Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.29 KB, 29 trang )

LờI Mở ĐầU

Trong bức tranh toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam,đứng bên cạnh các Doanh
nghiệp nhà nớc(DNNN),các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế t nhân thì các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (doanh nghiệp FDI) trong những năm gần đây bắt đầu
trỗi dậy và nổi lên nh một điểm sáng. Là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế,các
doanh nghiệp FDI đã và đang khẳng định vị trí vai trò của mình nh đóng góp vào
GDP hàng năm ,tạo công ăn việc làm cho ngời lao động,góp phần to lớn vào sự
nghiệp CNH,HĐH,phát triển kinh tế , hội nhập kinh tế Việt Nam với kinh tế khu vực
và kinh tế thế giới.
Bài viết này chỉ nêu lên một số khái niệm , tình hình đầu t trực tiếp nớc ngoài từ
năm 1988 đến nay, kết quả đã đạt đợc, những vấn đề còn vớng mắc và các biện pháp
tháo gỡ.Do thời lợng có hạn nên cha thể đi sâu vào từng vấn đề cũng nh cha cập nhật
đợc các thông tin, biểu đồ thật sự chính xác để biểu đạt rõ vấn đề đó.Tuy vậy , qua
bài viết này ngời đọc cũng có thể có đợc cái nhìn tổng quát về đầu t trực tiếp nớc
ngoài vào Việt Nam, vai trò và các tiềm năng của nó.
Vì trình độ và khả năng có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi những sai sót
nhất định, mong Thầy (Cô) lợng thứ và đóng góp ý kiến để bài viết đợc hoàn thiện
hơn.
Hà Nội, tháng 3/2004.
Sinh Viên
Nguyễn Minh Tuấn
1
Chơng 1. QUAN NIệM Về ĐầU TƯ NƯớC NGOàI
Và VAI TRò CủA Nó
I> Quan niệm về đầu t trực tiếp n ớc ngoài.
1. Khái niệm về đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam.

Theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam , chơng1, điều 2 có viết :Đầu t trực
tiếp nớc ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nớc ngoài trực tiếp đa vào Việt Nam vốn
bằng tiền nớc ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào đợc Chính phủ Việt Nam chấp thuận để


hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí
nghiệp 100% vốn nớc ngoài theo quy định của luật này.
Trong đó :
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký giữa Bên nớc ngoài và Bên Việt
Nam về hợp tác kinh doanh .
+ Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp do Bên nớc ngoài và Bên Việt Nam hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa Chính
phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nớc ngoài.
+ Xí nghiệp 100% vốn nớc ngoài là xí nghiệp do các tổ chức, cá nhân nớc ngoài
đầu t 100% vốn và đợc Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập tại Việt Nam.
+ Vốn đầu t là vốn để thực hiện dự án đầu t, bao gồm vốn pháp định và vốn
vay.Vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài là mức vốn phải có để
thành lập doanh nghiệp đợc ghi trong điều lệ doanh nghiệp.Phần vốn góp của Bên n-
ớc ngoài vào vốn pháp định của xí nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức cao
nhất, theo mức thoả thuận của hai bên nhng không dới 30% tổng số vốn.
Thời hạn hoạt động của xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài không quá 20 năm.Trong
trờng hợp cần thiết thời hạn này có thể dài thêm.
2

2. Những lĩnh vực mà các nhà đầu t nớc ngoài đợc phép đầu t tại Việt Nam.
Nhà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích các
tổ chức ,cá nhân nớc ngoài đầu t vốn và kỹ thuật trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng có
lợi.Các tổ chức, cá nhân nớc ngoài đợc đầu t vào Việt Nam trong các lĩnh vực của
nền kinh tế quốc dân.
Các lĩnh vực đợc chính khuyến khích đầu t:
+ Thực hiện các chơng trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế
hàng nhập khẩu.
+ Sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề; đầu t theo chiều sâu để khai thác, tận
dụng các khả năng và công suất của các cơ sở kinh tế hiện có.

+ Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu và tài nguyên sẵn có ở Việt Nam.
+ Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng.
+ Dịch vụ thu tiền nớc ngoài nh du lịch, sửa chữa tầu, dịch vụ sân bay, cảng khẩu và
các dịch vụ khác.
II> Vai trò của đầu t trực tiếp n ớc ngoài tại Việt Nam.
Vai trò chủ yếu của đầu t trực tiếp nớc ngoài trong những năm gần đây chính là
ảnh hởng của nó tới sự nghiệp Công nghiệp hoá(CNH), Hiện đại hoá(HĐH) ở Việt
Nam.
1. Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài là nguồn vốn quan trọng và là một trong những
điều kiện tiên quyết để Việt Nam thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH
đất nớc.
3
Từ khi thực hiện chính sách đầu t trực tiếp nớc ngoài cho đến nay, vốn đầu t nớc
ngoài thực hiện tại Việt Nam bình quân 1.111,75 triệu USD/ năm.Vốn đầu t xây
dựng cơ bản của các dự án đầu t nớc ngoài bình quân thời kỳ năm 1991-1999 là
16291 tỷ đồng/năm.Đối với một nền kinh tế có quy mô nh của nớc ta thì đây là một
lợng vốn đầu t không nhỏ, nó thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến
không chỉ về quy mô đầu t mà điều quan trọng hơn là nguồn vốn này có vai trò nh
chất xúc tác-điều kiện để việc đầu t của ta đạt đợc hiệu quả nhất định. Nếu so với
tổng vốn đầu t xây dựng cơ bản xã hội thời kỳ năm 1991-1999 thì vốn đầu t xây dựng
cơ bản của các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài chiếm 26,51 % và lợng vốn đầu t này
có xu hớng tăng lên qua các năm.
Vốn đầu t xây dựng cơ bản từ các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài (giai đoạn năm
1995-1999=118.200 tỷ đồng) cao hơn hẳn số vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc cùng
thời kỳ này(97.389,6 tỷ đồng) .Tức là vốn ngân sách nhà nớc dành cho xây dựng cơ
bản chỉ bằng 82,4% vốn từ các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài dành cho lĩnh vực này.
Vốn đầu t nớc ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát triển
một nền kinh tế cân đối , bền vững theo yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH.
Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài còn là một trong những nguồn thu quan trọng
cho ngân sách nhà nớc .Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (không kể dầu khí)

đã thực hiện nộp ngân sách nhà nớc (thời kỳ 1994-1999) với số tiền 1.489 triệu USD
(cụ thể năm 1994=128 triệu USD ; năm 1995=195 triệu; năm 1996=263 triệu; năm
1997=315 triệu; năm 1998=317 triệu và năm 1999 = 271 triệu).
Về định tính , sự hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu t trực tiếp nớc
ngoài nh là một trong những động lực gây phản ứng dây chuyền làm thúc đẩy sự
hoạy động của đồng vốn trong nớc-một số chuyên gia kinh tế tính toán rằng cứ một
đồng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài hoạt động sẽ làm cho bốn đồng vốn trong nớc hoạt
động theo.
4
2. Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần tạo ra những năng lực sản xuất
mới , ngành nghề mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, phơng thức sản xuất kinh
doanh mới, làm cho nền kinh tế nớc ta từng bớc chuyển biến theo hớng kinh tế thị
trờng hiện đại.
Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài luôn có chỉ số phát triển cao hơn chỉ số
phát triển của các thành phần kinh tế khác, và cao hơn hẳn chỉ số phát triển chung
của cả nớc.(Năm 1995, chỉ số phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài
là 114,98%thì chỉ số phát triển chung của cả nớc là 109,54%; số lợng tơng ứng của
năm 1996 là 119,42%và 109,34%; năm 1997 là 120,75% và 108,15%; năm 1998 là
116,88% và 105,8%).Tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài trong tổng
sản phẩm trong nớc cũng có xu hớng tăng lên tơng đối ổn định(năm 1995=6,3%;
năm 1996=7,39%; năm 1997=9,07%; năm 19988=10,12%; năm 1999=10,3%).
Đối với ngành công nghiệp : Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài không
những chiếm tỷ trọng cao mà còn có xu hớng tăng lên đáng kể trong tổng giá trị sản
xuất của toàn ngành. Khu vực có vốn đầu t nớc ngoài luôn tạo ra hơn 25% giá trị sản
xuất của toàn ngành công nghiệp. Tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực này đạt đợc
từ 25,1%(năm 1995); 26,73%(năm 1996); 28,9% (nămm 1997); đã tăng lên 31,98%
(năm 1998) và 34,73% (năm 1999).
Trong ngành công nghiệp khai thác, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
đang có vị trí hàng đầu , với tỷ trọng 79% giá trị sản xuất của toàn ngành. Tiêu biểu
mức tỷ trọng một số năm nh sau: 77,88%(năm 1995); 78% (năm 1996); 77,7% (năm

1997); lên 81,4% (năm 1998). Đặc biệt , giá trị sản xuất của ngành khai thác dầu thô
và khí tự nhiên chủ yếu do các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tạo ra , với các
mức cụ thể nh sau: 99,7%(năm 1995); 99,7%(năm 1996); 99,8%(năm 1997) và
99,8% (năm 1998).
Trong công nghiệp chế biến , tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài chiếm khoảng 22% và có xu hớng ngày càng tăng, từ 18,1%
(năm 1995); 20,1%(năm 1996); 22,9%( năm 1997) lên 25,3%(năm 1998). Trong đó,
5
ở một số ngành quan trọng , tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài nh sau: 71% trong ngành sản xuất và sửa chữa xe có động cơ (trong
đó 100% sản xuất và lắp ráp ô tô,xe máy); 44,3% trong ngành sản xuất băng da và
giả da; 100% trong ngành sản xuất tụ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà không
khí, đầu video, sản xuất sợi PE, PES; 67,6% trong ngành sản xuất radio, tivi, thiết bị
truyền thông; 31% trong ngành sản xuất kim loại; 22,2% trong ngành sản xuất thiết
bị điện, điện tử; 20,1% trong ngành sản xuất hoá chất; 19,1% trong ngành may mặc;
18,6% trong ngành dệt.
Các công nghệ đang sử dụng trong lĩnh vực dầu khí , viễn thông, hoá chất .đều
thuộc loại công nghệ hiện đại và các công nghệ này thực sự đã góp phần tạo nên bớc
ngoặt tích cực trong quá trình phát triển kinh tế của nớc ta. Đa số công nghệ sử dụng
trong các ngành công nghiệp điện tử, hoá chất, ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng đều là
những dây chuyền tự động hoá tơng đối hiện đại. Một số sản phẩm điện tử, vi mạch,
ngời máy công nghiệp đ ợc sản xuất bằng công nghệ tiên tiến.Các khách sạn, văn
phòng cho thuê đều đợc trang bị các thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Đối với ngành nông nghiệp: tính đến nay, còn 221 dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài
đang hoạt động trong ngành nông nghiệp với tổng số vốn đăng ký hơn 2 tỷ USD .
Đầu t nớc ngoài đã góp phần đáng kể nâng cao năng lực sản xuất cho ngành nông
nghiệp , chuyển giao cho lĩnh vực nay nhiều giống cây, giống con, tạo ra nhiều sản
phẩm chất lợng cao, góp phần thúc đẩy quá trình đa rạng hoá sản xuất nông nghiệp
và khả năng cạnh tranh của nông lâm sản hàng hoá. Vốn đầu t nớc ngoài góp phần
làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp theo yêu cầu của nền kinh tế CNH,

HĐH. Nếu nh trớc đây đầu t nớc ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ
, lâm sản thì những năm gần đây nhiều dự án đã đầu t vào các lĩnh vực sản xuất
giống, trồng trọt, sản xuất thức ăn chăn nuôi, mía đờng, trồng rừng, sản xuất nguyên
liệu giấy, chăn nuôi..v. v..
Về vấn đề những công nghệ đang đợc sử dụng ở các doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài thuộc ngành công nghiệp nói riêng và trên toàn bộ nền kinh tế Việt Nam
6
nói chung cũng hiện còn những ý kiến đánh giá khác nhau. Nhng nếu phân tích theo
logic cũng nh qua đánh giá thực tế của một số cơ quan chuyên môn thì thấy rằng :
+ Các nhà đầu t nớc ngoài bao giờ cũng đặt lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn làm
mục tiêu hàng đầu. Những thiết bị , công nghệ mà họ đa vào sử dụng tại các dự án
đầu t ở nớc ta có thể đã đến lúc cần thay thế ở nớc họ, những vì đi cùng với những
thiết bị , công nghệ này thờng là một số lợng nhất định tiền vốn phải bỏ ra, xuất phát
từ sự gắn liền với lợi ích của mình nh vậy nên khi chuyển thiết bị ,công nghệ vào nớc
ta, bên nớc ngoài cũng phải cần cân nhắc, tính toán kỹ.
+ Thực tế , những thiết bị , công nghệ của nớc ngoài chuyển vào thực hiên dự án
đầu t tại Việt Nam lâu nay cha phải là những loại thuộc thế hệ hiện đại nhất của thế
giới nhng phần lớn là hiện đại hơn những thiết bị có trớc đây tại Việt Nam.
Một vấn đề quan trọng nữa là nếu nh trớc đây , các doanh nghiệp Việt Nam chỉ
biết sản xuất kinh doanh thụ động theo sự chỉ định kế hoạch của cấp trên , không cần
đầu t , quảng cáo, tiếp thị, sản phẩm sản xuất ra không bị cạnh tranh .thì sự xuất
hiên của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã thực sự trở thành nhân tố tác
động mạnh làm thay đổi căn bản phơng thức sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp Việt Nam theo hớng tích cực và ngày càng thích nghi với nền kinh tế thị tr-
ờng.
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã đơng nhiên đặt các
doanh nghiệp Việt Nam trong hoàn cảnh bắt buộc tham gia vào cuộc cạnh tranh về
mọi mặt để xác định khả năng tồn tại hay phá sản. Để có thể tồn tại đợc , các doanh
nghiệp Việt Nam chỉ còn con đờng là phải thay đổi một cách căn bản từ công nghệ,
phơng thức sản xuất kinh doanh, trình độ của ngời lao động Theo phản ứng dây

chuyền nh trên, một mặt tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiệp cận và
bắt nhịp đợc vào quỹ đạo của sự phát triển .Mặt khác, ngời tiêu dùng lại có lợi hơn
.Đầu t nớc ngoài thực sự đã trở thành lực lợng có điều kiện để giải những bài toán
khó giải quyết. Khi đầu t trực tiếp nớc ngoài hoạt động, phát huy hiệu quả không
những sẽ tạo ra môi trờng thuận lợi , cùng các yếu tố hấp dẫn thu hút các nhà đầu t
7
trong nớc bỏ vốn đầu t sản xuất kinh doanh, mà còn cho du nhập vào Việt Nam các
phơng thức kinh daonh mới trong việc tiếp thị mua bán hàng hoá, dịch vụ, du lịch,
tạo ra sự cạnh tranh trên thị trờng cũng nh hình thành nên một số loại thị trờng mới
nh thị trờng lao động, thị trờng bất động sản, thị trờng vốn, thị trờng dịch vụ, thị tr-
ờng nguyên nhiên vật liệu
3. Hoạt động của các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài đã tạo ra một số lợng lớn
chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp có thu nhập cao, đồng thời góp phần hình thành
cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực cho ngời lao động Việt Nam.

Tính đến ngày 31/12/1999 các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã tạo cho
Việt Nam 296.000 chỗ làm việc trực tiếp và khoảng 1 triệu lao động gián tiếp ( bao
gồm công nhân xây dựng và các ngành sản xuất , dịch vụ phụ trợ có liên quan). Nh
vậy , số lao động làm việc trong các bộ phận có liên quan đến hoạt động của các dự
án đầu t nớc ngoài bằng khoảng 39% tổng số lao động bình quân hàng năm trong
khu vực nhà nớc --đây là một kết quả nổi bật của đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Thu nhập bình quân của lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài là 70 USD/tháng( tơng đơng 980.000 đồng ) bằng khoảng 150% mức thu
nhập bình quân của lao động trong khu vực nhà nớc. Đây là yếu tố hấp dẫn đối với
lao động Việt Nam, do đó đã tạo ra sự cạnh tranh nhất định trong thị trờng lao động .
Tuy nhiên , lao động làm việc trong các doanh nghiệp này đòi hỏi cờng độ lao động
cao, kỷ luật lao động lao động nghiêm khắc ..đúng với yêu cầu của lao động làm
việc trong nền sản xuất hiện đại, trong một số lĩnh vực còn có yêu cầu đối với lực l-
ợng lao động phải có trình độ cao về tay nghề, học vấn, ngoại ngữ Sự hấp dẫn về
thu nhập cùng với đòi hỏi về trình độ là những yếu tố tao nên cơ chế buộc ngời lao

động Việt Nam có ý thức tu dỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ và tay nghề để có thể
đủ điều kiện đợc tuyển chọn vào làm việc tại các doanh nghiệp loại này.Theo đánh
giá của một số chuyên gia về lao động cho thấy , đến nay, ngoại trừ một số ít lao
8
động bỏ việc do mâu thuẫn với giới chủ, một số khác bị thải loại do không đấp ứng
đợc yêu cầu (chủ yếu do tay nghề yếu ), số công nhân hiện còn làm việc tại các
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đều đợc bồi dỡng trởng thành và tạo nên một
đội ngũ công nhân lành nghề, đáp ứng đợc yêu cầu đối với lao động trong nền sản
xuất tiên tiến.
Sự phản ứng dây chuyền tự nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài với các doanh nghiệp trong nớc trên thị trờng lao động là nhân tố
thúc đẩy lực lợng lao động trẻ tự đào tạo một cách tích cực và có hiệu quả hơn, cũng
nh góp phần hình thành cho ngời lao động Việt Nam nói chung một tâm lý tuân thủ
nền nếp làm việc theo tác phong công nghiệp hiện đại có kỷ luật.
Về đội ngũ các cán bộ quản lý, kinh doanh: trớc khi bớc vào cơ chế thị tr-
ờng,chúng ta cha có nhiều nhà doanh nghiệp giỏi có khả năng tổ chức sản xuất kinh
doanh có hiệu quả trong môi trờng cạnh tranh. Khi các dự án đầu t nớc ngoài đa vào
Việt Nam những chuyên gia giỏi, đồng thời áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức,
kinh doanh hiện đại nhằm thực hiện dự án có hiệu quả, đây chính là điều kiện tốt
một mặt để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, học hỏi và nâng cao trình độ, kinh
nghiệm quản lý cũng nh lao động Việt Nam đến một trình độ đủ để đáp ứng đợc yêu
cầu kỹ thuật, công nghệ đang đợc sử dụng trong các dự án. Nh vậy, dù không muốn
thì các nhà đầu t nớc ngoài cũng phải tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực
Việt Nam . Đến nay, chung ta có khoảng 6.000 can bộ quản lý, 25.000 cán bộ kỹ
thuật đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài .Họ chủ yếu là
những kỹ s trẻ , có trình độ có thể cùng các chuyên gia nớc ngoài quản lý doanh
nghiệp , tổ chức sản xuất , kinh doanh có hiệu quả và đủ khả năng để tiếp thu nhanh
những công nghệ hiện đại thậm chí cả bí quyết kỹ thuật.

4. Đầu t trực tiếp nớc ngoài thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh

tế Việt Nam với thế giới , nó là một trong những phơng thức đa hàng hoá sản xuất
tại Việt Nam xâm nhập thị trờng nớc ngoài một cách có lợi nhất.
9
Các nhà đầu t nớc ngoài thông qua thực hiện dự án đầu t đã trở thành cầu nối ,
là điều kiện tốt để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác đợc với
nhiều quốc gia , nhiều tổ chức quốc tế, cũng nh những trung tâm kinh tế , kỹ thuật ,
công nghệ mạnh của thế giới.
Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng là hoạt động của đầu t trực tiếp nớc
ngoài đã giúp cho Việt Nam mở rộng hơn thị phần ở nớc ngoài. Đối với những hàng
hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đâu t nớc ngoài ,vô hình dung đã biến
các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu t nớc ngoài tại Việt Nam thành bạn hàng
của Việt Nam . Nhờ có những lợi thế trong hoạt động thị trờng thế giới nên tốc độ
tăng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
cao hơn tốc độ tăng KNXK của cả nớc và cao hơn hẳn KNXK của các doanh nghiệp
trong nớc ( năm 1996: KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tăng
78,6% so với năm trớc ,thì KNXK của cả nớc tăng 33,2% , còn KNXK của các
doanh nghiệp trong nớc chỉ tăng 29,5%; số liệu tơng ứng của năm 1997 là :
127,7%; 26,6%và 14%; năm 1998 là:10,7%; 2,4% và 1,8%; năm 1999 là : 30,2%;
23%; 21,1%. Về số tuyệt đối , KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
đã tăng một cách đáng kể qua các năm : nếu năm 1992 đạt 52 triệu USD , năm 1995
đạt 440,1 triệu USD; năm 1996 đạt 786 triệu USD, năm 1997 đạt 1790 triệu USD ,
năm 1998 đạt 1982 triệu USD , thì năm 1999 đạt tới 2577 triệu USD. Nh vậy
KNXK của các doanh nghiệp loại này đạt đợc trong năm 1999 bằng 5,8 lần của năm
1995 và bằng 49 lần của năm 1992 . Về số tơng đối , tỷ trọng KNXK của các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trong tổng KNXK của cả nớc đang có xu hớng tăng
lên: năm 1995 là 8,1% , năm 1996 là 10,8%, năm 1997 là 19,5%, năm 1998 là
21,1% và năm 1999 là 22,3%. Về chủng loại hàng hoá xuất khẩu , nếu không kể dầu
thô, u điểm hơn hẳn của doanh nghiệp trong nớc ở chỗ chúng chủ yếu là hàng công
nghiệp chế biến và chế tạo , trong đó có nhiều sản phẩm thuộc công nghệ cao nh
bảng mạch in điện tử , máy thu hình, video, ngời máy v..v..

10
Chơng 2 tình hình đầu t trực tiếp nớc ngoài
từ năm 1988 đến nay
I> Khái quát

Kể từ khi Luật Đầu t nớc ngoài đợc ban hành năm 1987 tới tháng 8 năm 2001,
Việt Nam đã cấp giấy phép cho 3628 dự án đầu t với tổng số vốn đầu t đạt khoảng
46,5 tỷ USD (kể cả tăng vốn cho các dự án đã cấp giấy phép đầu t).Trong đó có 33
dự án hết hạn với tổng số vốn đầu t 0,3 tỷ USD và 703 dự án giải thể với tổng số vốn
11

×