “ Chuột rút “ trong hoạt động TDTT, Ví dụ: ở bài tập công suất tối đa trong thời gian ngắn. Điều này được giải thích rằng hoạt động có công suất tối đa trong thời gian ngắn thì tuần hoàn và hấp chưa phát huy được công suất tối đa, ôxy vào cơ thể ít do đó không thoả mãn được yêu cầu vận động, kết quả là axitlactic tích tụ trong cơ. Các hoạt động với công suất cao trong thời gian kéo dài khi đó tuần hoàn và hô hấp đã phát huy kịp công suất hoạt động, Axitlactic khi đó được chuyển vào máu làm cho độ pH của máu giảm. Nồng độ Axitlactic càng cao thì độ pH của máu càng giảm. - Nồng độ Axitlactic phụ thuộc vào công suất hoạt động, thời gian hoạt động và số lượng sợi cơ tham gia vào hoạt động. Bài tập công suất cao thời gian ngắn thì Axitlactic nhiều và tích tụ trong cơ. Bài tập 400, 800, 1500m thì Axitlactic chuyển vào trong máu làm cho độ pH giảm. Bài tập Maraton có ôxy đầy đủ thì không có Axitlactic, độ pH không thay đổi. Ở bài tập cử tạ, đòi hỏi huy động nhiều sợi cơ tham gia sức mạnh tối đa nên Axitlactic sản sinh nhiều và tích tụ trong cơ vì thời gian cử tạ ngắn Cơ chế điều hòa độ pH của máu. Để duy trì và ổn định độ pH của máu phải nhờ hệ thống đêm. Hệ thống đệm của máu gồm axit yếu và muối của nó với một kiềm mạnh. Hệ thống đệm bicacbonat NaHCO3 , H2CO3 , HCO3 – CO2 Độ pK =6.1 chiếm 53 % Khi cho một a xít mạnh tác dụng với NaHCO3 kết quả của phản ứng sẽ cho ta một a xít yếu HCL+ NaHCO3 = H2CO3 + NaCL Khi cho một kiềm mạnh tác dụng với H2CO3 kết quả của phản ứng sẽ là một kiềm yếu NaOH + H2CO3 = NaHCO3 + H2O.

<span class='text_page_counter'>(3)</span> *Đặc điểm : Khả năng đệm tối đa khi nồng độ của HCO 3CO2 hoà tan(pH= pK) Khi tất cả khí CO2 chuyển thành HCO3- hoặc ngược lại thì hệ thống này không còn khả năng đệm. Khả năng đệm tỷ lệ thuận với nồng độ của các chất đệm . Hệ thống đệm bicacbonat không phải là hệ đệm tối ưu nhưng nó đóng vai trò quan trọng vì nồng độ CO2 hoà tan trong máu có thể thay đổi làm tăng hoặc giảm thông khí phổi, có tác dụng điều hoà pH. Bởi vây, tốc độ điều chỉnh pH của hệ này chỉ trong vài phần của giây mà ở các hệ khác không có được. - Hệ thống đệm phosphat HPO4/ H2PO4 có độ pH=6.8 chiếm 5% Khi cho một a xít mạnh tác dụng với đệm phosphat kết quả của phản ứng sẽ cho ta một a xít yếu HCL + Na2 HPO4 = NaH2PO4 + NaCL Khi cho một kiềm mạnh tác dụng với đệm phosphat kết quả của phản ứng sẽ là một kiềm yếu NaOH + NaH2PO4 = Na2 HPO4 + H2O *Đặc điểm -Nồng độ của hệ phosphat = 1/6 của hệ bicacbonat Hệ thống đệm phosphat rất quan trọng trong ống thận - Hệ thông đệm Protein Hệ thống đệm Protein được tạo ra từ Protein của huyết tương, chiếm 79 % các Protein. Đó là các gốc của a xit a min tự do COOH có khả năng phân ly thành COO- và H+. .Đồng thời chúng có gốc kiềm NH3 OH, do đó Protein có thể hoạt động như một hệ thống đệm có đồng thời cả kiềm và toan. - . Hệ thống đệm Hemoglobin Đây là một loại đệm Protein thực hiện bởi Hemoglobin gồm ô xy hemoglobin và muối ka li. * Khi thực hiện công suất vận cơ ở mức nhẹ và trung bình , nhu cầu ô xy chiếm khoảng 50 % VO 2 max thì a xit lactic trong máu khoảng 0.4 - 0.5g/ lit. Khi vận động với công suất lớn hơn, nhu cầu ô xy vào khoảng 50 - 85 % VO2 max thì a xit lac tic tăng nhanh trong máu. ở các bài tập sức bền ưa khí tối đa, khi nhu cầu ô xy lớn hơn 85 % VO 2 max thì nồng độ a xit lac tic tối đa trong máu là do sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi chất để sử dụng năng lượng từ hệ glucophân tạo axitlactic. Axitlactic là một a xit mạnh, khi phân ly chúng tạo thành một số lượng lớn H+, một phần liên kết với hệ thống đệm trong máu (Hệ thống đệm bicacbonat) Ví dụ : CH3 - CHOH - COOH + NaHCO3  CH3- CHOH - COONa + H2CO3. (Axitlactic) (Bicacbonat Na) (Muối LactatNa) Tuỳ theo điều kiện H2CO3 phân ly dưới 2 dạng: H 2CO3  H++ HCO3- trong điều kiện thiếu O2. H2CO3  H2O + CO2 trong điều kiện đủ O2.. Khi sử dụng hết dung lượng của hệ thống H2CO3 = H2O + CO2, Khí CO2 được tạo thành bị đào thải qua phổi thì môi trường chuyển về phía a xit, độ pH trong máu giảm xuống 0.2 so với yên tĩnh thì hoạt tính của men giảm. Độ pH giảm sẽ gây rối loạn chức năng của toàn bộ cơ thể như giảm hoạt tính men ATP - aza, giảm tốc độ dẫn truyền xung động thần kinh, tăng áp suất thẩm thấu gây phồng tế bào chèn ép lên các nhánh tận cùng thần kinh làm đau cơ do tăng sự kết hợp bền vững giữa 2 sợi ac tin và miozin. Khi độ pH tăng máu sẽ nhiễm kiềm, quá trình thải CO2 bị ngừng trệ, CO2 chuyển thành bicacbonat, ion HCO3. – Trạng thái cơ thể chứa axit hoặc kiềm khi độ pH của máu vẫn còn ổn định gọi là trạng thái nhiễm kiềm hoặc nhiễm toan có bù, còn khi độ pH trong máu biến đổi thì trạng thái đó gọi là nhiễm a xit không bù. Trong yên tĩnh, độ pH của máu động mạch 7,4; máu tĩnh mạch 7,35 Khi hoạt động độ pH của máu giảm xuống 7,0 ; cá biệt ở VĐV có trình độ tập luyện tốt pH = 6,8. Khi độ pH của máu giảm sẽ có cảm giác khó chịu, nôn ọe, chóng mặt, đau cơ, phá hủy quá trình trao đổi chất, bởi vậy phải huy động hệ thống đệm bicacbonat trong máu hoặc hệ thống đệm Protein trong tế bào để trung hòa a xit và ổn định độ pH của máu. Ngoài hệ thống đệm, máu còn có một số muối kiềm để trung hoà a xit. Những muối này gọi là dự trữ kiềm của máu. Khi vận động, công suất vận động càng cao thì khả năng dự trữ kiềm càng giảm . Tóm lại : Hệ thống đệm có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cho máu và các tế bào mô. Khi có các phản ứng tích cực xảy ra, ngoài hệ thống đệm và dự trữ kiềm của máu thì phổi, thận, gan, ống tiêu hoá cũng tham gia vào sự điều hoà kiềm toan của máu . SINH LÝ HỆ TUẦN HOÀN 1. Chu chuyển tim, Ảnh hưởng của TDTT đến chu chuyển tim. Khái niệm : Hoạt động nhịp nhàng liên tục của tim được chia ra thành từng thời kỳ, có sự lặp đi lặp lại đều đặn gọi là chu chuyển tim. Mỗi chu chuyển tim gồm có một tâm thu và một tâm trương của nhĩ và thất Yếu tố ảnh hưởng đến chu chuyển tim. Chu chuyển tim phụ thuộc vào tần số nhịp tim, áp suất trong buồng tim và tiếng tim. +Tần số nhịp tim tăng thì chu chuyển tim giảm. +Tần số nhịp tim giảm thì chu chuyển tim tăng (Kox).. Các thời kỳ của chu chuyển tim -Thời kỳ tâm thu bao gồm tâm nhĩ thu và tâm thất thu -Thời kỳ tâm trương bao gồm tâm nhĩ trương và tâm thất trương - Thời kỳ tâm trương toàn bộ , cả nhĩ và thất đều trong trạng thái trương. * Tâm nhĩ thu Tâm nhĩ thu 0.1giâylà khởi đầu của sóng P. áp suất trongbuồng nhĩ hơi tăng (5-6 mmHg) và bắt đầu cao hơn áp suất trong buồng thất đang giãn . Máu từ tâm nhĩ chảy xuống tâm thất qua van nhĩ thất, Khi áp suất trong buồng tăng, máu trong buồng nhĩ không đi ngược trở lại tĩnh mạch vì lỗ tĩnh mạch co lại do sự co cơ của 2 thành tâm nhĩ. * Tâm nhĩ trương Ngay sau khi tâm nhĩ thu, tâm nhĩ bắt đầu trương – thời gian khoảng 0.7 giây. Nó sẽ chiếm toàn bộ thời kỳ tâm thất thu và phần lớn tâm thất trương. Thời kỳ tâm nhĩ trương là thời kỳ nạp máu về tim, tâm nhĩ phải nạp máu từ tĩnh mạch chủ trên , dưới. Tâm nhĩ trái nạp máu từ 4 tĩnh mạch phổi. * Tâm thất thu Tâm nhĩ bắt đầu trương thì tâm thất thu, thời kỳ tâm thất thu khoảng 0.3 giây. Tâm thu của tâm thất được chia ra 2 thời kỳ: a.Thời kỳ căng tâm thất chia làm 2 pha: -Pha co không đồng bộ : Hưng phấn trong cơ tim lan toả dần theo các lớp cơ, vì vậy không thể làm toàn bộ các sợi cơ tâm thất đều co. ở pha này các sợi cơ tâm thất co không đồng bộ gây biến dạng tâm thất , nhưng áp suất trong buồng tâm thất không tăng . - Pha co đẳng trường :Khi tất cả các sợi cơ trong thành tâm thất đều co, áp suất trong buồng thất tăng lên, các van nhĩ thất nhanh chóng bị đóng lại vì áp suất trong buồng thất cao hơn buồng nhĩ. Các van bán ngyệt ngăn cách giữa buồng thất trái với động mạch chủ, buồng thất phải với động mạch phổi vẫn đóng, như vậy buồng thất được đóng kín cả 2 phía . Khi các sợi cơ tâm thất tiếp tục co đồng bộ không làm thay đổi thể tích của buồng thất, pha này kéo dài cho tới khi nào áp suất trong buồng thất cao hơn áp suất trong động mạch chủ và động mạch phổi thì van bán nguyệt được mở rabắt đầu giai đoạn tống máu từ tâm thất vào động mạch. b, Thời kỳ tống máu chia 2 pha: -Pha tống máu nhanh : ở pha này, các sợi cơ trong thành tâm thất co tối đa, máu được tống nhanh từ tâm thất vào động mạch. áp suất trong buồng thất đạt tối đa sau khi tâm thất bắt đầu thu khoảng 0.18 giây. Tốc độ dòng máu trong động mạch chủ cao nhất sau khi tâm thất thu khoảng 0.1 giây.. -Pha tống máu chậm : Máu từ tâm thất vẫn tiếp tục tống vào động mạch với tốc độ giảm dần và ngừng hẳn. Khi ngừng tống máu tâm thất là bắt đầu thời kỳ tâm trương của tâm thất.Trên điện tâm đồ ghi được sóng T báo hiệu sự tái cực của tâm thất. *) Tâm thất trương Khi tâm thất bắt đầu trương thì sự tống máu từ tâm thất phải và trái ngừng hẳn. Vì áp suất trong buồng thất thấp hơn trong động mạch chủ và động mạch phổi, các van bán nguyệt phải đóng lại để máu không đi ngược lại tâm thất. Thời kỳ này là thời kỳ tiền tâm thất trương của tâm thất . Tâm thất trương được chia ra 2 thời kỳ : - Thời kỳ thả lỏng của tâm thất : Các buồng thất vẫn còn đóng ở 2 phía vì van bán nguyệt đã đóng ở sau thời kỳ tiền tâm trương, Van nhĩ thất vẫn tiếp tục đóng do áp suất trong buồng thất vẫn cao hơn trong buồng tâm nhĩ. Lượng máu còn lại trong buồng tâm thất sau khi kết thúc thời kỳ tâm thu được gọi là thể tích cuối tâm thu, nó không thay đổi trong suốt thơì kỳ tâm trương . Vì vậy thơì kỳ tâm thất trươngcòn gọi là thời kỳ đẳng thể tích hay đẳng trường. Khi áp suất trong buồng thất thấp hơn buồng nhĩ thì thời kỳ thả lỏng kết thúc , van nhĩ thất mở ra – thời kỳ nạp máu từ buồng nhĩ xuống buồng thất. -Thời kỳ nạp máu của tâm thất :Được chia thành 2 pha : +Pha nạp máu nhanh : Máu từ tâm nhĩ xuống tâm thất qua van nhĩ thấtnhiều nhất ở pha nạp máu nhanh . + Pha nạp máu chậm tương ứng với sóng P trên điện tâm đồ , pha này xảy ra trước và trùng vào thời gian tâm nhĩ thu . Thể tích máu chứa trong tâm thất ở cuối thời kỳ tâm trương được gọi là thể tích cuối tâm trương . Trong một nhịp tim thể tích đó được quyết định bởi áp suất nạp máu . áp suất này phụ thuộc vào lượng máu từ các tĩnh mạch về tâm nhĩ. Lượng máu từ các tĩnh mạch về tim càng lớn thì thể tích tâm thu càng cao. Thời gian của từng thời kỳ chu chuyển tim. Một chu chuyển tim phụ thuộc vào tần số tim. Với tần số tim là khoảng 70-80 lần/ phút sẽ có chu chuyển tim là 0,8 giây và được phân ra các thời kỳ như sau : - Thời kỳ tâm thu gồm : + Tâm nhĩ thu: 0,1s. + Tâm thất thu: 0,3s. - Thời kỳ tâm trương gồm: + Tâm nhĩ trương: 0,7s. + Tâm thất trường: 0,5s. - Thời kỳ tâm trương toàn bộ: là cả tâm nhĩ và tâm thất đều trương 0,4s..

<span class='text_page_counter'>(4)</span> Ảnh hưởng của TDTT đến chu chuyển tim. Một chu chuyển tim phụ thuộc vào tần số tim. Trong hoạt động TDTT, tần số tim có sự thay đổi thì thời gian một chu chuyển tim cũng thay đổi theo. Trong hoạt động cơ bắp, thời kỳ tâm thu và thời kỳ tâm trương đều giảm. Khi Tần số tim tăng, sự rút ngắn pha co đẳng trường của tâm thất tỷ lệ thuận với mức tăng Tần số tim kèm theo tăng tính co bóp của cơ tim, tăng công suất hoạt động của tim . Khi vận động cơ bắp căng thẳng, Tần số tim tăng tối đa, pha co đẳng trường có thể bị mất hẳn , cơ tim co hoàn toàn theo chế độ đẳng trương , máu được tống ra khỏi tâm thất trong suốt thời kỳ tâm thu. Thời gian của thời kỳ tống máu khi vận động cơ nhẹ nhàng hầu như không thay đổi công suất. Vận động cơ tăng dần, Tần số tim tăng thì thời kỳ tống máu giảm. Khi Tần số tim tăng thì thời gian tâm trương ngắn lại . Tần số tim trong vận động tối đa là 200 lần/phút thì chu chuyển tim là 0,3s. Và thời gian tâm thu/thời gian tâm trương là 0,12 s/0,18" = 1/1,5.Thời kỳ tâm trương của tâm thất từ 0.5 giây trong yên tĩnh rút xuống còn 0.18 giây. Thời kỳ tâm trương là 0.18 giây- pha nạp máu nhanh chỉ còn 0.05-0.1 giây, pha nạp máu chậm mất đi hoàn toàn . Thời gian của thời kỳ tâm trương rút ngắn, song lỗ tĩnh mạch và áp suất tăng cao khi Tần số tim rất nhanh nên sự nạp máu vào tim hầu như không bị ảnh hưởng . Khi Tần số tim tăng quá cao trong vận động, cơ tim phải đảm bảo tống được một lượng máu lớn từ tim vào lòng mạch với hoạt động kéo dài, cơ tim mệt mỏi, khả năng co bóp của tim giảm, kết quả là thể tích tâm thu giảm . Trong yên tĩnh, tần số Tần số tim là 70 - 80 lần/1 phút thì chu chuyển tim là 0,8s. Tỷ lệ giữa thời gian tâm thu/thời gian tâm trương là 0,4 s/0,4 s = 1/1. Tần số Tần số tim của các VĐV có sự thay đổi trong yên tĩnh, khoảng 60 lần/ 1 phút thì chu chuyển tim là 1s và thời gian tâm thu/ thời gian tâm trương là 0,4s/ 0,6s = 1/1,5. Trong hoạt động TDTT, với sự thay đổi thời gian của chu chuyển tim thì cả hai đều được rút ngắn nhưng thời kỳ tâm thu rút ngắn nhiều hơn thời kỳ tâm trương bởi vậy lượng máu được nạp vào tim nhiều hơn. Trong yên tĩnh của vận động viên, do sự phì đại cơ tim nên lưu lượng tâm thu tăng tần số. Tần số tim giảm nhưng thời kỳ tâm trương keó dài nên lưu lượng phút vẫn không giảm. Sự hoạt động của tim như vậy là biểu hiện tim vận động viên thích nghi với hoạt động thể lực. 2. Các chỉ số sinh lý của tim. Để đánh giá chức năng của tim trên quan điểm sinh lý- chỉ số quan trọng nhất của tim là thể tích phút . Chỉ số này phụ thuộc vào 2 đại lượng là thể tích tâm thu và tần số tim. (1) Tần số tim a. Khái niệm tần số tim(HR ) là số lần tim đập trong 1 phút hoặc là tần số chu chuyển tim trong 1 phút. Tần số tim phản ánh hoạt động của tim. Tần số tim trong yên tĩnh ở người bình thường khoảng 70 - 80lần/phút, Tần số tim ở người bình thường dưới 60 lần/phút là tần số tim chậm, trên 90lần/phút là tần số tim nhanh. b.Yếu tố ảnh hưởng và đặc điểm biến đổi Tần số tim phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, yếu tố tâm lý, tư thế của cơ thể, Ngoài ra tần số tim tăng cùng với thể tích tâm thu. Khi tần số tim tăng lên 3 lần so với yên tĩnh thì thể tích tâm thu cũng tăng lên tương ứng, thể tích phút sẽ tăng lên gấp 6 -7 lần so với yên tĩnh ở hoạt động sức bền ưa khí tối đa. Tần số tim còn phụ thuộc theo lứa tuổi lứa tuổi giới tính,. Tuổi nhỏ tần số tần số tim cao, Tần số tim từ 130 lần/ phút sau sinh giảm dần xuống 75 ở lứa tuổi trưởng thành và tăng lên nhẹ ở tuổi già. Ở nữ tần số tim cao hơn so với nam. Trong hoạt động, tần số tim phụ thuộc vào công suất vận động,HR tăng tỷ lệ thuận, tần số tim cao nhất ở bài tập công suất tối đa, tần số tim tăng tối ưu ở bài tập công suất dưới tối đa. Tần số tim phụ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV. c. Ý nghĩa : - Tần số tim là chỉ số đánh giá trình độ tập luyện của VĐV:Trong yên tĩnh, Tần số tim của VĐV giảm hơn người bình thường, khoảng 60 lần / phút, thấp nhất là VĐV sức bền, tiếp đến là sức nhanh, sức mạnh, hoạt động tĩnh lực, còn trong hoạt động tới mức tối đa thì tần số tim của VĐV lại cao hơn người bình thường, đó là biểu hiện tính tiết kiệm của tim VĐV và khả năng thích ứng với luyện tập . - Tần số tim là chỉ số đánh giá cường độ thích nghi lượng vận động: Cách 1:Đánh giá bằng tần số tim tối đa: Tần số tim tối đa có thể tính bằng công thức: Tần số tim tối đa: HR max = 220 – tuổi. Như vậy tuổi càng cao thì tần số tim tối đa càng giảm. Cách 2 Đánh giá bằng tần số tim tối ưu: Là tần số tim ở đó hiệu suất tuần hoàn đạt công suất tối đa (Tần số tim khoảng. 170 -180 lần/ phút) - Tần số tim là chỉ số đánh giá cường độ bài tập: Trong thể thao, công suất của bài tập được xác định bằng mét/giây, số lần…hoặc chuyển hóa năng lượng được xác định bởi 3 vùng bài tập: + Bài tập ưa khí: HR < 140lần/phút + Bài tập hỗn hợp: HR khoảng 140 165lần/phút + Bài tập yếm khí: HR > 165lần/phút Tần số tim là chỉ số phản ánh quãng nghỉ: + Quãng nghỉ ngắn: Tần số tim sau vận động chưa trở về mức ban đầu + Quãng nghỉ đủ: : Tần số tim sau vận động bằng tần số tim trước vận động hoặc cộng 10% tần số tim trước vận động + Quãng nghỉ dài: Tần số tim sau hồi phục nhỏ hơn hoặc bằng tần số tim tĩnh trước vận động. Tần số tim là chỉ số đánh giá hồi phục (2)Thể tích tâm thu a. Khái niệm :Thể tích tâm thu là lượng máu tống vào động mạch một lần tim đập ( một lần co bóp ), người thường 60-70ml/1 lần tâm thu. VĐV đạt giá trị tối đa 160-200ml/1 lần tâm thu. b.Yếu tố ảnh hưởng và đặc điểm biến đổi Lượng máu tĩnh mạch trở về tim Tốc độ dòng máu tĩnh mạch trở về tim trong một đơn vị thời gian. Thời gian dòng máu tĩnh mạch trở về tim càng nhỏ thì tần số tần số tim càng cao. Tần số tim có ảnh hưởng đến thể tích tâm thu: Giữa kích thước buồng tâm thất và thể tích tâm thu có mối tương quan tỷ lệ thuận, kích thước buồng tim càng lớn thì thể tích tâm thu càng cao. Ngoài ra thể tích tâm thu còn phụ thuộc vào lực bóp của cơ tim, thể tích máu đọng trong tim, vào tư thế của cơ thể. ở người bình thường, thể tích tâm thu khoảng 60-70ml. ở tư thế nằm ngang, các điều kiện cơ học đảm bảo cho máu về tim dễ dàng, thể tích tâm thu của người không tập luyện là 100ml. Hoạt động cơ bắp vẫn trong tư thế nằm, thể tích tâm thu khoảng 100 -120ml. Thể tích tâm thu tối đa phụ thuộc vào giới tính: ở phụ nữ trẻ, trong tư thế nằm tĩnh. là 70ml, hoạt động cơ bắp là 100ml. Do kích thước buồng tim của nữ nhỏ hơn, thể tích tâm thu của nữ nhỏ hơn của nam giới 25%. Phụ thuộc vào tư thế, máu tĩnh mạch trở về tim ở tư thế đứng ít hơn tư thế nằm. Bởi vậy thể tích tâm thu của người khi ở tư thế nằm cao hơn tư thế đứng 30 - 40 % Thể tích tâm thu phụ thuộc vào lượng máu tuần hoàn chung, giữa hai đại lượng này có mối tương quan dương tính rất cao. Những người có lượng máu tuần hoàn chung cao thì thể tích tâm thu cao. Thể tích tâm thu phụ thuộc vào lứa tuổi: ở người già thấp hơn người trưởng thành khoảng 20%, giảm thể tích tâm thu ở người cao tuổi có thể do khả năng co bóp cơ tim giảm Ở mức độ nhất định, thể tích tâm thu tăng cùng với công suất vận động. ở nhiều người, thể tích tâm thu đạt tới mức tối đa khi vận động với lượng vận động chỉ đòi hỏi gần 40% mức hấp thụ O2 tối đa của người đó. Khi công suất vận động tiếp tục tăng thì tần số tim cũng tăng, thời gian nạp máu vào tâm thu bị rút ngắn sẽ gây cản trở sự tăng thể tích tâm thu. Trong yên tĩnh:Thể tích tâm thu sẽ hơi giảm ở các VĐV khi trình độ tập luyện tăng lên do công suất co bóp của tim giảm . Điều đó chứng tỏ tim hoạt động kinh tế hơn trong nghỉ ngơi. Khi hoạt động TDTT +Thể tích tâm thu hầu như không thay đổi so với người bình thường khi cơ thể VĐV hoạt động ở bài tập công suất tối đa. +Thể tích tâm thu tăng lên trong các bài tập công suất lớn và trung bình, đạt cao nhất từ 180 – 200 ml ở bài tập công suất dưới tối đa c.Ý nghĩa Là chỉ số để đánh giá trình độ tập luyện của VĐV (3). Thể tích phút của tim: a. khái niệm : Thể tích phút của tim Là khối lượng máu tim tống ra động mạch trong một phút. Trung bình khối lượng máu tống vào động mạch của tâm thất vào khoảng 4-5l/phút. Lượng máu từ tâm thất trái bơm vào vòng tuần hoàn lớn, tâm thất phải đẩy vào vòng tuần hoàn nhỏ cân bằng nhau. b.Yếu tố ảnh hưởngvà đặc điểm biến đổi - Kích thước cơ thể: ở đàn ông, giao động từ 4 - 6 l/phút, phụ nữ 3-5l/phút. Để có thể so sánh thể tích ở những người có kích thước cơ thể khác nhau, người ta sử dụng chỉ số tim. Đó là tỷ lệ thể tích phút với diện tích bề mặt của cơ thể. Chỉ số tim trong yên tĩnh 3-3.5l/ph/m2. Hoạt động cơ bắp có liên quan đến hoạt động tuần hoàn cần phải vận chuyển đến các cơ đang vận động một lượng máu chứa nhiều ôxy. Bởi vậy, hoạt động của tuần hoàn có liên quan trực tiếp đến trao đổi chất của cơ thể được đo bằng khả năng hấp thụ O2. - Thể tích phút là chỉ số chung tổng hợp cho sự hoạt động của tim. Chỉ số này phụ thuộc vào thể.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> tích tâm thu và tần số tim. Công thức tính thể tích phút theo quy ước quốc tế như sau : CO = SV x HR hoặc Q = Qs x fc Q - CO : thể tích phút; Qs - SV : thể tích tâm thu ; fc - HR là tần số tim: Từ công thức trên, thể tích phút có thể thay đổi khi thay đổi một trong hai đại lượng.Ví dụ, trong điều kiện yên tĩnh, tần số tim bình thường của người trưởng thành là 70l/phút, thể tích tâm thu 70ml, thể tích phút sẽ là : Q = Qs x fc = 70ml x 70l/phút = 4.9 lít/phút Khi vận động ưa khí tối đa, tần số tim đạt 200lần/phút, thể tích tâm thu tăng lên 180 - 200ml, thể tích phút ( 180 -200ml x 200lần/phút = 36 - 40l/phút ) lên gấp 6 -7 lần so với yên tĩnh. ở phụ nữ, thể tích tâm thu trong hoạt động ưa khí tối đa nhỏ hơn và thể tích phút cũng nhỏ hơn nam. ( 120 -160ml x 200lần/phút = 24 - 32l/phút ) *Đo thể tích phút bằng 2 phương pháp : -Phương pháp trực tiếp của Fick: VO2 = CO x hiệu số O 2 động tĩnh mạch VO2 : hấp thụ O2 ( lít/phút ) ; CO: thể tích phút ( lít/phút); Hiệu số O2 động mạch tĩnh ( 19% - 13% = 6%). Các đại lượng này được xác định gồm: Sự hấp thụ O2 của cơ thể Hàm lượng oxy trong máu động mạch , lấy máu ở động mạch cánh tay của vòng tuần hoàn lớn. Hàm lượng oxy trong máu tĩnh mạch, lấy máu ở tĩnh mạch chủ buồng tim phải. Ví dụ: hấp thụ oxy trong yên tĩnh 250 - 300ml O2/phút. O2 trong máu động mạch 19% thể tích. O2 trong máu tĩnh mạch 13% thể tích. Từ đó ta suy ra để vận chuyển được 250 - 300ml O2/ phút tim cần phải bơm 250-300 x 100/6 = 4.0 - 5.0 lít/phút - Phương pháp pha chất chỉ định đã biết trước (1) Người ta tiêm chất đó vào tĩnh mạch nơi gần tim nhất . Chất chỉ định chảy qua tim, phổi rồi vào máu động mạch. Nếu đo liên tục nồng độ chất chỉ định (C) trong máu lấy ra từ máu động mạch của vòng tuần hoàn lớn trong một thời gian nhất định (t) thì thể tích phút được tính theo công thức : Co = I/C x t.  Đặc điểm biến đổi - Trong yên tĩnh: Thể tích phút củaVĐV giảm hơi thấp so với người thường do nhu cầu về máu của tổ chức thấp hơn vì họ có khả năng sử dụng oxy từ máu tốt hơn . - Trong hoạt động TDTT Thể tích phút củaVĐV hầu như không thay đổi so với bình. thường khi hoạt động ở bài tập công suất tối đa. Thể tích phút tăng lên trong các bài tập công suất lớn và công suất trung bình, đạt cao nhất có thể đạt 35 – 40 lít/ phút ở bài tập công suất dưới tối đa. c.Ý nghĩa Là chỉ số để đánh giá trình độ tập luyện của VĐV 4. Sinh lý tuần hoàn động mạch a..Tính chất chung của tuần hoàn động mạch Máu từ tim đẩy ra động mạch, các phần của động mạch giãn ra tạo ra áp suất. Sự chênh lệch áp suất đó ở tim và các phần động – tĩnh mạch là yếu tố thúc đẩy máu di chuyển trong mạch máu . Sinh lý tuần hoàn động mạch Động mạch là những mạch máu vận chuyển máu từ tim đến tổ chức tế bào. Từ động mạch chủ chia ra nhiều động mạch nhỏ, càng xa tim thiết diện của động mạch càng nhỏ, bởi vậy máu chảy trong động mạch càng xa tim vận tốc của nó càng giảm. Tính chất sinh lý của động mạch - Tính đàn hồi của thành mạch: Động mạch có khả năng giãn và co. Khi máu vào động mạch, ngay lập tức mạch máu giãn to và khi máu ra khỏi phần động mạch đó thì mạch máu thu nhỏ lại trở về vị trí ban đầu. Nhờ tính đàn hồi của thành mạch mà dòng máu chảy liên tục, tăng thể tích máu mỗi lần tâm thu. Tính co thắt: Đó là khả năng của động mạch co lại làm cho động mạch hẹp, giảm lượng máu đi qua. Tính chất này có tác dụng điều hoà máu đến các cơ quan. Các động mạch nhỏ có tính co thắt cao, vì thành động mạch có nhiều cơ trơn. b.Áp suất động mạch trong chu kỳ tim Áp suất động mạch trong chu kỳ tim được ghi lại ở các phần của động mạch bằng phương pháp nghe, bằng phương pháp giao động, huyết áp kế tự động điện tử. áp suất của máu động mạch được tính bằng milimet thuỷ ngân (mmHg), đôi khi dùng cm H2O. Áp suất trong tuần hoàn động mạch được gọi là huyết áp động mạch Khái niệm huyết áp động mạch: Là áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch.Huyết áp của người thường có trị giá là 120/ 80 mmHg Phân loại huyết áp động mạch có 4 thông số: - Huyết áp tối đa : ( Ps) Là trị số huyết áp động mạch lúc cao nhất trong chu kỳ tim ứng với thời kỳ tâm thu. Thông số này phản ánh lực co của tâm thất.. Huyết áp tối đa ở người bình thường là 110 - 130 mmHg. Giới han min : 90 mmHg, Max là 140 mmHg. Nếu huyết áp tối đa dưới 90mmHg là huyết áp thấp, huyết áp tối đa trên 140mmHg là huyết áp cao. Nếu Ps lớn hơn hoặc bằng 160 mmHg là bệnh tăng huyết áp. - Huyết áp tối thiểu: Là trị số huyết áp thấp nhất trong chu kỳ tim, ứng với thời kỳ tâm trương. Thông số này phản ánh trương lực của thành mạch. Huyết áp tối thiểu ở người bình thường khoảng 70 90mmHg, Giới hạn min là 50 mmHg, Max là 90 mmHg. Trong một số trường hợp tăng huyết áp , nếu huyết áp tối đa tăng cao chưa gây trở ngại nhiều cho tim nhưng nếu cả hai thông số huyết áp đều tăng cao, ví dụ huyết áp tối đa tăng trên 160 mmHg, Huyết áp tối thiểu trên 95 mmHg thì gánh nặng đối với tim rất lớn, trong điều kiện như vậy, tâm thất sẽ phì đại ở những người bệnh lý do phải thắng áp lực cao ở hệ động mạch, cuối cùng là dẫn đến suy tim. - Huyết áp hiệu số là sự chênh lệch giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu.Bình thường hiệu số huyết áp là 120mmHg. -. 80mmHg. =. 40mmHg. Thông số này phản ánh hiệu lực của một lần tống máu của tim. Hoạt động cơ cần có khối lượng máu đến với cơ nhiều hơn, khi đó hiệu số huyết áp tăng cao, có thể tới 70 - 80 mmHg. Hiệu số huyết áp tăng có quan hệ với hệ số cung cấp máu cho cơ hoạt động và tần số nhịp tim, trong điều kiện yên tĩnh cũng như trong điều kiện vận động, hiệu số huyết áp của các VĐV đều tăng cao hơn mức bình thường, điều này chứng tỏ hệ số cung cấp máu của VĐV cao hơn bình thường. Ngược lại, nếu hiệu số huyết áp giảm có nghĩa là huyết áp tâm thu gần với huyết áp tâm trương - được gọi là kẹt huyết áp. Hiện tượng kẹt huyết áp là khả năng bơm máu của tim giảm. Huyết áp trung bình: Là trị số huyết áp biến động trong chu kỳ tim. Huyết áp trung bình không nằm ở trị số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương mà gần với huyết áp tâm trương hơn Người bình thường, huyết áp trung bình 90-100 mmHg . Công thức tính : huyết áp tối. thiểu + 1/3 huyết áp hiệu số. 80 + 40/3 = 93 mmHg Các yếu tố ảnh hưởng Huyết áp phụ thuộc vào 3 yếu tố chính là : Lưu lượng tim, tính chất máu và mạch máu. - Lưu lượng tim : phụ thuộc vào thể tích tâm thu và tần số nhịp tim. Nếu các chỉ số trên tăng thì huyết áp tăng. Thể tích tâm thu lại phụ thuộc vào lực bóp cơ tim và nhịp tim + Lực bóp của tim: Khi tim co bóp mạnh lượng máu tống vào động mạch nhiều dẫn đến thể tích tâm thu tăng và lưu lượng tim tăng làm cho huyết áp tăng. + Khi tim đập chậm thì huyết áp giảm,khi tim đập nhanh thì huyết áp tăng. - Máu : + Độ nhớt của máu tăng thì huyết áp tăng, và ngược lại. + Thể tích máu tăng làm huyết áp tăng và ngược lại mất máu làm thể tích máu giảm thì huyết áp giảm. -Mạch máu : +Lực cản của dòng máu (R) là sự chống lại (cản trở)dòng máu chảy trong mạch máu. Lực cản R = 8 Ln /π. r4 . Lực cản của mạch máu tỷ lệ thuận với chiều dài của mạch máu ( L) và độ nhớt (n) của máu, tỷ lệ nghịch với luỹ thừa bậc bốn của bán kính r. + Đường kính mạch máu có ảnh hưởng đến huyết áp . Khi mạch máu co gây tăng huyết áp, mạch máu giãn làm huyết áp giảm. + Tính đàn hồi thành mạch kém gây tăng huyết áp. ở người già và đặc biệt ở những ngừơi sơ vữa động mạch do mạch kém đàn hồi nên huyết áp tăng *Đặc điểm biến đổi -Trong yên tĩnh: Khi VĐV có trình độ tập luyện tăng lên, huyết áp có xu hướng tăng, song vẫn nằm trong giới hạn bình thường theo lứa tuổi và giới tính. - Khi vận động tối đa: Ở VĐV, huyết áp tối đa tăng nhanh và giữ mức 180 -200 mmHg, huyết áp tối thiểu nói chung biến đổi ít trong hoạt động căng thẳng còn trong hoạt động kéo dài nó có thể giảm xuống..

<span class='text_page_counter'>(6)</span> SINH LÝ HỆ HÔ HẤP 1.Các khái niệm về hô hấp và hiện tượng cơ học của quá trình hô hấp a.Các khái niệm về hô hấp Hô hấp là quá trình trao đổi ôxy và CO2 giữa cơ thể với môi trường bên ngoài.Hô hấp được chia làm 2 loại Sơ đồ hô hấp ngoài, hô hấp trong Hệ hô hâp Máu Tim mạch. O2+ Hb. HbO2 O2. O2 CO2. Không CO2 + Hb khí HbCO2. CO2. - Hô hấp ngoài: Là quá trình vận chuyển ôxy từ ngoài vào máu thông qua hệ hô hấp và đào thải CO 2 từ máu ra ngoài. Đảm nhiệm chức năng hô hấp ngoài là vòng tuần hoàn nhỏ: Trao đổi khí ở phổi. - Hô hấp trong :Hay còn gọi là hô hấp tế bào là quá trình trao đổi ôxy và CO2 giữa máu và tế bào Đảm nhiệm chức năng hô hấp trong là vòng tuần hoàn lớn : Trao đổi khi xảy ra tại tế bào. b. Hiện tượng cơ học của quá trình hô hấp Hô hấp được thực hiện nhờ vào sự cử động của lồng ngực, sự chênh lệch áp suất trong khoang ngực, trong phế nang và co giãn của các cơ hô hấp tạo dòng không khí từ ngoài vào phổi và từ phổi đi ra ngoài.  Áp suất âm trong khoang màng phổi. Áp suất âm trong khoang màng phổi được tạo thành giữa 2 lá thành và lá tạng. Lá thành : Bọc mặt trong của thành lồng ngực . Lá tạng : Bọc lên bề mặt ngoài của phổi, có áp suất 753 mmHg thấp hơn áp suất của khí quyển (760mmHg) là 7 mmHg, áp suất này gọi là áp suất âm, áp suất này có sự thay đổi khi thực hiện động tác hít vào. Bình thừơng (– 7 )mmHg, Hít vào sâu xuống (- 30) mmHg, Khi thở ra (-4) mmHg, Thở ra gắng sức áp suất âm xấp xỉ bằng không( bằng hoặc hơi tăng hơn áp suất khí quyển( +1) đến (+2) mmHg. *Vai trò của áp suất âm: + Giúp cho máu từ tĩnh mạch về tim được dễ dàng. + Giúp cho máu từ tim phải lên phổi. + Giúp cho sự trao đổi khí đạt mức tối đa. + Giúp cho phổi di động theo hướng thay đổi của lồng ngực.  Cơ chế hít vào : Để thực hiện động tác hít vào thể tích lồng ngực tăng theo 3 chiều: Phải trái,Trước sau,Trên dưới. + Khi cơ hoành co, vòm cơ hoành hạ xuống, ép các cơ quan nội tạng trong khoang bụng dưới làm. cho thể tích lồngg ngực tăng theo chiều trên dưới. + Khi cơ liên sườn ngoài co nâng các xương sườn lên làm cho thể tích lồng ngực tăng theo chiều phaỉ trái và trước sau. + Ngoài ra có một số cơ phụ tham gia như cơ thang, cơ ức đòn chũm, cơ răng to. * Khi hít vào, lượng không khí vào phổi nhiều hay ít tuỳ thuộc vào lực co của cơ hô hấp. Ví dụ cơ hoành hạ 1 cm, thì làm cho thể tích lồng ngực tăng 250 cm3. Khi hít vào bình thường, cơ hoành hạ xuống 4 cm. Hít vào gắng sức cơ hoành hạ xuống 7- 8cm. Động tác hít vào là động tác tích cực được thực hiện do năng lượng của cơ hoành và cơ liên sườn ngoài.  Cơ chế thở ra . Thở ra là cơ chế thụ động, Khi thở ra, các cơ hô hấp giãn ra, lồng ngực xẹp xuống, đẩy không khí ra ngoài. cử động của lồng ngực khi thở ra ngược chiều với động tác hít vào. Khi thở ra là hoạt động theo ý muốn có thêm vai trò của cơ liên sườn trong tham gia Các cơ liên sườn trong co có tác dụng hạ thấp các xương sườn hạ xuống xích lại gần nhau, ép lồng ngực xẹp xuống cũng làm cho thể tích lồng ngực giảm. Cơ thẳng bụng co đẩy các bộ phận nội tạng bụng ở dưới ép sát lên vòm cơ hoành về phía lồng ngực. Ngực thu nhỏ, phế nang thu nhỏ , áp suất phế nang tăng đẩy thêm một lượng không khí ra khỏi phổi được gọi là thể tích khí dự trữ thở ra. 2. Các thông số chức năng hô hấp (1) Tần số hô hấp. a- Khái niệm: Tần số hô hấp là số lần thở trong khoảng thời gian 1 phút. - Tần số hô hấp ở người bình thường 16 -20 lần/1 phút. ở vận động viên giảm xuống còn 9-10 lần/1 phút khi vận động tần số hô hấp tăng lên đạt giá trị tối đa để phù hợp với nhu cầu ôxy mà cơ thể đòi hỏi. b. Tần số hô hấp phụ thuộc vào: + Lứa tuổi, giới tính. + Trình độ tập luyện. + Trạng thái sức khoẻ. + Yếu tố tâm lý... (2). Dung tích phổi toàn phần a- Khái niệm: Dung tích phổi toàn phần là tổng lượng khí tối đa có được trong phổi .ở người bình thường từ 4 - 6 lít. Thành phần của dung tích phổi gồm: + Thể tích thở bình thường(VT): Là thể tích không khí thực hiện trao đổi do hít vào và thở ra bình thường trong một nhịp thở khoảng 500ml. + Thể tích khí hít vàodự trữ (IRV): Là thể tích không khí do hít vào hết sức sau khi hít vào bình thường, khoảng 1500ml. + Thể tích khí dự trữ thở ra (ERV): Là thể tích không khí do thở ra hết sức sau khi thở ra bình. thường khoảng 1500ml. Ba loại khí trên tạo thành dung tích sống. +Thể tích cặn( RV):Là thể tích không khí chứa ở trong phổi sau khi thở ra tối đa nhưng không thể đưa lượng khí đó ra được, còn gọi là không khí cặn chức năng Khoảng 1200 - 1500m.( Vẽ hình các thể tích khí hô hấp ). b. Khái niệm dung tích sống ( VC ): Dung tích sống là lượng khí thở ra tối đa sau 1 lần hít vào hết sức. ở người bình thường dung tích sống khoảng 3500ml. Dung tích sống phụ thuộc vào: + Lực cơ hô hấp. + Số lượng phế nang tham gia. + Lứa tuổi, giới tính. + Trình độ tập luyện. + Đặc thù môn thể thao. c. Sự biến đổi dung tích sống do ảnh hưởng của tập luyện TDTT Dung tích sống của Tế người bình thường khoảng 3,5 bào lít, của các VĐV có thể đạt tới 5 -7 lít .Dung tích sống phụ thuộc đặc thù môn thể thao trong vận động dung tích sống tăng lên. Dung tích sống tăng cao ở các vận động viên bơi lội, bóng nước, bơi nghệ thuật, chạy sức bền ưa khí 6-7 lít.Dung tích sống thay đổi chủ yếu là không khí lưu thông ,chỉ số không khí lưu thông tăng lên tiến đến giới hạn của dung tích sống(từ 500-20002500ml). Người ta dùng chỉ số dung tích sống để đánh giá trình độ tập luyện của VĐVở các môn thể thao mang tính chu kỳ và các môn thể thao không hạn chế thở. Chỉ số Lorenls = dung tích sống( ml) /chiều cao (cm) (3).Thông khí phổi. a. Khái niệm thông khí phổi: Là lượng khí ra vào phổi trong khoảng thời gian 1 phút. ở người bình thường thông khí phổi khoảng 8 - 9 lít/1 phút. - Thông khí phổi được tính bằng tích của tần số hô hấp (f) và thể tích khí lưu thông (VT) V =(VT)x f = 18 lần/1 phút x 500 ml = 9000ml = 9 lít. b- Khái niệm thông khí phổi tối đa: (MVV hoặc (MBC)) Là lượng khí hít vào và thở ra tối đa trong khoảng thời gian 1 phút. Người bình thường thông khí phổi tối đa đạt 100 lít/1 phút. Vận động viên khi f = 60 -70 lần/ phút thì MVV = 140 - 160 lít/phút. c- Các yếu tố ảnh hưởng đến thông khí phổi tối đa. + Lực cơ hô hấp. + Kích thước của lồng ngực. + Lực cản của đường dẫn khí. + Sự đàn tính của phế nang. + Số lượng phế nang tham gia vào quá trình hô hấp. + Thông khí phổi tối đa tăng dần theo lứa tuổi đến 2025 tuổi đạt cao nhất và sau đó giảm dần (Astrand - 1960). + Trình độ tập luyện. + Đặc thù môn thể thao: Bơi lội, điền kinh (hoạt động ưa khí tối đa) có thông khí phổi tối đa. Các môn khác như các môn bóng, võ vật, thể dục chỉ đạt % của thông khí phổi tối đa * Trong hoạt động TDTT, thông khí phổi tăng phụ thuộc vào công suất vận động. Công suất vận cơ tăng thì thông khí phổi tăng và có thể đạt tối đa 140 -160 lít/phút ở bài tập công suất dưới tối đa. (4). Hấp thụ ôxy của cơ thể. a. Khái niệm hấp thụ ôxy: Là khả năng tiếp nhận lượng ôxy từ bên ngoài đưa vào tế bào nhằm mục đích thực hiện chức năng trao đổi chất. Hấp thụ ôxy của cơ thể người bình thường khoảng 250-300 ml/phút. b. Khái niệm hấp thụ ôxy tối đa (VO2max): Là khả năng hấp thụ ôxy lớn nhất của cơ thể trong thời gian 1 phút với công suất của tuần hoàn và hô hấp đạt tới giá trị tối đa. Người bình thường VO2max khoảng 2-3 lít/phút. ở vận động viên 4-5 lít/1 phút. c- Phân loại VO2max: Có 2 loại. - VO2max tuyệt đối được tính bằng lít/phút. - VO2max tương đối được tính bằng ml/kg/phút. d- Những điều kiện đạt tới khả năng hấp thụ ôxy tối đa. - Phải bão hoà ôxy. - Tần số nhịp tim đạt 180 lần/phút. - Nồng độ Axitlactic trong máu không thấp hơn 80-100 mg%. e- Cácyếu tố ảnh hưởng đến hấp thụ ôxy tối đa Có 2 yếu tố chính là : - Hệ vận chuyển ô xy : Bao gồm hệ máu,hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ thống này quyết định khả năng đưa ô xy từ ngoài qua phổi vào máu đến tế bào, mô. - Hệ sử dụng ô xy : Hệ cơ hoạt động sẽ quyết định khả năng sử dụng ô xy của các cơ tham gia vào vận động. Số lượng cơ tham gia càng nhiều thì khả năng sử dụng ô xy càng lớn. Ô xy từ môi trường bên ngoài được đưa vào máu là cần thiết để nồng độ ô xy trong máu động mạch đạt giá trị tối đa .Quá trình này được quyết định bởỉ thông khí phổi và khả năng thẩm thấu, khuyếch tán của màng phổi. Quá trình vận chuyển ô xy từ phổi đến tổ chức phụ thuộc vào máu và hệ tim mạch, Nồng độ ô xy trong máu động mạch có ý nghĩa rất lớn trong việc hấp thụ ô xy tối đa của tế bào, mô và khả năng kết hợp giữa ô xy và hemoglobin trong máu. Khả năng hấp thụ ô xy tối đa còn phụ thuộc vào lưu lượng và độ nhớt của máu, lưu lượng phút là yếu tố chính quyết định khả năng hấp thụ ô xy tối đa của cơ thể Lưu lượng phút càng lớn thì khả năng vận chuyển ô xy càng cao và do đó hấp thụ ô xy tối đa dễ đạt được. Quá trình hoạt động cơ cũng ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ ô xy tối đa .Sự phân phối máu cho các cơ hoạt động càng cao thì khả năng hấp thụ ô xy càng lớn. Ngoài ra ,hệ thống mao mạch ngoại biên vận chuyển máu nhiều cũng ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ ô.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> xy tối đa. Khả năng hấp thụ ô xy tối đa chỉ thể hiện rõ khi vận động có sự tham gia của 50% trọng lượng cơ tích cực trở lên, lúc đó chúng ta mới xác định được khả năng hấp thụ ô xy tối đa e. Các yếu tố hạn chế khả năng hấp thụ ô xy tối đa - Lượng thông khí phổi chưa đạt tới mức tối đa trong vận động - Trong thời gian vận động rất nặng, khi khả năng hấp thụ ô xy đã đạt mức tối đa mà lượng thông khí phổi vẫn tiếp tục tăng thì khả năng hấp thụ ô xy dừng lại ở mức tối đa hoặc hơi giảm - Lực cản cơ học - Khả năng hấp thụ ô xy tối đa còn hạn chế bởi hệ vận chuyển ô xy và hệ sử dụng, tiêu thụ ô xy. Tốc độ hấp thụ ô xy trong hoạt động cơ tăng dần đến khi nào cơ thể xuất hiện trạng thái ổn định thật. Ở một thời điểm nhất định, khả năng hấp thụ ô xy tương ứng với nhu cầu ô xy trạng thái đó gọi là trạng thái ổn định thật. Khi công suất vận động tăng dần với tần số mạch khoảng 170 -180 lần/ phút, trạng thái ổn định không được hình thành, mà hấp thụ ô xy có thể tăng dần đạt VO 2 max. Mức độ hấp thụ ô xy tối đa không thể duy trì được lâu, bởi vậy khi hoạt động thời gian dài, khả năng hấp thụ ô xy sẽ giảm vì mỏi mệt xuất hiện trong hệ vận chuyển ô xy Tốc độ vận chuyển ô xy là một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng hấp thụ ô xy. ô xy đưa vào máu một phần nhỏ hòa tan trong huyết tương, còn phần lớn ô xy kết hợp với Hb. Khi ở nhiệt độ O0c và áp suất 760 mmHg, cứ 100g Hb có thể kết hợp được với 135ml ô xy, ở máu người có thân nhiệt khoảng 36, 20c - 370c thì khả năng kết hợp thấp hơn.Trong yên tĩnh, tim đẩy đi được 4 -5 lít máu/ phút thì sẽ có 250 - 300 ml ô xy được hấp thụ. Hoạt động với công suất cao, ở BT công suất dưới tối đa, thể tích phút của tim tăng lên 30 34 lít máu/ phút, với lượng máu này chuyển tải ô xy đến tế bào mô có 5 - 6 lít ô xy / phút được hấp thụ. Công suất hoạt động tăng, lượng khí CO2 và các sản phẩm của quá trình trao đổi chất tăng tạo điều kiện cho sự phân ly Hb O2 và giải phóng ô xy..

<span class='text_page_counter'>(8)</span> 3. Hô hấp trong vận động Hô hấp trong vận động được đánh giá bằng 2 chỉ số : Nhu cầu ôxy và khả năng hấp thụ ô xy . mối quan hệ giữa chúng là đại lượng cơ bản để xác định trạng thái ổn định . Khi khả năng hấp thụ ô xy không thoả mãn được nhu cầu, khả năng hấp thụ ô xy trong thực tế thấp hơn so với nhu cầu là trạng thái ổn định giả. * Đặc điểm của trạng thái ổn định giả. -Nợ ô xy tăng dần đạt tới giới hạn, nợ ô xy 18 - 20 lít/ phút ở bài tập công suất dưới tối đa và bài tập công suất lớn. - Năng lượng cung cấp cho hoạt động cơ theo con đường yếm khí. - Các chỉ số sinh lý khác duy trì ở mức độ cao và đạt tới tối đa hoặc gần tối đa. - Hoạt động cơ trong trạng thái ổn định giả không thể kéo dài * Đặc điểm của trạng thái ổn định thật . - Khả năng hấp thụ ô xy trong thực tế luôn thoả mãn với nhu cầu ô xy trong vận động là trạng thái ổn định thật xuất hiện ở bài thật công suất trung bình. - Không gây nợ ô xy - Năng lượng cung cấp cho hoạt động cơ theo con đường ưa khí - Các chỉ số sinh lý khác duy trì ở mức độ thấp - Hoạt động cơ trong trạng thái ổn định thật duy trì trong thời gian dài trên 2 giờ 1. Nhu cầu ôxy - Khái niệm: Nhu cầu ôxy là lượng ôxy cần thiết cho quá trình ôxy hoá các hợp chất hữu cơ giải phóng năng lượng cho cơ thể hoạt động. Trong hoạt động nhu cầu ôxy tỷ lệ thuận với công suất hoạt động và tỷ lệ nghịch với thời gian vận động . Vídụ : Nhu cầu ôxy ở bài tập công suất tối đa là 40- 50lít /phút. Nhu cầu ôxy ở bài tập công suất dưới tối đa là 20-24 lít/phút. Nhu cầu ôxy ở bài tập công suất lớn là 4 - 5 lít/phút. Nhu cầu ôxy ở bài tập công suất trung bình là 3-4 lít/phút. - Cách tính nhu cầu ôxy. + Nhu cầu ôxy tính theo phút: Lượng ôxy cần thiết cho cơ thể hoạt động trong thời gian 1 phút. VD: Nhu cầu ôxy ở bài tập 100m là 7-8 lít/10", tính ra phút là 42 - 48 lít/phút. + Nhu cầu ôxy tính theo tổng nhu cầu ôxy cần thiết trong và sau vận động. VD: Nhu cầu ô xy ở bài tập 800m là 20lít /1p .Vậy trong thời gian chạy 800m mất 2 phút thì nhu cầu ô xy là 40lít - Giải quyết nhu cầu ôxy trong vận động. + Tăng công suất tuần hoàn đạt giá trị tối đa về thể tích phút, thể tích tâm thu của tim Tăng công suất hô hấp, thông khí phổi đạt giá trị tối đa + Tăng tốc độ phân ly HbO2, cung cấp ôxy cho tổ chức cơ hoạt động. 2 . Nợ ôxy trong vận động. Hiệu số giữa nhu cầu ôxy trong vận động và ôxy hấp thụ được trong thực tế được gọi là nợ ôxy. Sự tạo thành các chất trong quá trình chuyển hoá yếm khí. Để đào thải các. chất đó, có thể thực hiện được bằng con đường ôxy hoá chúng đến sản phẩm cuối cùng là H2O và CO2 hoặc tái tổng hợp thành chất ban đầu. Quá trình này cần có lượng ôxy bổ sung. Vì vậy trong hoạt động với thời gian ngắn, sau khi ngừng vận động, lượng ô xy vẫn tiếp tục hấp thụ ở mức độ cao để trang trải thiếu hụt ôxy trong vận động . - Khái niệm nợ ôxy: Là lượng ôxy cần thiết để đốt cháy hoàn toàn lượng Axitlactic sản sinh ra trong vận động. - Giới hạn nợ ôxy ở người bình thường là 10 lít/ ôxy/1 phút, vận động viên 18 - 20 lít ôxy/1 phút. - Nợ ôxy trong vận động phụ thuộc vào: Công suất hoạt động, Thời gian duy trì. Công suất hoạt động khác nhau thì nợ ôxy khác nhau Ví dụ : Bài tập công suất tối đa nợ ô xy chiếm 90-95% Bài tập công suất dưới tối đa nợ ô xy chiếm 80-85 % Bài tập công suất lớn nợ ô xy chiếm khoảng 15 % Bài tập công suất trung bình nợ ô xy chiếm khoảng 5 %. Lượng axitlactic càng được hình thành nhiều trong vận động thì nợ ô xy càng tăng, đạt tới giới hạn nợ ô xy ở bài tập công suất dưới tối đa (bài tập sức bền tốc độ ) - Nợ ôxy trong vận động phân làm 2 loại: + Nợ ôxy không có axitlactic: Xuất hiện ở giai đoạn đầu của quá trình vận động Đó là lượng ôxy cần thiết phải trang trải để tái tổng hợp ATP-CP và bổ sung nguồn ôxy dự trữ của tổ chức dưới dạng Myôglôbin.Giai đoạn này vai trò của ATP,CP sẽ thực hiện việc đảm bảo năng lượng của hoạt động cơ. Ví dụ: ở bài tập công suất tối đa, thời gian ngắn. + Nợ ôxy có axitlactic: Là giai đoạn tiếp theo, Là lượng ôxy cần thiết để loại trừ Axítlắctic ứ đọng trong máu ở vào thời điểm vận động.Giai đoạn này ,hệ glucophân có vai trò đảm bảo sự sự cung cấp năng lượng cho hoạt động cơ Ví dụ : ở bài tập công suất dưới tối đa như chạy 400m.800m - Cơ chế loại bỏ axitlactic + Để axitlactictham gia vào quá trình ôxy hoá tạo sản phẩm cuối cùng là H2O và CO2. + Sử dụng axitlactic để tái tổng hợp Glycozen. + Loại bỏ axitlactic bằng hệ thống đệm. SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA 1.Tiêu hóa thức ăn ở các phần của hệ tiêu hóa Tiêu hóa thức ăn xảy ra ở một cơ quan đặc biệt gọi là cơ quan tiêu hóa, chúng tạo thành hệ tiêu hóa của cơ thể . Hệ tiêu hóa gồm ống tiêu hóa và tuyến tiêu hóa, ống tiêu hóa bắt đầu từ miệng đến thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn. Các tuyến tiêu hóa gồm tuyến nước bọt, tuyến tụy. ngoại tiết bài tiết dịch tụy, gan bài tiết mật. a.Tiêu hóa ở miệng và thực quản *Tiêu hóa cơ học Thức ăn vào miêng được tiêu hóa bằng cách nhai nhỏ nhờ cơ nhai, má răng, khi thức ăn dược nghiền nhỏ, nhuyễn, thức ăn được nhào trộn với nước bọt rồi được đẩy xuống thực quản (khoảng 1 - 2 giây) *Tiêu hóa hóa học: Sự tiết nước bọt ở miệng Miệng có các tuyến nước bọt chính là tuyến mang tai, tuyến dưới lưỡi, tuyến dưới hàm.Ngoài ra còn rất nhiều tuyến nhỏ khác nằm dưới niêm mạc khoang miệng. Các tuyến này tiết ra nước bọt, là dịch tiêu hóa của khoang miệng. Lượng nước bọt được tiết ra hằng ngày khoảng 800 -1500ml. Thành phần của nước bọt gồm 2 men tiêu hóa chính: Amylaza chuyển hóa tinh bột thành đường đôi Mantaza chuyển hóa đường đôi thành đường đơn Ngoài men nước bọt còn chứa chất đạm ,các a xit a min ,muối khoáng .chất đạm mu xin của nước bọt làm cho thức ăn nhuyễn, trơn ,dễ di chuyển và dễ nuốt . Nước bọt được tiết ra theo cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện, khi thức ăn kích thích vào các cảm thụ quan ở khoang miệng và cả dưới tác động của mùi thức ăn ,âm thanh vv...Trung tâm điều tiết nước bọt nằm ở hành não.Vị chua làm tiết nước bọt nhiều gấp 8 - 20 lần mức độ bình thường .. Thành phần và lượng nước bọt được tiết ra phụ thuộc vào tính chất của thức ăn, Thức ăn khô và cứng làm nước bọt tiết ra nhiều hơn thức ăn lỏng. Khi đã bước đầu được tiêu hóa ở khoang miệng, thức ăn được nuốt xuống tiếp thực quản để vào dạ dày. Động tác nuốt được thực hiện theo phản xạ khi thức ăn kích thích các thụ quan của niêm mạc ở màn hầu và lưỡi gà. b.Tiêu hóa ở dạ dày *Tiêu hóa cơ học Các sóng nhu động của thực quản chuyển thức ăn xuống dạ dày.Dạ dày là đoạn phình to nhất của ông tiêu hóa .Dạ dày nối với thực quản qua tâm vị, nối với ruột non qua môn vị. Dạ dày co bóp gồm hai loại : Co bóp trương lực tác dụng khuấy và nhào trộn thức ăn với dịch vị Co bóp nhu động những sóng nhu động lớn bắt đầu từ đáy dạ dàycó tác dụng thúc đẩy thức ăn về phía tá tràng . *Tiêu hóa hóa học: Dịch dạ dày hay còn gọi là dịch vị, là dịch tiêu hóa do các tuyến dạ dàytiết ra. ở Niêm mạc dạ dày có rất nhiều tuyến : +Các tuyến vùng tâm vị và môn vị bài tiết chất nhầy . +Các tuyến vùng thân và đáy của dạ dày gồm 3 loại tế bào: Tế bào chính bài tiết men tiêu hóa. Tế bào viền bài tiết HCL. Tế bào niêm mạc hay tế bào nhầy bài tiết chất nhầy,Na HCO3 và các muối khoáng. Ngoài ra ,những tế bào biểu mô biến đổi của niêm mạc vùng hang bài tiết hormone GASTRIN có tác dụng điều hoà bài tiết dịch vị .  Nhóm các men tiêu hóa Pep sin: Được tế bào chính tiết ra dưới dạng chưa hoạt hóa là pep sinogen,tham gia vào quá trình tiêu hóa đạm , nó xúc tác quá trình phân giải đạm đến polypeptit. Men sữa( Lab- fermemt, Renin): Xúc tiến quá trình tiêu hóa ban đầu các chất đạm của sữa. Lipaza dịch vị men phân giải mỡ đã được nhũ tương hóa của thức ăn (sưã ,trứng ).  .Nhóm các chất vô cơ:Dịch vị chứa nhiều chất vô cơ :HCl, , Na+K+ Mg+, H+,ClHPO4--, SO4- - , Nhưng quan trọng nhất là HCl . *Tác dụng của HCl: - Tạo pH cần thiết dể hoạt hóa men pepsinogen. - Tạo pH tối thuận cho pep sin hoạt động . - Sát khuẩn :Tiêu diệt các vi khuẩn có trong thức ăn. - Làm tan can xi trong xương làm cho thức ăn mền đi. HCl tác động lên các hormone(Chuyển Gastrin sang trạng thái hoạt đông, Tạo men Secretin ở tá tràng. - Đóng mở môn vị . -Tăng cường hoạt động co bóp để di chuyển thức ăn của dạ dày.  Các chất nhầy trong dạ dày: Được tiết ra trong dạ dày gồm nhiều phân tử Glyprotein và mucopolysacarit. Các chất nhầy tạo thành một màng dai, kiềm bao phủ toàn bộ niêm mạc dạ dày để bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi tác dụng ăn mòn của HCl và pepsin . Khi bài tiết, chất nhầy giảm sút niêm mạc dạ dày dễ bị ăn mòn, gây hội chứng viêm loét dạ dày .Chất nhầy còn có tác dụng bôi trơn làm cho thức ăn được vận chuyển dễ dàng. Hoạt động tiết dịch của dạ dày dược điều khiển bằng các xung động thần kinh đi đến dạ dày theo dây thần kinh số 10 (là thần kinh phó giao cảm ).Kích thích thần kinh phó giao cảm làm dịch vị tiết ra nhiều, ngược lại kích thích thần kinh giao.

<span class='text_page_counter'>(9)</span> cảm làm ức chế quá trình tiết dịch vị . Thức ăn di chuyển từ dạ dày xuống ruột từng đợt do các cơ của dạ dày và cơ thắt - mở môn vị co bóp nhịp nhàng theo chu kỳ, sự co bóp của dạ dày và nhất là môn vị chịu tác động của hàm lượng HCl, các yếu tố thần kinh và thể dịch Thức ăn lưu trú trong dạ dày trung bình từ 4 - 8 giờ phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tinh, trạng thái tâm lý, hoạt đông thể lực vv nhưng trước hết phụ thuộc vào tính chất lý hóa của thức ăn. Thức ăn mỡ lưu trú trong dạ dày lâu nhất,thức ăn lỏng chuyển xuống ruột ngay sau khi vào dạ dày . c.Tiêu hóa ở ruột non : *Tiêu hóa cơ học Ruột non là đoạn tiếp nối sát ngay dạ dày ,nó là đoạn dài nhất của ống tiêu hóa(300-600 cm ).ở đây có cơ chế chuyển động con lắc: Vận đông lắc lư : Sự vận động của các cơ dọc, sự co cuả các cơ đi theo dạng sóng. cử động này có tác dụng khuấy thức ăn chứ không đẩy thức ăn về phía trước. Co bóp phân đoạn : Sự co của các cơ vòng ( Co ở vòng trên, giãn ở vòng dưới ), có tác dụng nhào trộn thức ăn với các dịch ở ruột non.Chiều dài của mỗi đoạn co bóp khoảng 1cm. Như thế mỗi co bóp gây ra một sự phân đoạn của ruột non và chia ruột non thành những đoạn. Cử động nhu động : Sự phối hợp của hai cơ chế trên và có sự chỉ đạo của thần kinh và hormone chuyển thức ăn từ trên xuống dưới *Tiêu hóa hóa học: Sự bài tiết dịch ở ruột non Ở ruột non là đoạn có nhiều dịch tiêu hóa nhất,ở đây thức ăn chịu tác động của 3 yếu tố là dịch ruột ,dich tụy ,dịch mật ,chúng được tiết tục tiêu hóa để hoàn tất quá trình tiêu hóa vàđược hấp thụ vào máu và bạch huyết . Dịch ruột : Được các tuyến dịch nằm ngay trong niêm mạc ruột tiết Dịch ruột chứa nhiều chất nhầy và men tiêu hóa : Peptidaza có tác dụng tiêu hóa đạm. Lipaza có tác dụng tiêu hóa mỡ. Amylaza và Mantaza tiêu hóa đường . Enterokinaza có tác dụng hoạt hóa Tripsinogen của dịch tụy thành Tripsin hoạt động . Dịch tụy : Dịch tuy chảy vào ruột qua các ống nối tuyến tụy với ruột Dịch tụy là một chất lỏng không màu ,có phản ứng kiềm do chứa một lượng lớn bicacbonat .Nó có tác dụng trung hòa a xit của dịch vị , làm cho độ PH của tá tràng là 6,0 -7,0. Dịch tụy chứa nhiều men: Amylaza ,mantaza :có tác dụng phân giải đường . Lactaza:phân giải đường sữa . Lipaza :phân giải li pid thành glyxeerin và axit béo Dịch mật : Do các tế bào gan tiết ra và cũng chảy vào ruột qua các ống mật Thành phần của mật gồm : - Muối mật :Chiếm 50 % các chất hòa tan của mật . - Sắc tố mật :là sản phẩm được chế biến từ huyết cầu tố bị phá hủy trong gan.. - Các chất điện giải :Na+, K+ ,Cl-, HCO3- Cholesterol :Là tiền chất của muối mật do thức ăn cung cấp hoặc được tổng hợp trong các tế bào gan trong quá trình chuyển hóa mỡ. Tác dụng của dịch mật : Hoạt hóa các men của dịch ruột và dịch tuỵ, đặc biệt là men Lipaza chuyển hóa mỡ. Mật có tác dụng biến li pit thành nhũ tương, ngoài ra còn tăng cường nhu động ruột. Dịch ruột, dịch tụy, dịch mật đều được bài tiết dưới tác động cơ học và hóa học của thức ăn theo cơ chế phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện khi thức ăn vào đến ruột và cả các kích thích phản xạ có điều kiện . Một số hormone đường tiêu hóa Secretin, Enterogastrin, Serotonin làm tăng bài tiết dịch ruột, dịch tụy, dịch mật. Tất cả các đoạn trên của ống tiêu hóa đều có khả năng hấp thụ các chất, Tuy nhiên sự hấp thụ các chất dinh dưỡng xảy ra chủ yếu ở ruột non. d.Quá trình tiêu hóa ở ruột già : Khi thức ăn vào đến ruột già, thức ăn chỉ còn một ít chất dinh dưỡng, ở ruột già có nhều vi khuẩn làm lên men đường và thối rữa đạm, Nhờ sự lên men này mà thức ăn được phân giải và hấp thụ hoàn toàn.Trong ruột già thức ăn sẽ bị đặc lại do hút nước và trở thành phân. Phân được cấu tạo từ các chất cặn bã của thức ăn không được tiêu hóa như sắc tố mật, vi khuẩn và các chất nhầy. 2. Đặc điểm tiêu hóa trong hoạt động thể lực Hoạt động thể lực có ảnh hưởng khác nhau đối với quá trình tiêu hóa. Có hai mặt : Một mặt hoạt động thể lực làm tăng cường quá trình trao đổi năng lượng , nâng cao nhu cầu của cơ thể về các chất dinh dưỡng vì vậy làm tăng cường hoạt động của hệ tiêu hóa. Tuy nhiên trong thời gian hoạt động cơ bắp cũng như trong giai đoạn hồi phục, sự tiết dịch của các tuyến dịch tiêu hóa cũng như nhu động của ruột và dạ dày đều giảm tức là hoạt động tiêu hóa giảm. Nguyên nhân do : +Trong hoạt đông thể lực , các trung tâm thần kinh vận động , tuần hoàn , hô hấp ... hưng phấn mạnh gây ức chế các trung tâm khác không có quan hệ trực tiếp đến hoạt động co cơ trong đó có trung tâm tiêu hóa . +Trong khi hoạt động cơ tương quan giữa hệgiao cảm và phó giao cảm thay đổi nghiêng về phía hệ giao cảm điều đó làm giảm quá trình tiêu hóa +Adrenalin sinh ra nhiều trong lớp tủy thượng thận trong hoạt động cơ bắp căng thẳng cũng ức chế tiêu hóa.. +Do sự phân phối lại máu trong vận động. Trong yên tĩnh dòng máu đến các cơ quan tiêu hóa chiếm 25-30% lượng máu tuần hoàn . Trong vận động dòng máu đến với cơ quan tiêu hóa giảm còn 3,5%, điều đó làm việc tiết dịch và háp thụ các chất dinh dưỡng ở các cơ quan tiêu hóa đều giảm đi . *Yêu cầu : +Không nên tiến hành tập luyện sớm hơn 1,5 – 2 giờ sau khi ăn + Không nên tập khi đang đói vì lúc đó dự trữ đường của cơ thể giảm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động thể lực của cơ thể + Sau khi ăn no cũng không nên tập vì dạ dày đầy cản trở chuyển động của cơ hoành làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của tim và phổi *Nguy hại + Ăn no tập sẽ gây hiện tượng sa dạ dày + Bị đau sóc + Tăng thể trọng chung , rối loạn tình hình động tác + Tăng nguy cơ xảy ra chấn thương II. SINH LÝ HỆ BÀI TIẾT 1. Chức năng bài tiết của thận: Thận là cơ quan bài tiết chủ yếu của cơ thể, không có thận động vật không thể tồn tại được.Vai trò chính của thận là tạo nước tiểu, Quá trình tạo nước tiểu ngoài chức năng bài tiết các sản phẩm của quá trình trao đổi chất, còn có một số tác dụng sinh lý quan trọng là: - Duy trì nồng độ các chất hữu cơ, muối khoáng và H2O ở mức bình thường - Điều hòa áp suất thẩm thấu , cân bằng độ kiềm toan - Đào thải các chất độc hại, các chất lạ bao gồm cả thuốc ra ngoài cơ thể. Ngoài ra trong thận còn có các tế bào nội tiết chuyên bài tiết một chất có hoạt tính sinh học cao đó là Remin có tác dụng điều hòa huyết áp và quá trình tiết hormone Andosteron của tuyến thượng thận Để thực hiện những chức năng như trên, thận có một cấu tạo đặc biệt:. Mỗi thận được cấu tạo từ trên 1 triệu đơn vị thận hay hay còn gọi là nephron (nephơron) - Đơn vị thận được cấu tạo bởi tiểu cầu thận (thể Malpighi) và các ống dẫn nước tiểu . Tiểu cầu thận là các mạch máu nhỏ nằm song song với nhau và tạo thành khối cầu . Nó được bao bọc bởi 2 lớp tế bào biểu mô đặc biệt gọi là BoWman. Lớp trong của bao Bowman tiếp xúc với các mao mạch của tiểu cầu thận hình thành màng lọc .. Lớp ngoài của bowman thắt lại và tiếp tục kéo dài tạo thành các ống thận , ống nối thông với bowman nằm ở vùng vỏ thận được gọi là ống lượn lượn gần, tiếp sau ống lượn gần là quai henle và cuôi cùng là ống lượn xa , ống này đổ vào ống góp . ống góp không thuộc đơn vị thận mà chỉ nhận nước tiểu từ một số đơn vị thận nhất định để đưa đến bể thận . * Mao mạch thận Các mạch máu nhỏ của tiểu cầu thận được phân ra từ động mạch thận. Các mạch máu nhỏ mang máu đến có đường kính lớn hơn các động mạch mang máu đi điều này có một ý nghĩa rất quan trọng vì nó tạo nên một huyết áp tương đối cao ở lướ mao mạch nằm giữa hai động mạch đến và đi đó. Các động mạch dẫn máu đi khỏi tiểu cầu thận một quãng ngắn lại tiếp tục phân nhánh và tạo thành một lưới mao mạch dày đặc bao quanh các ống lượn và quai henle. Cấu tạo bao gồm các mạch máu và ống lượn đan xen, bao bọc lẫn nhau nhiều lần như vậy của đơn vị thận làm cho quá trình lọc và tái lọc để tạo nước tiểu xảy ra thuận lợi và phù hợp với các quá trình sinh lý của cơ thể. Quá trình hình thành nước tiểu xảy ra như sau: Do sự chênh lệch về áp suất trong bowman và tiểu cầu thận áp suất của tiểu cầu thận 75mm Hg áp suất trong huyết tương 30mm Hg áp suất bowman 6mmHg Người ta tính được áp suất lọc qua tiểu cầu thận là 39 mmHg Do tác dụng của Remin điều hòa huyết áp và quá trình tiết hocmon Andosteron của tuyến thượng thận Áp suất cao của bó mạch trong tiểu cầu thận ( 65 -75 mmHg ) có tác dụng đẩy nước vào các chất hòa tan từ lòng mạch qua màng lọc vào khoang của bao bowman.Chất lọc này được gọi là nước tiểu đầu ( có thành phần gần giống huyết tương, chỉ khác là ở nồng độ Prôtêin thấp và nồng độ các Ion clo, HCO3 cao hơn . Cứ 10 lít máu đi qua tiểu cầu thận thì có 1 lít nước tiểu đầu . 1 ngày thận lọc được khoảng 180 lít nước tiểu đầu Nước tiểu đầu đi qua hệ thống ống lượn gần , ống lượn xa , quai Henle , xảy ra quá trình tái hấp thu các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho cơ thể từ nước tiểu đầu vào máu . 1 lượng rất nhỏ ( 1-1,5 lít ) là nước tiểu mỗi ngày. Sự hấp thu lại các chất nước tiểu đầu phụ thuộc vào nồng độ của chúng trong máu. Nếu nồng độ một chất nào đó ở trong máu ( VD Glucose cao hơn mức bình thường 150-180 mg % ) thì nó sẽ không được tái hấp thu và bị đào thải theo nước tiểu . Cơ chế tái hấp thu các chất qua thận - Chủ yếu hấp thụ ở ống lượn gần 80% , 20% ở ống lượn xa và quai Henle - 2 cơ chế hấp thụ : Cơ chế tích cực : các chất như Glucose, axitamin, Prtêin ... Cơ.

<span class='text_page_counter'>(10)</span> chế thụ động :H2O, muối khoáng và các chất điện giải Hệ bài tiết điều hòa độ kiềm toan Trong huyết tương có lon H+ được bài xuất ra từ phản ứng : CO2 + H2O H+ +HCO3 + Na ở ống thận được hấp thu lại huyết tương và kết hợp với HCO3 tạo thành NaHCO3 Độ pH của nước tiểu từ 5,6 - 6,6 Trong quá trình đào thải nước tiểu độ pH giảm, nó sẽ huy động hệ NaHCO3 trung hòa Điều hòa thận bằng yếu tố thần kinh và thể dịch a, Cơ chế thần kinh : Thần kinh giao cảm gây hiện tượng co mạch và làm giảm bài tiết nước tiểu Thần kinh phó giao cảm tăng bài tiết hormone chống lợi tiểu b, Cơ chế thể dịch - Hormone Vazprexin ( tuyến yên ) hormone chống lợi tiểu để tăng quá trình tái hấp thu nước thì lượng nước tiểu giảm đi - Hormone Thyzoxin ( tuyến giáp ) có tác dụng tăng bài tiết nước tiểu Ngoài ra các hocmon khác gây co mạch và giãn mạch cũng ảnh hưởng đến sự bài tiết nước tiểu 2. Ảnh hưởng của hoạt động thể lực đối với chức năng bài tiết - Lượng máu đi đến thận giảm , bình thường 1lít /1phút . Trong vận động giảm còn 0,25 lít /1phút . - Độ axit của nước tiểu tăng do nồng độ axitlactic và axit phôtpho ric - Lượng nước tiểu trong vận động giảm, các môn hoạt động kéo dài có thể bị ngừng trệ ( vô niệu ) - Nước tiểu giảm trong hoạt động do sự bài tiết mồ hôi làm tăng bài tiết Vazoprexin dẫn đến tăng tái hấp thu Do thiếu ôxy , tính thấm của tiểu cầu thận thay đổi có một số chất trong nước tiểu như :Anbumin , glucose , protêin , thậm chí có cả hồng cầu SINH LÝ HỆ THẦN KINH 1. Đặc điểm hoạt động của trung tâm thần kinh a.Khái niệm về trung tâm thần kinh: Trung tâm thần kinh là một tập hợp các nơ ron cùng tham gia vào việc điều khiển một chức năng hoặc thực hiện một phản xạ nào đó của cơ thể . khái niệm trung tâm thần kinh không phải là khái niệm cấu tạo ,mà là một khái niệm chức năng .Điều đó có nghĩa là các nơ ron của một trung tâm không nhất thiếtphải nằm ở cùng một địa điểm ở não.Ví dụ: Trung tâm hô hấp ở hành não không có giới hạn rõ rệt . Trung tâm thần kinh là một bộ phận của cung phản xạ, làm nhiệm vụ phân tích, tổng hợp và xử lý các luồng xung động đi đến từ cơ quan cảm thụ để tạo ra các luồng xung động ly tâm đi tới các cơ quan hiệu ứng . b. Dẫn truyền hưng phấn qua các trung tâm thần kinh: - Hưng phấn được dẫn truyền theo một chiều : Do trung tâm thần kinh là nơi tiếp xúc của các tế. bào thần kinh, nên ở đây có các xi náp thần kinh, tại xi náp có các hóa chất trung gian gây hiện tượng khử cực, xung động chỉ có thể truyền theo một chiều từ mặt trước đến mặt sau xi náp.Vì vậy trong các trung tâm thần kinh ,hưng phấn chỉ đi từ nơ ron cảm giác, qua các nơ ron trung gian đến nơ ron ly tâm theo một chiều . - Dẫn truyền hưng phấn bị chậm lại ở trung tâm thần kinh. Khi đi qua các trung tâm thần kinh tốc độ dẫn truyền hung phấn bị chậm lại .Dẫn truyền hưng phấn bị chậm lại là do trong các trung tâm tâm thần kinh có các xi náp ,thời gian chậm này chính là thời gian chậm ở xi náp. - Tổng hợp hưng phấn ở trung tâm thần kinh : ở các trung tâm thần kinh hưng phấn được tổng hợp lại, tức là làm cho phản xạ có thể xuất hiện hoặc tăng lên khi kích thích lặp lại nhiều lần, có hai loại tổng hợp :Tổng hợp theo không gian và tổng hợp theo thời gian. +Tổng hợp theo không gian :khi có một kích thích yếu tác động lên cơ quan cảm thụ thì phản xạ sẽ không xảy ra .nhng nếu cùng một lúc ,ta tác động lên nhiều cơ quan cảm thụ thì phản xạ xẽ xuất hiện do các kích thích yếu đó đã được tổng hơp ở trung tâm thần kinh . +Tổng hợp theo thời gian : nếukích thích yếu tác động lên cơ quan cảm thụ liên tục ,tuần tự chúng cũng có thể gây lên phản xạ Hiện tượng tổng hợp hưng phấn ở trung tâm thần kinh chính là hiện tượng tổng hợp ở xi náp, tức là tổng hợp hưng phấn để tạo điện thế động ở màng sau xi náp . Biến đổi nhịp hưng phấn: Tần số xung động do trung tâm thần kinh phát ra cho các cơ quan hiệu ứng có thể khác với tần số mà các cơ quan cảm thụ truyền đến trung tâm thần kinh. tức là ở trung tâm thần kinh hưng phấn có thể bị biến đổi nhịp .Vì vậy tần số xung động thần kinh từ trung tâm thần kinh đi đén các cơ quan hiệu ứng phụ thuộc rất ít vào tần số kích thích ban đầu, trung tâm thần kinh có xu huớng trả lời những kích thích hướng tâm khác nhau bằng một nhip hưng phấn tương đối ổn định riêng của mình . c.. Đặc điểm phối hợp hoạt động của các trung tâm thần kinh: Khi luồng xung động được truyền đến trung tâm thần kinh, nó không chỉ chịu những biến đổi tuân theo đặc điểm dẫn truyền hưng phấn qua các trung tâm thần kinh quyết định và gây biến đổi đối với trung tâm thần kinh tiếp nhận kích thích, mà còn tác động đến các trung tâm thần kinh khác nữa. Sự tác động đó tuân theo những đặc điểm nhất định.. * Hiện tượng cảm ứng: Khi một trung tâm thần kinh nhận được kích thích từ cơ quan cảm thụ, tức là khi hưng phấn, nó sẽ gây ra những biến đổi nhất định ở các trung tâm thần kinh khác. Hiện tượng đó gọi là hiện tượng cảm ứng .Người ta phân biệt hai loại cảm ứng : + Hiện tượng cảm ứng đồng thời Khi một trung tâm thần kinh hưng phấn thì những trung tâm thần kinh ở xung quanh và những trung tâm có liên hệ chức năng với nó sẽ bị hạn chế .Nếu quá trình ức chế xảy ra ở một trung tâm thần kinh thì những trung tâm thần kinh ở xung quanh lại hưng phấn. + Hiên tượng cảm ứng kế tiếp:Khi một trung tâm thần kinh hưng phấn thì nó sẽ bị ức chế một thời gian. Nếu trạng thái ức chế của một trung tâm thần kinh kết thúc thì khả năng hưng phấn của nó lại tăng lên. * Hiện tượng lan tỏa và tập trung hưng phấn : Các xung động hướng tâm không chỉ gây hưng phấn ở trung tâm thần kinh của một cung phản xạ mà còn có thể truyền tới các trung tâm phản xạ khác .Hiện tượng này gọi là sự lan tỏa của hưng phấn. Trong điều kiện tự nhiên, hưng phấn có thể tỏa rộng trong hệ thần kinh trung ương ,song trên thực tế hưng phấn chỉ truyền theo một hướng nhất định và gây ra những phản xạ theo một trình tự nhất định ,vì trong hệ thần kinh trung uơng có những đường liên hệ ngang và dọc nhất định .Khi lan tỏa, hưng phấn sẽ yếu dần đi và mất hẳn phụ thuộc vào cường độ hưng phấn và trạng thái của các trung tâm thần kinh . Khi kích thích lặp lại nhiều lần, do sự phát triển của các ức chế phân biệt, sự lan tỏa hưng phấn bị hạn chế dần và chỉ xảy ra ở một vài trung tâm nhất định .Hiện tượng đó gọi là sự tập trungcủa hưng phấn. Hiện tượng lan tỏa và tập trung hưng phấn trong trung tâm thần kinh có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các phản xạ có điều kiện .  Hiện tượng lưu dấu vết : Sau khi hưng phấn , sự thay đổi những đặc tính cơ năng của trung tâm thần kinh còn có thể được bảo tồn một thời gian nhất định .hiện tuợng đó được gọi là hiện tượng lưu dấu vết .Dấu vêt có thể được duy trì từ vài giây đến nhiều năm .Hiện tượng lưu dấu vết có vai trò quan trọng trong hoạt động của tất cả các phần của hệ thần kinh trung ương ,nhất là vỏ não .hiện tượng lưu dấu vết làm cho hoạt tính chức năng của trung tâm thần kinh được nâng cao.. Những biến đổi dấu vết ở vỏ não là cơ sở của trí nhớ. 2.Phản xạ có điều kiện. a. Khái niệm: Phản xạ có điều kiện là phản xạ được hình thành trong cuộc sống cá thể do lao động, học tập, luyện tập được tạo thành . Ví dụ phản xạ tiết nước bọt bằng ánh sáng b.Tính chất - Không có tính ổn định cao nếu không thường xuyên liên tục củng cố thì nó sẽ mất đi.Ví dụ : kĩ thuật nhảy xa - động tác này được hình thành trên cơ sở của động tác cũ vì vậy phải luyện tập thường xuyên để hình thành định hình động lực - Phản xạ có điều kiện là phản xạ mang tính vạn năng .Ví dụ : trời lạnh thì mặc ấm , trời nóng thì mặc mát . Các phản xạ nhằm mục đích phù hợp với môi trường và nâng cao khả năng thích nghi - Phản xạ có điều kiện có sự tham gia của vỏ bán cầu đại não c . Phân loại phản xạ có điều kiện * Dựa theo kích thích của phản xạ có điều kiện phân ra : phản xạ có điều kiện tự nhiên, phản xạ có điều kiện nhân tạo, phản xạ có điều kiện lưu dấu vết . - Phản xạ có điều kiện tự nhiên : Tính chất của phản xạ là hình thành có điều kiện tự nhiên, dựa theo kích thích của phản xạ không điều kiện.Ví dụ phản xạ tiết nước bọt khi có tiếng chuông . - Phản xạ có điều kiện nhân tạo : Là phản xạ được hình thành dựa trên kích thích của phản xạ có điều kiện . - Phản xạ có điêù kiện lưu dấu vết Cũng là phản xạ nhân tạo nhung tác dụng của phản xạ trước lưu lại cho phản xạ sau .Ví dụ : đứng - đi - chạy . * Dựa vào các cơ quan cảm thụ có phản xạ có điều kiện thị giác ,thính giác . * Dựa theo các cơ quan cảm giác : các phản xạ có điều kiện được hình thành từ cơ quan cảm giác bên ngoài thì có phản xạ có điều kiện ngoại cảm thụ. Còn từ các cơ quan cảm thụ của cơ - cảm thụ bản thể và các cơ quan nội tạng thì gọi là phản xạ có điều kiện nội cảm thụ * Dựa theo hệ thống phản ứng cơ thể thì có rất nhiều phản xạ khác nhau : phản xạ hô hấp ,tuần hoàn ,vận động, phản xạ dinh dưỡng, phản xạ bảo vệ. * Dựa vào sự kiến lập của phản xạ có phản xạ có điều kiện cấp 1,cấp 2…cấp 6 d. Cơ sở hình thành một phản xạ có điều kiện Phản xạ không điều kiện hoặc là có điều kiện đã được xây dựng từ trước. Về bản chất, đó là sự liên kết hai hay một số loại hoạt động của cơ thể thành một hệ chức năng thống nhất. e- Điều kiện để hình thành một phản xạ có điều kiện Điều kiện 1: chọn kích thích, phải có sự phối hợp giữa kích thích trung tính và kích thích không điều kiện Thức ăn tác động lên khoang miệng là một kích thích không điều kiện.Nếu việc cho ăn.

<span class='text_page_counter'>(11)</span> được phối hợp với một tín hiệu trước đây không có quan hệ gì với thức ăn, như ánh sáng , thì ánh sáng là kích thích trung tính. Sử dụng hai loại kích thích này lặp đi lặp lại làm cho hai trung tâm thần kinh hưng phấn ,ánh sáng sẽ trở thành kích thích có điều kiện của phản xạ tiết nước bọt. Khi có ánh sáng, ở động vật thí nghiệm, nước bọt sẽ tiết ra mà không cần có thức ăn. Điều kiện 2 :Tác động của kích thích có điều kiện phải xảy ra trước kích thích không điều kiện, trong ví dụ trên ,ánh sáng phải xảy ra trước sau đó mới cho vật thí nghiệm ăn.Thời gian giữa 2 kích thích phải hợp lý. Điều kiện 3 là cơ thể phải ở trong tình trạng tỉnh táo, các trung tâm tương ứng của phản xạ phải có tính hưng phấn cao. Điều kiện 4 là tránh kích thích không cần thiết để có thể gây những phản xạ không đuợc dự định, các kích thich gây nhiễu như nói chuyện,tiếng ồn, nóng, lạnh vv... ảnh hưởng xấu tới việc hình thành phản xạ có điều kiện . ví dụ : đang gõ nhịp thì có tiếng động mạnh . g. Cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện Là sự hình thành đường liên hệ tạm thời giữa các trung tâm của kích thích không điều kiện và có điều kiện trên vỏ não . ví dụ : Trong phản xạ tiết nước bọt bằng ánh sáng, đó là đường liên hệ tạm thời giữa trung tâm thị giác (thuỳ chẩm ) và thức ăn (hành não) Đường đây liên hệ này được hình thành như sau: Khi có kích thích trung tính (ánh sáng ) tác động vào cơ quan cảm thụ( Võng mạc mắt ), ở vùng cảm giác tương ứng trên vỏ não(thuỳ chẩm ) xuất hiện hưng phấn, sau đó kích thích không điều kiện (Thức ăn) sẽ gây một vùng hưng phấn trên vỏ não (hành não ).Theo nguyên tắc ưu thế vùng hưng phấn mạnh sẽ lôi cuốn các trung tâm hưng phấn yếu hơn về phía mình và như vậy giữa 2 trung tâm hình thành đường liên hệ tạm thời, chưa có từ trước, đường liên hệ này được lặp đi lặp lại nhiều lần hình thành định hình động lực và khi bỏ thức ăn chỉ sử dụng ánh sáng thì chó vẫn tiết nước bọt h. Ức chế của phản xạ có điều kiện * Ức chế ngoài là ức chế do kích thích từ bên ngoài ở vào thời điểm hình thành phản xạ có điều kiện nếu có 1 tác động mạnh thì phản xạ có điều kiện đang hình thành bị ức chế . VD:phản xạ tiết nước bọt đang được hình thành do gõ nhẹ thì có tiếng động mạnh * Ức chế bảo vệ: do tác động của kích thích mạnh nhanh hoặc kéo dài quá mức sẽ xuất hiện ức chế bảo vệ tránh cho cơ thể không bị tổn thơng về thể xác và tâm hồn. VD: trong thể thao tập luyện để tuần hoàn mạch tối ưu là 180lần/ phút, có thể 200-220 lần / phút nhưng nếu vợt quá 220lần /1' thì cơ thể phải ngừng tập để không xảy ra tập luyện quá sức * Ức chế dập tắt Kich thích của phản xạ này được hình. thành, nếu chúng ta không củng cố thì phản xạ này sẽ bị mất dần . VD: cho chó ăn có đèn phải được củng cố thường xuyên thì khi không có ăn chỉ có đèn con Chó vẫn tiết nước bọt. Nếu không củng cố thường xuyên thì phản xạ này sẽ bị mất dần , kkhi có đèn , chó không tiết nớc bọt *Ức chế trì hoãn ức chế này phát triển khi kích thích của phản xạ có điều kiện không có củng cố =kích thích phản xạ không điều kiện trong cùng một thời điểm mà nó xảy ra chậm hơn -->và nhờ vào ức chế này cơ thể phân tích được tác động của các kích thích theo thời gian và chỉ phản ứng với các kích thích cần thiết. Trong thể thao dự lệnh của khẩu lệnh là ức chế gây trì hoãn VD: trong thời điểm nay, ngồi học,phản xạ ngự trị là phản xạ viết , nghe hiểu, còn phản xạ đói là phản xạ trì hoãn. *Ức chế phân biệt là khả năng chỉ phản ứng với kích thích có điều kiện đựơc củng cố bằng kích thích không có điều kiện , ví dụ ánh sáng chẳng hạn + Khi sử dụng máy gỗ nhịp 80 lần /1' rồi cho ăn thì con vật tiết dịch vị hoặc tiết nước bọt * Ức chế có điều kiện là một dạng của ức chế phân biệt , ức chế có điều kiện xảy ra khi thêm vào một kích thích có điều kiện và kích thích đó đợc gọi là kích thích có điều kiện mới ,kích thích này sẽ cản trở và ức chế sự hình thành phản xạ có điều kiện mới . . SINH LÝ HỆ NỘI TIẾT 1.Khái niêm nội tiết, hormone. Nội tiết là những cơ quan tiết dịch, tiết ra những chất chất có hoạt tính sinh học cao có khả năng gây ra các biến đổi đáng kể trạng thái chức năng của cơ thể. Ví dụ : Tuyến giáp thì tiết ra hormone thyroxin, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và trưởng thành của cơ thể, ở tuổi thiếu niên nếu thiếu thyroxin cơ thể sẽ kém phát triển và phát triển không cân đối cả về trí tuệ lẫn thể lực . Còn tuyến tuỵ thì tiết ra insulin, có tác dung điều hoà quá trình hấp thụ và sử dụng glucose, nếu thiếu insulin thì nồng độ đường trong máu sẽ tăng lên rất mạnh và dẫn đến bệnh đái tháo đường. Các chất do tuyến nội tiêt tiết ra được gọi là hormone. Khái niệm hormone là những chất đặc biệt do tuyến nội tiết tiết ra đổ vào máu với một liều lượng rất nhỏ cũng gây ra sự biến đổi cơ thể . Ví dụ : Hormone Adrenalin do tuyến thượng thận tiết ra có tác dụng điều khiển hoạt động của tim. 2. Tuyến yên.. Vị trí, cấu tạo :Tuyến yên nằm ở đáy của não thất 3, ở phía cuống phễu của vùng dưới đối thị, gồm 3 thuỳ : trước, giữa, sau. a.Thuỳ trước tuyến yên : có vai trò điều khiển hoạt động của các tuyến nội tiết khác do nó tiết ra các hormone kích thích là : Corticotropin(ACTH) kích thích tuyến thượng thận: ACTH có tác dụng làm tăng cường hoạt động của vỏ thượng thận - Thyrotropin(TTH) kích thích tuyến giáp: Có tác dụng tăng cường sự tiết thyoxin của tuyến giáp . Khi cơ thể bị lạnh thì hormone hướng giáp tiết ra nhiều hơn nên thyoxin cũng được tiết ra nhiều làm quá trình sinh nhiệt của cơ thể tăng lên. Do đó hormone này có ảnh hưởng trên sự rèn luyện của cơ thể đối với nhiệt độ lạnh. - Gonadotropin(GTH) kích thích tuyến sinh dục: Hormone tuyến sinh dục gồm có : - Prolactin kích thích tuyến vú tiết sữa. Prolactin chỉ tác dụng sau khi tuyến vú đã chịu ảnh hưởng của Oxtrogen và Progexteron. - Hormone kích nang trứng hay Prolan A (Dạng đào thải qua nước tiểu) có tác dụng kích thích sự phát triển của nang trứng ở giống cái và kích thích sự sinh sản tinh trùng ở giống đực . Lutêin hay Prolan B ( Dạng đào thải qua nước tiểu) có tác dụng tăng cường sự hình thành những sinh dục như androgen và Oxtrogen, đồng thời có tác dụng đối với hiện tượng rụng trứng và hình thành thể vàng là nơi tiết ra Progexteron. Ngoài ra tuyến yên còn tiết ra hormone tăng trưởng somatropin(STH), có tác dụng : +Tăng tổng hợp protit +Giải phóng axit béo từ tổ chức mỡ +Phát triển cơ thể cân đối và nhanh chóng Hormone này được tiết ra nhiều nhất khi cơ thể bước vào tuổi dậy thì. Hormone này ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá của cơ thể, kích thích sự phát triển chiều cao của cơ thể trẻ. Khi tuyến yên không đủ hormone phát triển thì sẽ gây bệnh lùn ở trẻ em, nhưng cơ thể cân đối và trí tuệ phát triển tương đối bình thường, khác với người đần độn do tuyến giáp hoạt động yếu. Nếu hormone phát triển được tiết ra quá nhiều ở thuỳ trước tuyến yên thì sẽ gây ra bệnh khổng lồ ở trẻ em và bệnh đại cực ở người lớn. b..Thuỳ giữa tuyến yên : Bài tiết hormone Melanotropin. Tác dụng : Kich thich sản xuất sắc tố màu đen, làm cho da sẫm màu. Nếu hormone này tăng thì da sẽ đen. c. Thuỳ sau tuyến yên là các tế bào thần kinh tiết dịch, thuỳ sau bài tiết 2 hormone : - Vazoprexin: Hormone chống lợi niệu hay-Vazoprexin( co mạch tố) làm giảm sự bài tiết của thận và tăng cường sự hấp thụ lại nước ở quai henlê và ống lượn xa làm giảm lượng nước tiểu đồng thời còn làm co mạch và tăng huyết áp . Khi hoạt động thể lực, mồ hôi ra nhiều cũng gây tăng bài tiết Vazoprexin. Oxytoxin : Có tác dụng + Tăng sự co bóp của tử cung + Tăng bài tiết sữa trong thời gian nuôi con . Khi chức năng của thuỳ sau tuyến yên bị rối loạn sẽ gây ra bệnh đái tháo nhạt ( một ngày đái tới 10 -15 lít nước tiểu ). Đặc điểm biến đổi : Hoạt động cơ bắp làm tăng tiết hormone kích thich tuyến thượng thận, Hormone tăng trưởng, hormone kích thích tuyến giáp và làm giảm tiết hormone sinh dục. Hormone somatotropin của tuyến yên cũng tăng lên trong vận động, điều đó làm cho quá trình trao đổi chất và phát triển phì đại trong cơ thể xảy ra thuận lợi hơn. Hormone Vazoprexin cũng tăng lên trong vận động Khi hoạt động thể lực, mồ hôi ra nhiều cũng gây tăng bài tiết Vazoprexin để tăng cường sự hấp thụ lại nước. 3. Hormone tuyến thượng thận. Vị trí, cấu tạo : Nằm ở 2 cực của 2 quả thận , có trọng lượng từ 5 đên15g. có cấu trúc được chia thành 2 lớp : vỏ thượng thận và tuỷ thượng thận. 1).Vỏ thượng thận Bao bọc bên ngoài tuỷ thượng thận ,gồm 3 lớp hay 3 vùng: a.Vùng ngoài :(vùng cầu ) tiềt ra mineralocorticoit Tác dụng : Điều hoà chuyển hóa muối khoáng, nhóm đặc trưng quan trọng nhất là aldosteron có tác dụng duy trì hàm lượng Natri cần thiết trong máu, dịch gian bào và bạch huyết . Khi thiếu hormone này cơ thể sẽ bị mất nat ri do sự đào thải nat ri ở thận tăng lên, làm rối loạn nội môi và có thể sẫn đến tử vong. Khi aldosteron vừa đủ trong cơ thể , Nó có khả năng tích luỹ natri và như vậy , duy trì huyết áp ở mức cần thiết. Mineralocorticoit còn tham gia vào việc trao đổi Ka li, Can xi và ma giê . b.Vùng giữa (vùng bó) tiết ra hormone glucocorticoit, quan trọng nhất là cortisol và corticostecoit có tác dụng : - Điều hoà đa dạng ở phạm vi rộng. + Điều hoà trao đổi đường, hạn chế việc sử dụng đường glucose ở tổ chức và tăng cường tích luỹ glycogen trong cơ và gan . + Điều hoà trao đổi prôtit, tăng quá trình dị hoá ở tổ chức bạch huyết giải phóng axit amin tự do. Vì vậy glucocorticoit làm tăng chuyển hoá a min của các axit amin để sử dụng chúng vào mục đích khác nhau, như tổng hợp men. - Có vai trò quan trọng trong sự thích nghi của cơ thể, đặc biệt là thích nghi với hoạt động cơ bắp ..

<span class='text_page_counter'>(12)</span> + Khi hoạt động cơ bắp căng thẳng thì vỏ thượng thận sẽ tiết ra cortisol và corticosteron nhiều hơn do đó protit dự trữ trong cơ thể sẽ được huy động nhiều hơn, lượng glycogen được tạo ra ở gan tăng lên, quá trình trao đổi ion và nước qua màng tế bào được tăng cường . + Nếu vận động căng thẳng kéo dài thì sau giai đoạn tăng tiết hormone, hàm lượng glucocorticoit sẽ giảm xuống. Đó là phản ứng bảo vệ của vỏ thượng thận nhằm ngăn ngừa việc sử dụng quá mức các nguồn dự trữ của cơ thể. c.Vùng trong :(vùng lưới) tiết ra các Steroit tương tự như Steroit do tuyến sinh dục tiết ra là hormone sinh duc nữ otrogen và hormone sinh dục nam là Androgen. 2).Tuỷ thượng thận Là lõi của tuyến thượng thận, nằm ở phía trong của tuyến . Hormone chủ yếu của tuỷ thượng thận là Adrênalin và chất có cùng cấu tạo song thiếu 1 nhóm metyl là Nor - adrênalin. 2 chất này có tên chung là Catecholamin. *Tác dụng : Hai chất này có tác dụng sinh lý gần giống nhau (chúng chỉ khác nhau về ngưỡng tác động lên các cơ quan) Adrênalin có tác động mạnh hơn Nor - adrênalin khoảng 4 đến 8 lần,Tuy nhiên đối với mạch máu thì tác động cuả Nor - adrênalin lại mạnh hơn . Adrênalin có tác dụng : -Tăng tần số tim -Tăng lực bóp cơ tim -Co mạch máu ở ngoại biên làm tăng huyết áp -Hoạt động của hệ thần kinh trung ương tăng -Hấp thụ oxy ở tổ chức tăng -Tăng phân giải mỡ, tăng phân giải Glycogen ở gan để tạo Glucose cho hoạt động cơ bắp Như vậy là adrênalin có tác dụng huy động nguồn dư trữ của cơ thể để thích nghi với vận động và các tác động mạnh của môi trường sống . Hệ thần kinh trung ương chỉ huy sự bài tiết hormone tuỷ thượng thận qua thần kinh giao cảm. Đối với các cơ quan, tác động của adrênalin và hệ giao cảm nói chung gần giống nhau .Vì vậy thần kinh giao cảm và tuỷ thượng thận hình thành 1 hệ điều khiển thống nhất gọi là hệ Adrênalin - giao cảm, đảm nhiệm việc đảm bảo năng lượng cho tất cả quá trình thích nghi để đâu tranh sinh tồn . Đặc điểm biến đổi - Các hormone của vỏ thượng thận có vai quan trọng trong sự thích nghi với hoạt động thể lực, khi chức năng của vỏ thượng thận giảm sút sẽ làm cơ chóng mệt mỏi và yếu đi rõ rệt. Trong các hoạt động nặng, nhưng thời gian ngắn, việc sản xuất hormone vỏ thượng thận được tăng lên, còn trong các hoạt động rât dài, khi xuất hiện mệt mỏi, hàm lượng glucocorticoit trong máu có thể giảm đi. ý nghĩa của các hormone vỏ thượng thận trong vận động là : - Làm tăng công suất co bóp của tim. - Làm tăng thể tích phút Làm giảm nồng độ a xitlactic trong máu, giảm nợ dưỡng, tăng cường hấp thụ ô xy trong vận động. - Hormone aldosteron có tác dụng hạn chế đào thải natri qua nước tiểu để duy trì khả năng làm việc của cơ thể. - Sau vận động, chúng còn tham gia vào quá trình bình thường hoá hoạt động của hệ tim mạch, thúc đẩy sự hồi phục. Việc sản xuất hormone vỏ thượng thận chịu sự điều khiển của hormone ACTH của thuỳ trước tuyến yên. Ở VĐV được huấn luyện tốt việc sản xuất hormone ACTH được tăng lên trong các hoạt động thể lực nặng. Khi hoạt động cơ bắp, việc bài tiết hormone tuỷ thượng thận là adrênalin tăng lên. hoạt động càng nặng thì ađrênalin được sản xuất càng nhiều. ở những VĐV trình độ cao, hàm lượng adrênalin trong máu khi thực hiện lượng vận động lớn hơn người thường rất nhiều, vì vậy mà hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp và sự hưng phấn thần kinh của VĐV có thể tăng lên rất nhanh và cao. SINH LÝ THẦN KINH – CƠ 1 Cơ chế co cơ.(Cấu tạo của cơ vân. Giải thích cơ chế co cơ của E Huxley ứng dụng trong ô cơ) . a.Cấu tạo của cơ vân Cơ vân được tạo nên bởi các tế bào cơ - sợi cơ. Sợi cơ là 1 tế bào mảnh và dài( Có sợi dài tới 10-12 cm), có nhiều nhân. Cấu tạo sợi cơ gồm: + Màng cơ bao bọc sợi cơ, có cấu tạo chủ yếu là protit và lipit, có chức năng trao đổi chất giữa tế bào cơ với môi trường bên trong cơ thể, Màng cơ có tính đàn hồi và có khả năng dẫn truyền xung động thần kinh. + Cơ tương: Là một chất dịch có chất đam, các i on và các chất hoà tan, ngâm trong cơ tương có lưới cơ tương là một hệ thống các ống ngang dọc cùng các bể chứa, Lưới cơ tương cũng có màng như sợi cơ.Hệ thống ống của lưới cơ tương nối bề mặt của màng sợi cơ với các bộ phận sâu trong cơ tương và có vai trò quan trọng trong quá trình dẫn truyền hưng phấn từ bề mặt sợi cơ vào sâu trong cơ và bài tiết các sản. phẩm trao đổi chất ra ngoài khoảng gian bào. + Tơ cơ: Được xen lẫn vào lưới cơ tương, là các sợi nhỏ hơn nằm xếp dọc theo sợi cơ, Tơ cơ là các bó sợi rất nhỏ nằm song song với nhau theo một trật tự nhất định, tơ cơ có đường kính khoảng 1 - 3 micron. Có 2 loại tơ cơ, là các sợi dày và mỏng. Tơ cơ là sợi gồm các ô nối tiếp nhau, giới hạn bởi các đường z, là cấu trúc lặp đi lặp lại cơ bản của cơ. Các sợi cơ cơ dày (miozin) tạo thành một đĩa tối sẫm gọi là đĩa A, xen kẽ giữa đĩa I sáng hơn.Đĩa I sáng, bị các đường z chia làm 2, các sợi ac tin mỏng bám vào đường z từ 2 phía. Các sợi tơ cơ dày được cấu tạo chủ yếu bằng phân tử (miozin). ở 2 đầu của nó, các đầu của các phân tử miozin quay về phía sợi ac tin mỏng và được gọi là cầu nối ngang. Các cầu nối ngang ở 2 đầu quay về 2 phía ngược chiều nhau và gắn với thân của nó với một góc nhọn, ở giữa các sợi miozin dày không có các cầu nối ngang Các sợi cơ cơ dày do 2 sợi ac tin xoắn vào nhau tạo nên.ở các điểm uốn của vòng xoắn có các chất đặc biệt để ngăn cản sự kết hợp cầu nối ngang của sợi miozin, sợi Actin đi từ 2 đầu bản Z không nối lại được với nhau gọi là khoảng H.. b. Qúa trình co cơ theo hai hình thức : 1 là Dạng co cơ rút ngắn chiều dài ô cơ ( co cơ đẳng trương): Là dạng co cơ không thay đổi về trương lực mà chỉ thay đổi về chiều dài sợi cơ. ứng dụng trong ô cơ, nó biểu thị sự rút ngắn chiều dài của ô cơ: Hai sợi Actin kéo về trung tâm ô cơ và trượt trên sợi Myozin, 2 sợi Actin lồng toàn bộ trên sợi Miozin nhưng cả hai sợi đều không co ngắn lại, làm cho đĩa I mất đi và 2 đầu bản Z tiến đến giới hạn đĩa tối A, bản Z rút ngắn về phía trung tâm của ô cơ. 2 là Dạng co cơ tăng trương lực của cơ (co cơ đẳng trường): Là dạng co cơ không thay đổi về chiều dài mà chỉ thay đổi về trương lực cơ.. ứng dụng trong ô cơ: 2 sợi Actin kéo căng về phía trương tâm ô cơ: đĩa I, đĩa A và 2 đầu bản Z giữ nguyên vị trí, chỉ khác là khi 2 đầu bản Z kéo căng về trung tâm ô cơ làm cho khoảng H dày lên. c..Giải thích cơ chế co cơ theo học thuyết trượt của Huxley Khi cơ co và thả lỏng là xảy ra hiện tượng lặp đi lặp lại sự hình thành và phá vỡ cầu nối ngang giữa sợi Actin và miozin. Cơ co được là do có sự cung cấp năng lượng, năng lượng trực tiếp cho cơ co là ATP. + Khi không có xung động thần kinh( cơ thả lỏng) Các cầu nối ngang của sợi miozin không gắn được vào sợi ac tin mỏng vì trên sợi ac tin có các phân tử Tropomiozin và tropozin. Các phân tử này sẽ ngăn cản phản ứng gắn các cầu nối ngang và ức chế men miozin - ATP - aza là men phân giải ATP để cung cấp năng lượng vì vậy không có năng lượng để gắn các cầu nối ngang. Lúc này ngạch miozin vuông góc với sợi miozin. + Khi có một luồng xung động thần kinh đi đến từ nơron vận động. Sau khi qua xináp thần kinh cơ, luồng xung động ấy sẽ gây nên điện thế động lan toả theo bề mặt và vào bên trong sợi cơ gây ra những biến đổi hoá học phát động quá trình co cơ như sau: Sự lan toả điện thể động vào trong sợi cơ làm thay đổi tính thấm của màng các bể chứa ở lưới cơ tương làm cho Ion Ca ++ nằm trong bể chứa nhanh chóng đi ra ngoài vào giữa các tơ cơ. Các Ion Ca++ tự do được giải phóng sẽ kết hợp với tropomiozin ở sợi actin mỏng, giải phóng vị trí để các cầu nối ngang của sợi miozin có thể gắn vào sợi actin, trung tâm Actin được giải phóng kéo ngạch miozin về phía trung tâm để tạo cầu nối phản ứng diễn ra : M - ATP + A tạo cầu nối M - ATP - A Khi gắn được vào sợi Actin, các cầu nối ngang nằm ở vị trí chéo có thể thực hiện một lực kéo dọc làm cho các sợi actin mỏng trượt dọc theo sợi miozin dầy, các sợi actin mỏng lúc này sẽ chui vào khoảng giữa các sợi miozin dầy, di chuyển về phía tâm của ô cơ, ngạch miozin được co lại gọi là co cầu nối. Cùng lúc đó Ion Ca++ tự do cũng kết hợp với phân tử Tropozin và giải phóng họat tính của men miozin - ATP - aza, nó sẽ phân huỷ ATP ở đầu miozin để cung cấp năng lượng cho các cầu nối ngang kéo sợi Actin, phản ứng diễn ra. M - ATP - A + H 20 co cầu nối M - ADP - A + AMP + Q Sau khi kéo, cầu nối ngang ở điểm tiếp xúc với sợi Actin sẽ lại đứt ra. Phân tử ATP mới sẽ được tái tổng hợp ở cầu nối ngang của miozin. M - ADP - A + ATP M - ATP + A + ADP Khi nào trong tơ cơ còn có ion canxi thì chu kỳ trên còn tiếp tục lặp lại, cầu nối ngang sẽ lại gắn vào một điểm mới trên sợi actin,phân tử ATP mới lại phân hủy để cung cấp.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> năng lượng cho các cầu nối ngang kéo các sợi actin. Hàm lượng ion canxi cao trong tơ cơ chỉ kéo dài vài miligiây, sau đó chúng bị đẩy ngược về phía bể chứa của lưới cơ tương nhờ một cơ chế bơm tích cực gọi là “ Bơm canxi “và cần phải tiêu hao một năng lượng nhất định. Khi ion canxi mất đi, tropozin ở sợi Actin lại tiếp tục giải phóng, và tiếp tục ức chế men miozin - ATP - aza làm cho ATP không bị phân huỷ và không cung cấp được năng lượng. Sự kết hợp giữa cầu nối ngang của sợi actin bị ngăn cản, cơ duỗi ra trở về trạng thái yên tĩnh. II. Năng lượng của sự co cơ.(ATP) a.Khái niệm ATP : ATP là 1 hợp chất có chứa photpho giàu năng lượng,( adenozin triphotphat) được ty lạp thể tạo thành do quá trình photphorin hóa ADP và sự ô xy hóa hàng loạt chất chuyển hóa. b.Vai trò của ATP trong quá trình co cơ. - Nguồn cung cấp năng lượng trực tiếp cho cơ co là ATP(adenozin Triphotphat) Thực hiện chức năng co và thả lỏng cơ : Khi thủy phân ATP tạo ra ADP ( adenozin diphotphat) và một nhóm phốt phát. Quá trình này xảy ra với sự tham gia của men miozin – ATP – za và tỏa ra 10 kcal năng lượng tự do , cung cấp cho các cầu nối ngang kéo sợi Actin trượt dọc theo sợi miozin. ATP + H2O ADP + H3PO4 + Q (10 kcal). - Nhưng dự trữ ATP trong một bó cơ không nhiều, để co cơ lâu dài, ATP phải luôn được phục hồi đầy đủ từ nhiều nguồn : + ATP dự trữ trong cơ. + Phân giải các chất dinh dưỡng như đường, đạm, mỡ. Năng lượng tự do này sẽ kết hợp một nhóm phốt phát vào ADP để tạo ATP. c.Cơ chế tái tổng hợp ATP theo 2 con đường. + Yếm khí, Anaerobia. + Ưa khí Aerobia. Trong cơ thế có 3 hệ thống tái tạo ATP còn gọi là hệ năng lượng bao gồm: + Hệ photphagen( Hệ ATP - CP ). + Hệ Glucophân (hệ lactíc). + Hệ ưa khí (hệ ôxy hoá). Ba hệ này khác nhau về cơ chất, tức là chất dùng để sản sinh năng lượng. Khác nhau về dung lượng năng lượng, nghĩa là số năng lượng tối đa có thể cung cấp. Khác nhau về công suất nghĩa là năng lượng lớn nhất có thể cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định. Mức độ tham gia của 3 hệ năng lượng vào việc cung cấp năng lượng để tái tạo ATP phụ thuộc vào: + Công suất và thời gian co cơ. + Điều kiện hoạt động của cơ. + Mức độ cung cấp ôxy cho hoạt động cơ thể.. 1). Hệ photphagen (ATP - CP). - Cơ chất: CP (Crenatin phot phat) chứa trong cơ : CP+ADP CPK ATP+Cr Quá trình phân giải CP để cung cấp năng lượng xảy ra rất nhanh, không phụ thuộc vào việc cung cấp ôxy cho cơ thể nên nó được sử dụng trong giai đoạn đầu của tất cả hoạt động cơ bắp. - Công suất: Hệ photphagen có công suất lớn nhất trong các hệ năng lượng: Số ATP được tái tổng hợp trong một đơn vị thời gian (phút) là khoảng 36 kcal/1 phút gấp 3 lần so với hệ Glucophân và gấp 4 -10 lần hệ ôxy hoá. - Dung lượng năng lượng của hệ photphagen không lớn vì dự trữ ATP và CP trong cơ thể rất ít (5 kcal). - Cung cấp năng lượng: Do đặc điểm về công suất và dung lượng như vậy nên hệ photphagen có vai trò chủ yếu trong việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động công suất tối đa, có sự co cơ tối đa về lực và tốc độ. Ví dụ: Chạy ngắn, ném đẩy, nhảy.v.v... 2).Hệ năng lượng lactic (hệ glucophân). - Cơ chất: Phân giải hoá học yếm khí Glucose và Glycogen. Quá trình cung cấp năng lượng Glucophân yếm khí xảy ra ở cơ tương - nơi có đủ các men xúc tác cho phản ứng này: C6H12O6 + 2 ADP + 2 H 3PO4  2 C3H6O3 + 2 ATP + 2 H2O (C6H10O5)n+3 ADP+3 H3PO42 C3H6O3+3 ATP+2H2O+ (C6H10O5)n-1. - Công suất năng lượng tương đối lớn, khoảng 12 kcal/1 phút. - Dung lượng năng lượng: Không lớn lắm do nồng độ Axítlactic gây ức chế các men phân giải glucose và glycogen. Toàn bộ năng lượng chỉ cung cấp khoảng 12 kcal vì hàm lượng glycogen trong cơ trung bình 15g/1 kg. Trong hoạt động với mức tối đa, sự phân giải yếm khí cũng chỉ xảy ra với không quá 25% lượng glycogen dự trữ. - Cung cấp năng lượng cho các hoạt động. Hệ lactic trong thực tế xảy ra từ khi bắt đầu hoạt động cơ và đạt công suất lớn nhất sau 30 - 40 giây. Vì vậy quyết định trong việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động kéo dài từ 20 giây đến vài 3 phút có sự co cơ mạnh và tốc độ cao như chạy 200m đến 800m, bơi 50 - 200m. 3.Hệ năng lượng ôxy - Cơ chất: Ôxy hoá các chất dinh dưỡng như đường, đạm, mỡ để cung cấp năng lượng cho cơ thể song vai trò của Protid trong quá trình ôxy hoá để cung cấp năng lượng là rất nhỏ vì vậy thực tế Protid không được tính đến khi xem xét cơ chất của hệ ôxy. Hai chất chính cung cấp năng lượng cho quá trình co cơ là Gluxid và Lipid 2 chất này khác nhau về cơ chất và dung lượng.. * ô xy hóa đường - Cơ chất: Ô xy hóa glucose và glycogen C6H12O6 + O2 +  38 ATP + 6H2O + 6CO2 (C6H10O5)n+ O2  +39ATP+6H2O+6CO2 + (C6H10O5)n-1. - Công suất: Ôxy hoá đường thấp hơn so với hệ lactic, khoảng 8 kcal/1 phút vì: + Để phân giải glucose, glycogen bằng con đường ưa khí, cơ thể cần phải hấp thụ một lượng ôxy nhất định. + Quá trình ôxy hoá đường đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định. - Dung lượng của hệ ôxy hoá phụ thuộc vào dự trữ glycogen ở cơ gan và vào khả năng tạo glucose từ chất khác (Axitlactic, Axit pyriuvic...) của gan, dự trữ đường đó rất lớn so với yêu cầu hoạt động của cơ thể và khoảng 800 kcal. Số năng lượng này đủ để một người bình thường chạy 20km bằng cách ôxy hoá đường - Hiệu quả về năng lượng: Ôxy hoá hoàn toàn một phân tử glucose sẽ cung cấp được một năng lượng hay nói cách khác tái tạo được một lượng ATP nhiều gấp 19 lần so với phân giải đường yếm khí, vì vậy hệ ôxy là hệ có hiệu quả năng lượng lớn hơn nhiều so với hệ lactic yếm khí. * Ôxy hoá mỡ. Năng lượng sẽ tạo ra khi ôxy hoá các phân tử Axít béo của Tryglyxerit là thành phần cấu tạo của mỡ. Quá trình này xảy ra ở ty lạp thể. - Dung lượng năng lượng của mỡ lớn nhất trong số các nguồn năng lượng của cơ. Dự trữ mỡ trong cơ thể người từ 10 - 30% trọng lượng cơ thể, khoảng 5% nằm trong cơ còn lại chủ yếu nằm trong các kho dự trữ, khi cần thiết mỡ sẽ đi vào máu sau đó đến cơ. Toàn bộ năng lượng dự trữ lên đến 60.000 kcal . Hệ năng lượng ôxy hoá có thể đảm bảo năng lượng cho cơ thể hoạt động với thời gian dài từ nhiều giờ đến hàng chục ngày.Tỷ lệ giữa đường và mỡ bị ôxy hoá phụ thuộc vào công suất của hoạt động ưa khí: + Công suất càng lớn thì tỷ lệ ôxy hoá đường vào việc cung cấp năng lượng càng lớn và phần đóng góp của mỡ càng nhỏ. SINH. LÝ. HOẠT. ĐÔNG TDTT 1.Khái niệm, quan điểm và cơ sở sinh lý phân loại bài tập thể thao. Khái niệm bài tập thể thao:Là một tổ hợp các động tác có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được thành tích thể thao cao nhất . Ví dụ: Bài tập nhảy xa là tổ hợp của các động tác. gồm: Chạy đà, giậm nhảy, bay trên không và rơi xuống đất, nhằm đạt được mục đích để bay được xa nhất . Phân loại bài tập thể thao. - Quan điểm để phân loại. Farơfen là người nghiên cứu sinh lý học TDTT, ông đề xuất việc phân loại các bài tập thể thao theo 2 quan điểm: Quan điểm 1: Các bài tập thể thao được phân thành một nhóm nếu có thể dùng các phương pháp, phương tiện, chế độ giáo dục thể chất tương đối giống nhau để thực hiện chúng. Ví dụ : Các BT chạy 100, 200, 300m... có thể xếp vào một nhóm gọi là BT công suất tối đa vì chúng có thể sử dụng cùng phương pháp, phương tiện và giáo dục tố chất thể lực tương đối giống nhau. Quan điểm 2 : Các bài tập thể thao được phân thành một nhóm nếu chúng được sử dụng như nhau trong hệ thống giáo dục thể chất nhằm tăng cường trạng thái chức năng của một cơ quan, hệ cơ quan hoặc một cơ cơ chế, tức là phát triển cùng một tố chất thể lực. Ví dụ: Bài tập chạy 3000m, 5000m là bài tập công suất lớn có thể sử dụng cho các môn thể thao để phát triển sức bền. - Cơ sở để phân loại bài tập thể thao. - Dựa vào những biến đổi xảy ra trong cơ thể do hoạt động cơ bắp gây nên (các chỉ số sinh lý, sinh hoá). - Dựa vào công suất và thời gian hoạt động - Dựa vào tính chất gắng sức, đặc điểm co cơ, đặc điểm điều khiển và các yếu tố khác nữa. c- Phân loại bài tập thể thao.. - Bài tập tĩnh: Không có sự di chuyển cơ thể trong không gian. Ví dụ: Động tác trồng chuối, hãm ngang trong thể dục dụng cụ. - Bài tập động: Cơ sự di chuyển hay một bộ phận cơ thể trong không gian, tức là tạo ra một công cơ học .Ví dụ: Chạy, bơi, các môn bóng... - Bài tập chuẩn: là bài tập có hình thức và trình tự động tác đã được biết từ trước. Ví dụ: Bài tập chạy, bơi. - Bài tập không chuẩn: Hình thức và trình tự động tác luôn thay đổi phụ thuộc vào tình huống. Ví dụ: Thi đấu Võ, vật, các môn bóng. - Bài tập định lượng: Bao gồm các bài tập mà thành tích có thể đo đếm được bằng mét, giây, kg. Ví.

<span class='text_page_counter'>(14)</span> dụ: Chạy tính bằng giây. Nhảy tính bằng m. Cử tạ tính bằng kg. - Bài tập định tính: Bao gồm các bài tập không đo lường kết quả được mà phải đánh giá bằng cách cho điểm. Ví dụ: Nhảy cầu, thể dục dụng cụ. - Bài tập có chu kỳ : Các bài tập động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần theo một cơ cấu cố định, mặc dù các động tác có thể thay đổi biên độ, tần số.Ví dụ: Chạy, đi bộ, bơi... - Bài tập không có chu kỳ: có các động tác tuần tự khác nhau, mặc dù từng động tác riêng lẻ đã được định hình và xác định từ trước.Ví dụ: Bài tập nhảy 3 bước, ném biên, đá phạt trong các môn bóng. 2. Đặc tính sinh lý của bài tập động có chu kỳ: 1).Đặc điểm sinh lý của cơ thể khi thực hiện bài tập công suất tối đa * Đặc điểm chung: Là bài tập có tần số động tác tối đa trong thời gian ngắn. Thời gian duy trì: Từ 10 giây đến không quá 20- 30 giây. Tốc độ: 9 - 10 m/s. Cự ly: Chạy 100m, 200m. Bơi 25m, 50m. Đua xe đạp: 200 - 500m. * Đặc điểm sinh lý. - Hệ cơ: Bài tập công suất tối đa sự co cơ cần phải tạo ra một lực tối đa kết hợp với tần số động tác tối đa đòi hỏi cơ bắp phải có sức mạnh và độ linh hoạt cao. - Hệ máu. Số lượng Hêmôglôbin và hồng cầu trong máu hơi tăng. Glucose trong máu cũng tăng lên. Hàm lượng Axítlactic trong máu không cao và tiếp tục tăng lên sau khi ngừng vận động đến mức tối đa là 5-8 mMol/lít. - Hệ tim mạch. Tần số tim đạt giá trị tối đa:180 - 200 lần/1 phút và có thể đạt 220 lần/1 phút ở cuối cự ly. Huyết áp tối đa: 180 - 200 mmHg. Huyết áp tối thiểu: Không thay đổi hoặc tăng từ 5 -15 mmHg. Thể tích tâm thu và thể tích phút hầu như không đổi (tăng lên ít nhiều). * Thể tích tâm thu và thể tích phút hầu như không thay đổi vì bài tập này thời gian hoạt động quá ngắn, chưa khắc phục được tính ỳ của hệ tuần hoàn, phải sau 1-3 phút vận động thì công suất tuần hoàn mới đạt giá trị tối đa. - Hệ hô hấp. Tần số hô hấp và độ sâu hô hấp hầu như không tăng do thời gian hoạt động quá ngắn. Các chỉ số hô hấp bao gồm cả hấp thụ ôxy sẽ tăng sau khi ngừng hoạt động. Nhu cầu ôxy không lớn: 7- 8 lít/10 giây. Song nhu cầu trong một thời gian lại rất lớn. Khả năng hấp thụ ôxy: Không đạt giá trị cao chỉ khoảng 0,5 lít/10 giây. Vì vậy nợ dưỡng từ 6,5 7,5 lít/10 giây tức là 39 - 45 lít/1 phút chiếm 90 -95%.. Trình độ thể thao càng cao, khả năng nợ dưỡng càng cao. - Năng lượng tiêu hao. Cung cấp cho hoạt động này được sử dụng hoàn toàn bằng con đường yếm khí, hệ tim mạch và hệ hô hấp thực tế không đóng vai trò quan trọng mà năng lượng được cung cấp nhờ hệ photphát (ATP - CP). Hệ ATP - CP: 90%. Hệ Glucophân: 10%. Công suất tối đa của các vận động viên xuất sắc có thể đạt 120 kcal/ phút tiêu hao năng lượng . - Hệ nội tiết. Tuyến thượng thận tăng bài tiết Ađrênalin và norAđrênalin Tần số tim. Tăng bài tiết Glucocorticoit tăng để tăng công suất co bóp của tim, tăng chuyển hoá đường và kích thích quá trình tạo hồng cầu làm cho cơ thể thích nghi với hoạt động thể lực. - Nguyên nhân mệt mỏi - Bài tập công suất tối đa có tần số động tác tối đa vì vậy không thể duy trì tần số cao trong thời gian dài, thần kinh trung ương chóng mệt mỏi vì phải hưng phấn với tần số xung động cao và dự trữ năng lượng trong cơ (ATP, CP) bị phân huỷ mạnh , dự trữ ATP-CP chỉ đủ để hoạt động khoảng 8-10 giây. - Nợ ôxy, Axitlactic tích tụ trong cơ. - Dạng bài tập: Do năng lượng được cung cấp chủ yếu bằng con đường yếm khí nên các bài tập loại công suất tối đa còn được gọi là hoạt động yếm khi tối đa. 2). Bài tập công suất dưới tối đa. * Đặc điểm chung. Trong các bài tập công suất dưới tối đa, tần số động tác thấp hơn so với bài tập công suất tối đa, mặc dù vẫn còn rất cao. Thời gian: Từ 40 giây đến không quá 4- 5 phút. Tốc độ: 7 - 8 m/s. Cự ly: Chạy 400, 800, 1500m. Bơi 100, 200m. Đua xe tốc độ 1km * Đặc điểm sinh lý: Hoạt động của toàn cơ thể thay đổi mạnh lúc bắt đầu vận động và tiếp tục tăng nhanh phụ thuộc vào cự ly, chúng có thể đạt tối đa ở thời gian cuối của hoạt động . 1. Hệ cơ: Yêu cầu về lực và tốc độ co cơ không đạt mức cao nhất . 2. Hệ máu: Số lượng máu tham gia tuần hoàn tăng lên do được huy động ra từ các kho dự trữ. Hồng cầu, bạch cầu, Hêmôglôbin /1 đơn vị thể tích máu tăng. Thành phần của huyết tương cũng thay đổi. Hàm lượng glucose huyết tăng lên do quá trình phân. giải glucogen ở trong gan được tăng cường Axitlactic tăng do quá trình phân giải yếm khí glucose, làm cho phản ứng máu trử thành a xit ; độ pH giảm làm cho trạng thái nội môi của cơ thể mất cân bằng. - Hệ tim mạch. Tần số nhịp tim tăng ngay từ khi bắt đầu vận động và đạt mức tối ưu (160 - 180 lần/1 phút). Lưu lượng tâm thu tăng rất mạnh so với lúc yên tĩnh, có thể đạt 180 - 200ml/1 LTT . Lưu lượng phút: 32 34 lít/1'(tối đa). Sau 4 - 5 phút hoạt động lưu lượng phút có thể đạt tới 35 - 40 lít/ phút Huyết áp tối đa: 180 200 mmHg. Huyết áp tối thiểu: Hơi tăng hoặc không thay đổi. - Hệ hô hấp. Tần số hô hấp và thể tích hô hấp tăng nhanh và sau 3 4 phút hoạt động với công suất dưới tối đa sẽ đạt mức tối đa của mỗi người. Nhu cầu ôxy: do thời gian dài hơn bài tập công suất tối đa nên cao hơn so với bài tập công suất tối đa. VD: Bài tập chạy 400m thành tích 50". Nhu cầu ôxy là 20 lít/1'. Khả năng hấp thụ ôxy là 3 lít/1'. Như vậy nợ 17 lít/1', chiếm 85% nhu cầu, bài tập công suất dưới tối đa xuất hiện trạng thái ổn định giả. Cự ly càng ngắn tỷ lệ nợ ôxy càng cao. Song nếu tính bằng đơn vị tuyệt đối (lít) thì cự ly càng dài số lượng nợ ô xy càng cao, ở vận động viên ưu tú cỡ quốc tế , nợ ô xy có thể lên tới 20 lít. - Năng lượng tiêu hao : Phụ thuộc vào thời gian hoạt động. Nếu hoạt động 40"50": ATP – CP : 80%; Glucôphân 15% ; ưa khí 5%. Nếu hoạt động 3'-4': ATP - CP: 20%; Glucôphân 55%; ưa khí 25%. Nguồn cung cấp glucoza chủ yếu là glycogen của cơ,việc sử dụng glucoza máu ở đây rất hạn chế . Tiêu hao năng lượng trong các bài tập dưới tối đa phụ thuộc vào thời gian và tính chất hoạt động , nó dao động khoảng 25 - 40 kcal/ phút - . Hệ bài tiết : Hoạt động của các cơ quan bài tiết thay đổi không đáng kể, mồ hôi tiết ít. -. Thân nhiệt : Thân nhiệt tăng đã rõ rệt do quá trình điều nhiệt bằng bay hơi chưa kịp xảy ra. - Nguyên nhân mệt mỏi Do các sản phẩm trao đổi chất tích luỹ nhiều trong cơ thể làm giảm độ pH của máu và gây rối loạn nội môi.. Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp phát huy công suất cao trong một thời gian. - Dạng bài tập: bài tập công suất dưới tối đa có yêu cầu tương đối cao vưới khả năng yếm khí cũng như ưa khí của vận động viên , vì vậy các bài tập loại này được gọi là các bài tập hỗn hợp ( Bài tập yếm khi - ưa khí)..

<span class='text_page_counter'>(15)</span> 3).Đặc điểm sinh lý của cơ thể khi thực hiện bài tập công suất trung bình * Đặc điểm chung : Hoạt động công suất trung bình ở đây cần hiểu một cách tương đốí,bởi vì thực tế, mặc dù cường độ hoạt đông không cao, nhưng do thời gian kéo dài nên nó vẫn có tác động mạnh tới cơ thể và có khả năng gây kiệt sức và mệt mỏi sâu. Hoạt động công suất trung bình đặc trưng cho những môn thể thao như :Chạy việt dã, Đi bộ, bơi vượt sông, Đua xe đạp đường trường.Thời gian : 40 phút đến nhiều giờ. Tốc độ 3 - 4 m/s.. * Đặc điểm sinh lý: Hoạt động của hệ dinh dưỡng tăng lên khi mới vận động và đạt mức ổn định thấp hơn khả năng tối đa của cơ thể . - Hệ cơ: Lực và tốc độ co cơ không cao. - Hệ máu: Khối lượng máu tuần hoàn tăng do được huy động ra từ kho dự trữ. Hồng cầu, bạch cầu, Hêmôglôbin tăng Do mất nước nên số lượng hồng cầu, Hêmôglôbin/1 đơn vị thể tích máu tăng hơn, số lượng bạch cầu có thể lên đến 40 - 50 nghìn/1 mm3 ở người không được luyện tập . Sản phẩm trao đổi chất trong huyết tương biến đổi ít hơn so với hoạt động công suất lớn, Axitlactic tích luỹ ít , pH hầu như không thay đổi. Glucose huyết giảm do sử dụng nhiều đường để tái tổng hợp ATP-CP. - Hệ tuần hoàn. Tần số tim khoảng 165 – 180 lần/phút. Thể tích tâm thu 100 - 120 ml / 1 lần tâm thu và thể tích phút khoảng 20 - 24 lít / phút, vào cuối cự ly giảm, nhất là những VĐV trình độ thấp. Huyết áp tối đa : 160 180 mmHg, Huyết áp tối thiểu 60 -70 mmHg. Vào cuối cự ly , khi mỏi mệt nặng, huyết áp có thể hơi giảm xuống. - Hệ hô hấp. - Tần số hô hấp và độ sâu hô hấp tăng ở mức dưới tối đa, phụ thuộc vào đặc điểm vận động viên. Hấp thụ ôxy đạt 60- 80% VO2max. Tổng nhu cầu ôxy rất cao (400 - 500 lít) nhưng nhu cầu ô xy trong một phút thường không quá 34 lít/1phút. Khả năng cung cấp : 4 lít/1'. Như vậy nhu cầu ôxy được thoả mãn đầy đủ tức là xuất hiện hiện tượng ổn định thật. Nợ dưỡng có thể xuất hiện vào lúc đầu vận động khi các cơ quan dinh dưỡng chua kịp phát huy hết công suất và khi nước rút về đích. Năng lượng tiêu hao : Hầu như toàn bộ năng lượng (hơn 90%) trong hoạt động công suất trung bình được cung cấp bằng các quá trình ưa khí nguồn năng lượng chủ yếu là glucose do máu cung cấp trong trường hợp này Glycogen lại phân huỷ mạnh ngoài ra mỡ cũng được huy động để tạo năng lượng . - Bài tiết: Vận động viên có thể bài tiết 2 - 4 lít mồ hôi và sụt. 3- 4 kg trọng lượng cùng với mồ hôi cơ thể mất đi một lượng muối khoáng lớn. Lượng nước tiểu giảm, trong nước tiểu thường có chứa đạm và các chất chuyển hoá khác, trong một số trường hợp còn có cả hồng cầu, các quá trình trên xảy ra do quá trình lọc ở thận bị rối loạn. - Thân nhiệt: Thời gian hoạt động kéo dài làm quá trình sản nhiệt trong cơ thể tăng mạnh do phân giải ATP và co cơ dẫn đến hiện tượng tăng nhiệt độ cơ thể, Trời nóng, ẩm nhiệt độ cơ thể có thể lên tới 39 - 400c. - Nguyên nhân mệt mỏi + Cạn dự trữ năng lượng của cơ thể. + Hoạt động đơn điệu kéo dài gây mệt mỏi cho hệ thần kinh trung ương. - Dạng bài tập: ưa khí. 3. Khái niệm, cơ sở sinh lý và đặc điểm quá trình hình thành kỹ năng vận động. Khái niệm: Kỹ năng vận động là tổ hợp các động tác vận động được hình thành trong cuộc sống cá thể do luyện tập TDTT. Ví dụ: Tổ hợp các động tác gồm: Chạy đà, giậm nhảy, bay trên không và rơi xuống đất được tập luyện lặp đi lặp lại thì hình thành được kỹ năng vận động môn nhảy xa. Bản chất: Kỹ năng vận động là một phản xạ vận động có điều kiện phức tạp, chúng được hình thành theo cơ chế của đường liên hệ tạm thời. Ví dụ: Kỹ năng vận động môn nhảy xa là một phản xạ vận động có diều kiện phức tạp, tổng hợp của các phản xạ có điều kiện về chạy đà, giậm nhảy, bay trên không, rơi xuống đất, các phản xạ có điều kiện này được lặp đi lặp lại, hình thành định hình động lực. Cơ sở để hình thành kỹ năng vận động: Phản xạ có điều kiện là cơ sở để hình thành kỹ năng vận động Ví dụ : Trong động tác nhảy xa : Để thực hiện động tác đo đà ,chúng ta phải dựa trên động tác đứng Để thực hiện động tác chạy ,chúng ta phải dựa trên động tác đi vv… Cơ chế hình thành kỹ năng vận động: Hình thành đường dây liên hệ tạm thời trên não bộ nối giữa hai trung tâm thần kinh đại diện cho phản xạ có điều kiện cũ và phản xạ có điều kiện mới được lặp đi lặp lại, hình thành định hình động lực . Khi đã hình thành định hình động lực thì không có phản xạ cũ mà chỉ cần các phản xạ mới, gọi là kỹ năng vận động.. Ví dụ : Kỹ thuật nhảy xa có 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, bay trên không và rơi xuống đất. Động tác chạy đà : Phản xạ cũ là đi hình thành phản xạ có điều kiện mới là chạy đà. Động tác giậm nhảy: Phản xạ cũ là đứng, hình thành phản xạ có điều kiện mới là giậm nhảy. Động tác bay trên không có phản xạ cũ là chạy, hình thành phản xạ có điều kiện mới là bay trên không. Kỹ năng vận động phụ thuộc vào: - Trình độ tập luyện, sức khoẻ của VĐV . - Trạng thái tâm lý, đặc điểm loại hình thần kinh của vận động viên - Điều kiện khách quan : khí hậu, nhịp sinh học, khán giả.v.v...). Đặc điểm của kỹ năng vận động. Các kỹ năng vận động được hình thành như một phản xạ có điềukiện phức tạp theo cơ chế hình thành đường liên hệ tạm thời. Song so với phản xạ có điều kiện quá trình hình thành kỹ năng vận động có một số qui luật đặc biệt: - Hình thành kỹ năng vận động, các đường dây liên hệ tạm thời nối giữa 2 trung tâm trên vỏ não đại diện cho phản xạ có điều kiện cũ và đại diện cho phản xạ có điều kiện mới. - Kỹ năng vận động phản ứng trả lời không phải có sẵn mà phải xây dựng một tổ hợp các động tác mới. Ví dụ :Trong phản xạ tiết nước bọt bằng ánh sáng khi chúng ta kiến lập được phản xạ có điều kiện cho Chó,đường liên hệ tạm thời trên vỏ não được hình thành giữa một kích thích vô quan (ánh đèn )và phản ứng không điều kiện (tiết nước bọt ) hay phản ứng có điều kiện đã có một cách ổn định từ trước (ví dụ tiết bọt bằng tiếng chuông -Phản xạ có điều kiện cấp 2 ),trong các phản xạ loại này ,phản ứng trả lời của cơ thể là có sẵn,chỉ có phần hướng tâm tức là phần thu tín hiệu vô quan là mới lạ đối với cơ thể . Trong kỹ thuật nhảy xa, phản ứng trả lời đối với kích thích không phải là những phản ứng có sẵn, mà chúng ta phải xây dựng một động tác mới hoặc phải xây dựng một tổ hợp mới các động tác mà trước đó chưa có. Ví dụ tổ hợp các động tác nhảy xa: Chạy đà, giậm nhảy, bay trên không, rơi xuống đất dựa trên các phản xạ cũ là đi, đứng, chạy,xây dựng được tổ hợp các động tác mới là chạy đà, giậm nhảy, bay trên không,rơi xuống đát , Nghĩa là trong kỹ năng vận động ,đường liên hệ tạm thời phải được hình thành không chỉ đối với phần hướng tâm (cảm giác ) mà với cả phần ly tâm (vận động)của bộ máy vận động .. - Kỹ năng vận động phải phối hợp giữa 2 loại đường dây liên hệ tạm thời: + Một: Thông qua hệ thống tín hiệu nhất và thứ hai cần phải hình thành đường liên hệ giữa kích thích vô quan và động tác mới cần thực hiện. Ví dụ: Xem thầy làm mẫu ,Nghe thầy giảng giải ,phân tích động tác về kỹ thuật nhảy xa cần hình thành đường dây liên hệ tạm thời giữa động tác giậm nhảy và động tác chạy đà,giữa bay trên không và giậm nhảy . + Mặt khác kỹ năng vận động được hình thành còn xuất hiện đường dây liên hệ tạm thời với các chức năng dinh dưỡng. Như vậy kỹ năng vận động gồm 2 thành phần (thành phần vận động và thành phần dinh dưỡng). Thành phần vận động và thành phần dinh dưỡng của kỹ năng vận đông có thể hình thành không cùng một lúc. Trong các kỹ năng vận động đơn giản như đi, chạy, nhảy thành phần vận động được hình thành trước. Trong kỹ năng vận động có động tác phức tạp như các môn bóng, thể thao dụng cụ thành phần dinh dưỡng lại hình thành trước . Khi kỹ năng vận động đã được hình thành thì thành phần dinh dưỡng có quán tính cao và ít biến đổi hơn thành phần vận động. Ví dụ khi chuyển từ chạy sang ném bóng thì chức năng vận động thay đổi rất nhanh, ngay tức khắc, còn các cơ quan dinh dưỡng vẫn tiếp tục hoạt động như khi chạy một thời gian dài. - Các kỹ năng động tác mới bao giờ cũng được hình thành dựa trên cơ sở của những động tác cũ đã được xây dựng từ trước, Ví dụ kỹ thuật nhảy xa : Kỹ năng đi đo dà dược hình thành trên cơ sở kỹ năng đứng Kỹ năng chạy đà được hình thành trên cơ sở của kỹ năng đi Kỹ năng vận động không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một tổ hợp của các phản xạ vận động có điều kiện phức tạp nối lại với nhau theo một trình tự nhất định tạo nên hoạt động thống nhất. 4. Cơ sở sinh lý phát triển tố chất sức mạnh. a. Khái niệm sức mạnh : Sức mạnh là khả năng khắc phục một trọng tải hoặc một lực nào đó bằng sự căng cơ.Ví dụ :Cử tạ b. Phân loại sức mạnh : + Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào : - Số lượng đơn vị vận động ( sợi cơ ) tham gia vào căng cơ. - Chế độ co cơ của các đơn vị vận động - Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co. a. Sức mạnh tối đa: Khi số lượng sợi cơ là tối đa, các sợi cơ đều co với chế độ co cứng và chiều dài ban đầu của sợi cơ là tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa.Lực đó được gọi là sức mạnh tối đa, sức mạnh tối đa thường đạt được bằng co cơ tĩnh. Sức mạnh tối đa của một cơ phụ thuộc vào số lượng sợi cơ và tiết diện ngang của cơ.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> b. Sức mạnh tương đối: Sức mạnh tối đa tính trên tiết diện ngang của cơ(kg/cm2) c. Sức mạnh tích cực tối đa (sức mạnh tuyệt đối): Sức mạnh được đo khi cơ co tích cực, nghĩa là co cơ với sự tham gia của ý thức * Sức mạnh tích cực tối đa chịu ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chính là: - Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi như : + Điều kiện cơ học của sự co cơ như cánh tay đòn của lực co cơ, góc tác động của lực co cơ với điểm bám trên xương . + Chiều dài ban đầu của sợi cơ. + Độ dày của cơ . + Đặc điểm cấu tạo (cơ cấu )của các sợi cơ chứa trong cơ. - Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa các cơ trước tiên là khả năng chức năng của nơ ron thần kinh vận động ,tức là mức độ phát xung động với tần số cao.Để phát lực lớn, hệ thần kinh cần phải hưng phấn ở rất nhiều nơ ron vận động. Sự hưng phấn đó không quá lan rộng để không gây hưng phấn các cơ đối kháng, tức là phải tạo ra sự phối hợp tương ứng giữa các nhóm cơ, tạo điều kiện cho các cơ chủ yếu phát huy sức mạnh d..Sức mạnh tối đa sinh lý Huy động toàn bộ các đơn vị vận động trong cơ thể để tạo ra sức mạnh . Có thể đo sức mạnh tối đa sinh lý bằng cách kích thích điện lên cơ. *Sự khác biệt giữa sức mạnh tối đa sinh lý và sức mạnh tích cực tối đa được gọi là thiếu hụt sức mạnh Sức mạnh tối đa sinh lý - sức mạnh tích cực tối đa = sự thiêú hụt sức mạnh (Olifixit sức mạnh).Nếu sự thiếu hụt giảm chứng tỏ trình độ tập luyện tốt .Nếu sự thiếu hụt tăng chứng tỏ trình độ tập luyện giảm . vì vậy người ta đã sử dụng sự thiếu hụt sức mạnh để đánh giá trình độ VĐV hoạt động về sức mạnh Bản chất của sức mạnh : Phát triển sức mạnh cho cơ là sự phì đại cơ (cơ to ra). Sợi cơ là một tế bào được biệt hóa rất cao, vì vậy sợi cơ có thể phân chia để tạo tế bào mới, Sự phì đại cơ xảy ra chủ yếu là do sợi cơ có sẵn dày lên, khi sợi cơ đã dày lên đến một mức độ nhất định chúng có thể tách dọc để tạo ra những sợi con có cùng một đầu gắn chung vơí sợi mẹ . Biểu hiện trong cơ +Quá trình tổng hợp Prôtit tăng trong khi quá trình phân hủy chúng bị giảm đi +Hàm lượng AND và ARN tăng +Hàm lượng Creatin tăng ,có tác dụng kích thích quá trình tạo Ac tin và Miozin và như vậy thúc đẩy sự phì đại cơ. d. Đặc điểm cấu tạo sợi cơ Tỷ lệ các loại sợi cơ chậm (Nhóm I) và nhanh (nhóm II-A và IIB)chứa trong cơ .Các sợi nhanh ,nhất là nhóm II-B chiếm tỉ lệ cao vì nó có. khả năng phát lực lớn hơn các sợi chậm và có khả năng hoạt động trong điều kiện thiêú O2 .Vì vậy ,cơ có tỷ lệ các sợi nhanh càng cao thì có sức mạnh càng lớn . Tập luyện sức mạnh không làm thay đổi được tỉ lệ các loại sợi cơ nhưng tập luyện sức mạnh có thể làm tăng tỉ lệ sợi cơ nhanh Glucophân nhóm II-B ,giảm tỉ lệ sợi cơ nhanh ôxy hóa nhóm II-A,tăng sự phì đại các sợi cơ nhanh. Số sợi cơ tham gia :số lượng đơn vị vận động cơ tham gia ,thần kinh hưng phấn mạnh ở nhiều nơron vận động tạo ra sức mạnh đồng bộ giữa các nhóm cơ tham gia vào vận động phát huy sức mạnh tối đa e.Phương pháp phát triển sức mạnh Cơ sở sinh lý của phát triển sức mạnh là tăng cường số lượng đơn vị vận tham gia vào hoạt động ,đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh ,chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ lớn, Để đạt được điều đó trọng tải phải lớn để gây được hưng phấn mạnh đối với các đơn vị vận động nhanh có ngưỡng hưng phấn thấp: - Sức mạnh tối đa :muốn phát triển thì không được sử dụng 100% sức mạnh tích cực tối đa mà chỉ sử dung 70% 90% sức mạnh tích cực tối đa - Trong 1 tuần chỉ nên tập 2 - 3 buổi và kết hợp nhiều dạng bài tập khác nhau. VD: bài tập phát triển - chân . 6.Cơ sở sinh lý phát triển tố chất sức nhanh 1. Khái niệm : Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất (tính bảng m/s và tần số động tác ) Ví dụ : Chạy 100 m tính bằng giây . Gánh tạ 20% trọng lượng tối đa tính bằng số lần /giây. 2.Bản chất của sức nhanh Đánh giá bằng tính linh hoạt thần kinh - cơ và tốc độ co cơ *Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở: - Biến đổi nhanh chóng quá trình hưng phân và ức chế trong các trung tâm thần kinh - Tăng tốc độ dẫn truyền xung động của các nơron vận động - Khả năng thả lỏng nhanh của đơn vị vận động - Khả năng tiếp nhận thông số vận động cao .Đó là các yếu tố làm tăng cường biên độ và tần số động tác. *Tốc độ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và chậm trong một bó cơ 3.Phân loại: Sức nhanh có thể biểu hiện ở dạng sức nhanh đơn giản và sức nhanh phức tạp. *Sức nhanh đơn giản :. Là sự tổng hợp hòa của 3 yếu tố : - Thời gian phản ứng - Thời gian thực hiện động tác đơn lẻ - Tần số động tác Ví dụ: Ngồi bấm và tắt đồng hồ Sức nhanh ít chịu ảnh hưởng của môi trường, nó mang yếu tố bẩm sinh. Trong quá trình tập luyện có làm thay đổi tần số và biên độ động tác nhưng yếu tố quyết định vẫn là đặc điểm di truyền . VD:Thành tích 100m rút ngắn 1/100 giây là khó ,nhưng trong chạy maratong thành tích có thể rút ngắn 5-10 ' *Sức nhanh phức tạp : Là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao phức tạp khác nhau. Ví dụ: Tốc độ dẫn bóng trong bóng đá , tốc độ đấm trong quyền anh, Chạy 100m. Sức nhanh phức tạp được đánh giá thành tích các bài tập chạy 80m , 60m, 100m . * Mối quan hệ giữa 2 loại sức nhanh . Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả sức nhanh ở dạng phức tạp.Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn lẻ hoặc tần số động tác cục bộ càng cao thì tốc độ thực hiện các hoạt động phức tạp sẽ càng cao. Các dạng biểu hiện sức nhanh đơn giản phát triển tương đối độc lập với nhau. Thời gian phản ứng có thể rất tốt, nhưng động tác đơn lẻ lại chậm hoặc tần số động tác lại rất thấp.Vì vậy sức nhanh là tố chất tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành là thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần số động tác. 4. Đặc điểm cấu tạo sợi cơ Khi áp dụng bài tập tốc độ, tốc độ co cơ phụ thuộc vào tỉ lệ sợi cơ, trong 1 bó cơ ( sợi cơ nhanh II và sợi cơ chậm I) Đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A có khả năng co cơ tốc độ nhanh. Nó phụ thuộc vào : - Nồng độ ATP - CP trong cơ, Khi hàm lượng ATP và CP trong cơ cao thì khả năng co cơ nhanh cũng tăng lên. Trong các bài tập sức nhanh phản ứng đơn giản, theo một số tác giả, hàm lượng ATP CP có thể tăng 10-30 % - Phụ thuộc vào hoạt tính của men phân giải và tổng hợp ATP -CP,Tập luyện sức nhanh có thể làm tăng hoạt tính của các men này . 5. Quan hệ giữa sức nhanh và sức mạnh Trong các hoạt động thể thao, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật thiết với nhau. Phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh. Trong nhiều môn thể thao, kết quả hoạt động phụ thuộc không chỉ vào. sức nhanh hay sức mạnh riêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp hợp lý giữa 2 tố chất. Sự phối hợp giữa sức nhanh và sức mạnh gọi là sức mạnh tốc độ . Ví dụ:Chạy 100m là bài tập có cả sức nhanh và sức mạnh, sức mạnh thể hiện ở động tác đạp sau và giữ trương lực cơ lưng . Các môn không có chu kỳ: võ vật , đấu kiếm , quyền anh, ném, nhảy có cả sức nhanh và sức mạnh. 6.Phương pháp phát triển sức nhanh Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh là tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động, tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ. Sử dụng bài tập tần số cao, trọng tải nhỏ, thời gian nghỉ giữa dài . 6. Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền Khái niệm : Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động chuyên môn nào đó . Phát triển sức bền là biện pháp chống lại mệt mỏi có hiệu quả nhất. VD : Chạy việt dã, Đua xe đạp đường trường, đi bộ thể thao Đó là những hoạt động mang tính ưa khí . Bản chất của sức bền Trong sinh lý học thể dục thể thao, Sức bền đặc trưng cho các hoạt động từ 2 -3 phút trở lên, Với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn (Từ 1/2 toàn bộ lượng cơ bắp của cơ thể) nhờ sự hấp thụ ô xy để cung cấp cho cơ thể chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí. Ví dụ chạy từ 1500m trở lên, Bơi từ 400m trở lên … Mức hấp thụ ô xy tối đa của một người quyết định khả năng làm việc trong điều kiện ưa khí của họ , VO2 maxcàng cao thì công suất hoạt động ưa khí sẽ càng lớn, VO2 max càng cao thì cơ thể thực hiện hoạt động ưa khí càng dễ dàng, và vì vậy càng được nhanh hơn. Bản chất, Sức bền chính là khả năng hấp thụ ô xy tối đa của cơ thể (đạt VO2 max). Phân loại : Có 2 loại sức bền là sức bền chung và sức bền chuyên môn Sức bền chung gồm năng lực vận động chung, biểu thị khả năng của con người hoàn thành một công động có cường độ nhất định trong thời gian từ vài chục phút đến vài giờ.Phương pháp huấn luyện là sử dụng các bài tập chạy, đi bộ, bơi, xe đạp, các môn bóng. Sức bền chuyên môn gồm : Sức bền hệ cơ (sức bền tốc độ): Là khả năng duy trì nhịp vận động cao để chuyển động rất nhanh trong cự ly ngắn.Ví dụ chạy 100m, 200 m được đánh giá bằng sức bền hệ cơ, cơ càng có khả năng thả lỏng nhanh càng có khả năng tăng tần số động tác Sức bền tuần hoàn hô hấp: Trong các hoạt động dưới tối đa và lớn, cơ thể phải chịu đựng tình trạng thiếu ô xy trong một.

<span class='text_page_counter'>(17)</span> thời gian dài, vì vậy hệ hô hấp và hệ tuần hoàn phải phát huy công suất cao để tăng cường vận chuyển ô xy cho các cơ quan hoạt động. Ví dụ chạy 1500 m, bơi100 m.... Sức bền năng lượng: Trong các hoạt động với thời gian quá dài, cơ thể phải sử dụng hết các nguồn năng lượng dự trữ. Ví dụ chạy maratong, bơi vượt sông, đua xe đạp đường trường ... Các yếu tố ảnh hưởng : Sức bền phụ thuộc vào: - Khả năng hấp thụ ô xy tối đa của cơ thể - Khả năng duy trì lâu dài mức hấp thụ ô xy cao *Khả năng hấp thụ ô xy tối đa được quyết định bởi hai hệ thống chức năng chính : Hệ vận chuyển ô xy: Máu, tuần hoàn, hô hấp đảm nhiệm vai trò hấp thụ ô xy từ môi trường bên ngoài và vận chuyển ô xy đến cơ và các cơ quan. Hệ sử dụng ô xy: Hệ cơ, là hệ sử dụng ô xy được cung cấp. * Hệ hô hấp Là khâu đầu tiên của hệ vận chuyển ô xy. Hệ hô hấp đảm bảo việc trao đổi khí không khí bên ngoài và máu, tức là làm cho phân áp ô xy trong máu được duy trì ở mức cần thiết để cung cấp cho cơ và các cơ quan. Để đảm bảo được sự trao đổi khí cao, tức là đảm bảo sự phát triển sức bền, hệ hô hấp phải có những biến đổi cả về cấu tạo và chức năng nhất định. Những biến đổi đó bao gồm 3 nhóm chính sau: - Các thể tích của phổi tăng lên rõ rệt trong tập luyện sức bền :10 -20% ( trừ không khí lưu thông ), lượng khí cặn giảm đi. - Công suất và hiệu quả của hô hấp ngoài tăng lên Sự tăng công suất và hiệu quả của hô hấp ngoài xảy ra trước tiên là do lực và sức bền của các cơ hô hấp đều tăng. Độ sâu hô hấp tăng lên, Tần số hô hấp giảm xuống. Độ đàn hồi của của lồng ngực và phổi cũng thay đổi, độ giãn nở tốt hơn trong khi hít vào , kháng trở đối với dòng không khí đi vào phổi giảm xuống . Các biến đổi nêu trên làm cho thông khí phổi trong một phút tăng lên. -Tăng cường khả năng khuyếch tán của phổi do mạng mao quản trong phế nang tăng lên và do lượng máu tuần hoàn qua phổi tăng. Khả năng khuyếch tán cao của phổi làm cho ô xy đi từ phế nang vào máu và làm cho máu bão hoà ô xy nhanh hơn . * Hệ máu Thể tích máu và hàm lượng hemoglobin quyết định khả năng vận chuyển ô xy của cơ thể Tập luyện sức bền làm tăng lượng máu tuần hoàn, ở các VĐV sức bền, lượng máu lưu thông trung bình cao hơn người thường 20 % để tăng quá trình vận chuyển ô xy, chủ yếu do tăng thể tích huyết tương, vì vậy độ nhớt của máu giảm. Lượng máu tuần hoàn lớn làm cho lượng máu về tim sẽ lớn hơn, tăng lưu lượng tâm thu và làm tăng cường dòng máu chảy vào hệ thống mạch máu ở da, do đó nâng cao khả năng thải. nhiệt của cơ thể, lượng máu tăng làm pha loãng các sản phẩm trao đổi chất Ví dụ: Axitlactic có trong máu và làm giảm nồng độ của chúng Thể tích và hàm lượng Hb quyết định khả năng kết hợp ô xy, tức là khả năng vận chuyển ô xy của cơ thể .Hàm lượng Hb và Hồng cầu của VĐV sức bền giống như ở VĐV khác và người thường nhưng do lượng máu của VĐV sức bền cao hơn nên số lượng hồng cầu và Hb tuyệt đối của họ cao hơn. Ơ người bình thường và VĐV sức mạnh tốc độ, Hb trong máu khoảng 700 -900 g Trong khi ở các VĐV sức bền khoảng 1000 -1200g. Axitlactic trong máu: Trong các hoạt động sức bền những hoạt động ưa khí , hàm lượng axitlactic trong máu tỷ lệ nghịch với thời gian vận động. Trong quá trình tập luyện sức bền hàm lượng axitlactic trong cơ và máu khi thực hiện bài tập ưa khí dưới tối đa sẽ giảm đi, lý do : * Cơ bắp của VĐV tập luyện sức bền có khả năng trao đổi chất ở điều kiện hàm lượng ô xy cao, vì vậy chúng ít sử dụng cách cung cấp năng lượng yếm khí, có nghĩa là ít tạo ra axitlactic hơn ở người thường. * Hệ vận chuyển ôxy của VĐVsức bền thích nghi với vận động nhanh hơn do đó cung cấp ô xy đầy đủ cho cơ thể hơn mà axitlactic thường đươc hình thành ở giai đoạn đầu vận động, khi ô xy chưa được cung cấp đầy đủ . * Các VĐV Sức bền có tỷ lệ sợi cơ chậm và cơ tim phát triển nên nó có khả năng sử dụng a xid lac tic để làm nhiên liệu cung cấp năng lượng rất tốt nên a xit lac tic giảm . * Lượng máu tuần hoàn tăng ở VĐV Sức bền làm pha loãng sản phẩm a xit lactic chứa trong máu, vì vậy làm giảm nồng độ a xid lactic trong máu xuống. ở các hoạt động mang tính chất sức bền, các chỉ số sinh lý sinh hóa trong cơ thể biến đổi phụ thuộc vào công suất và thời gian vận động, Công suất cao thì các chỉ số biến đổi nhiều, công suất thấp thì các chỉ số biến đổi ít . Glucoza huyết trong các hoạt động kéo dài sẽ giảm dần (từ 80 mg % xuống 50 - 60 mg%).Trong quá trình tập luyên sức bền, sự giảm đường huyết xảy ra chậm hơn và ít hơn. Khả năng làm việc khi đường huyết giảm cũng tăng lên, vì vậy sức bền phát triển tốt hơn. * Hệ tuần hoàn : Trong quá trình tập luyện sức bền, Hay nói cách khác , để có khả năng sức bền cao, tim và mạch máu có những biến đổi sâu sắc cả về cấu tạo và chức năng. Những biến đổi đó biểu hiện trong yên tĩnh và trong vận động. với những lượng vận động khác nhau. Tập luyện sức bền làm cho tim biến đổi theo 2 hướng: Giãn buồng tim và phì đại cơ tim Giãn buồng tim làm cho lượng máu chứa trong các buồng tim tăng lên . Đó là các yếu tố quan trọng để tăng thể tích tâm thu khi cần thiết . Phì đại cơ tim làm tăng lực bóp cơ tim, tức là làm tăng thể tích tâm thu . Về mặt chức năng, tập luyện sức bền làm giảm nhịp tim khi yên tĩnh. Mức độ giảm nhịp tim tương ứng với VO 2 max và với thành tích trong các môn thi đấu thể thao thời gian dài như chạy maraton, đua xe đạp đường dài … Sự giảm nhịp tim làm cho tim hoạt động kinh tế, ít tiêu hao năng lượng hơn và có thời gian nghỉ dài hơn, Sự giảm nhịp tim không làm cho thể tích phút của dòng máu bị giảm đi, vì đồng thời với giảm nhịp tim, lực bóp của tim , tức là thể tích tâm thu đã tăng lên do phì đại cơ tim và giãn buồng tim. Những biến đổi về cấu tạo và chức năng trong yên tĩnh có tăng khả năng tối đa của tim trong vận động, Khi thực hiện lượng vận động ưa khí tối đa, thể tích phút tối đa của VĐV có thể gấp đôi người thường, đạt 38 - 40lít/ phút, thể tich tâm thu tối đa của VĐV sức bền có thể đến 190 - 210ml, trong khi ngừơi thường không quá 130 ml. Trong các hoạt động ưa khí dưới tối đa, ở mức hấp thụ ô xy tương đương như nhau,thể tích phút của VĐV và người thường nói chung không có sự khác biệt đáng kể, song nhịp tim của VĐV sức bền thấp hơn so với của người thường(Nghĩa là thể tích tâm thu cao hơn). Trình độ phát triển sức bền càng cao thì nhịp tim trong các hoạt động ưa khí dưới tối đa càng thấp . Quá trình tập luyện thể lực làm biến đổi sự phân bổ máu giữa các cơ quan hoạt động và không trực tiếp hoạt động, vì vậy mà lượng máu đi đến cơ bắp trong thời gian vận động ở VĐV sẽ nhiều hơn người thường, Tập luyện sức bền làm tăng mao mạch ở cơ, mạng mao mạch đầy đặc ở cơ là cơ chế quan trọng để phát triển khả năng hoạt động của chúng. Nhờ mạng mao mạch đầy đặc như vậy, dòng máu tối đa của VĐV sẽ rất lớn . ở các VĐV tập luyện sức bền, khả năng khuyếch tán các chất, kể cả ô xy qua màng mao mạch cũng tăng lên, vì vậy lượng ô xy mà cơ có thể nhận được cao hơn. * Hệ cơ: Lượng ô xy mà hệ vận chuyển ô xy mang tới trong thời gian hoạt động thể lực chủ yếu được sử dụng ở cơ. Đặc điểm nổi bật về cấu tạo cơ của các VĐV có thành tích cao trong các môn thể thao sức bền là tỷ lệ các sợi cơ châm. (nhóm I) trong cơ rất cao. Giữa tỷ lệ sợi chậm và VO 2 Max có mối liên quan chặt chẽ. Những người tỷ lệ sợi cơ chậm cao thường có VO 2 Max cũng cao. ỞVĐV chạy maratong trình độ cao, tỷ lệ sợi chậm I chiếm 80 % ,cơ nhanh chiếm 20 % . tỷ lệ là 4/1. trong khi ở VĐVchạy 100 m tỷ lệ này là 20 - 30 % Tập luyện sức bền không làm thay đổi tỷ lệ sợi chậm và nhanh song tập luyện sức bền có thể làm tăng tỷ lệ sợi nhanh II A, giảm tỷ lệ sợi nhanh nhóm II B vì nhóm IIA là những sợi có khả năng trao đổi năng lượng bằng con đường ô xy hóa cao hơn sợi II B. + Biểu hiện trong cơ:Tăng sự phì đại cơ tựơng, tăng khả năng hấp thụ ô xy, Ty lạp thể và số lượng các men trong cơ đều tănglên, điều đó làm cho khả năng hấp thụ ô xy của cơ nói chung tăng lên. Tập luyện sức bền làm tăng số mao mạch trong cơ.Trung bình trên 1 mm2tiết diện ngang của sợi cơ ở người thường có 320 mao mạch, còn ở VĐV là 400. Trong quá trình tập luyên sức bền ở cơ xảy ra hàng loạt biến đổi hoá sinh để năng cao khả năng sử dụng ô xy: Tăng hàm lượng và hoạt tính của các men trao đổi chất ưa khí Tăng hàm lượng myoglobin (1,5 -2 lần), Tăng hàm lượng các chất chứa năng lượng như glycogen và lipid (tối đa 50 %). Tăng khả năng xy hóa đường và đặc biệt là mỡ của cơ. e. Hiệu quả của phát triển sức bền Nâng cao khả năng hoạt động ưa khí tôí đa của cơ thể Nâng cao hiệu quả (tính kinh tế) hoạt động của cơ thể trong hoạt động với công suất thấp lâu dài. g. Phương pháp phát triển sức bền: Cơ sở sinh lý phát triển sức bền:Để phát triển sức bền cần phải có sự phối hợp giữa các chức năng dinh dưỡng và vận động của cơ thể, Ngoài ra sức bền phụ thuộc vào tốc độ tham gia điều hoà nội môi, đặc biệt là điều hoà thân nhiệt của các quá trình thần kinh - thể dịch . Có các phương pháp để phát triển tố chất sức bền: Phương pháp tập luyện giãn cách phương pháp biến tốc Phương pháp vượt chướng ngại vật phương pháp dùng trọng tải liên tục ..

<span class='text_page_counter'>(18)</span> 7.Đặc điểm sinh lý của trạng thái cơ thể xuất hiện trước vận động và khởi động. Khái niệm: Trạng thái trước vận động là trạng thái đặc biệt của cơ thể xuất hiện trước một hoạt động thể thao (thi đấu tập luyện). Các giai đoạn của trạng thái trước vận động: - Trạng thái trước thi đấu. - Trạng thái trước xuất phát. Phụ thuộc vào thời gian xuất hiện, trạng thái trước vận động được chia làm: a.Trạng thái trước thi đấu:Diễn ra trước vài giờ, vài ngày, thậm chí nhiều ngày. b-Trạng thái trước xuất phát: Diễn ra ở một vài phút cuối trước vận động. . Diễn biến sinh lý trước vận động: Xuất hiện ở hầu hết các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ thần kinh và cơ...Các biến đổi đó thường là tăng cường hưng phấn ở các trung tâm thần kinh, tăng cường trao đổi chất,tăng Tần số tim và sự trao đổi khí, thân nhiệt tăng… * Mức độ biến đổi chức năng trong trạng thái trước vận động phụ thuộc vào: - Tính chất của cuộc thi đấu sắp tới. - Điều kiện tập luyện - thi đấu. - Thái độ và trình độ tập luyện của vận động viên. - Yếu tố tâm lý, đặc biệt là loại hình thần kinh. Loại hình thần kinh quyết định trạng thái trước vận động. Ví dụ vận động viên có loại hình thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt thì hưng phần thần kinh tăng lên vừa phải, các biến đổi chức năng dinh dưỡng và vận động tương ứng với hoạt động sắp tới. * Phân loại trạng thái trước vận động. Trạng thái trước vận động có thể ảnh hưởng đến thành tích thể thao, do trạng thái trước vận động có thể có 3 loại: Trạng thái thái sẵn sàng, trạng thái bồn chồn, trạng thái thờ ơ. * Trạng thái sẵn sàng.là trạng thái trước vận động hợp lý . Trong trạng thái này , hưng phấn và tính linh hoạt thần kinh tăng lênvừa phải ,các biến đổi chức năng vận động và dinh dưỡng tương ứng với hoạt động sắp tới.Cảm xúc của VĐV hưng phấn vừa phải , ham muốn thi đấu , trạng thái sẵn sàng đảm bảo cho cơ thể hoạt động tốt nhất trong thi đấu. * Trạng thái bồn chồn hay còn được gọi là trạng thái sốt trước vận động .Trong trạng thái này , VĐV hưng phấn quá mức , dễ bị kích động .Những biến đổi chức năng xảy ra quá mạnh , nhiệt độ tăng cao . Những biến đổi đó làm hao phí năng lượng dự trữ của cơ thể và làm mất sự cân bằng của các quá trình. thần kinh .VĐV dễ phạm sai lầm về kĩ thuật và chiến thuật trong thi đấu .Noí chung trạng thái bồn chồn có ảnh hưởng xấu đến thành tích thể thao , chỉ trừ ở một số VĐV có loại hình thần kinh mạnh thì sự hưng phấn quá mức mới không làm giảm mà ngược lại còn làm tăng thành tích thi đấu thể thao . * Trạng thái thờ ơ: Là trạng thái trước thi đấu có quá trình ức chế chiếm ưu thế trong hệ thần kinh .Sự ức chế này thường xảy ra sau khi hưng phấn quá mạnh trên giới hạn .Trong trạng thái thờ ơ, biến đổi về chức năng vận động và dinh dưỡng đều thể hiện yếu, có sự rối loạn phối hợp giữa các chức năng ,vận động viên có trạng thái cảm xúc trầm buồn, sợ thi đấu, sợ giao tiếp.Trạng thái thờ ơ làm giảm thành tích thể thao, nhất là trong những môn thể thao có thời gian thi đấu ngắn . * Các biện pháp khắc phục các trạng thái không tốt Trạng thái trước vận động có thể điều chỉnh được bằng nhiều biện pháp khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của trạng thái và đặc điểm loại hình thần kinh của VĐV. Do ảnh hưởng của chúng đối với thành tích thể thao nên hiện nay, trạng thái trước vận động của VĐV được kiểm soát rất chặt chẽ và là một nội dung quan trọng của công tác huấn luyện : - Biện pháp tâm lý. + Cho vận động viên tham quan thi đấu. Vận động viên trạng thái bồn chồn thì tham gia thi đấu với đối phương yếu để giảm hưng phấn. Vận động viên trạng thái thờ ơ thì cần tham gia thi đấu với đối phương mạnh. + Làm quen với điều kiện sân bãi: Cho vận động viên đi thi đấu trước để làm quen với sân bãi, dụng cụ. + Phát triển tính cân bằng thần kinh, tránh tình trạng căng thẳng quá mức. VD: Xem phim, nghe nhạc phù hợp. - Biện pháp y sinh học: Xoa bóp, tắm hơi. Trạng thái bồn chồn thì xoa với cường độ trung bình,Tần số đều, thời gian dài. Trạng thái thờ ơ thì xoa với cường độ trung bình hoặc trên trung bình, Tần số không đều thời gian ngắn . - Biện pháp sư phạm: Sắp xếp lượng vận động hợp lý. - Chế độ sinh hoạt: Ăn, ngủ, nghỉ hợp lý. VD: Vận động viên trạng thái bồn chồn có thể cho thức uống giảm tính hưng phấn như đỗ đen. - Biện pháp khởi động. Vận động viên trạng thái bồn chồn: Ra sân muộn, Khởi động ít, bài tập với cường độ thấp.. Vận động viên trạng thái thờ ơ: Ra sân sớm, Khởi động nhiều, bài tập với cường độ cao 2.Khởi động - Khái niệm khởi động: Là thực hiện một tổ hợp các động tác chuẩn bị trước một buổi tập luyện hoặc thi đấu thể thao Khởi động do con người tạo ra - Mục đích của khởi động: Rút ngắn quá trình thích nghi của cơ thể với vận động, chuyển tất cả chức năng của cơ thể từ trạng thái yên tĩnh sang trạng thái vận động. *Ý nghĩa - Khởi đông tăng cường tính hưng phấn của trung tâm thần kinh và tăng cường hoạt động của các tuyến nội tiết, vì vậy tạo điều kiện tối ưu để thúc đẩy quá trình điều hoà chức năng trong hoạt động thể lực, củng cố các phản xạ cần thiết. - Khởi đông tăng cường hoạt động của toàn bộ hệ thống đảm bảo dinh dưỡng và vận chuyển ô xy của cơ thể : Tăng thông khí phổi, tốc độ trao đổi khí giữa phế nang và máu tăng, tăng thể tích tâm thu và tần số co bóp của tim, tăng huyết áp và dòng máu tĩnh mạch trở về tim, tăng số lượng mao mạch tíchcực để tăng dòng máu đến tim, phổi và cơ. Toàn bộ các tác động nêu trên đều nhằm cung cấp ô xy tốt hơn cho các tổ chức, rút ngắn quá trình thích nghi với trạng thái vận động của cơ thể. - Khởi đông làm tăng cườngdòng máu ở davà thúc đẩy quá trình tiết mồ hôi, vì vậy có ảnh hưởng tốt đối với quá trình trao đổi nhiệt trong vận động. - Khởi đông làm tăng nhiệt độ của cơ, tăng khả năng co rút và tốc độ các phản ứng hoá sinh của cơ, nâng cao khả năng đàn hồi của dây chằng và khớp, tăng độ linh hoạt và tiết dịch ở khớp. Nói chung các tác động nêu trên làm tăng khả năng hoạt động của bộ máy vận động và ngăn ngừa chấn thương *Đặc điểm Diễn biến theo quy luật: - Tăng dần - Không đồng bộ * Cấu trúc khởi động: Gồm 2 phần: Khởi động chung và khởi động chuyên môn. + Khởi động chung: Bài tập phát triển chung đa dạng, tác động lên toàn bộ cơ thể, đặc biệt là hệ tuần hoàn, hô hấp. - Làm tăng nhiệt độ cơ thể. - Tăng hưng phấn hệ thần kinh trung ương và chức năng vận chuyển ôxy. - Tăng cường trao đổi chất. + Khởi động chuyên môn: Được tiến hành sau khởi động chung các động tác phối hợp kỹ thuật phức tạp và các động tác chuyên môn với dụng cụ chuyên môn. Tác dụng: Chuẩn bị cho cơ thể thực hiện. một hoạt động chuyên môn cụ thể. *Yêu cầu - Thời gian khởi động tối thiểu là 5 – 6 phút - Quãng nghỉ sau khởi động 5 - 6 phút - Giữ ấm cơ thể Nội dung cũng như khoảng cách giữa khởi động và hoạt động chính thức( trọng động) có thể rất khác nhau phụ thuộc vào hàng loạt yếu tố, như đặc điểm hoạt động trọng động, điều kiện môi trường bên ngoài, trình độ và đặc điểm tâm lý của VĐV, trạng thai trước vận động của VĐV…Đôi khi còn phụ thuộc vào ý đồ chiến thuật của Huấn luyện viên . Về nguyên tắc khởi động phải đủ, nhưng không gây mệt mỏi cho VĐV. Trong thực hành đó là khi VĐV đã ra mồ hôi và với thời gian khoảng 10 - 30 phút. Thời gian giãn cách giữa khởi động và trọng động vào khoảng 3-10 phút. Khởi động có ảnh hưởng rõ rệt nhất trong môn sức mạnh tốc độ có thời gian tương đối ngắnvà các môn có sự phối hợp phức tạp . Khi nhiệt độ môi trường quá cao trên 360C Khởi động có thể ảnh hưởng xấu đến thành tích thi đấu trong các cự ly dài và đường trường 8.Đặc điểm sinh lý của trạng thái trong vận động 1.Đặc điểm sinh lý của trạng thái bắt đầu vận động.. a. Khái niệm: Trạng thái bắt đầu vận động là giai đoạn đầu tiên của những biến đổi chức năng trong hoạt động thể lực. b. Bản chất: Trạng thái bắt đầu vận động là giai đoạn thích nghi của có thể với những yêu cầu cao của vận động. c. Đặc điểm sinh lý của trạng thái bắt đầu vận động. Quá trình bắt đầu vận động gây biến đổi mạnh chỉ số sinh lý, sinh hoá và phát huy các chức năng cơ quan, hệ cơ quan phù hợp với nhu cầu vận động.Từng chức năng cũng như toàn bộ cơ thể có những biến đổi đáng kể nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hoạt động cơ bắp. - Mục đích của những biến đổi đó nhằm tìm ra một mức hoạt động phối hợp mới, phù hợp với yêu cầu của vận động. Vì vậy trong trạng thái bắt đầu vận động xảy ra các quá trình sau: + Biến đổi về sự điều khiển thần kinh và thể dịch đối với các chức năng vận động và dinh dưỡng phù hợp với yêu cầu vận động. + Xác định cơ cấu động tác (tốc độ, lực, nhịp điệu, tính chất, hình thức...) phù hợp với nhiệm vụ vận động. + Nâng cao các chức năng dinh dưỡng (tim - mạch, hô hấp, trao đổi chất, điều nhiệt...) đến mức cần thiết để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của vận động. - Trạng thái bắt đầu vận động mang tính quy luật đặc trưng cho rất nhiều hoạt động.Sự thích nghi của cơ thể đối với hoạt động thể lực trong trạng thái bắt đầu vận động xảy ra dần dần, trong một khoảng thời gian nhất định .tức là trong hoạt động thể lực, nhất thiết phải xảy ra một.

<span class='text_page_counter'>(19)</span> giai đoạn bắt đầu vận động, mặc dù sự biểu hiện và thời gian của nó có thể khác nhau. - Sự biến đổi chức năng trong trạng thái bắt đầu vận động tuân theo một số quy luật sau: + Sự biến đổi tăng cường các chức năng xảy ra không đồng bộ: Các chức năng vận động biến đổi nhanh hơn so với chức năng dinh dưỡng. Trong cùng một chức năng, có chỉ số biến đổi nhanh trong khi các chỉ số khác lại biến đổi chậm. VD: Tần số Tần số tim tăng nhanh hơn so với lực bóp của tim ; thông khí phổi tăng nhanh hơn so với hấp thu ôxy. + Tốc độ biến đổi các chức năng sinh lý tỷ lệ thuận với cường độ (công suất) hoạt động, công suất càng lớn thì sự tăng cường chức năng ban đầu xảy ra càng nhanh. Ví dụ: Trong chạy Maratong thời gian để đạt mức hấp thụ ôxy cần thiết là 7-10 phút còn trong chạy 1500m thì thời gian đó chỉ khoảng 1,5-2 phút. + Trong trạng thái bắt đầu vận động, các chức năng sinh lý được tăng cường không đều. Trên cơ sở đó người ta chia trạng thái bắt đầu vận động ra làm hai giai đoạn: Giai đoạn phát động nhanh. Ví dụ: tăng tần số Tần số tim trong chạy 100m. Giai đoạn phát động chậm: Ví dụ lưu lượng tâm thu và lưu lượng phút trong chạy 100m. + Sự cung cấp năng lượng trong trạng thái bắt đầu vận động chủ yếu do quá trình yếm khí đảm nhiệm: Phân giải ATP - CP hoặc Glucophân tạo Axitlactic và như vậy sẽ tạo ra nợ dưỡng. - Trạng thái bắt đầu vận động khi thực hiện các hoạt động phối hợp phức tạp sẽ dài hơn so với khi thực hiện các hoạt động đơn giản. Ví dụ: Chạy 100m khởi động tần số Tần số tim là 120 lần/1'. Chạy dài không cần khởi động 120 lần/1 '. Vận động viên có trình độ càng cao thì trạng thái bắt đầu vận động xảy ra càng ngắn. 2.Trạng thái ổn định. Trong các hoạt động thể lực ưa khí công suất lớn hoặc trung bình, sau trạng thái bắt đầu vận động các chức năng của cơ thể sẽ ổn định ở một mức nhất định. a. Khái niệm: Trạng thái tương đối ổn định về chức năng khi thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài gọi là trạng thái ổn định. b. Phân loại: Trạng thái ổn định chia hai loại : ổn định thật và ổn định giả. + Cơ sở phân loại trạng thái ổn định: Dựa trên nhu cầu ôxy và khả năng hấp thụ ôxy của cơ thể. + Trạng thái ổn định thật: Xuất hiện trong hoạt động thể lực với công suất trung bình khi nhu cầu về ôxy và các nhu cầu dinh dưỡng khác nhỏ hơn khả năng tối đa của cơ thể. Do được cung cấp ôxy đầy đủ, năng lượng để hoạt động được cung cấp. chủ yếu bằng con đường ưa khí, nợ dưỡng không đáng kể, các chỉ tiêu sinh lý khác đều duy trì ở mức tương đối ổn định. + Trạng thái ổn định giả: Xuất hiện ở bài tập công suất lớn hoặc dưới cực đại kéo dài. Nhu cầu về ôxy cũng như các nhu cầu về trao đổi chất khác rất cao. Khả năng hấp thụ ôxy và các chỉ tiêu sinh lý được duy trì ở mức tối đa hoặc gần tối đa mặc dù vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể . Trong trạng thái ổn định giả , nợ dưỡng tăng dần và ngày càng lớn, năng lượng được cung cấp chủ yếu bằng các phản ứng yếm khí. Hoạt động trong trạng thái ổn định giả vô cùng khó khăn và thường không thể kéo dài quá lâu vì nợ dưỡng tăng dần và ngày càng lớn, đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của hệ vận động và các hệ thống chức năng khác. + Trong thực tế tập luyện và thi đấu, thể thao hầu như không thể xác định được trạng thái ổn định thật vì vận động viên luôn cố gắng tăng tốc độ hoặc công suất để đạt thành tích thể thao cao hơn, tức là luôn hoạt động trên mức tối đa của cơ thể. Vì vậy sau trạng thái bắt đầu vận động, trạng thái tiếp theo của cơ thể vận động viên sẽ là trạng ổn định giả. 3. Cực điểm và hô hấp lần hai Trong những hoạt động thể lực căng thẳng và kéo dài, sau khi bắt đầu hoạt động vài phút, trong cơ thể VĐV có thể xuất hiện một trạng thái tạm thời đặc biệt gọi là "Cực điểm" a. Khái niệm : Cực điểm là sự tạm thời giảm sút khả năng vận động. b. Bản chất : Sự rối loạn phối hợp giữa chức năng vận động và chức năng dinh dưỡng. c. Biểu hiện của cực điểm. Về chủ quan Vận động viên cảm thấy tức ngực, chóng mặt, hoa mắt, đánh trống ngực, đau bụng, đau cơ, muốn bỏ cuộc. Các dấu hiệu bên ngoài của cực điểm gồm có thở nhanh và nông, mạch nhanh, hàm lượng CO2 trong máu và trong khí thở ra tăng cao. Độ pH của máu giảm, mồ hôi ra nhiều. Sự phối hợp động tác và khả năng vận động tạm thời giảm sút Nguyên nhân của trạng thái cực điểm là sự rối loạn điều hoà chức năng tạm thời do nhu cầu của các cơ rất cao mà khả năng của hệ vận chuyển ôxy chưa kịp đáp ứng. Vì vậy mà các sản phẩm trao đổi chất yếm khí bị tích tụ lại trong cơ và máu , gây ra những biến đổi xấu như trên. d. Khắc phục cực điểm. Để khắc phục "cực điểm" Vận động viên phải nỗ lực ý chí. Nếu vẫn tiếp tục hoạt động ,cực điểm sẽ chuyển sang một trạng thái dể chịu, hô hấp trở lại. bình thường. Tần số hô hấp giảm , độ sâu hô hấp tăng. Tần số Tần số tim giảm , hàm lượng CO2 trong máu và không khí thở ra giảm đi. Độ pH của máu tăng, mồ hôi ra nhiều. Trạng thái dễ chịu này được gọi là "hô hấp lần thứ hai "hay còn gọi là hiện tượng thoát cực điểm chứng tỏ rắng cơ thể đã tìm ra sự phối hợp chức năng thích hợp và đã huy động được khả năng của mình để đáp ứng lại yêu cầu cao của vận động . e- Xuất hiện cực điểm phụ thuộc vào : Cực điểm không nhất thiết phải xuất hiện trong hoạt động thể lực. Thường thường, cực đểm hay xuất hiện ở những người luyện tập kém hay khởi động không đầy đủ.Thời điểm xuất hiện cực điểm phụ thuộc vào công suất và thời gian vận động VD: Chạy 800m cực điểm xuất hiện ở thời điểm 600m.Chạy 5000 thì cực điểm xuất hiện vào phút thứ 4 - 6. Nếu các cự ly dài hơn thì cực điiểm xuất hiện muộn hơn . 4. Khái niệm, phân loại , nguyên nhân và ý nghĩa của mệt mỏi trong hoạt động thể thao. 1. Khái niệm: Mệt mỏi là trạng thái sinh lý đặc biệt của cơ thể thể hiện bởi những biến đổi đặc biệt xảy ra trong các cơ quan, hệ cơ quan tạm thời, giảm sút khả năng hoạt động. Mệt mỏi xuất hiện trong vận động là hậu quả của hoạt động và mất di sau nghỉ ngơi. Trong trạng thái mệt mỏi ,cơ thể không thể duy trì cường độ hoặc chất lượng vận động ở mức yêu cầu hoặc phải ngừng hoạt động . 2. Các giai đoạn phát triển của mệt mỏi. Mệt mỏi trong hoạt động thể lực phát triển theo 2 giai đoạn: - Mệt mỏi có thể khắc phục: Khả năng hoạt động không bị giảm sút rõ rệt do thay đổi sự phối hợp của các cơ quan dưới tác động của nỗ lực, ý chí. Trong giai đoạn này, khả năng hoạt động có thể duy trì bằng cách thay đổi cơ cấu động tác (mệt mỏi có bù).Ví dụ khi độ dài của bước chạy giảm đi do mệt mỏi thì trong thời gian nhất định ,tốc độ chạy có thể duy trì bằng cách tăng tần số bước chạy - Mệt mỏi không thể khắc phục (mệt mỏi mất bù) mặc dù khắc phục bằng cách nào đi nữa ,cơ thể cũng không thể hoạt động được mãi ,cuối cùng khả năng hoạt động giảm sút phải ngừng hoạt động.Dó là giai đoạn mệt mỏi không thể khắc phục có tính chất bảo vệ . 3. Phân loại mệt mỏi Mệt mỏi có 2 loại : - Mệt mỏi sơ phát : là sự giảm hoạt động của cơ quan do những biến đổi xảy ra ngay chính cơ quan đó. Ví dụ: Sợi cơ không thể co lâu khi Axitlactic trong cơ tăng cao. mặc dù xung động thần kinh vẫn truyền đến cơ đầy đủ. - Mệt mỏi thứ phát: Mệt mỏi ở một cơ quan phát sinh do những biến đổi của các bộ phận khác gây nên. Ví dụ: Mệt mỏi cơ do sự điều khiển của thần kinh trung ương kém đi, trong khi trạng thái cơ vẫn hoàn toàn ổn định. 4. Nguyên nhân của mệt mỏi. Do hoạt động thể lực đa dạng và sự tham gia của các cơ quan vào mỗi hoạt động khác nhau nên nguyên nhân gây mệt mỏi cũng khác nhau. * Thứ nhất là ở địa điểm phát sinh mệt mỏi. - Hệ các cơ quan điều khiển bao gồm hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh dinh dưỡng, hệ nội tiết - Hệ các cơ quan đảm bảo dinh dưỡng cho hoạt động thể lực: Hệ máu, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp. - Hệ vận động: Bộ máy thần kinh - cơ ngoại biên. * Thứ hai: Mệt mỏi do cơ chế: Mệt mỏi trong hoạt động thể lực giải thích bằng bốn cơ chế cơ bản sau: - Mệt mỏi do trung tâm thần kinh: Bất kỳ hoạt động nào, các trung tâm thần kinh, là cơ quan điều khiển cao nhất, đều có những biến đổi rõ rệt và xuất hiện rất sớm. - Mệt mỏi do nhiễm độc các sản phẩm trao đổi chất như: Axitlactic, ôxy làm cho độ pH giảm, làm hạn chế quá trình Glucophân tức là hạn chế việc cung cấp năng lực cần thiết để co cơ. - Mệt mỏi do thiếu ôxy trong vận động. - Mệt mỏi do cạn dự trữ năng lượng. Khi thực hiện bất kì một hoạt động thể lực nào ,các trung tâm thần kinh là cơ quan điều khiển cao nhất , đều có những biến đổi rõ rệt và xuất hiện rất sớm .Kích thích hoặc ức chế các trung tâm thần kinh vận động , nhất là các trung tâm ở vỏ não đều có thể làm tăng hoặc giảm khả năng vận động. Sự mệt mỏi ở trung tâm thần kinh có thể xuất hiện khi tế bào thần kinh hoạt động mạnh và kéo dài. Theo Paplop, sự mệt mỏi này là biểu hiện của ức ché bảo vệ trên giới hạn phát sinh khi hưng phấn quá mức. ngoài ra , các xung động hướng tâm đơn điệu hoặc cường độ mạnh đi từ các cơ quan cảm thụ ngoại biên ở cơ, dây chằng , bao khớp cũng có thể gây ức chế trên giới hạn trong các trung tâm thần kinh . Trong họat động thể lực , nhất là trong hoạt động thiếu ôxy với công suất dưới cực đại , năng lượng được cung cấp chủ yếu bằng cách phân giải glucose yếm khí . Quá trình này tạo ra một lượng axit lactic rất lớn , làm giảm độ pH của cơ thể . Axit lactic và độ pH làm hạn chế quá trình gluco phân , tức là hạn chế việc cung cấp năng lượng cần thiết để co cơ .Như vậy là việc hình thành và tích tụ axit lactic ( và một số sản phẩm trao đổi chất khác )làm giảm khả năng hoạt động của cơ.Trong trường hợp này mệt mỏi xuất hiện do cơ bị nhiễm độc chỉ có vai trò chủ yếu đối với sự phát sinh mỏi mệt trong các hoạt động được cung cấp.

<span class='text_page_counter'>(20)</span> năng lượng bằng conđường glucophân yếm khí tạo axitlactic . Có thể có các nguồn dự trữ năng lượng chủ yếu là hệ photphagen (ATP và CP) ở trong cơ và đường ( glycogen và glucose ) chứa trong cơ và gan . Trong các hoạt động thể lực với công suất tối đa hoặc gần tối đa ,hàm lượng ATP - CP có thể giảm đi đáng kể (50-90% so với mức ban đầu - Kox).Glucose và đặc biệt là glycogen trong các cơ có thể bị phân giải hoàn toàn hoặc không hoàn toàn khi thực hiện các hoạt động công suất dưới cực đại hoặc công suất lớn hơn .Vì vậy việc cạn dự trữ năng lượng được coi là một trong các cơ chế làm xuất hiện mệt mỏi trong hoạt động thể lực . Mệt mỏi trong hoạt động thể lực còn được giải thích bằng cơ chế thiếu ô xy trong vận động ,do khả năng hạn chế của hệ vận chuyển ô xy bao gồm hệ hô hấp ,hệ máu ,hệ tuần hoàn .Sự thiếu ô xy làm cho các tế bào cơ cũng như tế bào thần kinh bị" ngạt thở "gây ra hiện tượng ức chế ở trung tâm thần kinh ,tích tụ axitlactic hoặc cạn dự trữ năng lượng do không được tái tổng hợp kịp thời . * Trên cơ sở địa điểm và cơ chế phát sinh mệt mỏi, trong hoạt động thể lực trong sinh lý học hình thành 2 thuyết mệt mỏi cơ bản: - Thuyết thứ nhất: Thuyết thể dịch - cục bộ.Cho rằng nguyên nhân mệt mỏi là do những rối loạn cục bộ nằm ở các cơ quan vận động. Ví dụ: Vận động viên chạy ngắn thì mệt cơ chân. Vận động viên 3000m thì mệt mỏi ở hệ tuần hoàn, hô hấp. - Thuyết thứ 2: Thuyết thần kinh trung ương.Giải thích sự mệt mỏi xuất hiện hoàn toàn do hoạt động của hệ thần kinh, cụ thể là của vỏ não. * Các số liệu thực nghiệm cho thấy, không thể hạn chế nguyên nhân mệt mỏi ở một cơ quan, hệ cơ quan riêng lẻ nào, kể cả hệ thần kinh. Hoạt động thể lực đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan và hệ cơ quan khác nữa như cơ vân, hệ hô hấp, tim mạch, máu, các tuyến nội tiết.v.v... 5. Ý nghĩa của mệt mỏi. - Phản ứng tốt của mệt mỏi: Xuất hiện mệt mỏi là xuất hiện phản ứng bảo vệ, tránh cho các cơ quan, hệ cơ quan không bị mệt mỏi quá mức. - Phản ứng xấu của mệt mỏi: Không đạt thành tích mong muốn. 9.Đặc điểm sinh lý của trạng thái sau vận động (trạng thái hồi phục). 1. Khái niệm. - Trạng thái hồi phục: Là trạng thái của cơ thể khi quá trình hồi phục đang diễn ra. 2. Bản chất của hồi phục. - Đào thải các sản phẩm trao đổi chất: Axitlactic, urê, CO 2... qua con đường bài tiết. - Phục hồi các năng lượng đã mất đi và tổng hợp,các men thích ứng. VD: Sau khi đường cung cấp cho hoạt động, nó được tổng hợp lại và tăng lên ở dạng dự trữ để chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo. - Đưa cơ thể trở về trạng thái ban đầu.. VD: Tần số nhịp tim tăng lên khi vận động, khi nghỉ ngơi lại trở về mức ban đầu là 75 lần/1' (bình thường) còn với vận động viên thậm chí thấp hơn 5560 lần/1 phút. Đó là sự biểu hiện của sự thích nghi với vận động. - Biến đổi trong quá trình hồi phục sẽ làm tăng khả năng chức phận, tăng đồng hoá các chất. * Khả năng chức phận là các chức năng của bộ phận cơ thể. + Trạng thái chức năng: Bao gồm cả cấu trúc và chức năng. Ví dụ: Tim vận động viên có sự phì đại mới có lưu lượng phút là 32 đến 34 lít/phút. + Trạng thái thể chất bao gồm cả cấu trúc, chức năng và tố chất vận động. Ví dụ: Cơ phì đại thì chức năng co rút, thả lỏng nhanh và biểu thị tăng tố chất sức nhanh, sức mạnh. 3- Các yếu tố ảnh hưởng đến hồi phục. - Trình độ tập luyện: Trình độ càng cao thì hồi phục càng nhanh. - Công suất vào thời gian hoạt động: Công suất hoạt động càng cao những biến đổi xảy ra càng mạnh thì tiến độ hồi phục càng nhanh. Ví dụ: Hoạt động công suất tối đa, hồi phục sau vận động xảy ra sau vài phút trong khi chạy maratong hồi phục có thể kéo dài vài ngày. 4- Đặc điểm hồi phục: Quá trình hồi phục của các chức năng sinh lý xảy ra theo một số đặc điểm chung. - Quá trình hồi phục của từng chức năng cũng như khả năng hoạt động thể lực nói chung xảy ra theo hình làn sóng và không đều, được biểu diễn theo một đường đồ thị dạng hình sin, tăng giảm theo tính chất có quy luật chu kỳ tắt dần.. mức ban đầu sau 6-8 phút, trong khi tần số nhịp tim: 20 phút. - Khả năng hoạt động thể lực và nhiều chức năng liên quan với khả năng hoạt động thể lực của cơ thể sau hoạt động vơí cường độ lớn không chỉ phồi phục đến mức trước vận động mà còn vượt quá mức đó, tạo ra sự hồi phục vượt mức. 5- Phân loại hồi phục : 4 giai đoạn. - Hồi phục nhanh: VD tần số nhịp tim, lưu lượng phút, lưu lượng tâm thu, tấn số hô hấp, thông khí phổi. - Hồi phục chậm: VD năng lượng. - Hồi phục vượt mức: Là hồi phục các chỉ tiêu sinh lý cao hơn mức ban đầu - Hồi phục muộn. 6- ápdụng quy luật hồi phục vượt mức trong huấn luyện thể thao. Ông Folbort là người đầu tiên áp dụng quy luật hồi phục vượt mứctrong huấn luyện nâng cao. Dựa vào hồi phục vượt mức Folbort dẫ đưa ra 4 biểu đồ gồm có 3 đặc điểm sau: +Chọn thời điểm để tác động lượng vận động tiếp theo +Thời gian giãn cách giữa các lần tác động lượng vận động. +Năng lực làm việc của cơ thể ở các thời điểm tác động khác nhau và thời gian giãn cách khác nhau. -Biểu đồ 1- Đặt lượng vận động trước thời kỳ hồi phục vượt mức . -Biểu đồ 2: Đặt lượng vận động sau thời kỳ hồi phục vượt mức . -Biểuđồ 3 : Đặt lượng vận động trong thời kỳ hồi phục vượt mức . a. Biểu đồ 1: Đặt lượng vận động trước thời kỳ hồi phục vượt mức. LVĐ1 LVĐ2. Hồi phục vượt mức Khởi điểm (1). Lượng vận động. Mức khởi điểm Hoạt động nghỉ - Nhịp độ hồi phục của các chức năng sinh lý xảy ra không đều: Ngay sau hoạt động, sự hồi phục chức năng xảy ra nhanh hơn, sau đó chậm hơn. Ví dụ: Sau hoạt động tốc độ trong 5 phút hồi phục đầu tiên, nợ dưỡng trả gấp 5 lần so với 13 phút tiếp theo. - Các chức năng sinh lý khác nhau, thậm chí chỉ số sinh lý khác nhau hồi phục với tốc độ khác nhau. Ví dụ: Sau hoạt động công suất tối đa, huyết áp trở về. - Năng lực vận động ở mức thấp nhất thì đặt lượng vận động tiếp theo. Như vậy năng lực vận động của cơ thể giảm xuống vì thời gian giữa 2 lượng vận động gần nhau quá. Sau vài lần lặp lặi như vậy phải cho cơ thể hồi phục vượt mức thì mới tác động lượng vận động tiếp theo. Kiểu này trong thể thao chủ yếu để huấn luyện sức bền. Lứa tuổi thanh thiếu niên thì không nên huấn luyện kiểu này vì như vậy sẽ tích luỹ mệt mỏi dẫn đến mệt mỏi quá sức. Tập luyện quá sức là :giảm sút kéo dài năng lực hoạt động ,ngừng phát triển thành tích .. b.Biểu đồ 2 : Đặt lượng vận động sau thời kì hồiphục vượt mức. Biểu thị dạng sóng hình sin không có chu kì tắt dần , sử dụng phương pháp nàyđể huấn luyện nâng cao sức khỏe chứ không có tác dụng nâng cao thành tích c.Biểu đồ 3 : Đặt lượng vận động trong thời kì hồi phục vượt mức. Huấn luyện kiểu này là tăng dần đều . Folbort kết hợp biểu đồ 1 và 3 thì thành tích thể thao sẽ cao, huấn luyện cho VĐV đã có thành tích tốt rồi, các chỉ tiêu sinh lý được ổn định (nam 20-25 tuổi, nữ 18-20 tuổi ) không huấn luyện cho VĐV tuổi thanh thiếu niên . VD:3 thánghuấn kuyện chia nhỏ thành 1 tháng, 1tháng,1 tháng. Kết thúc chu kì 1 nghỉ ngơi tích cức chờ cho năng lực hoạt động hồi phục vượt mức thì huán luyện chu kì 2 sau đó nghỉ ngơi tích cực chờ cho năng lực hoạt động hồi phục vượt mức thì huấn luyện chu kì 3 sao cho đến khi thi đấu đạt trạng thái sung sức thể thao ..

<span class='text_page_counter'>(21)</span>

×