Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 10 trang )

Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên
 Giới Thiệu: Việt Nam là nước có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và
đã được thế giới cơng nhận là di sản văn hóa Thế Giới: phố cổ Hội
An, quần thể kiến trúc thánh địa Mĩ Sơn,… Trong đó khơng thể khơng
kể đến di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng khơng chỉ trong nước và
trên thế giới là “ Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”.



Nguồn gốc và tiểu sử cồng chiêng.

- Nguồn gốc : Văn hoá cồng chiêng được phát triển từ nền văn
hoá đồng thau của dân tộc (mà đại diện tiêu biểu là tr ống đ ồng
ra đời cách đây 3.000 năm) là loại hình nghệ thu ật g ắn v ới l ịch
sử văn hoá của các dân tộc thiểu số.
- Khơng gian văn hóa cồng chiêng: Trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum,
Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng.
- Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc sắc này là 17 dân
tộc thiểu số sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Vi ệt
Nam, các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn – Tây Nguyên
như : Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai...


- Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức
riêng để chơi những bản nhạc của dân tộc mình, nh ất là vào d ịp
lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà mới.
- Phân loại: Cồng, chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có
khi pha bạc hoặc đồng đen. Các nhà nghiên cứu cho bi ết, c ồng là
loại có núm, chiêng khơng có núm. Các dàn cồng chiêng th ường
gồm nhiều bộ, mỗi bộ có số lượng khác nhau, đảm nhiệm những
chức năng riêng trong cuộc hịa tấu. Nhạc cụ cồng chiêng có


nhiều kích cỡ, đa phần có đường kính từ 20 cm đ ến 50 cm - 60
cm, có khi loại cực đại lên đến 90 cm. C ồng chiêng có th ể đ ược
dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, một bộ có từ 2 đến 12, hoặc 13
chiếc, thậm chí có nơi sử dụng lên đến 18 - 20 chiếc. Trong m ột
bộ chiêng, chiếc chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất.

- Sự phát triển về chất liệu: sự thay đổi về chất liệu làm nên
cồng chiêng theo các nhà nghiên cứu thì từ vật liệu đá cho đ ến
chất liệu đồng nằm trong thời kì của sự cải tiến công cụ lao
động, và sự tiến bộ vượt bậc trong tư duy của loài ng ười. Nh ư
vậy, đồng thời khi đó tư duy của con người trong việc sử dụng
chúng có những ý nghĩa khác nhau cũng có những sự ti ến b ộ. Ví
như khi được làm bằng đồng chúng sẽ phát ra âm thanh to h ơn,


vang xa hơn, dễ dàng hơn trong các cuộc đi săn trong rừng, từ đó
mang lại cho họ những chiến lợi phẩm dồi dào.
+ Về màu sắc của cồng chiêng và sự khác nhau về âm thanh của
chúng: càng về sau người dân tộc càng chú ý hơn về yếu tố thẩm
mĩ của cồng chiêng, yếu tố màu sắc. Người ta có thể chế tạo ra
cồng chiêng với nhiều màu sắc khác nhau. Nếu đúc bằng đ ồng
nguyên chất, khi mới ra lị chúng có màu của đ ồng nh ư máu đ ỏ,
màu vàng hoặc đen. Tuy nhiên trong q trình đúc ng ười ta có th ể
pha chế với các hợp kim khác để tạo nên những màu sắc khác nhau.
Thường thì người ta chuyển đổi nó thành màu đen hoặc xám đ ể s ử
dụng, bởi trên thực tế, giá trị của đồng đen là cao nh ất trong các
loại đồng. Trong quá trình đúc với các bí quy ết pha ch ế v ới các h ợp
kim phụ trợ, người ta có thể tạo ra những chiếc cồng chiêng v ới
những âm thanh to nhỏ, vang rền theo ý mu ốn. Chính đi ều đó đã
tạo nên nét độc đáo riêng trong các dàn cồng chiêng thu ộc các dân

tộc, buôn làng với nhau.

- Cồng chiêng gắn liền với đời sống: Từ thuở sơ khai, giai điệu
cồng chiêng gắn với người dân hết sức mật thiết, nó có mặt và
theo sát cuộc đời của con người. Lọt lòng mẹ, ti ếng cồng chiêng


đã khai thông, cho đứa bé nhận ra sự ra đời của nó qua l ễ th ổi
tai. Cứ thế đứa trẻ lớn dần theo nhịp cồng chiêng âm vang c ủa
lễ hội vòng đời: trưởng thành, trao vòng, mừng sức khỏe....Nằm
trên lưng mẹ, bé cũng được âm hưởng cồng chiêng cho nghe
những giai điệu náo nức của lễ hội, vòng cây trồng: phát r ẫy, trĩa
lúa, diệt sâu bọ, ăn cốm, mừng lúa mới...cùng các l ễ tục và l ễ h ội
khác giữa các cộng đồng với nhau, giữa thiên nhiên và l ịch sử:
mừng nhà mới, đâm trâu gia đình, đâm trâu mừng nhà rơng m ới,
đâm trâu mừng chiến thắng, sử bến nước, xua đuổi bệnh
tật...cho tới khi từ giã trần gian về cõi vĩnh hằng yên ngh ỉ, ti ếng
cồng chiêng u hoài thương tiếc tiễn đưa vẫn cịn l ưu luy ến níu
kéo chân người ở lại. Tiếng cồng chiêng biểu hiện của tín
ngưỡng là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên, và nó còn gi ống
như là thứ để kết nối những con người trong một cộng đồng lại
với nhau.Đây là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc
văn hóa dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên.

(ảnh biểu diễn cồng chiêng tại lễ hội đâm trâu)

 Từ năm 2005, UNESCO đã cơng nhận Khơng gian văn hóa Cồng
chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóa phi v ật th ể và truy ền kh ẩu
của nhân loại.
+ Sau Nhã nhạc Cung Đình Huế năm 2003, cồng chiêng Tây Nguyên

là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được công nh ận
là kiệt tác di sản của thế giới. Mát-xư-u-ra đã long tr ọng trao cho
đại sứ nước ta Vũ Đức Tâm chứng nhận kiệt tác di s ản phi v ật th ể
nhân loại Cồng chiêng Tây Nguyên.


 Khơng gian văn hóa cồng chiêng Tây Ngun được UNESCO cơng nhận
là di sản văn hóa phi vật thể bởi đó là tập qn, là các hình th ức th ể
hiện,là sự biểu đạt những kỹ năng của con người nơi đây đã làm nên
những giá trị nổi bật ngang tầm kiệt tác sáng tạo của nhân loại.
 Khẳng định Việt Nam là một đất nước có bề dày về truyền thống văn
hóa, cần được giữ gìn, bảo tồn và phát huy.
+ Trước sự chứng kiến của hơn 300 đại biểu đại diện 107 nước
thành viên và một tổ chức phi chính phủ, tổng giám đốc UNESCO Cơichi-rơ

(UNESCO cơng nhận khơng gian văn hóa cồng chiêng Tây Ngun)

 Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Gia Lai.
- Sự kiện lớn festival văn hóa cồng chiêng tây nguyên đã được tổ
chức 2 lần tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, Gia Lai.
- Năm 2009, sự kiện văn hóa có một không 2 được Gia Lai đăng cai
tổ chức từ ngày 12 đến 15-11-2009. Theo thống kê của Ban tổ
chức và giới báo chí, sự kiện này đã thu hút hơn 30 ngàn lượt du
khách trong và ngoài nước cùng người dân tại chỗ tham dự;
trong đó có gần 1.000 diễn viên, nghệ nhân qu ần chúng tr ực
tiếp tham gia vào các hoạt động văn hóa trong khn kh ổ l ễ h ội.
Sau Festival Cồng chiêng Quốc tế năm 2009, danh tiếng văn hóa


cồng chiêng Tây Nguyên đã vượt ra khỏi biên giới qu ốc gia, th ật

sự trở thành di sản của nhân loại.

(Một nghệ nhân nhỏ tuổi tại festival cồng chiêng
Quốc tế năm 2009.)

-

Năm 2018, lễ hội được tổ chức lần thứ hai, lễ hội tôn vinh giá tr ị
của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Ngun. Mục đích: ph ục
hồi, bảo tồn và phát huy giá trị của kiệt tác di sản truy ền kh ẩu
và phi vật thể của nhân loại.

Festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên năm 2018.


(Khai mạc festival văn hóa cồng chiêngTây Nguyên năm 2018)

- Lễ hội đường phố có khoảng 1.000 người trình diễn nghệ thu ật
cồng chiêng, nghề thủ công truyền thống đến từ các tỉnh Kon
Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Gia Lai. Các ngh ệ nhân và
diễn viên trong trang phục truyền thống th ể hiện nét đ ẹp văn
hóa bản địa tại Quảng trường Đại Đồn Kết (TP.Pleiku) sau đó
diễu hành trên các tuyến đường trung tâm của thành ph ố Pleiku,
Gia Lai.

(các gian hàng ẩm thực tại festival văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên năm 2018)


(Nghệ nhân đan lát phục vụ du khách)


- Ý nghĩa của lễ hội còn tuyên truyền, vận động các dân tộc trong
tỉnh, trong khu vực, trong nước có ý thức gìn giữ, phát huy bản
sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
thu hút khách đến với các tỉnh Tây Nguyên.
- Đây là dịp để quảng bá hình ảnh Gia Lai đến với bạn bè trong
nước và quốc tế. Từ đó sẽ tạo địn bẩy mở rộng cơ hội đón nhận
đầu tư, liên kết các tỉnh Tây Nguyên phát triển vùng để xứng với
tiềm năng, thế mạnh trong tam giác phát triển Việt Nam - Lào Campuchia.
- Đồng thời thu hút đông đảo khách du lịch đến với Việt Nam,
tham gia lễ hội văn hóa, .. Thưởng thức ẩm thực Tây Nguyên
trong không gian đặc trưng mà ở đó, câu chuyện về cuộc sống,
về con người, về văn hóa một vùng đất được kể lại qua từng
món ăn thì có lẽ khơng gì thú vị bằng.


DANH SÁCH TÊN THÀNH VIÊN
NHĨM 1.
-

-

Nhóm trưởng: Lê Sỹ Việt.
Trần Đức Huy.
Nguyễn Hồng Chi.
Huỳnh Thị Kim Lợi.
Dương Minh Thiên.
Đàm Bảo Thiện.

- Trần Thế Vinh.
- Phạm Thị Mỹ Hạnh.

- Phạm Vân Long.
- Trần Đoàn Quang Vương.




×