Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.1 KB, 169 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>HỌC PHẦN : VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI I Thời lượng: 03 ĐVHT Ngành : Sư phạm Ngữ văn A. KẾ HOẠCH HỌC TẬP: 1. Mục tiêu học tập học phần: Giúp Sinh viên - Nắm được một cách cơ bản vị trí, quy trình phát triển đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam thời kì đầu TK XX đến CM T8 - 1945. Nắm vững những thành tựu chủ yếu, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, trào lưu, bộ phận văn học chính. - Kĩ năng đọc hiểu, giảng dạy các TPVH của các tác giả và TPVH ở THCS chương trình VHVNHĐ1 - Tích cực học tập và phát huy tính chủ động trong việc soạn giảng các nội dung liên quan tới học phần vào thực hành giảng dạy thực tập tại trường THCS 2. Nội dung và thời lượng học tập: Thời. Nội dung. lượng 2 2 2 4 1 4. 5 3 2 1 3 3. Khái quát về văn học Việt Nam từ đầu TK XX đến Cách mạng tháng 8 - 1945 Khái quát khuynh hướng văn học yêu nước và Cách mạng từ đầu TK XX - 1945. Phan Bội Châu Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Sinh viên tự học Kiểm tra thường xuyên (1) - viết Khái quát trào lưu văn học Lãng mạn (1932 - 1945):. Thứ tự tiết 1-2 3-4 5-6 7-8-9 10 11. 1. Tự lực văn đoàn. 12 -13-14. 2. Thơ mới Sinh viên tự học Xuân Diệu Sinh viên tự học Nguyễn Tuân Sinh viên tự học Thạch Lam Thi giữa kì (2) - viết Khái quát trào lưu văn học Hiện thực phê phán Sinh viên tự học Nguyễn Công Hoan Sinh viên tự học. 15 - 16 17 -18-19 20 21-22 23 24-25 26 27-28 29 30-31 32.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> 3. Vũ Trọng Phụng Sinh viên tự học 3 Ngô Tất Tố Sinh viên tự học 3 Nam Cao 1 Kiểm tra thường xuyên (3) - viết 3 Thực hành soạn giảng B. TÀI LIỆU HỌC TẬP. 33-34 35 36-37 38 39-40-41 42 43-44-45. * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1, NXBGD, 2006. * Tài liệu tham khảo: 1. Phan Ngọc Thu, Để hiểu thêm về một số tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại. 2. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942. 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. 4. Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao thơ Mới, GD, 2006. 5. Trần Đăng Xuyền, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, ĐHSPHN, 2004. 6. Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 - 1930), gd, 73. 7. Phan Bội Châu - tác gia và tác phẩm, Nxb GD, 2001. 8. Tuyển tập thơ Xuân Diệu. 9. Tuyển tập các sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan.. Tiết: 01 - 02. Ký duyệt Bài 1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU TK XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG 8 - 1945 A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1.. Kiến thức: Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa tư tưởng; Quá trình phát triển,. những đặc điểm cơ bản và Thành tựu chủ yếu của thể loại văn học Việt Nam từ TK XX - 1945..
<span class='text_page_counter'>(3)</span> 2.. Kĩ năng: Phân tích, tổng hợp vấn đề về văn học VN từ TK XX - 8/1945.. Đồng thời có khả năng vận dụng tri thức vào việc tìm hiểu sâu hơn vấn đề trong từng tác giả. tác phẩm văn học cụ thể 3.. Thái độ: Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động. trong học tập. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1, NXBGD, 2006. * Tài liệu tham khảo: 1. Phan Ngọc Thu, Để hiểu thêm về một số tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại. 2. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942. 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. 4 Bộ SGK, SGV Ngữ văn THCS (bộ chuẩn), NXB GD. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG 1. Về lịch sử - xã hội Cuối TK XIX, thực dân Pháp hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam và bắt đầu 2 cuộc khai thác thuộc địa, sau khi đã buộc triều đình Nguyễn kí hiệp ước thừa nhận sự bảo hộ của Pháp (năm 1884) và sau cái chết của Phan Đình Phùng (1896), chấm dứt phong trào Cần Vương ở khắp các tỉnh. - Tiến hành khai thác xứ Đông Dương giàu có đè bóc lột, vơ vét tài nguyên. - Thực hiện chính sách kinh tế: bán hàng hóa, khai thác nguyên liệu, cho vay nặng lãi. Công nghiệp chỉ được phát triển trong phạm vi cung cấp cho chính quốc những nguyên liệu cần thiết và tập trung phát triển ở đô thị. + Độc chiếm mua rẻ nông phẩm (gạo, tơ tằm), bán đất công nghiệp phẩm cho nhân dân. + Độc chiếm khai thác mỏ, làm muối, nấu rượu... + Duy trì bộ máy quan liêu, chính sách thuế phong kiến, chiếm đoạt ruộng đất, tăng cường bóc lột... Đẩy nhân dân vào con đường bần cùng.
<span class='text_page_counter'>(4)</span> - Thực hành chính sách : đặt ra chế độ chính trị ban hành luật pháp khác nhau giữa ba kì, để tránh sự thống nhất giữa ba kì khi chúng thực hiện mở rộng giao lưu trao đổi hàng hóa... Xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến sang thuộc địa nửa phong kiến. Sự đối lập rõ giữa nông thôn và đô thị nhưng không giống với sự đối lập trong xã hội tư sản (sản xuất >< tiêu thụ, truyền thống >< hiện đại, nông dân >< quyền quý...) Từ 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân lại chịu thêm tầng bức. Đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ II xảy, Pháp và Nhật lại càng ra sức vơ vét dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945. Trong nước, các cuộc khởi nghĩa tiếp tục nổ ra nhưng theo hướng mới. Đó là việc thành lập những tổ chức đầu tiên lãnh đạo: sự ra đời của Đảng CSVN 1930. Đến năm 1945 cách mạng tháng 8 thành công đưa nước ta sang trang mới: chấm dứt chế độ thực dân, lật nhào ngai vàng phong kiến trên đất nước ta. 2. Về văn hóa, tư tưởng - Bãi bỏ khoa thi Hán học, thay đổi hệ thống giáo dục, đưa văn hóa phương Tây vào đời sống. Báo chí và nghề xuất bản phát triển mạnh. Chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Phong trào dịch thuật phát triển. Lớp trí thức Tây học thay thế lớp trí thức Nho học và đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn hoá thời kì này. - Hệ tư tưởng Nho giáo mất dần địa vị thống trị mà thay vào đó là hệ tư tưởng tư sản phương Tây du nhập vào nước ta. Đó là điều kiện để hệ tư tưởng vô sản với nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin được truyền bá rộng dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Làm cho nền văn hoá phát triển theo chiều hướng tiến bộ. II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 1. Từ đầu TK XX - 1930: Đây là giai đoạn văn học mang tính giao thời. Có thể phân chia thành 2 chặng: 1.2.. Từ đầu TK XX - 1920: Văn học bước vào giai đoạn giao thời, văn chương nhà nho vẫn giữ vị trí. quan trọng nhưng phân hóa và có ít nhiều biến đổi về tư tưởng và nghệ thuật. Sự phát triển của văn xuôi chữ quốc ngữ báo hiệu sự đổi mới trong quan niệm sáng tác, ý thức nghệ thuật....
<span class='text_page_counter'>(5)</span> Văn học cách mạng sản sinh trong các phong trào yêu nước, được nuôi dưỡng thành phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Là tiền đề văn học mở rộng cảm hứng, quan điểm... Hạn chế: hình thức thể hiện vẫn chưa thoát khỏi phạm trù văn học trung đại. 1.2. Từ năm 1920 - 1930 Văn học chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa và đạt được nhiều thành tựu: + Tiểu thuyết bắt đầu phát triển với cây bút tiêu biểu Hồ Biểu Chánh, Trọng Khiêm, Hoàng Ngọc Phách ... (Tự lực văn đoàn) + Thơ có sự nảy nở với khuynh hướng lãng mạn: Tản Đà, Tương Phố, Bích Khê... (Thơ mới) + Kịch nói xuất hiện và gây chú ý + Dịch thuật phát triển. Xuất hiện công trình biên khảo... 2. Giai đoạn 1930 - 1945 Hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực đều có sự phát triển mạnh mẽ. Các thể loại văn học biến đổi sâu sắc đạt tới tính hiện đại và kết tinh được nhiều tác phẩm đặc sắc, nảy nở nhiều phong cách nghệ thuật - Văn xuôi phát triển sôi nổi và đa dạng ở cả 2 khuynh hướng hiện thực và lãng mạn. - Phong trào thơ Mới phát triển tạo cuộc cách mạng trong thi ca. - Phê bình văn học trở thành ngành hoạt động chuyên biệt và được phát triển khá mạnh mẽ. - Kịch nói mới du nhập đến giai đoạn này cũng khá phát triển III/ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VHVN TỪ XX - 1945 1.Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá. Khái niệm hiện đại hoá: là quá trình làm cho văn học VN biến đổi thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học TĐ và đổi mới theo hình thức văn học PT, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới. Biểu hiện trên nhiều phương diện: - Ý thức nghệ thuật, quan niệm thẩm mĩ và quan niệm văn chương. VHTĐ chưa thoát khỏi hiện tượng văn sử triết bất phân, coi trọng tính giáo huấn đạo lí và là phương tiện thể hiện khám phá theo quan niệm nho gia. VHHĐ là phương tiện tự.
<span class='text_page_counter'>(6)</span> biểu hiện, khám phá thế giới của nhà văn, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ và nhận thức của công chúng. Kích thích sự mở rộng công chúng văn học. - Văn học giải phóng khỏi những quy tắc, luật lệ mang tính quy phạm, đề cao tính cá thể trong sự khám phá và thể hiện con người và thế giới, mở ra khả năng khám phá, biểu hiện bằng nghệ thuật. Nó diễn ra trên mọi thể loại: sự ra đời mau lẹ của thể loại văn xuôi hiện đại bằng tiếng Việt. Ví dụ: Bút pháp nghệ thuật trong VHTĐ thường là Ước lệ, tượng trưng “ Đầu lòng hai ả tố nga Thuý kiều là chị em là Thuý vân. .....Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” ( Truyện Kiều - Nguyễn Du ) Trong văn học hiện đại: Bút pháp tả thực “ Em đẹp lắm khi mày em nhíu lại Cặp mày xanh như rừng biếc chen cây Em thảnh thơi như buổi sáng đầu ngày Em mạnh mẽ như buổi chiều giữa hạ” ( Xuân Diệu ). - Xuất hiện những tác giả văn học kiểu mới: tri thức văn học phương Tây. - Văn tự: chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán, Nôm. Quá trình hiện đại hoá: 3 giai đoạn. - Giai đoạn thứ nhất ( từ đầu TK XX đến khoảng năm 1920) Đây là giai đoạn mở đầu và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho công cuộc hiện đại hoá văn học. Chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi. Báo chí và phong trào dịch thuật phát triển khá rầm rộ, thúc đẩy sự hình thành phát triển của nền văn xuôi chữ quốc ngữ (điểm khác vơi VHTĐ) Truyện kí (những cây bút Nam Bộ) Thành tựu chủ yếu của giai đoạn này là thơ của các chí sĩ cách mạng: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... Nhìn chung, văn học ở giai đoạn này chỉ mới đổi mới về nội dung tư tưởng, chứ chưa đổi mới về hình thức nghệ thuật. - Giai đoạn thứ hai (từ 1920 đến 1930).
<span class='text_page_counter'>(7)</span> Giai đoạn quá độ trong quá trình hiện đại hóa văn học Tiểu thuyết có những thành tựu đáng kể. Các tác giả, tác phẩm có giá trị như: tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách. Bộ phận truyện kí của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp đã góp phần đáng kể vào quá trình hiện đại hoá văn học trong nước. Nhìn chung, giai đoạn này báo hiệu một cuộc cách mạng mới trong văn học. Tuy nhiên nhiều yếu tố của văn học trung đại vẫn còn tồn tại từ nội dung đến hình thức. - Giai đoạn thứ ba ( từ 1930 đến 1945) Quá trình hiện đại hoá văn học đã được hoàn tất với những cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại, nhất là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ. Văn xuôi được viết theo lối mới từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ nghệ thuật với các tác giả tiêu biểu như: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, nhóm Tự lực văn đoàn,…(Tự lực văn đoàn) Thơ ca đổi mới sâu sắc với phong trào thơ mới, đưa lại một “cuộc cách mạng trong thơ ca” cùng với những tên tuổi sáng chói và phong cách riêng biệt như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên... Những thể loại mới như Phóng sự, phê bình văn học…cũng góp phần khẳng định sự đổi mới toàn diện của văn học.. Đây là giai đoạn bùng nổ các trào lưu văn học Công cuộc hiện đại hoá đã diễn ra trên mọi mặt của đời sống văn học, làm biến đổi toàn diện nền văn học nước nhà. 2. Văn học phát triển với một nhịp độ khẩn trương, mau lẹ Nguyên nhân: do sự thúc bách của yêu cầu thời đại, sự vận động tự thân của nền văn học, sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân, viết văn trở thành nghề kiếm sống. Biểu hiện: Số lượng tác giả và tác phẩm. Riêng trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh Hoài Chân tuyển chọn 169 bài thơ với 45 nhà thơ hay đặc sắc. Thành tựu (chất lượng) nghệ thuật: có cả ở văn xuôi và thơ ca. Tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Thơ ca xuất hiện “thi san” (núi thơ) trên văn đàn. Cách tân văn học: cả ở văn xuôi và thơ ca đều có đổi mới..
<span class='text_page_counter'>(8)</span> Vũ Ngọc Phan: “Ở nước ta, một năm có thể kể như ba mươi năm của người” 3. Sự phân hóa phức tạp thành nhiều khuynh hướng văn học Văn học hình thành hai bộ phận và phân hoá thành nhiều khuynh hướng vừa đấu tranh với nhau vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển. a. Bộ phận công khai (hợp pháp): chia thành 2 khuynh hướng chính: * Thứ nhất: Khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa: Biểu hiện trực tiếp cái tôi trữ tình tràn đầy cảm xúc, đề cập tới cái tôi cá nhân. Thể hiện những quan hệ riêng tư trong cuộc sống (khát vọng sống, khát vọng tình yêu VD: bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, Tương tư của Nguyễn Bính...), những cái bất hòa, bất lực trước môi trường xã hội tầm thường giả dối (Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân).. Đề tài: tình yêu, thiên nhiên, quá khứ... H/chế: ít gắn với đời sống xã hội chính trị... * Thứ hai: Khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa: Phản ánh hiện thực với tinh thần phê phán xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giời: thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, phản ánh tình cảnh khốn khổ của các tầng lớp nhân dân bị áp bức bóc lột với một thái độ cảm thông sâu sắc. Tiêu biểu: Nam Cao, NCH, Nguyên Hồng, Tô Hoài, VTP, NTT... b. Bộ phận phát triển bất hợp pháp: - Là văn học Cách mạng, sản phẩm của nhà văn - chiến sĩ tuyên truyền cổ vũ cho Cách mạng nên bị cấm, hạn chế. - Tinh thần yêu nước, đấu tranh cách mạng đầy nhiệt huyết. Đánh thẳng vào bọn thống trị thực dân cùng bè lũ tay sai, nói lên khát vọng độc lập, đấu tranh để giải phóng dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn và niềm tin không gì lay chuyển nổi vào tương lai tất thắng của cách mạng. Có thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là thơ của các chí sĩ và các chiến sĩ cách mạng trong tù. Tiêu biểu: Tố Hữu, NAQ- HCM.. Hạn chế: ít có điều kiện đầu tư, gia công về nghệ thuật, chủ yếu là tác phẩm ngắn, phổ biến là thơ ca. Hai bộ phận văn học này có sự tác động qua lại lẫn nhau; làm cho văn học phát triển không ngừng. IV. THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA CÁC THỂ LOẠI VĂN HỌC 1. Các thể loại văn xuôi.
<span class='text_page_counter'>(9)</span> Cuối TK XIX, xuất hiện những tác phẩm văn xuôi chữ quốc ngữ đầu tiên qua tác phẩm Thầy Lazalo Phiền của Nguyễn Trọng Quản. Đến TK XX trở thành trào lưu sáng tác văn xuôi chữ quốc ngữ ở Nam Bộ với việc đưa vào những yếu tố mới: hình ảnh, sự viêc con người của cuộc sống Nam Bộ. Những tác phẩm ghi lại thành công của công cuộc hiện đại hóa này: Truyện ngắn cua Phạm Duy Tốn, Tố Tâm - Hoàng Ngọc Phách.... Tiểu thuyết: Phát triển mạnh ở Nam Bộ với tên tuổi tiêu biểu: Hồ Biểu Chánh. VHTĐ nhiều khi vay mượn đề tài cốt truyện của VH nước ngoài, nhân vật phân theo loại thiện ác, kết cấu hay kể theo trình tự thời gian, cái nào có trước kể trước... ảnh hưởng VHDG. Còn VHHĐ có thay đổi: Hầu như không còn sự vay mượn mà là sáng tạo, phá vỡ kết cấu, nhân vật đi sâu vào miêu tả đời sống nội tâm của nhân vật... Truyện ngắn: phát triển phong phú, đổi mới nhanh chóng và hình thành nhiều phong cách. Thạch Lam phong cách trữ tình, Nam Cao phong cách hiện thực... Đi sâu vào khía cạnh đời sống làm truyện dễ đến gần công chúng. Phóng sự: là thể mới phát triển cùng với báo chí, đáp ứng yêu cầu tìm hiểu và phát hiện sự thật đời sống xã hội công chúng. Vũ Trọng Phụng được coi là ông vua phóng sự đất Bắc. Tùy bút hiện đại coi trọng sự thể hiện cái tôi của chủ thể tác giả nên thường đậm chất trữ tình. Nguyễn Tuân là cây tùy bút tiêu biểu. 3. Thơ ca Tuy có phần phát triển chậm hơn văn xuôi, nhưng đến năm 30 thơ bùng nổ rất sôi động với phong trào Thơ mới. Nó đã đem tới sự biến đổi sâu sắc và toàn diện cho thơ Việt Nam, báo hiệu sự thức tỉnh ý thức cá nhân của cái tôi trữ tình kiểu mới. Bộc lộ nhu cầu giải phóng tình cảm... tạo giọng điệu đa dạng sôi nổi, thể thơ tự do hóa... 4. Kịch Được du nhập và phát triển với ảnh hưởng sân khấu phương Tâu. Ban đầu là phỏng dịch sau đó biểu diễn chủ yếu là kịch cổ điển. Một số tác giả tiêu biểu thời này như Vũ Đình Long, Nam Xương đã dùng thể loại hoàn toàn mới mẻ này để phản ánh hiện thực xã hội đương thời. Đời sống của các gia đình phong kiến bị phá sản, sự hư hỏng của con người trong xã hội tư sản, hiện tượng lai căng mất gốc... Tuy nhiên, mọi vấn đề được các ông đưa lên sân khấu để bóc trần sự thật, để phê phán hay đả kích đều xuất phát từ lập trường đạo lí, nhằm củng cố nền luân lí cổ.
<span class='text_page_counter'>(10)</span> truyền của dân tộc. Cho nên, chưa thể xem nội dung đó là hoàn toàn mới lạ mà những vấn đề hãy còn xưa cũ ấy được thể hiện trong một hình thức rất mới. 5. Phê bình văn học Trong những năm đầu, lĩnh vực này chủ yếu tập trung vào biên khảo, giới thiệu các quan niệm và thể loại văn học phương Tây. Sau đs thì đã xuất hiện những công trình phê bình văn học và cây bút chuyên viết về phê bình... D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Văn học Việt Nam từ TK XX - 1945 đã phát triển trong hoàn cảnh lịch sử xã hội văn hóa tư tưởng nào? 2. Nêu những giai đoạn phát triển của VHVN từ TK XX - 1945. 3. Những đặc điểm cơ bản và thành tựu thể loại của VHVN TK XX - 1945 (1 - 1) 4. Chuẩn bị bài Khái quát khuynh hướng văn học yêu nước và Cách mạng từ đầu TK XX - 1945.. Tiết: 03 - 04. Ký duyệt Bài 2. KHÁI QUÁT KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG TỪ ĐẦU TK XX - 1945 A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1.. Kiến thức: Cơ sở xã hội, tư tưởng tác động tới khuynh hướng văn học yêu. nước và cách mạng từ đầu TK XX - 1945. Đồng thời nắm được các chặng đường phát triển, những hiện tượng tác giả tiêu biểu, những đặc điểm cơ bản của khuynh hướng văn học yêu nước và cách mạng. 2.. Kĩ năng: Phân tích, tổng hợp, đánh giá và so sánh khuynh hướng văn học. yêu nước cách mạng với các khuynh hướng văn học khác..
<span class='text_page_counter'>(11)</span> 3.. Thái độ: Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động. trong học tập và có ý thức vận dụng tri thức vào học tập các phần tác giả. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 - 1930), gd, 73. 2. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. CƠ SỞ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG 1. Cơ sở xã hội Sau khi thực dân Pháp yên tâm đặt ách cai trị lên toàn cõi Việt Nam và tiến hành khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam chuyển sang chế độ thực dân, nửa phong kiến. Với những chính sách thuế khóa nặng nề, chèn ép cuộc sống người dân khắp các nơi nổi lên các phong trào đấu tranh sôi sục dưới sự lãnh đạo của Đảng. Văn chương dù có sự canh tân đổi mới hòa nhập với văn hóa phương Tây nhưng cũng thể hiện sự gắn bó chặt chẽ với tuyên truyền, nghệ thuật với chính trị. 2. Cơ sở tư tưởng Cơ sở tư tưởng chủ yếu là chủ nghĩa yêu nước Biểu hiện ở những nội dung sau: - Ý thức tự cường dân tộc, kêu gọi đoàn kết, đồng tâm chống xâm lược. Ở đây dân là gốc. - Gắn liền với cổ động duy tân. Văn thơ thống thiết lòng căm thù, chí cứu nước và tràn đầy tinh thần dân chủ. - Lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm kim chỉ nam cho hành động, nhìn nhận vấn đề bằng con mắt biện chứng. II. CÁC CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN, NHỮNG HIỆN TƯỢNG VÀ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU 1. Văn thơ yêu nước của các nhà nho, các chí sĩ cách mạng ở ba mươi năm đầu thế kỉ. Vứt bỏ lối văn chương cũ còn xa vời quần chúng, các nhà nho yêu nước thời kỳ này đã ý thức được độc lập chủ quyền của dân tộc. Họ tự gánh vác trách nhiệm trên vai, hướng tới sự kêu gọi quần chúng nhân dân, hướng tới tinh thần dân chủ trên.
<span class='text_page_counter'>(12)</span> cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Nơi họ thể nghiệm ước vọng là môi trường của Đông Kinh nghĩa thục. Các tác giả tiêu biểu: * Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925): Là dấu nối giữa hai thế hệ nhà nho giữa hai giai đoạn văn học. Từ nhỏ Nguyễn Thượng Hiền đã nổi tiếng rất thông minh. Năm 1884, khi 17 tuổi, ông đỗ cử nhân ở khoa thi Hương ở Thanh Hóa. Năm 1885, ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịp xướng danh thì Huế thất thủ, ông phải về ở ẩn tại núi Nưa, Thanh Hóa. Đến năm 1892, ông ra thi Đình và đỗ Hoàng Giáp. Thời gian ở Huế, ông cảm nhận tư tưởng tiến bộ của Đại Thế Thiên Hạ Luận của nhân sĩ Nguyễn Lộ Trạch, đọc nhiều tân thư Trung Quốc. Ông kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Như nhà nho kiểu mẫu, ông canh cánh ơn quân thân, nỗi lòng cố quốc. Ông cảm thấy dằn vặt mình trước tấm gương trung nghĩa: Tương phùng mạc thuyết Khai nguyên sự Nam uyển thu phong hận hữu dư (Gặp đừng kể chuyện khai nguyên nhé Mối hận vườn Nam, ngọn gió thu) Chứng kiến những biến động của xã hội dưới ách ngoại xâm ông càng bất hợp tác với kẻ thù là lòng trong sạch không muốn sống chung với bọn hèn hạ: Tùng bách tự cô trực Yên năng dữ trăn gian” (Chênh vênh thẳng cứng bách tùng Với hàng lan cỏ đứng cùng được sao?) (Quy Na Sơn biệt thự) Không làm được trận mưa rào cứu hạn cho dân thì thành đám mây ung dung bay về núi. Ông đi tìm nguồn vui ở thiên nhiên nhưng vẫn không yên lòng. Vì thế ông biến thơ văn thành vũ khí cổ động hô hào duy tân. Sau khi các hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội thất bại, Nguyễn Thượng Hiền xuống tóc vào tu ở chùa Thường Tích Quang, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang (Zhejiang) và mất tại đây ngày 28 tháng 12 1925. Thi hài ông được hỏa táng, tro rải xuống sông Tiền Đường - Trung Quốc. Nguyễn Thượng Hiền - một kẻ sĩ nặng tình với nước non. Ông muốn đem cái tâm, cái trí của mình để phụng sự cho đất nước. Song ông cũng như nhiều kẻ sĩ, sinh ra không.
<span class='text_page_counter'>(13)</span> gặp thời nên đành ôm hận mà ngậm ngùi nơi chín suối chứ chưa trở thành nhà cách mạng dân chủ hăng hái như Phan Bội Châu. * Phan Châu Trinh (1872-1926) Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỉ. Sinh tại Quảng Nam. Thân sinh là một võ quan nhỏ, từng tham gia phong trào Cần Vương trong tỉnh. Thân phụ ông mất năm ông mới 13 tuổi. Bạn cùng học với ông là Huỳnh Thúc Kháng (kém ông 4 tuổi). Năm 1902, ông vào học Trường Hậu bổ, sau ra làm Thừa biện Bộ Lễ. Ít lâu sau ông từ quan, hoạt động cứu nước. Ông kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu. Ông và Phan Bội Châu tâm đắc về nhiệt huyết cứu nước, nhưng ông không tán thành đường lối của Phan Bội Châu dựa vào Nhật để đấu tranh vũ trang chống Pháp. Ông cùng các bạn đi khắp Việt Nam cổ vũ đấu tranh và liên kết trí thức, văn sĩ yêu nước; là người tiêu biểu được tín nhiệm cho ph. trào Đông Kinh nghĩa thục Trong thời gian từ 1902 đế 1905, Phan Chu Trinh có dịp học những tác phẩm có tư tưởng cách mạng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire... Càng tiếp xúc nhiều với các quan trường, Phan Chu Trinh càng thấy rõ cảnh thối nát , hủ bại trên đường cử nghiệp. Năm 1905, ông xuất dương sang Nhật Bản rồi sang Pháp chủ trương dựa vào Pháp để tiến hành cải cách, thực hiện tự do dân chủ, lật đổ chế độ phong kiến, làm cho dân giàu, nước mạnh, tiến lên giải phóng dân tộc. Vì thế cho nên có thể thấy rõ Quan điểm sáng tác của ông là: + Vậy xin cùng nói lời chính cáo cùng người nước ta rằng: “Không bạo động, bạo động tất chết! Không trông người nước ngoài, trông người nước ngoài tất ngu! Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là “Chi Bằng Học” (Phan Châu Trinh). Không phải ông sợ chét, ươn hèn hay cam chịu mà thời đó những người đấu tranh võ trang chỉ xuất phát từ nhiệt tình không có suy tính cẩn thận, nhất là với lòng mong ngóng vào đế quốc hổ đói Nhật Bản. + Coi dân chủ là một nguồn lực. Theo ông, tư tưởng dân chủ phải là: * Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa. * Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế. * Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa....
<span class='text_page_counter'>(14)</span> Con người ông là người có khí phách, cứng cỏi sẵn sàng hi sinh: Bi tai quốc thế ngụy hiền phát Tử nhĩ, nam nhi sĩ khấu đầu (Thế nước đến nguy treo sợi tóc Tài trai thà chết chẳng nghiêng đầu) (Điếu giải nguyên Nguyễn Hữu Huân, Ngô Đức Kế dịch) Luy luy già tỏa xuất đô môn Khẳng khái bi ca, thiệt thượng tồn Quốc thổ trầm luân, dân tộc tụy Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn? ( Xiềng gông cà kệ biệt đô môn Khẳng khái ngâm nga, lưỡi vẫn còn Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn Thân trai nào sự cái Côn Lôn) (Xuất đô môn) Ông kịch liệt phản đối thói hám danh lợi, bóc lột, làm ngơ trước nỗi khổ của người khác.... Đó là những hạng người : Người mình không đức không tài Ham quan ham tước, chen vai cúi đầu như đàn ruồi lũ kiến không một chút nhân cách nào; đứa gian giảo thì như ma quỷ, lừa gạt, bóc lột, cái gì mà chẳng dám làm; còn đưa hèn kém thì như lợn như trâu, bị giẫm cổ, đè đầu cũng không dám ho một tiếng Đặc biệt, con đường ông chọn là dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Đây là điểm khác biệt với Phan Bội Châu. Phan Châu Trinh xem vấn đề dân chủ còn cấp bách hơn độc lập và tin rằng có thể dùng luật pháp, cách cai trị có quy củ theo kiểu Âu Mỹ để quét sạch những hủ bại của phong kiến. Với tinh thần yêu nước nồng nhiệt, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khổ và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ. Khi Phan Châu Trinh chết thì Phan Bội Châu viết trong bài văn tế: “… Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê; Một ngòi lông mà trống mà chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói… Trước đã giỏi mà sau thêm giỏi nữa, dấu cộng hòa xin ráng sức theo đòi; Thác còn thiêng thời sống phải thiêng hơn, thang độc lập quyết ra tay vin tới”. * Phan Bội Châu (1867 - 1940) Phan Bội Châu là ngôi sao dẫn đường cho cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Sáng tác của ông biểu hiện vai trò là dấu nối của hai thời đại, hai nền văn học cũ và mới..
<span class='text_page_counter'>(15)</span> Xuất thân từ một nhà nho, thông thạo lối văn cử tử, được mệnh danh “hay chữ nhất nước Nam”. Lại là người có vốn kiến thức về văn học dân gian. Khi bước vào hoạt động chính trị, ông đã sáng tác văn chương để phục vụ cho phong trào cách mạng. Đó là những sáng tác có nội dung mới mẻ. Ông viết ở nhiều thể loại văn học và có ảnh hưởng sâu rộng tới cách mạng. Năm 17 tuổi, Pháp kéo quân ra Bắc kì lần thứ hai, đánh chiếm Hà Nội, ông nửa đêm khêu đèn thảo hịch Bình Tây Thu Bắc dán ở gốc đa đầu làng kêu gọi mọi người hưởng ứng.. 2. Văn thơ cách mạng theo ý thức hệ vô sản thời kì 1930 -1945 2.1. Thời kì 1930 -1935: Văn học vô sản có hai hình thái: * Thơ văn xô Viết Nghệ Tĩnh: - Đây là hồi trống báo hiệu sự có mặt và phát triển mạnh mẽ của dòng văn học vô sản, là khúc dạo đầu cho khuynh hướng văn học xã hội chủ nghĩa ở nước ta. - Sáng tác phổ biến bằng hình thức truyền miệng với khí thế chiến đấu của lực lượng tri thức mới mẻ - Nội dung: vạch mặt đế quốc thực dân, phong kiến thống trị, phơi bày cuộc sống đen tối. Từ đó hô hào cổ vũ đấu tranh: Trên gió cả, cờ đào phất thẳng Dưới đất bằng giấy trắng tung bay Giữa thành một trận xông pha Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng (Bài ca Cách mạng) - Các nhà văn nghệ sĩ đã vận dụng hữu ích thể thơ truyền thống lục bát, vè... để cổ vũ đấu tranh. * Thơ ca trong tù: Từ tháng 5/ 1931 - 1933 Đây là giai đoạn thoái trào của cách mạng nên văn thơ cũng theo nhà thơ vào tù làm bạn, làm vũ khí chiến đấu. - Chủ đề: động viên, ca ngợi phẩm chất cách mạng, chống biểu hiện tư tưởng phi vô sản, kêu gọi tinh thần lạc quan Còn trời, còn nước, còn non Còn nhiều cay đắng, ta còn đấu tranh (Giã mồ liệt sĩ - Trịnh Quang Xuân) 2.2. Thời kì 1936 - 1939.
<span class='text_page_counter'>(16)</span> Thời kì chịu ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh và nền văn học cách mạng tiến bộ của Liên Xô và Pháp. Dòng văn học phát triển mạng mẽ phong phú, đa dạng ở nhiều thể loại: Thơ, văn xuôi, kí... 2.3. Thời kì 1940 - 1945 Là thời kì dân chịu một cổ hai tròng, nên văn thơ cách mạng tiếp tục là nguồn cổ vũ cho quần chúng đấu tranh. Thơ ca trong thù tiếp tục phản ánh tâm tư, tình cảm, ý chí chiến đấu trong tù. Thơ văn thời kì Mặt trận Việt Minh được in ấn rộng khắp phản ánh cuộc sống khổ cực của dân. Từ đó khơi gợi lòng căm thù, giáo dục tình đoàn kết... Tổ chức Văn hóa cứu quốc thành lập dưới ánh sáng của Đề cương văn hóa tập hợp nhiều nghệ sĩ yêu nước tiến bộ: Nguyễn Huy Tưởng, Như Phong... III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHUYNH HƯỚNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG 1. Thể hiện nhiệt tình cứu nước, khát vọng dân chủ, duy tân. Đó là khát vọng dân chủ mở mang dân trí chấn hưng dân khí. Là niềm tự hào đất nước, ý thức tự chủ tự cường dân tộc . Kêu gọi mọi người đồng tâm cứu nước. 2. Phản ánh những vấn đề cơ bản, cốt yếu nhất của xã hội Việt Nam, con người Việt Nam trong thời kì lịch sử sôi động. Nhìn bằng con mắt biện chứng của giai cấp triệt để cách mạng. Tố cáo xã hội, vạch mặt bè lũ phản động. Vạch ra con đường giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh cách mạng Lực lượng đấu tranh chủ yếu là quần chúng nhân dân do Đảng lãnh đạo. 3. Văn học Cách mạng là tiếng nói mạnh mẽ khỏe khoắn của những tâm hồn rực lửa đấu tranh và vững vàng trước gian nguy thử thách. Lực lượng chủ yếu là nhà nho yêu nước tiến bộ, các chí sĩ cách mạng. Mục đích của họ là phản ánh hiện thực điển hình bằng sự động viên cổ vũ. Thể hiện qua cuộc đấu tranh gay go trong chính bản thân người chiến sĩ cộng sản để giữ vững lòng trung thành với Đảng. 4. Văn học vô sản thể hiện niềm tin vững chắc vào tương lai..
<span class='text_page_counter'>(17)</span> Thơ ca thường nói nhiều về tương lai bằng vẻ say sưa chín chắn tin vào cách mạng . Ví dụ bài Từ ấy - Tố Hữu. Thể hiện sức mạnh chiến đấu tin vào tương lai chắc thắng. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Nêu cơ sở xã hội, tư tưởng có tác động tới khuynh hướng văn học yêu nước và cách mạng từ đầu TK XX - 1945. 2. Phân tích một vài nội dung yêu nước và cách mạng thể hiện trong thơ của những tác giả yêu nước từ TK XX - 1945. 3. Những đặc điểm cơ bản khuynh hướng văn học yêu nước và cách mạng từ đầu TK XX - 1945 (1-2) 4. Chuẩn bị bài Phan Bội Châu. Tiết: 05 - 06. Ký duyệt Bài 3 PHAN BỘI CHÂU. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Những nét cơ bản về thân thế, sự nghiệp văn chương, nội dung văn thơ yêu nước và nghệ thuật viết văn của Phan Bội Châu. 2. Nhận xét, đánh giá, phân tích những đóng góp to lớn của Phan Bội Châu cho văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động trong học tập. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Phan Bội Châu, tác gia và tác phẩm, Nxb GD, 2001. 2. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942. 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I/ Tiểu sử, con người và sự nghiệp văn chương 1. Tiểu sử và con người.
<span class='text_page_counter'>(18)</span> 1.1.. Thân thế và thời đại. Phan Bội Châu tên hiệu là Sào Nam, lúc nhỏ tên là Phan Văn San. Sinh tại. quê ngoại là làng Sa Nam nay là xã Nam Diên huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đến năm 3 tuổi, nhà dời về quê nội thuộc làng Đan Nhiệm nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An - Đây là mảnh đất có truyền thống cần cù lao động, kiên cường bất khuất đấu tranh chống giặc ngoại xâm, có nhiều di tích lịch sử. Nơi đây đã có tác động lớn đến tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu. (Dẫn thêm: Hơn 1200 năm trước, Mai Hắc Đế đã chiến đấu và hi sinh trong cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Đường; Phía bắc làng Đan Nhiệm có núi Đại Vạc, Đại Huệ cao chót vót. Cách đây 5 thế kỉ, Hồ Quý Ly đã dựng lũy chống quân Minh xâm lược; Ở đây còn có Truông Hến cheo leo; Năm 1789, anh hùng Nguyễn Huệ đã dừng chân tuyển mộ thêm 5 vạn quân trên đường ra Bắc tiêu diệt hơn 20 vạn quân Thanh; Phía tây nam có thành Lục Niên nằm trên dãy núi Thiên Nhân điệp trùng, từng là căn cứ chỉ huy của Lê Lợi trong những năm bình Ngô ở thế kỉ XV; Trên các cánh đồng và thôn xóm của vùng Sa Nam và vùng Đan Nhiệm, năm 1874 Trần Tấn và Đặng Như Mai đã dựng cờ “ Bình – Tây; hàng ngàn nghĩa quân tập hợp dưới ngọn cờ Cần Vương của Trần Xuân và Vương Thúc Mậu ở Rú Chung).. Phan Văn San nổi tiếng trong nghề văn cử. Ngoài lẽ ông thông minh, chăm học thì có lẽ bởi một phần ông xuất thân trong gia đình đã mấy đời “Lấy nghiên làm ruộng, lấy bút làm cày” lấy nghề dạy học chữ Nho để kiếm sống, nên đời sống có phần khó khăn. Thân phụ của Phan Văn San là ông Phan Văn Phổ - một thầy đồ hay chữ. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Nhàn – người mẹ hiền thục, chịu khó, chịu thương. Cả hai đều quan tâm đến việc học hành, nuôi dạy các con. Vì thế nên từ nhỏ Phan Văn San đã nổi tiếng thông minh và chăm học. (Dẫn thêm: Bà con xứ Nghệ cho đến nay vẫn truyền lại nhiều mẫu truyện ca ngợi tài học, tài làm thơ và lẩy Kiều của Phan Văn San. Mới 4 tuổi Phan Văn San đã thuộc lòng nhiều bài thơ chữ Hán trong Kinh Thi do mẹ truyền miệng. Lên 5 tuổi đã học xong sách Tam tự kinh. 6 tuổi theo cha đi đến các nơi cha dạy học và nổi tiếng thần đồng từ thưở đó. Năm lên 7 tuổi đã đọc thông kinh truyện, học thuộc sách Luận ngữ và có phóng tác Phan tiên sinh Luận ngữ chế giễu bạn bè. Lúc 8 tuổi đã biết viết những bài văn ngắn và mấy lần đi thi hạch ở làng, ở phủ, huyện đều đỗ đầu). Phan Văn San là người con chí hiếu và nghị lực. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo. Phan Văn San đã sớm biết chia sẻ cùng cha mẹ, không bao giờ đòi hỏi, yêu sách cho riêng mình. Năm 1894 thân mẫu qua đời, cha già, bệnh tật, hai đứa em còn nhỏ.
<span class='text_page_counter'>(19)</span> dại, gia đình lâm vào cảnh khó khăn, túng thiếu. Phan Văn San phải đi kiếm sống bằng nghề dạy học. Số tiền ít ỏi có được, thầy dùng để nuôi gia đình và giúp các nghĩa sĩ của phong trào Cần Vương.. Nhưng con đường thi cử làm quan lại không hanh thông. Khoa Đinh Dậu 1897 do mang sách vào trường thi nên mắc án hoài hiệp văn tự, bị cấm thi suốt đời.Ông vào Huế tìm nơi dạy học và tìm cách liên lạc với những người cùng chí hướng làm bài phú “Bái thạch vi huynh” (Tôn đá làm anh) (vì bài thơ này ông được kinh đô Huế đánh giá là người hay chữ nhất nước Nam, được mọi người vận động nhà vua xóa án). Nên đến năm 1900 ông đã đi thi và đỗ Giải nguyên - Bảng tên lừng lẫy làng văn.. Không những là một thanh niên học giỏi, có hiếu, thầy giáo San còn là một người rất gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động. Điểm đặc sắc nhất ở Phan Văn San là sớm có tinh thần yêu nước, chống Pháp. Viết trong Phan Bội Châu niên biểu: “Lúc tôi sinh ra là lúc Nam Kỳ đã thất thủ 5 năm. Tiếng khóc oa oa chào đời như báo trước cho tôi rằng: Mày sẽ là một người dân mất nước”. Lớn lên, chứng kiến từng ngày tội ác, sự tàn bạo của bọn đế quốc, phong kiến, nỗi thống khổ của nhân dân ta. Phan Bội Châu đã khai tâm bằng bài học đầu tiên là căm thù giặc và lấy lòng yêu nước làm ranh giới phân biệt bạn - thù. Ý thức về nghĩa vụ của người dân mất nước trỗi dậy sớm trong Phan Văn San. Mới 9 tuổi nghe tin Trần Tấn, Đỗ Mai ở Nghệ An, Lê An ở Hà Tĩnh khởi nghĩa chống Pháp, đã tụ tập các bạn lấy ống tre làm súng, hạt vải làm đạn chơi trò đánh Tây. Năm 17 tuổi ông viết bài "Hịch Bình Tây Thu Bắc" đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kì khởi nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi (1885) ông cùng Trần Văn Lương lập nghĩa quân Cần Vương chống Pháp nhưng không thành. Trong 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, ông bôn ba khắp nước Việt Nam liên kết với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Đặng Thái Thân... để cùng chống Pháp. Ông chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để - một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn - làm lãnh tụ phong trào Cần Vương và đã thành lập phong trào Duy Tân Hội (1904) - chủ trương tôn quân và bạo động đánh đổ đô hộ Pháp để khôi phục nền độc lập và khởi xướng phong trào Đông Du (1905) - vận động người trong nước xuất dương qua Trung Hoa, Nhật Bản du học để thâu nhận kiến thức mới của nước ngoài về giúp nước nhà. Năm 1908 (thời kì đắc ý nhất), nhận được sự giúp đỡ vào trường học Nhật Ban, ông không ngừng sáng tác vừa để giới thiệu cách mạng Việt Nam mà con gửi vè nước cùng phối hợp hành động, chung tay giúp cho lưu học sinh ăn học... Khi Nhật bắt tay với Pháp ông bị trục xuất thì chạy sang Trung Quốc (thời kì buồn bã nhất) lưu vong. Năm 1910, ông phải di tản các đồng chí sang Xiêm nhờ giúp đỡ và đợi thời..
<span class='text_page_counter'>(20)</span> (Dẫn thêm: Năm 1907, trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập để huấn luyện các nhà cách mạng chống thực dân Pháp. Các tác phẩm của ông được nghiên cứu và Phan Chu Trinh giảng dạy tại trường này. Nghi rằng Phan Bội Châu có liên quan đến trường này, Pháp đã đóng cửa trường trong vòng gần 1 năm và cho rằng ông có trách nhiệm trong các cuộc biểu tình chống thuế tại các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, Huế đầu năm 1908. Ngoài ra, họ còn cho rằng ông có dính líu đến một cuộc nổi dậy bị thất bại tại Hà Nội vào tháng 6 năm 1908. Pháp đã xử tử 13 người tham gia cuộc nổi dậy này và bỏ tù hàng trăm người khác tại Côn Đảo (trong đó có Phan Chu Trinh). Tháng 3/ 1909, Phan Bội Châu bị Nhật trục xuất theo đề nghị của Pháp. Sau đó, ông đến Hồng Kông, Bangkok và Quảng Châu. Trong những năm này, các tác phẩm cách mạng của ông ảnh hưởng đến phong trào chống Pháp ngay tại Việt Nam. Năm 1912, nức lòng vì thành quả của cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc của Tôn Dật Tiên, Phan Bội Châu cùng một số nhà cách mạng quốc gia Việt Nam lưu vong tại Quảng Châu thành lập một tổ chức cách mạng thay thế cho Hội Duy Tân. Tôn chỉ của tổ chức mới với tên Việt Nam Quang phục Hội là đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước, khôi phục chủ quyền của Việt Nam, và thành lập "Việt Nam Cộng hòa Dân quốc". Thời điểm này, Phan Bội Châu thay đổi chính kiến về thể chế quân chủ nhưng vẫn duy trì Kì Ngoại Hầu Cường Để. Nhằm gây tiếng vang, tạo ủng hộ trong quần chúng quốc nội, năm 1913 ông cho tổ chức ám sát và đặt chất nổ phá hoại nhiều nơi trong nước. Chính quyền Pháp đã nhờ chính quyền Trung Quốc bắt giam Phan Bội Châu cùng các đồng chí). Năm 1917, Phan Bội Châu được phóng. thích. Ông lưu lạc tại Trung Quốc suốt tám năm sau đó, ông học tập và viết báo sinh nhai ở Hàng Châu, làm biên tập viên của tờ Bình sự tạp chí, và không còn trực tiếp ảnh hưởng đến các cao trào cách mạng tại Việt Nam. Từ 1921-1924, sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), liên minh Quốc - Cộng tại Trung Quốc... đã có ảnh hưởng lớn đến Phan Bội Châu. Ông tìm hiểu về cuộc Cách mạng Tháng Mười, và viết báo tôn vinh Vladimir Ilyich Lenin. Giữa năm 1924, phỏng theo Trung Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, ông đã cải tổ Việt Nam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng. Ngày 30 tháng 6 năm 1925, ông lại bị Pháp bắt tại Hàng Châu, ông bị dẫn giải về Hà Nội và xử án chung thân khổ sai, về sau, bản án được đổi lại thành án quản thúc tại gia do phản ứng mạnh mẽ của toàn dân đối với nhà cầm quyền Pháp. Năm 1926, ông bị đưa về sống ở Bến Ngự, Huế. Lúc đó ông được gọi là Ông già Bến Ngự. Trong thời gian này, tư tưởng chống Pháp của Phan Bội Châu đã ôn hòa hơn. Vào tháng 3 năm 1927, trong dịp kỉ niệm ngày giỗ một năm của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu đã viết:.
<span class='text_page_counter'>(21)</span> "Than ôi! Ông có thứ cho tôi chăng? Lúc ông [từ Nhật Bản] về nước [1906], tôi tiễn chân ông đến Hương Cảng, ông cầm tay tôi dặn mấy lời sau hết: ‘Từ thế kỉ 19 về sau, các nước tranh nhau ngày càng dữ dội, cái tính mạng một nước, gửi trong tay một số người đông, chứ không thấy nước nào không có dân quyền mà khỏi mất nước bao giờ. Thế mà nay Bác lại còn dựng cờ quân chủ lên hay sao?’ Ông nói thế, lúc bấy giờ tôi chưa có câu gì đáp lại, nay đã hơn 20 năm rồi, lời ôn càng lâu, càng nghiệm. Tôi mới biết cái óc suy nghĩ cùng cái mắt xem xét của tôi thiệt không bằng ông! Phỏng ngày nay ông còn sống thì cầm cờ hướng đạo cho chúng ta, hẳn phải nhờ tay ông mới được. Than ôi! Ngày nay những kẻ cúng vái ông, kính mến ông, có phải là chỉ ngắm tượng ông, đọc văn ông góp nhặt năm ba câu làm bộ ái quốc, ái quần đầu miệng mà thôi ư? Phải biết rằng ông Hi Mã mà được danh tiếng lưu truyền với sử xanh là vì ông có chủ trương thiệt, tinh thần thiệt.". Phan Bội Châu mất ngày 20 tháng 10 năm 1940 tại Huế trong tình cảnh khá thê lương. Mật thám bủa vây xung quanh nhà ngày đêm. Ông nói khá mỉa mai: Đêm nghe con Vá chào ông trộm Ngày bảo thằng Nghi kể chuyện tù Và để lời từ biệt: Cứu nước, bảo toàn giống nòi [tôi] có chí, nhưng không có tài. Nay tôi từ biệt quốc dân mãi mãi. Tội [tôi] rất lớn. Xin [quốc dân] tha thứ cho. Đám tang vắng vẻ. Báo chị bị cấm đưa tin, chỉ một số bạn bè thân thiết đến đưa tang. Sau bạn bè miền Trung biết tin gửi tiền xây nhà thờ cạnh mộ ông. 2. Con người: Tất cả những điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội đó đã ảnh hưởng đến con người. Đặng Thai Mai nói: Người Nghệ Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá... gỗ. Ơ mảnh đất này từng có những con người ngang tàng, thị tài như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Chỉnh; có những người coi thường công danh cả các triều đại như Nguyễn Thiếp; có ngời chống triều đình như Trần Tấn, Hoàng Phan Thái... Là người sinh ra và lớn len khi Nho học đang phát triển sâu rộng, cộng với ảnh hưởng của những con người ưu tú, điều kiện lịch sử nên hun đúc con người ông .. Tổng kết cuộc đời mình, Phan Bội Châu tự đánh giá: Lịch sử tôi, quả tình chỉ là lịch sử của một cuộc thất bại từ đầu chí cuối” ( Phan Bội Châu niên biểu). Nhưng đó chỉ là nhận xét khiêm tốn của “con người sống đẹp”: Ông là nhà nho tiến bộ, dám vứt bỏ những tín điều cũ rích để vươn tới một chân trời mới đầy khát vọng và ước mơ. Ông cho rằng “ Đọc sách thánh hiền mới được chữ trung quân” vì thế phải lặn lội trùng dương tận mắt thấy những điều đã tiếp nhận trong sách để “Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà”. Không chỉ kêu gọi.
<span class='text_page_counter'>(22)</span> mọi người hướng đầu óc ra khỏi lối tư duy cũ mà ngay cả khi chấm dứt hoạt động sôi nổi của mình ông vẫn cổ động “Đời đã mới, người càng nên đổi mới”. Là con người nhiệt thành với lí tưởng cứu nước, có tinh thần chiến đấu bền bỉ, kiên cường. Dù cả cuộc đời theo ông là mưu trăm việc không nên việc gì nhưng ông vẫn cho rằng “Gian nan mới là trường học”, “Thất bại là mẹ thành công”. Dù có phải thay đổi chính kiến, vất vả gian nguy ông vẫn sãn sàng đi bất cứ đâu, làm việc gì, dám chấp nhận hi sinh lớn : từ bỏ ngay cả niềm tin. Bảy mươi tuổi người ta vẫn còn thấy ông hăng hái: Mò tim quên quách chòm râu bạc Bảy chục còn nghi tuổi mới ba. II. Sự nghiệp văn chương Ông là một tác giả lớn về thơ và tiểu thuyết, với những bút danh Hải Thu, Sào Nam, Thị Hán, Độc Tỉnh Tử,… Sự nghiệp sáng tác văn chương của ông liên tục, suốt đời không ngừng nghỉ ngay từ khi còn bé đến lúc mất. Đồng thời là người có gan thử bút trên nhiều thể loại văn chương. Phan Bội Châu viết rất nhiều thể loại bằng chữ Hán, chữ Nôm. Thơ, văn đã đi cùng với cụ Phan trong suốt cuộc đời hoạt động. Thơ, văn Phan Bội Châu là những lời tâm huyết chứa chan lòng yêu nước, đồng thời là vũ khí tuyên truyền cách mạng.. Sự nghiệp văn chương có thể chia 3 thời kì gắn với 3 giai đoạn trong cuộc đời hoạt động: 1. Thời kì trước 1905. - Hịch Bình Tây thu Bắc (16 tuổi - hiện không còn) dán đầu làng. - Trước ngày xuất dương, ngoài phần văn thơ cử tử, Phan Bội Châu đã viết những bài cổ động tinh thần yêu nước chống Pháp: Song tuất lục (1886), Lưu Cầu huyết lệ tâm thư (1903) … Riêng bài Lưu Cầu huyết lệ tâm thư đương thời đã làm cho nhiều sĩ phu có tâm huyết biết tiếng cụ Phan Bội Châu và sau đó trở nên những người cộng sự. - Bài Chơi xuân, Xuất dương lưu biệt... 2. Từ 1905 - 1925: Thời kì ngòi bút của Phan Bội Châu được tung hoành thoải mái. Một số tác phẩm viết vào thời gian này chủ yếu bằng chữ Hán như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Khuyến quốc dân tư trợ du học văn (1905), Việt Nam quốc sử khảo (1908)… đã được bí mật đưa về trong nước, khích lệ nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên trí thức đi vào con đường cách mạng. Có tác phẩm đã làm cho nhiều chính khách Nhật Bản, Trung Hoa biết tiếng và khâm phục. Loại văn thơ này đã giúp đắc lực cho hoạt động ngoại giao của Phan Bội Châu..
<span class='text_page_counter'>(23)</span> Cũng thời gian này Phan Bội Châu đã viết rất nhiều về tiểu sử các liệt sĩ như: Kỉ niệm lục (1907) viết về Tăng Bạt Hổ và Vương Thúc Quí; Sùng Bái Giai Nhân (1907) ghi lại cuộc đấu tranh của những anh hùng nhân dân như Cao Thắng và Quán Báo; Hà Thành liệt sĩ truyện (1913) viết lại gương hy sinh của các liệt sĩ trong vụ đầu độc lính Pháp tại Hà Nội; Hoàng Yên Thế tướng quân liệt truyện, chép lại lịch sử đấu tranh của Hoàng Hoa Thám; Phạm Hồng Thái truyện, ghi lại tiểu sử liệt sĩ Phạm Hồng Thái hy sinh năm 1924 trong vụ ném bom giết Toàn quyền Đông dương Mec1lanh tại Sa điện. Loại sách này vừa ghi công, vừa để nêu lên cho quốc dân những tấm gương dũng cảm, sự hy sinh bất khuất của các liệt sĩ. Ngoài công việc viết sách, lúc này cụ Phan còn viết rất nhiều bài cho các báo ở Trung Quốc, Nhật Bản, đã ghi lại một phần tư tưởng, tình cảm tốt đẹp và các bước chuyển biến trong đường lối đấu tranh cách mạng của nhà chí sĩ. 3. Từ 1925 – 1940: Mặc dầu bị Thực dân Pháp kìm kẹp, cách ly khỏi cách mạng, song Phan Bội Châu vẫn cố gắng làm người tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước. Thơ, văn của Cụ vẫn tiếp tục nói nhiều đến nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân mất nước, như các tác phẩm: Nam nữ quốc dân tu tri (1929), Thuốc chữa dân nghèo, Lời hỏi thanh niên, Luân lí vấn đáp, Lịch sử Việt Nam diễn ca… Đặc biệt là tác phẩm Phan Bội Châu niên biểu, Cụ viết trước khi qua đời. Người đã chép lại lịch sử hoạt động của mình thời thanh niên đến năm 1925, nhằm giải bày tâm sự và để lại kinh nghiệm cho đời sau. Các tác phẩm trên ra đời cùng với hơn 800 bài thơ Nôm các loại và hàng chục bài phú, văn tế, tạp văn khác là những di sản cuối đời của cụ dành cho hậu thế.. III. NỘI DUNG VĂN THƠ CỦA PHAN BỘI CHÂU 1. Quan niệm mới về văn chương Quan niệm thứ 1: Vào đời vốn không phải là để làm một nhà văn, nhà thơ mà là để làm người chiến sĩ đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. - Đến với khoa cử chỉ là con đường ông đến với hoạt động cách mạng. Ông hiểu rõ, sức văn hồi bút mạnh hơn binh và ông đã dùng nó làm vũ khí thực hiện nguyện vọng đấu tranh cách mạng: Mõ chuông là cái bút này Lôi đình trên ngọn bút này nổi lên (Gọi hồn quốc dân).
<span class='text_page_counter'>(24)</span> - Hay trong văn tế Phan Châu Trinh ông cũng nói tới sức mạnh ngòi bút luận chiến và thể hiện rõ tư tưởng người chiến sĩ và người nghệ sĩ chỉ là một. Nhưng cần nói rõ ông là nhà chính trị mới, và viết văn như một nhà nho. Quan niệm thứ hai: Ông là người đầu tiên trong lịch sử đã có ý thức dùng văn chương để tuyên truyền¸vận động cách mạng. Ngòi bút của ông đã khơi dòng chảy cho một loại văn chương trữ tình chính trị góp phần đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng. - 16 tuổi viết hịch Bình Tây thu Bắc - Đến Kinh đô Huế viết Bái Thạch vi huynh - Lưu Cầu huyết lệ tân thư được truyền tụng rộng rãi . - Huỳnh Thúc Kháng nói tới những áng văn như sấm giật: Miệng giọng cuốc vạch kêu trời giật một, giữa từng không mù cuốn mây tan/ Tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba, đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ. - Tố Hữu: Những câu thơ dậy sóng - Đặng Thai Mai: Chỉ vì đọc Phan Bội Châu mà hàng nghìn thanh niên đã cắt cụt tóc, vất hết sách vở văn chương cử tử cùng cái mộng công danh nhục nhã gắn trên đó, lìa bỏ làng mạc, nhà cửa vợ con rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu, nguy hiểm, khổ sở để qua Xiêm, Tàu, Nhật mà học hỏi mà trù tính việc đánh Tây. 2. Có lí tưởng mới cho cuộc sống. Lý tưởng đó là cứu nước. Ông cho rằng mục đích tốt đẹp nhất của đời người, lý tưởng tốt đẹp nhất của đời người là làm sao cứu được nước, vì cứu nước cũng tức là cứu mình. Lý tưởng ấy thật cao quý nhưng nó lại không chút gì cao xa cả, ai cũng có thể theo được. Và ông đã thực hiện nó bằng hành động cụ thể: 2.1.. Dùng thơ văn để cổ động cho lẽ sống mới Lẽ sống mới: Sống có trách nhiệm với đời, sống hào hùng, oanh liệt, đầy hoài bão,. khát vọng ước mơ và dám đương đầu với thử thách để vươn tới chân trời khát vọng. - Tự ý thức vượt lên khỏi thực tại khắc nghiệt, mong xoay chuyển càn không để làm chủ cuộc đời mình và tái tạo giang sơn. Quân bất kiến Nam, Xuân tự cổ đa danh sĩ. Sinh thời thế phải xoay nên thời thế. Đã chơi xuân đừng quản nghĩ chi chi. Phùng xuân hội, may ra ừ cũng dễ. Khi ngâm nga xáo lộn cổ kim đi. Nắm địa cầu vừa một tí con con. Tùa tám cõi ném về trong một túi. Đạp toang hai cánh càn khôn. Thơ rằng:. Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà.
<span class='text_page_counter'>(25)</span> Nước non Hồng Lạc còn đây mãi. Hai vai gánh vác sơn hà. Mặt mũi anh hùng há chịu ri. Đã chơi chơi nốt, ố chà chà xuân.. Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi Chơi xuân - Thể hiện khí phách hiên ngang, đầy kiêu hãnh của người hào kiệt mang khát vọng chinh phục kể cả khi đã leo tới đỉnh núi cao. Ngã vị đăng sơn thì. Dịch:. Chúng sơn dữ ngã tề. (Khi ta chưa trèo lên núi. Ngã kí đăng sơn thì. Ta thấy các ngọn núi cũng ngang với ta. Ngã thị chúng sơn đê. Khi ta đã trèo lên núi rồi. (Du Đại Huệ, cảm chiếm). Ta thấy các ngọn núi đều thấp hơn ta). - Đôi khi còn hiên ngang coi thường nguy hiểm: Dù gió ngược mà dòng xuôi, ta sẽ vén xiêm mà sang này! Hô dò khoan! Dù Pháp, dù Nhật, dù Nga ngày có đón dòng mà chặn ngang Ta cũng tìm hỏi bến mà chèo sang này! Hò dô khoan! Gió to cuồn cuộn này biển rộng mênh mang. Vừa hát vừa cười mà chèo sang này. Dô hò khoan! Biển lớn thênh thang này, sóng cả mênh mang. Cùng lòng chung sức mà chèo sang này. Dô hò khoan! Hải hồ khoan , Nguyễn Văn Bách dịch. Ngay cả thời kỳ bị giam lỏng ở Huế, sống trong hoàn cảnh nguy hiểm, luôn bị uy hiếp, đe dọa, thơ văn ông vẫn còn khí thế hừng hực như khi mới xuất dương "Ðúc gan sắt để dời non lấp bể Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ" (Bài ca chúc tết thanh niên) - Tư tưởng dứt khoát, hành động quyết liệt: Đem máu ra mua lấy quyền tự do mà thôi Sống tủi làm chi đứng chật trời! Sống nhìn thế giới hổ chăng ai? Sống làm nô lệ cho người khiến, Sống chịu ngu si để chúng cười. Sống tưởng công danh, không tưởng nước, Sống lo phú quý, chẳng lo đời. Sống mà như thế, đừng nên sống! Sống tủi làm chi, đứng chật trời. Sống.
<span class='text_page_counter'>(26)</span> Ông nói: Trước tình hình mất nước mà không đập bàn kêu thương, vung tay kêu khổ thì là người không có tai mắt, không có tâm huyết, không phải là giống người nữa. Ai không mang nỗi đau mất nước, dâng lòng trung để báo đền cho nước đều là đại gian đại ác, thù địch của toàn quốc. Tuyên bố từ giã thánh hiền để tới trang sử khác của đời mình: Hỏi anh đeo gươm đi đâu đây?. Trời nghiêng đất đổ. Làm Gia Cát ổ Long Trung nằm khểnh. Đổ lỗi cho ai?. Làm Bá Di ở Bắc Hải chờ ngày. Nước tan, chúa mất. Thời nguy thay! Thế nguy thay!. Tránh tội khó thay. Nằm khển? - Vô ích. Ca hát, khóc, cười, đều suông cả! Ích gì. Chờ thời? Bao ngày?. cho buổi này? Tự ngữ. Xuất dương lưu biệt. Lưu biệt khi xuất dương (Người dịch: Tôn Quang Phiệt) Sinh vi nam tử yếu hy kỳ, Làm trai phải lạ ở trên đời. 生為男子要希奇, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.. Há để càn khôn tự chuyển dời. 肯許乾坤自轉移。 Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ. 於百年中須有我, Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,. Trong khoảng trăm năm cần có tớ. 起千載後更無誰。 Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.. Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài. 江山死矣生圖汭,. Sau này muôn thuở há không ai ? Non sông đã mất, sống thêm nhục. Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,. Muốn vượt bể Đông theo cánh gió. Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.. Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. 賢聖遼然誦亦癡。 願逐長風東海去, 千重白浪一齊飛。. -. Dám đương đầu, đối mặt với khó khăn, không chịu trói buộc thúc ép mình. vào khuôn khổ để khẳng định nhân cách cao đẹp hào kiệt, phong lưu, ung dung với thái độ hóm hỉnh, lạc quan, ngạo nghễ. Coi nhà tù như chốn nghĩ, nơi dừng chân: Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù Cảm tác nhà ngục Quảng Đông Dẫu rằng là cảnh thân tù, “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một ngày ở tù bằng nghìn thu ở ngoài), lời thơ của cụ Phan Bội Châu vẫn giữ được cái điềm tĩnh, thoải mái của một con người luôn tự tin, lạc quan trước mọi hoàn cảnh, đó là tinh thần của bậc đại trượng phu với ý chí “uy vũ bất năng khuất” (uy vũ không thể khuất phục)..
<span class='text_page_counter'>(27)</span> Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu Chấn song tù giam được thể xác nhưng không giam nổi tâm hồn cụ hướng về đất nước! Bị kìm hãm, bị giam cầm nơi xứ lạ ,tinh thần đấu tranh của cụ Phan Bội Châu đã truyền đạt đến cho những chí sĩ yêu nước, một niềm tin tưởng vào sự nghiệp chiến đấu vì chính nghĩa của chính mình Đời đã mới, người càng nên đổi mới Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn. (Bài ca chúc Tết thanh niên) Bài thơ kết thúc mà lời thơ chưa kết thúc. Người đọc vẫn còn thấy đâu đây một con người uy phong đứng giữa đất trời, ung dung ngạo nghễ mà kiên định, bất khuất. Trong giây phút tuyệt vọng nhất, người anh hùng Phan Bội Châu vẫn không mất đi cái tráng chí, tinh thần thép của một nhà chí sĩ yêu nước Việt Nam, trở thành tấm gương sáng. 2.2.. Nhiệt thành đi tìm và khẳng định con đường cứu nước mới, chủ trương theo đuổi tinh thần dân chủ.. Trước thực tại “Nó coi mình như trâu, như chó/ Nó coi mình như rơm như rác/ Trâu nuôi béo, cỏ coi rờm/ Cỏ moi rễ cỏ, trâu làm thịt trâu” Phan Bội Châu chỉ ra con đường cứu nước mới tiến bộ trong xã hội: khẳng định đất nước là của dân, đấu tranh chống giặc cứu nước là để bảo vệ nòi giống, đồng bào Việt Nam. - Ông đã lấy tư tưởng dân là chủ làm động lực đấu tranh giành độc lập. Phục quốc là việc mà người dân phải tự lo lấy. (So sánh: Ông không phải là người đề xướng dân chủ vì trước đó có Nguyễn Trãi, có Phan Châu Trinh. Lúc đầu ông cũng có chỗ vướng: ông là đại diện cho Duy Tân hội theo chủ trương quân chủ lập hiens quan hệ với chính khách Nhật và quan hệ với nhiều nhân sĩ Nam Kì đang hâm mộ Cường Để - dòng đích của Gia Long. Sau này mới đả phá tư thông nhờ Phan Châu Trinh. Điểm khác là không nhấn mạnh dân với chủ quyền đất nước ít chú ý tới nhân quyền, dân quyền trong chính trị, xã hội mà là sự kết hợp giữa đấu tranh dân chủ với đấu tranh giành độc lập Người, dân ta; của, dân ta Dân là dân nước, nước là nước dân .... Sông phía Bắc, bể phương Đông Nếu không dân cũng là không có gì..
<span class='text_page_counter'>(28)</span> - Xác lập vai trò làm chủ xã hội của người dân. Ông nói về quyền làm chủ của người dân, trách nhiệm để mất nước tội của người dân cũng không nhỏ. Với tinh thần dân chủ : - Đất nước - lọ vàng mà cha ông để lại đều là tài sản chung của dân. Với năm mươi triệu số người trong nước đều là con cháu một họ, đều là chú bác anh em: Nghìn, muôn, triệu, ức người trong nước Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà Chỉ ra sự thực tồn tại trong một số người: Nước dân ta là của gia tài.. Hỏi đến nước còn không, không biết,. Chữ rằng "Tổ nghiệp lưu lai". Gọi đến tên Nam Việt, không thưa!. Của ta ta giữ, chắc ai giữ cùng!. Gia tài tổ nghiệp mình xưa,. Chẳng may lúc thành long, xã lở. Tay đem quyền chủ mà đưa cho người!. Một hai điều trách cứ vua tôi.. Chắc đã có người cai quản hộ,. Còn năm mươi triệu con người,. Cơ nghiệp mình, mình bỏ không coi.. Chỉ quanh quanh đám lợi tài không xong!. Hỏi xem khắp cả gầm trời, Coi ai quái gở lạ đời thế không?. - Phan Bội Châu đã thấy được điều tai hại của việc mất đoàn kết, việc chia rẽ dân tộc. Ông cho rằng một trong những nguyên nhân giúp Pháp chiếm được đất nước ta và đặt được ách đô hộ lên đất nước ta một cách vững vàng là do nhân dân ta "Xung khắc bất hòa": "Nỗi ngu dại nói không kể xiết Lại ngờ nhau chẳng biết tin nhau Coi nhau như thể quân thù Thù mong nhau hại ghét cầu nhau hư Bụng có hợp thì nhà mới hợp Lòng đã tan thì nước cũng tan" (Hải ngoại huyết thư). Từ đó ông đã đưa ra một chủ trương đoàn kết rộng rãi, không phân biệt giai cấp, đẳng cấp, tôn giáo. 3. Niềm tin sắt đá vào tương lai đất nước - Niềm tin vào con người, lòng người. Ông nói: Nước đã không toàn thì thân làm sao mà vẹn được. Vì thế ông tin: đã là người thì dẫu là hạng người nào đi nữa cũng phải.
<span class='text_page_counter'>(29)</span> khác loài thú mà đã khác loài thú tất sẽ biết phân biệt phải trái, tất sẽ yêu nước, ghét thù, bởi nước đã mất thì còn nói gì đến quyền lợi, danh dự, cuộc sống bản thân nữa”.. - Tin vào dân . Dân làm chủ - Tin vào sức mạnh đoàn kết của dân Cả nước phải đồng lòng như thế/ Việc gì coi cũng dễ như không; Bốn phương nào sĩ nào nông/ Nào công nào cổ đều cùng anh em. 4. Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử với luận đề chủ nghĩa anh hùng và vấn đề phụ nữ - Viết trong thời gian sống lưu vong ở nước ngoài bằng tiếng Hán. - Chủ đề: cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng chống quân Minh. Nhưng có dụng ý thay đổi nội dung thực tế của lịch sử để trình bày diễn tả ước mơ chính trị, kêu gọi quốc dân chống Pháp. - Nội dung cụ thể: + Ca ngợi những người anh hùng: đó à những minh chủ, quý tộc hoặc người bình thường trong xã hội... Tất cả ở họ đều có khát vọng sống, mưu đồ phục quốc. + Khẳng định “Phụ nữ cũng là hạng người ở trong loài người, một suất dân ở trong nước. Và “Trong một nước nếu không có phụ nữ yêu nước thì nước ấy chỉ làm đầy tớ cho người ta mà thôi”. III.- NGHỆ THUẬT VĂN THƠ CỦA PHAN BỘI CHÂU 1. Thể loại : Ông đã vận dụng hầu hết các thể loại văn học của thời kỳ trung đại và hiện đại. Các loại văn cử tử như phú, đường luật, câu đối; hình thức cổ điển như ký, minh, cổ phong, từ, luận; các hình thức dân tộc như lục bát, song thất; các hình thức dân gian như vè, hát dặm, ca dao, chèo; các hình thức mới như nghị luận, truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn, báo chí, hồi ký.v.v... Phan Bội Châu đều sử dụng thành thạo. 2. Ngôn ngữ : Ngôn ngữ trong sáng tác của Phan Bội Châu còn chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ trong văn học trung đại. Nhưng tác giả đã thể hiện sự cố gắng lớn khi tạo cho nó có tính chất giản dị, dễ hiểu. Tất cả không ngoài mục đích nhằm đạt hiệu quả tuyên truyền. Đay là cống hiến lớn cho văn học nước nhà 3. Nhân vật : Nhân vật trong tác phẩm của Phan Bội Châu đã đạt đến mức độ đa dạng, phong phú. Ông đã đề cập đến nhiều hạng người trong xã hội, tập trung thể hiện con người yêu nước. Các nhân vật của ông đã bớt dần tính ước lệ. 4. Văn chữ Hán của Phan Bội Châu khác với văn chữ Hán thời trung đại. Nó không sao tránh khỏi một số nề nếp của văn cử tử nhưng nó đã nhẹ nhàng hơn, rành mạch hơn, thông tục hoá hơn, chú trọng nội dung hơn hình thức, nó có một phong cách riêng..
<span class='text_page_counter'>(30)</span> 5. Giọng văn hùng hồn thống thiết, bừng bừng nhiệt tình cách mạng. 6. Phan Bội Châu đã cố gắng cách tân trong vấn đề xây dựng kết cấu tác phẩm, nhưng lối sáng tác cũ còn ảnh hưởng không nhỏ đối với ông. D. HƯỚNG DÂN HỌC TẬP 1. Những yếu tố về gia đình, thời đại đã ảnh hưởng đến con ngươi của Phan Bội Châu. 2. Khi nói về niềm tin vào tương lai đất nước, Đặng Thai Mai nói: Qua những năm đen tối nhất của nước nhà, niềm tin ấy là nét tâm lí vĩ đại”. Bình luận ý kiến trên. (2-1) 3. Bình giảng bài Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông . Nêu những bài học mà anh/ chị cảm nhận được về một lí tưởng sống mới mà Phan Bội Châu đã nêu lên cho thời đại.(3 - 1) 4. Chuẩn bị bài Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Tiết: 07 - 10. Ký duyệt Bài 4. NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Xác định vị trí đặc biệt của Hồ Chí Minh trong khuynh hướng văn học yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX. Từ đó hiểu sự phong phú, đa dạng của sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh ; giá trị đặc điểm phong cách trên từng thể loại 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, các nội dung liên quan tới văn thơ yêu nước và cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là những tác phẩm được dạy trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động trong học tập. Thêm yêu mến và trân trọng những thành quả mà cha ông ta đã tạo dựng.. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 2. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. 3. Nghiên cứu bình luận chọn lọc về thơ văn chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb GD. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. KHÁI QUÁT SỰ NGHIỆP VĂN THƠ CỦA HỒ CHÍ MINH 1. Một nhà văn, nhà thơ lớn ngoài chủ định.
<span class='text_page_counter'>(31)</span> Hồ Chí Minh là một trong số những người đặt nền móng cho sự hình thành, phát triển của khuynh hướng văn học cách mạng vô sản, đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm lớn có giá trị trong kho tàng văn học yêu nước và cách mạng Việt Nam. - Đến với văn chương không hề có hẹn trước, chưa bao giờ nhận mình là một nhà văn, nhà thơ mà chỉ nhận rằng mình có làm báo, là người yêu văn nghệ, bạn của văn nghệ. - Hồ Chí Minh lại nhận thấy văn chương là vũ khí đắc lực phục vụ cho cuộc chiến yêu nước, cách mạng của dân tộc. Trước tình hình căng thẳng của lịch sử, xã hội, Người đã sử dụng văn chương một cách hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Người quan niệm làm văn chương là làm cách mạng. 2. Một sự nghiệp văn thơ phong phú, một phong cách nghệ thuật đa dạng Không những là nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh còn là nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Người đã để lạo cho đời một sự nghiệp văn chương phong phú về thể loại, đặc sắc độc đáo về phong cách. a. Quan điểm sáng tác: - Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. + Nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hoá. + Văn học phải có chất thép, tính chiến đấu. - Hồ Chí Minh chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học. + Nhà văn phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn hiện thực đời sống phong phú. + Phát huy cốt cách dân tộc, giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt. + Đề cao sự sáng tạo của người nghệ sĩ. - Khi viết, Người luôn đặt câu hỏi “Viết cho ai?” (đối tượng), “Viết để làm gì?” (mục đích), “Viết cái gì?” (nội dung), “Viết như thế nào?” (hình thức).. b. Tính phong phú trong sự nghiệp sáng tác - Số lượng phong phú đa dạng. - Ngôn ngữ: viết bằng ba thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Việt. Tùy hoàn cảnh, đối tượng tiếp nhận mà sáng tác bằng loại hình ngôn ngữ thích hợp. - Thể loại: 3 thể loại chính là văn chính luận, truyện ký và thơ ca. + Văn chính luận: Từ những năm 20 của thế kỷ xx, Nguyễn Ái Quốc đã viết hàng loạt bài văn chính luận bằng tiếng Pháp tiêu biểu là bài “Bản án chế độ thực dân Pháp”..
<span class='text_page_counter'>(32)</span> Khi cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã viết “Tuyên ngôn độc lập” là một kiệt tác văn chính luận. Ngoài ra Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết khác như “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” 1946, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 1966, “Di chúc” 1969. + Truyện ký chủ yếu được Nguyễn Ái Quốc viết từ 1922 – 1925 bằng tiếng Pháp trên đất Pháp. Tiêu biểu là truyện ngắn “Lời than vãn của bà Trưng Trắc” 1922, “Vi hành” 1923, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu” 1925. Ngoài ra thời kỳ sau này Hồ Chí Minh còn viết một số truyện ký khác như “Giấc ngủ mười năm” 1949, “Vừa đi đường vừa kể chuyện” 1963. + Thơ ca là sự nghiệp gía trị nhất, nổi bật nhất của Hồ Chí Minh được tập hợp trong ba tập chính là “Nhật ký trong tù” 134 bài, “Thơ Hồ Chí Minh” 86 bài, “Thơ chữ Hán Hồ Chính Minh” 36 bài. “Nhật ký trong tù” 1942 – 1943 là tập thơ tiêu biểu nhất của Hồ Chí Minh, tập thơ là một bản cáo trạng đối với nhà tù và xã hội Tưởng Giới Thạch, là bản tự thuật về tâm hồn khí phách của Hồ Chí Minh. Ngoài “Nhật ký trong tù” bộ phận thơ ca chống Pháp là một bộ phận có giá trị cả nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là “Rằm tháng giêng”, “Cảnh khuya”, “Cảnh rừng Việt Bắc”, “Đi thuyền trên sông Đáy”. Bên cạnh đó Hồ Chí Minh còn có một bộ phận thơ chữ Hán viết tự thuật về những chặng đường của mình cũng như để tặng lại những người bạn tri âm tri kỷ. c. Một phong cách nghệ thuật rất đa dạng nhưng cũng rất độc đáo: - Văn chính luận bộc lộ một tư duy sắc sảo, giàu tính luận chiến và đặc biệt là giàu trí thức văn hoá và thực tiễn. - Truyện kí có lối kể chuyện chân thực, có cách tạo không khí gần gũi, giọng châm biếm, sắc sảo, thâm thuý, tinh tế và giàu chất trí tuệcũng như tính hiện đại. - Thơ ca mang đậm phong cách thơ cổ phương Đông, nói ít gợi nhiều, hoạ vân xuất nguyệt. Tuy không phải chủ trương lập thân bằng văn chương nhưng với tâm hồn và tài năng của mình, Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp văn chương phong phú, có giá trị không những là giá trị về nội dung thể loại mà còn để lại một giá trị về phong cách. Vì thế sự nghiệp thơ văn Hồ Chí Minh là bài học vô giá cho những người cầm bút chân chính.. II. VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT (TRUYỆN VÀ KÍ) Di sản truyện, ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những tác phẩm có giá trị đặc biệt về nhiều mặt, có vai trò mở đầu và đặt nền móng cho nền báo chí và văn học cách mạng nước ta ngay từ đầu thế kỷ XX (Ra đời sau Nhật kí trong tù 15 năm).
<span class='text_page_counter'>(33)</span> 1. Truyện và kí của Người được đăng trên nhiều mặt báo, là những sáng tác nghệ thuật có sự kết hợp chặt chẽ tính thời sự, chiến đấu với tính nghệ thuật. - Trong bối cảnh đặc biệt của những năm đầu thế kỷ XX, các tác phẩm truyện, ký và tiểu phẩm của người thanh niên cách mạng Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo bản chất xấu xa của chủ nghĩa thực dân, vạch trần tính chất bịp bợm, xảo trá được che đậy dưới những từ ngữ mỹ miều như “công lý”, “bình đẳng”, “bác ái”... mà chúng vẫn thường rêu rao. Với sự kết hợp những kiến thức của đông tây kim cổ và kiến thức phong phú, cụ thể của cuộc sống hàng ngày, với tinh thần chiến đấu không khoan nhượng trước kẻ thù và với nghệ thuật châm biếm sâu sắc, tác giả đã dựng lại những khuôn mặt tàn ác, man rợ của những kẻ “khai hoá” và cảnh sống cùng cực của những người lao động lương thiện dưới ách thống trị tàn bạo của chúng ở các nước thuộc địa. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, một số đoạn trong các Chương III, Chương IV, Chương V đã dựng lên hàng chục chân dung kẻ thù bằng những nét đặc tả theo lối châm biếm cay độc. Tác phẩm quan trọng này đã trở thành một văn kiện lịch sử vô giá trong kho tàng văn học cách mạng Việt Nam: Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ là những tên anamit bẩn thỉu, biết kéo xe tay và ăn đòn của những quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, họ biến thành những đứa con yêu, những người bạn hiền của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí cả của các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé. Đùng một cái họ được phong cho những danh hiệu “ những chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do” Nhưng họ đã phải trả bằng một giá khá đắt cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái công lý và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào, họ đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu. Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kỳ diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Bancăng, lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, – chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì đã anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mácnơ, hoặc trong bãi lầy miền Sămpanhơ, để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế. - Chỉ rõ bộ mặt nhu nhược của bọn vua quan phong kiến bán nước, đồng thời thông qua đó nêu lên truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm với những nhân vật lịch sử anh hùng của dân tộc. Truyện, ký của Nguyễn Ái Quốc luôn thể hiện một sự ngưỡng mộ sâu.
<span class='text_page_counter'>(34)</span> sắc và tự hào đối với các nhân vật lịch sử - từ Trưng Trắc, Trưng Nhị, Ngô Quyền, Lê Lợi đến Phan Bội Châu... Tác phẩm Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu lại dựng lên hai hình ảnh trái ngược nhau: Varen khua môi múa mép nhằm mua chuộc nhà cách mạng Phan Bội Châu. Đáp lại những lời đường mật, những hứa hẹn của tên thực dân cáo già ấy, nhà cách mạng họ Phan chỉ im lặng, thản nhiên, khinh bỉ. Nhân cách của người cách mạng trong cảnh ngục tù đã toả sáng trước kẻ thù xảo trá nhưng bất lực.... 2. Có sự kết hợp chặt chẽ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật. Có thể thấy những tác phẩm như Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu… đã thể hiện một trình độ nghệ thuật hư cấu, sáng tạo tình huống tài tình rất cao. Trong đó, ngòi bút của tác giả luôn ở mũi nhọn của thời cuộc chính trị, đã nắm bắt rất nhạy bén sự kiện chính trị, xã hội. Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, từ năm 1941 đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, tự tay Bác Hồ đã biên soạn một số tài liệu về chiến tranh du kích và biên soạn một tập truyện ký gồm mười hai chương và một phần kết luận. Mở đầu tác phẩm đó là lời đề từ: “Đánh du kích không cần phải có sức mạnh... Hễ là người có lòng yêu nước, không chịu làm nô lệ, lại có một chút gan dạ và mưu trí, thì bất kỳ trai gái, già trẻ, bất kỳ có súng hay không có, đều có thể đánh du kích”. Trong tất cả mười hai chương của tác phẩm này đều được mở đầu bằng hai câu thơ lục bát. Đây là các câu thơ ở đầu các chương I, III, IV: - “Một ông già, một sợi dây Làm cho điêu đứng một bầy địch nhân - Tuổi già gan lại càng già Làm cho địch biết tay bà mưu cao - Không súng thì đánh bằng dao Có mưu, có kế, súng nào thiếu chi”… Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bác vẫn trực tiếp viết nhiều tác phẩm truyện, ký châm biếm để phân tích tình hình, vạch mặt bọn cướp nước và lũ tay chân bán nước của chúng, động viên nhân dân ta hướng tới thắng lợi. Có thể thấy rõ điều này qua một số tựa đề tác phẩm của Bác: Trong trần ai, ai cũng ghét Ai (Ai: chỉ tổng thống Mỹ Aixenhao), Đạo đức Mỹ, Làm thế nào cho lạc thêm vui?, U2 là u ám, u mê - U đi 3 chiếc, u về chỉ 1 thôi (U2: máy bay do thám đặc biệt của Mỹ), Bình đẳng, bác ái kiểu Mỹ, Chó Mỹ da trắng cắn Mỹ da đen, Đế quốc Mỹ bi và bí, Tay-lo rồi chân cũng lo, Đại bợm Giôn-xơn miệng nói “hòa bình” tay vung “binh hỏa”, Quân Mỹ chết nhăn răng, tướng Mỹ nhăn răng.
<span class='text_page_counter'>(35)</span> cười, Lại chuyện chó Mỹ, “Đại” bại tướng Vét-mỡ lợn đã cút về nước mẹ Hoa kỳ (Vét-mỡlợn: Oétmolen) v.v… Đoạn văn đậm chất châm biếm sau đây được trích trong bài Đế quốc Mỹ bi và bí của Bác (Bài ký bút danh “Chiến sỹ”, đăng báo Nhân Dân ngày 7-3-1964): “Tình hình gay go ở nước Mỹ và trên thế giới làm cho tổng Zôôn rất đau đầu. Uống thuốc xong, Zôôn vừa thiu thiu ngủ, thì liền mơ thấy tổng Ken bước vào. Sau đây là tóm tắt nội dung câu chuyện giữa hai tổng: Tổng Ken: Thế nào Zôôn? Công việc đều O.K. chứ? Tổng Zôôn: Very bad Ken ạ ! Hôm Ken chết, tôi hí hửng được làm tổng thống... Nhưng... Xin mời Ken hãy rốn ngồi. Để nghe Zôôn kể khúc nhôi đoạn trường.. 3. Trong bối cảnh của một đất nước đang nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới, trong những tác động hai mặt của cơ chế thị trường và mặt trái của “thương mại hóa” sách báo, nền văn học và báo chí nước ta đang rất cần có những cây bút mạnh mẽ và sắc sảo, dũng cảm lên tiếng vì sự tiến bộ xã hội, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì thế, có thể thấy rằng những bài học từ di sản truyện, ký của Hồ Chủ tịch vẫn còn nguyên giá trị thời sự trong cuộc sống hôm nay. III. THƠ CA TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”. Biểu hiện trong thơ ca Hồ Chí Minh: - Đây là loại thơ ca hướng tới từng đối tượng, quần chúng nhằm phục vụ mục đích: khơi gợi, thức tỉnh tinh thần yêu nước, lòng căm thù thực dân, phong kiến, kêu gọi toàn dân đoàn kết, tuyên truyền đường lối vũ trang tới Tổng khởi nghĩa. - Thể hiện bằng nội dung và hình thức nghệ thuật giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Chất liệu và cảm hứng lấy từ cuộc sống đời thường, truyền thống nhưng lồng vào đó tâm hồn tư tưởng, tình cảm cách mạng, yêu nước cao đẹp. - Thơ ca tuyên truyền cổ động phong phú về thể điệu, thủ pháp nghệ thuật. IV. TẬP THƠ NHẬT KÍ TRONG TÙ * Hoàn cảnh sáng tác:.
<span class='text_page_counter'>(36)</span> Nhật ký trong tù (獄中日記 - Hán-Việt: Ngục trung nhật ký) là một tập thơ của Hồ Chí Minh, viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, trong thời gian Bác Hồ bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp các nhà giam ở 13 huyện tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. * Số lượng tác phẩm: gồm hơn 133 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép. Tập thơ được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ. Nhật kí trong tù là bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh. Từ bài mở đầu cho đến bài thơ cuối, mỗi bài khắc hoạ một tâm trạng, một hoàn cảnh sáng tác khác nhau, tập thơ đã mang đến cho người đọc những cảm nhận về hành trình vô cùng gian nan, cực khổ qua các nhà tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời nhắn gửi trong mỗi câu thơ là tư tưởng, tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. * Giá trị của Nhật kí trong tù Nhật kí trong tù là bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh. Từ bài mở đầu cho đến bài thơ cuối, mỗi bài khắc hoạ một tâm trạng, một hoàn cảnh sáng tác khác nhau, tập thơ đã mang đến cho người đọc những cảm nhận về hành trình vô cùng gian nan, cực khổ qua các nhà tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời nhắn gửi trong mỗi câu thơ là tư tưởng, tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Biểu hiện cụ thể qua: 1. Thể hiện tấm lòng nhân đạo cộng sản. Trường Chinh cho rằng: “Một điểm nổi bật nhất trong đạo đức Hồ Chủ Tịch là lòng thương người”. Lòng thương yêu con người của Bác là tấm lòng nhân đạo Cộng sản, đó là tinh thần nhân đạo mới mẻ. Qua đó toát lên niềm tin tưởng vào con người trong những năm tháng đấu tranh gian khổ. Tấm lòng nhân đạo cộng sản của Hồ Chí Minh không phải là lòng thương người siêu giai cấp mà có quan điểm nội dung và giai cấp cụ thể. Nó rất khác với tinh thần bác ái của tôn giáo, yêu thương an ủi con người và khuyên con người hãy thụ động chờ đợi hạnh phúc ở thế giới xa xôi hoặc kiếp sau. Đó cũng không phải là tình thương có ý nghĩa ban phát của giai cấp quý tộc, của những người sống trên tiền của. Được biểu hiện ở những điểm sau:.
<span class='text_page_counter'>(37)</span> - Trong tù Bác cũng chịu khổ ải như bất kì tù nhân nào. Mà Bác thì đã già, bị tù trong hoàn cảnh cô độc, nhưng Người đã quên đi nỗi đau của riêng mình mà đem lòng thương yêu những người bạn tù mà Bác gọi là nạn hữu. Có một bài thơ đã kết đọng lại hai dòng tình cảm lớn của Bác là tình thương và lòng yêu nước “Người bạn tù thổi sáo”. Bác thương người bạn tù nhớ quê hương da diết trong âm điệu sầu não. Bác cũng là người cùng hội cùng thuyền, Bác cũng đang có tâm trạng nhớ quê hương đất nước nên tiếng sáo của người bạn tù cũng là tiếng lòng của Bác: “Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu Muôn dặm quan hà khuôn xiết nỗi Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”. Đó còn là sự xót thương khi nhìn thấy người bạn tù đắp chăn bằng giấy (dù mình cũng vậy). Chăn giấy của người bạn tù. Sách xưa vở mới khéo đem bồi,. Cựu quyển tân thư tương bổ xuyết. Chăn giấy hơn không đã hẳn rồi;. Chỉ chiên do noãn quá vô chiên. Giường ngọc màn thêu ai có thấu,. Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ. Trong lao không ngủ biết bao người.. Ngục lý hứa đa nhân bất miên? Nam Trân – Băng Thanh: Chứng kiến những cảnh ngộ thương tâm của một người tù cờ bạc nằm bên Bác vì đói rét bị nhà tù hành hạ chết thảm thương: 一个賭犯硬了 Nhất cá đổ phạm “ngạnh” liễu Một người tù cờ bạc chết cứng Tha thân chi hữu cốt bao bì Thống khổ cơ hàn bất khả chi Tạc dạ tha nhưng thụy ngã trắc Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy. (Thân anh da bọc lấy xương. Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi, Đêm qua còn ngủ bên tôi Sáng nay anh đã về nơi suối vàng!) Đây là một cái chết hai lần oan nên Bác càng thương cảm. (Oan thứ nhất là đánh bạc không đáng vào tù vì trong tù đánh bạc công khai, oan thứ hai là phải chết trong đói rét thê thảm).
<span class='text_page_counter'>(38)</span> - Giữa lúc đang chịu cảnh gông tù, xiềng xích người cộng sản quên đi thực tại và hướng ra thế giới bên ngoài cuộc sống của những con người nghèo khổ, nhân dân lao động... Vào nhà lao Tân Dương nghe tiếng khóc của một đứa trẻ, Bác vô cùng xúc động tưởng chừng như đứa trẻ muốn nói với Bác qua tiếng khóc trẻ thơ: Tiếng khóc trong nhà lao Tân Dương Oa…! Oa…! Oa…! Cha trốn không đi lính nước nhà Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi, Phải theo mẹ đến ở nhà pha. Bác trong tù nhưng vẫn cảm nhận thấy âm thanh non nớt đó kể lể với Bác một điều cay đắng trong ngàn điều cay đắng trên đời. Tiếng khóc non tơ đó đã bật ra từ sự dồn nén của tầng tầng phi lí. Nhà thơ đã tự sự trong cái không thể tự sự được. Hay đứa trẻ biết đây là ông chủ bút tờ báo “Người cùng khổ” nên mới bật ra tiếng khóc kể lể như vậy. Trong những người bất hạnh Bác gặp trong tù, Bác đặc biệt thương mến nhi đồng và phụ nữ. Trên kia ta thấy được niềm thông cảm của Bác đối với người phụ nữ có chồng mới bị bắt lính và giờ đây chúng ta lại hiểu thêm được tấm lòng yêu thương của Bác trong tiếng khóc của người góa phụ trong bài thơ “Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng”: “Hỡi ôi! Chàng hỡi, hỡi chàng ơi! Cơ sự vì sao vội lánh đời? Để thiếp từ nay đâu thấy được Con người tâm ý hợp mười mươi” Ở trong tù, nửa đêm nghe tiếng khóc của một người thiếu nữ mà biết được đó là tiếng khóc “người bạn đời, tâm đầu ý hợp” thì đấy là cái lỗ tai đặc biệt của ông chủ bút “Người cùng khổ”.. - Tâm hồn của Người chan hòa với cuộc sống của những người xung quanh, người dân lao động, cảm thông, chia sẻ với thân phận, nỗi niềm của họ. Có thể nói trong đám tù nhân ở nhà lao Quảng Tây, Bác là người cô độc hơn ai hết, nhưng chỉ nhìn thấy vợ của một người bạn tù đến thăm chồng là Bác đã xúc động, Bác diễn tả nỗi lòng thương yêu của mình đối với vợ chồng người bạn tù: “Anh đứng trong cửa sắt Em đứng ngoài cửa sắt Gần nhau trong tấc gang Mà biển trời cách mặt.
<span class='text_page_counter'>(39)</span> Miệng nói chẳng nên lời Nói lên bằng khóe mắt Chưa nói lên tuôn đầy Tình cảnh đáng thương thật.” Dù sao thì vợ chồng người bạn tù còn được an ủi, vậy mà con người cô độc này lại đem lòng thương “gần nhau trong tấc gang. Mà biển trời cách mặt” thật ra thì họ đã được gần nhau trong gang tấc. Còn “biển trời cách mặt” là biển của tình yêu thương mênh mông của Bác đối với những con người bất hạnh. Hay là sự cảm thông với người vợ có chồng bị bắt đi lính Gia quyến người bị bắt lính (Trung binh gia quyến) Biền biệt anh đi không trở lại, Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu; Quan trên xót nỗi em cô quạnh, Nên lại mời em tạm ở tù. Trên con đường giải tù, nhìn thấy người phu làm đường cực khổ dưới nắng mưa, Bác động lòng thương và ghi lại thành thơ: Phu làm đường “Dãi gió dầm mưa chẳng nghỉ ngơi Phu đường vất vả lắm ai ơi * Ngựa xe hành khách thường qua lại Biết cảm ơn anh được mấy người”. (Nguyên văn: Thảm đạm kinh doanh” trúc lộ phu. “Thảm đạm kinh doanh” là một thành ngữ Trung Quốc, ý nói dốc sức, mưu toan, tận tụy với công việc). Khi diễn tả Người nói: “Tôi khổ sở vì đang kiến trúc con đường cho nhân loại, con đường cách mạng”. Đó là sự đồng cảm của hai người “trúc lộ phu” cho nên tình thương càng sâu sắc, thấm thía. Nhiều bài thơ trong “Nhật kí trong tù” cũng biểu hiện sự sẻ chia niềm vui với người nông dân: “Khắp chốn nông dân cười hớn hở Đồng quê vang dậy tiếng ca vui”. - Gắn niềm tin yêu vào nhân phẩm của con người khi bị đặt trong bóng tối 又一个 Hựu nhất cá... Lại một người nữa... Di, Tề bất thực Chu triều túc,.
<span class='text_page_counter'>(40)</span> Đổ phạm bất ngật công gia chúc; Di, Tề ngã tử Thú Dương sơn, Đổ phạm ngã tử công gia ngục. (Di, Tề chẳng ăn gạo nhà Chu, Tù bạc chẳng ăn cháo nhà nước; Di, Tề chết đói ngàn Thú Dương, Tù bạc chết đói trong nhà ngục) Bá Di, Thúc Tề: con vua nước Cô Trúc đời nhà Ân (1401 - 1122 trước C.N), Trung Quốc. Khi Vũ Vương chiếm ngôi nhà Ân lập nên nhà Chu, Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn gạo nhà Chu lên núi Thú Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) ở ẩn, ăn rau vi, rồi chết đói ở đó.. 2. Thể hiện tình yêu nước thiết tha, một khát vọng tự do ngày càng cháy bỏng Khi viết bài thơ Tứ cá nguyệt liễu (Bốn tháng rồi (Người dịch: Nam Trân), Bác nói: 一日囚千秋在外 古人之話不差訛 四月非人類生活 使余憔悴十年多. "Nhất nhật tù, thiên thu tại ngoại",. "Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài",. Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa!. Lời nói người xưa đâu có sai;. Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt,. Sống khác loài người vừa bốn tháng,. Sử dư tiều tụy thập niên đa.. Tiều tuỵ còn hơn mười năm trời.. 囚為 四月吃不飽 四月睡不好 四月不換衣 四月不洗澡. Nhân vị:. Bởi vì:. Tứ nguyệt ngật bất bão,. Bốn tháng cơm không no,. Tứ nguyệt thụy bất hảo,. Bốn tháng đêm thiếu ngủ,. Tứ nguyệt bất hoán y,. Bốn tháng áo không thay,. Tứ nguyệt bất tẩy tảo.. Bốn tháng không giặt giũ.. Sở dĩ: Cho nên: 所以 Lạc liễu nhất chích nha, Răng rụng mất một chiếc, 落了一隻牙 Phát bạch liễu hứa đa, Tóc bạc thêm mấy phần, 髮白了許多 Hắc sấu tượng ngã quỷ, Gầy đen như quỷ đói, 黑瘦像餓鬼 Toàn thân thị lại sa. Ghẻ lở mọc đầy thân. 全身是癩痧 Đặc biệt, theo Trần Dân Tân thì: Nhưng khổ Cụ nhất là mất thì giờ ngồi không. ... Lòng Cụ Hồ rối như tơ vò vì phải ngồi im vô ích trong khi công việc đang đòi Cụ và thời gian đi qua không chờ người”. Có thể thấy, tình yêu nước thiết tha trong Nhật kí trong tù chính là: - Nỗi đau lớn nhất của Bác chính là nỗi đau tinh thần khi đất nước lầm. than, khi dân sống không yên ổn: Thu dạ I - Đêm thu.
<span class='text_page_counter'>(41)</span> Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,. 門前衛士執槍立 Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi; 天上殘雲傍月飛 Mộc sắt tung hoành như thản khắc , 木虱縱橫如坦克 Mân trùng tụ tán tự phi ky; 蚊虫聚散似飛機 Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ , 心懷故國千塘路 Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti; 梦繞新愁萬縷絲 Vô tội nhi tù dĩ nhất tải, 無罪而囚已一載 Lão phu hòa lệ tả tù thi. 老夫和淚寫囚詩 Và nỗi đau hòa lệ thành thơ. Trước cửa lính canh bồng súng đứng, Trên trời trăng lướt giữa làn mây; Rệp bò ngang dọc như thiết giáp, Muỗi lượn hung hăng tựa máy bay; Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ, Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay; Ở tù năm trọn thân vô tội, Hòa lệ thành thơ tả nỗi này.. - Nỗi nhớ nước thiết tha, day dứt, sốt ruột “trằn trọc, băn khoăn” nghĩ tới ngày của đất nước: Thụy bất trước (không ngủ được) Nhất canh ... nhị canh... hựu tam canh, Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành; Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn, Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh. (Một canh... hai canh... lại ba canh, Trằn trọc băn khoăn, giấc chẳng thành; Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt, Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh). - Dù nhìn đất nước lầm than mà thấy xót thương, nhưng trong thơ vẫn toát lên niềm khát vọng tự do - lạc quan tin tưởng: Ốm nặng “Ngoại cảm” trời Hoa cơn nóng lạnh, “Nội thương” đất Việt cảnh lầm than, Ở tù mắc bệnh càng cay đắng, Đáng khóc mà ta cứ hát tràn!. Và dù bất cứ hoàn cảnh nào người vẫn giữ vững tấm lòng kiên định ấy: Tứ cá nguyệt liêu - Bốn tháng rồi ....Kiên trì và nhẫn nại, Không chịu lùi một phân, Vật chất tuy đau khổ, Không nao núng tinh thần..
<span class='text_page_counter'>(42)</span> 3. Thể hiện vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ qua tình cảm thiết tha với cảnh sắc thiên nhiên Bác Hồ sáng tác “Nhật kí trong tù” trong điều kiện lao tù khắc nghiệt, vậy mà bài thơ vẫn tràn ngập hình ảnh của thiên nhiên. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai có nhận xét: “trong “Nhật kí trong tù” thiên nhiên chiếm một địa vị danh dự”.. - Có thể nói thiên nhiên dưới con mắt của Bác rất sống động, phong phú và đa dạng. Nó không chỉ là đối tượng để khai thác, miêu tả, là tác nhân nâng đà cho xúc cảm thẩm mỹ bay cao và vươn xa đối với quá trình sáng tạo thi ca, hơn thế nữa, nó còn tạo nên những giá trị thẩm mỹ tự nhiên cho tác phẩm nghệ thuật, tạo nên cốt cách của một thi sỹ- nhà hiền triết phương Đông Hồ Chí Minh rất độc đáo. Ngay từ những ngày ở trong lao tù, Bác bị giam hãm trong tù ngục đen tối, bị giải đi cũng hết sức khổ sở, vậy mà thơ Bác đâu có thiếu hình ảnh thiên nhiên. Mây, gió, trăng, hoa… trong thơ xưa cũng hiện diện trong thơ Bác, tất nhiên là với màu sắc mới. Hình ảnh của núi sông cũng khác, đẹp hùng vĩ và thơ mộng. Nếu thiếu họa chăng là thiếu biển, nghĩa là thiếu đi một mảng thiên nhiên đầy sức hấp dẫn nhưng người đọc cũng dễ thông cảm với tác giả. Và thiên nhiên đã ùa vào tình cảm của Bác hay là chính Người đã tìm đến với thiên nhiên. Có lẽ là cả hai: Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ (Ngắm trăng) - Đây quả là tư thế ngắm trăng xưa nay chưa từng có trong từng có , thiên nhiên. hòa quyện với tâm hồn, thể hiện cuộc vượt ngục thú vị về tinh thần . Vì thế, trên đường giải đi ở khắp nhà lao, dù bị xiềng trói chân tay nhưng cũng không ngăn được người ngắm cảnh, thưởng thức tự do Mộ - chiều tối Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không. Cô em xóm núi xay ngôi tối Xay hết, lò than đã rực hồng Tước buổi bình minh tươi đẹp, Người cảm thấy thi hứng dào dạt: “Hơi ấm bao la toàn vũ trụ Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
<span class='text_page_counter'>(43)</span> Thiên nhiên thật sự là một người bạn trong cuộc sống, luôn đem lại niềm vui cho con người: “Mặc dù bị trói chân tay Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng Vui say ai cấm ta đừng Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu” Với hoa, Bác cũng là tri kỉ: Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng, Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình; Hương hoa bay thấu vào trong ngục, Kể với tù nhân nỗi bất bình.. - Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Bác cao rộng, đẹp một cách hùng vĩ và thơ mộng. Thiên nhiên mang kích thước của tâm hồn lớn. Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu kia (Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn), cho thấy cái bao la thăm thẳm của vũ trụ. Mây phủ trùng trùng trên đỉnh núi Tây Phong Lĩnh kia không hùng vĩ lắm sao! Dưới chân núi là một dòng sông mềm mại sáng trong như tâm hồn thi nhân sau mười bốn tháng tù không vướng chút bụi bẩn: “Núi ấp ôm mây mây ấp núi Lòng sông gương sáng bụi không mờ” - Thiên nhiên đẹp trong thơ Bác còn tượng trưng cho mơ ước, niềm vui, tương lai tươi sáng, khát vọng tự do. Có hai hình ảnh của thiên nhiên thể hiện một cách đậm nét và kì lạ là vầng trăng và mặt trời. Vầng trăng thể hiện một cách đậm nét và kì lạ là vầng trăng và mặt trời. Vầng trăng tiêu biểu cho vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng của thiên nhiên, cũng là biểu tượng của tự do. Cho nên Bác tha thiết với trăng hơn bất cứ hình ảnh nào của thiên nhiên: "Chẳng được tự do mà hưởng nguyệt Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu”. (Trung thu) Hình ảnh mặt trời cũng giàu ý nghĩa. Mặt trời là nguồn sinh khí trong cảnh tù đày tăm tối: “Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc Chiếu cửa nhà lao cửa vẫn cài”.
<span class='text_page_counter'>(44)</span> Có thể thấy thiên nhiên là minh chứng cho tâm hồn thi sĩ của Bác. Nó mang rõ nét cảm hứng về đất nước và con người. 4. Toát lên chất thép của tinh thần bất khuất, làm chủ hoàn cảnh, vững tin vào tương lai. Đọc thơ HCM,Hoài Thanh viết: “Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu chất thép trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép,lên giọng thép mới có tinh thần thép”. Giải thích ý kiến trên.. ? Thế nào là “thép” ở trong thơ. Được thể hiện như thế nào trong Nhật kí trong tù. - Trong bài ‘Cảm tưởng đọc thiên gia thi”HCM viết: “Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong” Bản thân câu thơ của Người đã nói rõ, chất thép là chất chiến đấu, cách mạng, là tinh thần chiến sĩ. - Người quan niệm thơ ngày nay phải có tính cách mạng, thể hiện tinh thần người chiến sĩ cách mạng. Mở đầu tập thơ đã thấy được chất thép: “ Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần càng phải cao” Ngục trung nhật kí - Không phải cứ nói chuyện thép,lên giọng thép mới có tinh thần thép mà nó toát lên từ lí tưởng cách mạng, lí tưởng cộng sản, chất thép của nghị lực phi thường, tinh thần lạc quan ngời sáng, và toát lên từ chất thơ bay bổng trong chốn ngục tù. Nhà thơ Tố Hữu trong bản trường ca “Theo chân Bác” đã viết: “Lại thương nỗi đọa đày thân Bác. Mười bốn trăng tê tái gông cùm. Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc Mà thơ bay, cánh hạc ung dung”. + Đó là những bài chỉ như là những lời đùa hồn nhiên hay bày tỏ cảm xúc của mình trước khung cảnh thiên nhiên. Nhân vật trữ tình ở đây là một thi sĩ nhạy cảm với vẻ đẹp của đất trời,hoa cỏ: “Ngắm trăng” “Trong tù không rượu cũng không hoa.
<span class='text_page_counter'>(45)</span> Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Đúng là bài thơ không hề “nói chuyện thép” và “lên giọng thép”.Hình tượng duy nhất hiện lên trong bài thơ chỉ là hình tượng một thi sĩ hết sức nhạy cảm với vẻ đẹp của đêm trăng rằm . Nhưng như thế thì đâu là “chất thép” là tinh thần chiến sĩ ? Phải đặt bài thơ trong hoàn cảnh của nó mới thấy được. HCM sáng tác bài thơ này trong hoàn cảnh nhà tù đen tối của bọn Quốc dân đảngTrung Quốc.Người làm thơ thì bị mất tự do. Trong hoàn cảnh ấy mà vẫn có được cảm hứng thơ, vẫn giữ được tư thế ung dung thi sĩ như thế thì người làm thơ phải có một “tinh thần thép” khác thường để có thể vượt lên mọi gian khổ khủng khiếp của nhà tù. Chất thơ ấy trước hết phải là “chất thép” ,hình tượng thi sĩ ấy,bản chất phải là một chiến sĩ hết sức kiên cường,không ai khác chính là HCM . + Trong 14 tháng bị giam cầm, lính Quốc dân đảng đã áp giải Chủ tịch Hồ Chí Minh đi khắp mười ba huyện của tỉnh Quảng Tây. Làm sao nói hết những gian khổ trên những chặng đường áp giải vô tận ấy: “Năm mươi ba cây số một ngày-Áo mũ dầm mưa rách hết giày-Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ...”; “Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh-Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình”; “Đi đường mới biết gian lao-Núi cao rồi lại núi cao trập trùng”; “Gió sắc tựa gươm mài đá núi-Gió như dùi nhọn chích cành cây”... Thật là “Trăm cay nghìn đắng’’, một “ác mộng”... Thế nhưng, với suy nghĩ “Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng”, Hồ Chí Minh đã vượt qua tất cả. Gian khổ chỉ càng mài sắc ý chí, quyết tâm và nghị lực của Người, như hạt gạo qua bao đau đớn hiện lên “trắng tựa bông”. Đường chuyển lao tuy gian khổ, hoàn cảnh tuy ngặt nghèo, nhưng Hồ Chí Minh vẫn tràn trề thi hứng, dạt dào tình cảm lạc quan: Buổi sớm I Mỗi sớm, mặt trời vượt lên khỏi đầu tường, Chiếu tới cửa nhà lao, cửa chưa mở; Giờ đây trong lao còn đen tối, Nhưng ánh sáng đã bừng lên phía trước mặt. II Sớm dậy, mọi người đua nhau bắt rận, Chuông điểm tám giờ, bữa cơm sáng bắt đầu; Khuyên anh hãy cứ ăn no, Khổ đến tột cùng, vui ắt tới..
<span class='text_page_counter'>(46)</span> + Nhiều khi thể hiện tinh thần thép của mình, Bác còn tỏ ra có thái độ bỡn cợt với đau khổ. “Người lấy cái vui của cuộc đời đánh bạt mọi đau thương” (Chế Lan Viên).Ví dụ: Bị ghẻ lở khắp người, có nỗi khó chịu nào hơn, thế mà Người vẫn đùa: “Đầy mình đỏ tím như hóa gấm- Sột soạt luôn tay tựa gảy đàn- Mặc gấm, bạn tù đều khách quí-Gảy đàn trong ngục thảy tri âm”. + Thể hiện sự suy nghĩ đúng đắn, vững vàng, tự tin trong hoàn cảnh bóng tối của nhà giam, cái nơi rất dễ làm u ám lòng người. Nhóm này gồm những bài như Học đánh cờ, Tự khuyên mình, Nghe tiếng giã gạo… (NKTT). Tự miễn - Tự khuyên mình Ví không có cảnh đông tàn, Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân; Nghĩ mình trong bước gian truân, Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng + Sự lạc quan tin tưởng, biến thực tại thành thơ: Sơ đáo Thiên Bảo ngục - Mới đến nhà lao Thiên Bảo Năm mươi ba dặm, một ngày trời, Áo mũ ướt đầm, dép tả tơi; Lại khổ thâu đêm không chốn ngủ, Ngồi trên hố xí đợi ban mai. Cái cùm Dữ tợn hung thần miệng chực nhai, Đêm đêm há hốc nuốt chân người; Mọi người bị nuốt chân bên phải, Co duỗi còn chân bên trái thôi. Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật, Cùm chân sau trước cũng tranh nhau; Được cùm chân mới yên bề ngủ, Không được cùm chân biết ngủ đâu?. NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC (01 tiết - tiết 10) Nội dung: 1. Vài nét về tiểu sử, con người Hồ Chí Minh 2. Văn chính luận của Hồ Chí Minh 3. Thơ cảm hứng trữ tình của Hồ Chí Minh Định hướng:.
<span class='text_page_counter'>(47)</span> 1. Vài nét về tiểu sử, con người Hồ Chí Minh Lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở Kim Liêm huyện Nam Đàn, tình Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội. - Xuất thân: Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước anh dũng chống giặc ngoại xâm. - Thời gian, quá trình hoạt động cách mạng Ngày 2/9/1969, Người từ trần, hưởng thọ 79 tuổi. 2. Văn chính luận của Hồ Chí Minh - Nội dung: Lên án những chính sách tàn bạo của chế độ thực dân Pháp, kêu gọi người nô lệ bị áp bức đoàn kết đấu tranh. - Nghệ thuật: diễn đạt bằng những lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ, đanh thép, súc tích; giọng điệu đa dạng; giàu tính luận chiến. - Tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. 3. Thơ cảm hứng trữ tình của Hồ Chí Minh - Một thi sĩ dạt dào cảm xúc, rung động thiết tha với mọi vẻ đẹp của thế giới thiên nhiên - Tình yêu thiên nhiên đất nước. - Sự thống nhất tình yêu thiên nhiên với ý thức trách nhiệm với lịch sử - Cái tôi trữ tình trong thơ. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Phân tích sự hấp dẫn của truyện kí qua một tác phẩm cụ thể. 2. Trình bày quan điểm sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh (1 -3). 3. Đọc tập thơ NKTT của HCM, Hoài Thanh viết: “Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu chất thép trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép,lên giọng thép mới có tinh thần thép”. Giải thích ý kiến trên 2-2). 4. Phân tích bài thơ Chiều tối để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, sức mạnh tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh (3 - 2) 5. Chuẩn bị kiểm tra..
<span class='text_page_counter'>(48)</span> Tiết: 11. Ký duyệt. KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN (1) A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Nắm được một số đặc điểm văn học Việt Nam từ TK XX - 8/1945. Bên cạnh đó cho thấy đặc điểm văn học yêu nước và cách mạng từ đầu TK XX - 8/1945. 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, các nội dung liên quan tới văn thơ yêu nước và cách mạng qua một số tác giả tiêu biểu: Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động trong học tập. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. C. NỘI DUNG KIỂM TRA : thi viết 45 phút Đề bài: Đọc tập thơ NKTT của HCM, Hoài Thanh viết: “Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu chất thép trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép”. Anh/ chị hiểu câu nói trên như thế nào? Đáp án:. Nội dung 1. Giải thích chất thép trong thơ NKTT là gì?. Thang điểm 1.0. - Chất thép trong thơ là chất chiến đấu, cách mạng, là tinh thần chiến sĩ. - Trong NKTT, chất thép được thể hiện qua tinh thần chiến đấu, tinh thần người chiến sĩ cách mạng. 2. Khẳng định câu nói của Hoài Thanh: mang ý nghĩa đúng đắn. 1.0. khi nói về tập thơ NKTT 3. Những biểu hiện chứng minh - Thể hiện qua hình ảnh người tù cộng sản, qua hình ảnh chiến sĩ đấu tranh cách mạng. - Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép (trực tiếp) mới có tinh thần thép mà nó toát lên từ: Lí tưởng cách mạng, lí tưởng cộng sản, chất thép của nghị lực phi thường, tinh thần lạc quan ngời. 1.0.
<span class='text_page_counter'>(49)</span> sáng, và toát lên từ chất thơ bay bổng trong chốn ngục tù. + Trong hoàn cảnh Người bị mất tự do mà vẫn có được cảm hứng. 1.0. thơ, vẫn giữ được tư thế ung dung thi sĩ. + Gian khổ chỉ càng mài sắc ý chí, quyết tâm và nghị lực của. 1.0. Người thật phi thường + Nhiều khi Bác còn tỏ ra có thái độ bỡn cợt với đau khổ “ lấy cái. 1.0. vui của cuộc đời đánh bạt mọi đau thương” (Chế Lan Viên). + Vững vàng, tự tin trong hoàn cảnh bóng tối của nhà giam, cái nơi. 1.0. rất dễ làm u ám lòng người. + Sự lạc quan tin tưởng tương lai trước thực tại đen tối. 1.0. * Dẫn chứng sinh động D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP. 2.0. 1. Ôn tập lại kiến thức đã học 2. Chuẩn bị bài : Khái quát trào lưu văn học Lãng mạn (1932 - 1945). Tiết: 12 - 16. Ký duyệt Bài 5. KHÁI QUÁT TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN.
<span class='text_page_counter'>(50)</span> (1932 - 1945) A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Khái niệm chủ nghĩa Lãng mạn trong văn học, nguyên nhân hình thành, tiến trình phát triển và đặc điểm của các trào lưu văn học lãng mạn (1932 - 1945). 2. Có kĩ năng phân tích, khái quát kiến thức văn học lãng mạn 1932 - 1945 từ đó vận dụng vào việc hiểu và phân tích những tác phẩm được dạy trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động trong học tập. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942. 2. Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao Thơ mới 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. 4. Một số tác phẩm của các tác giả nhóm Tự lực văn đoàn C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN 1. Trào lưu văn học nghệ thuật lãng mạn Được phát triển trước nhất ở Anh. Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) phát xuất đầu tiên ở Anh và Đức vào cuối thế kỷ thứ 18 và sau đó lan sang Pháp và những nước khác. Trong văn chương Anh, chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện qua thi ca của William Blake (1), William Wordsworth (2), Samuel Taylor Coleridge (3), Lord Byron (4), Percy Bysshe Shelley (5). Coleridge cùng Wordsworth mở đầu trào lưu văn chương lãng mạn ở Anh và cũng là của thế giới bằng thi tập Lyrical Ballads xuất bản năm 1798. Thi phẩm này gồm đa số thơ của Wordsworth nhưng trong đó có bài thơ bất hủ The Rime of the Ancient Mariner của Coleridge là một thành tựu lớn nhất của nền văn chương Anh. 2. Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) a. Sự hình thành trào lưu văn học lãng mạn ở Việt Nam Năm 1932 đánh dấu sự thay đổi đột biến của nền văn học Việt Nam, thi văn chưa bao giờ có một thời kỳ phong phú như giai đoạn 1932-1945. Chỉ trong thời gian hơn một.
<span class='text_page_counter'>(51)</span> thập niên văn học Việt Nam nhảy vọt từ tình trạng ấu trĩ sang phát triển bằng đôi hia bảy dậm, không thua sút những nền văn học Tây phương. Trước đó tuy có một số nhỏ sáng tác mang tính lãng mạn nhưng còn tản mác, rời rạc chưa tạo được một phong trào. Từ 1931 đã có sự xuất hiện vài bài thơ lãng mạn của Lan Sơn, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ .Tác phẩm lãng mạn xuất bản trước 1932 có tập thơ Khối Tình Con của Tản Đà , Linh Phượng Ký của Đông Hồ và hai quyển gây được ảnh hưởng một thời gian là Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách và Giọt Lệ Thu của Tương Phố, nhưng phải chờ tới khi Nhất Linh du học ở Pháp về chủ trương tuần báo Phong Hóa, thành lập Tự Lực Văn Đoàn hô hào thay cũ đổi mới, và dấy lên phong trào thơ mới thì trào lưu văn chương lãng mạn mới thực sự có mặt trong dòng văn học Việt Nam. Cùng lúc với Phong Hóa, phải kể đến Phụ Nữ Tân Văn là tờ báo đã góp công vào việc giúp cho phong trào thơ mới nở rộ bằng những bài thơ lãng mạn của các nhà thơ không cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn. b. Khái niệm: Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học là một khuynh hướng thẩm mỹ được khơi nguồn từ sự khẳng định cái tôi cá nhân cá thể được giải phóng về mặt tình cảm, cảm xúc, phát huy mạnh mẽ trí tưởng tượng. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội. Vì thế đề tài dễ gây cảm hứng : tình yêu, thiên nhiên, tôn giáo.. II. CÁC TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN (1932 - 1945) * Sự phát triển của các trào lưu văn học lãng mạn: Ở Việt Nam chủ nghĩa lãng mạn với tư cách là một trào lưu văn học xuất hiện từ những năm 30 của thế kỉ XX. Tất nhiên để có một trào lưu văn học thì bao giờ cũng cần có một hay nhiều người khởi xướng với sự tham gia tích cực của văn giới, và được đón nhận đông đảo của độc giả. Từ 1932 đến 1935 đã nổ ra hàng loạt các cuộc tranh luận văn học sôi nổi được tham gia của nhiều tờ báo và các nhà văn, nhà thơ: tranh luận về thơ mới thơ cũ, tranh luận về bỏ cũ theo mới, tranh luận về hôn nhân và gia đình, tranh luận về nghệ thuật phục vụ cái gì. Các cuộc tranh luận này phản ảnh cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân, giữa khuôn sáo và tư tưởng gò bó với cảm xúc cá nhân được tự do bày tỏ. Hai tờ Phong Hóa và.
<span class='text_page_counter'>(52)</span> Ngày Nay do Nhất Linh và nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương là cơ quan ngôn luận cổ võ mạnh mẽ cho sự thay cũ đổi mới và là nơi qui tụ văn chương của các nhà văn, nhà thơ trong trào lưu văn học lãng mạn gồm có Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Huy Cận, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ. Sự thành công của trào lưu văn chương lãng mạn cũng phải kể đến các tờ Hà Nội Báo, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tao Đàn, Thanh Nghị với sự tham gia của các tác giả như Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử , Phạm Huy Thông, Bích Khê, Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Xuân Sanh, v.v. Sự toàn thắng của phong trào thơ mới cũng là tiếng trống khải hoàn cho trào lưu văn học lãng mạn, chấm dứt hoàn toàn lối thơ văn cũ từ thời Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong trở về trước.. 1. Tự lực văn đoàn 1.1. Nhóm tự lực văn đoàn và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn - Tự lực văn đoàn là tổ chức văn hóa xã hội, chủ trương đổi mới văn hóa xã hội theo kiểu Âu Tây, cổ vũ lối sống phù hợp với tâm lí thanh niên, trẻ trung. - Tự Lực văn đoàn được Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) khởi xướng và bắt đầu hình thành vào cuối năm 1932, chính thức tuyên bố thành lập vào ngày thứ Sáu, 2 tháng 3 năm 1934 (tuần báo Phong Hóa số 87). Đây là một tổ chức văn học đầu tiên của Việt Nam mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại, và là một tổ chức văn học đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc Việt do tư nhân chủ xướng, không dính líu đến vua quan, thân hào như các thi xã kiểu cũ (như Tao đàn Nhị thập bát Tú, Tao đàn Chiêu Anh Các, Mặc Vân thi xã), và cũng không phát ngôn cho tiếng nói của quyền lực (như các nhóm Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí,...). Đứng về mặt xã hội, các thành viên trong văn đoàn ấy đều là dân thường, nhưng họ lại tập hợp nhau lại vì một lý tưởng muốn cống hiến cho văn học, thông qua văn học mà đóng góp cho xã hội, và cùng chung sức nhau xã hội hóa hoạt động sáng tác của họ, trong sự vận hành của cơ chế thị trường văn học nghệ thuật đang dấy lên từ Nam ra Bắc thuở bấy giờ. Trong khoảng 10 năm (1932 - 1942) tồn tại, văn đoàn ấy với những sáng tác văn học, hoạt động báo chí, xuất bản sách, trao giải thưởng, v.v...đã tạo nhiều ảnh hưởng đến văn học và xã hội Việt Nam ở thời kỳ đó. * Dẫn thêm: Trong khoảng thời gian sống tại Pháp, ngoài việc học khoa học, Nguyễn Tường Tam còn chuyên tâm nghiên cứu về nghề báo, và ông nhận thấy loại báo.
<span class='text_page_counter'>(53)</span> trào phúng là khá thích hợp với sở thích của nhiều người. Năm 1930, ông đỗ bằng Cử nhân khoa học, và trở về nước trong bối cảnh "cả xứ Đông Dương như sống trong đêm dài trung cổ. Mọi hình thức đấu tranh vũ trang hầu như bị thực dân Pháp triệt tiêu" Về ở Hà Nội, để thực hiện ước vọng của mình, Nguyễn Tường Tam nộp đơn xin Sở Báo chí cho phép ra báo Tiếng cười, và chuẩn bị bài vở cho số báo đầu tiên. Tuy nhiên, lần nào hỏi thăm đều nghe người của sở ấy bảo rằng “chờ xét”. Trong thời gian đợi giấy phép ra báo, Nguyễn Tường Tam xin dạy học tại trường tư thục Thăng Long. Tại đây, ông quen biết với hai đồng nghiệp là Trần Khánh Giư (Khái Hưng) và Phạm Hữu Ninh Khi biết ông Ninh cùng Nguyễn Xuân Mai đang làm chủ tờ tuần báo Phong Hóa, đã ra 13 số báo, nhưng sắp sửa phải đình bản vì không có gì mới mẻ để bạn đọc chú ý. Chớp thời cơ, Nguyễn Tường Tam ngỏ ý mua lại. Sau đó, ông Tam, với vai trò Giám đốc (Directeur) tờ báo, liền cùng với một nhóm anh em bạn hữu gồm có: Khái Hưng (Trần Khánh Giư, vốn là cây bút cốn cán giữ nhiêu mục quan trọng trên báo Phong Hóa suốt từ số 1 cho đến số 14), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), tạo thành một ban biên tập hoàn toàn mới” Bắt đầu ngày 22 tháng 09 năm 1932, báo Phong Hóa số 14 ra 8 trang khổ lớn, và được đánh giá là "một quả bom nổ giữa làng báo". Sau khi tờ báo "bán chạy như tôm tươi ngay từ những số đầu", Nguyễn Tường Tam cùng với các cộng sự quyết định thành lập một bút nhóm lấy tên là Tự Lực văn đoàn. Một thành viên của bút nhóm là Tú Mỡ kể lại (lược trích): ...Tất cả những gì dự định cho báo "Tiếng cười", anh Tam dồn cả cho báo "Phong Hóa mới"...Báo làm ăn phát đạt, và mặc dù anh em làm việc quên mình, không vụ lợi, nhưng anh Tam vẫn phải chạy tiền khá chật vật để mỗi tuần kịp trả đủ cho nhà in và tiền mua giấy...Cuối năm đó (1932), tính sổ mới ngã ngữa ra: lời lãi chia theo số vốn, phần lớn chui vào két của nhà tư sản...Anh Tam bèn họp bàn với anh em, và đồng ý với nhau rằng: Không thể chơi với nhà tư sản được. Quyết định thành lập “Tự lực văn đoàn” trên nguyên tắc làm ăn dựa vào sức mình, theo tinh thần anh em một nhà; tổ chức không quá 10 người nên không phải xin phép Nhà nước; không cần có văn bản điều lệ: lấy lòng tin nhau làm cốt, chỉ nêu ra trong nội bộ mục đích tôn chỉ, anh em tự giác tuân theo... Về sau, khi điều kiện đã tốt hơn để mở rộng tầm hoạt động, bút nhóm ấy mới chính thức tuyên bố thành lập, với một tôn chỉ gồm 10 điều trên tuần báo Phong Hóa số 87 ra ngày thứ Sáu, 2 tháng 3 năm 1934 ..
<span class='text_page_counter'>(54)</span> Theo GS. Nguyễn Văn Xuân, mặc dù Tự Lực văn đoàn "ra đời trong thời kỳ khó khăn mọi mặt: nghèo tiền, không thế lực, tinh thần quốc gia dao động, thực dân Pháp chèn ép đủ mặt; vậy mà các thành viên vẫn hợp tác được để dẫn dắt nhau ngang nhiên tiến bộ".... 1.2. Tuyên ngôn và tôn chỉ Trong tuần báo Phong Hóa số 87 ra ngày 2 tháng 3 năm 1934, có in lời tuyên ngôn và tôn chỉ (10 điều) của Tự Lực văn đoàn như sau: Tuyên ngôn Tự lực văn đoàn họp những người đồng chí trong văn giới; người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sứ giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương.Người trong Văn đoàn có quyền để dưới tên mình chữ Tự Lực văn đoàn và bao nhiêu tác phẩm của mình đều được Văn đoàn nhận và đặt dấu hiệu.Những sách của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn bản thảo, gửi đến Văn đoàn xét, nếu hai phần ba người trong Văn đoàn có mặt ở Hội đồng xét là có giá trị và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của Đoàn và sẽ tùy sứ cổ động giúp. Tự Lực văn đoàn không phải là một hội buôn xuất bản sách.Sau này nếu có thể được, Văn đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là giải thưởng Tự Lực văn đoàn để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn chỉ của Đoàn. Tôn chỉ 1. Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước. 2. Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội. Chú ý làm cho người và xã hội ngày một hay hơn. 3. Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân. 4. Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam. 5. Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. 6. Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả qúi phái..
<span class='text_page_counter'>(55)</span> 7. Trọng tự do cá nhân 8. Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa. 9. Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam. 10. Theo một trong 9 điều này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác. Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, qua 10 điều ấy, có thể thấy văn đoàn đã đề ra 4 chủ trương lớn, đó là: Về văn học: Nhắm tới 3 mục tiêu lớn: -1. Dấy lên một phong trào sáng tác làm cho văn học Việt Nam vốn đang nghèo nàn có cơ hưng thịnh. -2. Xây dựng một nền văn chương tiếng Việt đại chúng. -3. Tiếp thu phương pháp sáng tác của châu Âu hiện đại để hiện đại hóa văn học dân tộc.Về xã hội: Đề cao chủ nghĩa bình dân và bồi đắp lòng yêu nước trên cơ sở lấy tầng lớp bình dân làm nền tảng. Về tư tưởng:Vạch trần tính chất lỗi thời của những tàn dư Nho giáo đang ngự trị trong xã hội Về con người: Lấy việc giải phóng cá nhân làm tâm điểm của mọi sáng tác. 1.3 Khuynh hướng tư tưởng và mô hình của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn a. Khuynh hướng tư tưởng: - Đấu tranh cho chủ nghĩa cá nhân, khẳng định và giương cao lá cờ của chủ nghĩa cá nhân tư sản (ở đây chưa bị đẩy tới mức cực đoan) + Chặng đầu, tiểu thuyết TLVĐ phản ánh mâu thuẫn xung đột giữa cái mới và cái cũ là xung đột cá nhân, chủ nghĩa cá nhân và đại gia đình phong kiến; những tập tục phong kiến hủ lậu trói buộc quyền sống và hạnh phúc cá nhân con người. TLVĐ đứng về phía cá nhân, đoạn tuyệt chống lại chế độ đại gia đình phong kiến gia trưởng, những hủ tục lạc hậu nhất là luân lí phong kiến với người phụ nữ. + Giương cao lá cờ giải phóng cá nhân, đấu tranh cho quyền lợi chân chính đặc biệt là của người phụ nữ. + Khẳng định hành động tích cực chống lại những cái cũ. - Khẳng định lí tưởng xã hội mang tinh thần dân chủ nhân đạo trong cuộc cải cách xã hội, cải tạo nông thôn..
<span class='text_page_counter'>(56)</span> - Có tinh thần dân tộc và màu sắc vị nhân sinh. b. Mô hình tiểu thuyết - Về đề tài: chủ yếu viết về tình yêu. Trong 19 cuốn tiểu thuyết TLVĐ chỉ có Thừa tự của Khái Hưng không đề cập đến. - Nhân vật: kiểu nhân vật thanh niên tân, tên gọi chàng và nàng. - Nghệ thuật viết theo lối hiện đại. Mười năm tồn tại của Tự lực văn đoàn đã để lại những dấu ấn đậm nét trên tiến trình hiện đại hóa văn chương - học thuật Việt Nam thế kỷ XX 2. Phong trào Thơ mới 2.1 Tản Đà - người cất khúc dạo đầu cho bản nhạc tân kì đang sắp sửa. Thơ là cái làm nên tên tuổi Tản Đà. Vì thế trong bài dạy tập trung sự chú ý vào Thơ Tản Đà. Tản Đà (1889 - 1939) tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà báo “có một không hai”.Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác: “Vùng đất Sơn Tây nảy một ông Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hung Sông Đà núi Tản ai hun đúc? Bút thánh câu thần sớm vãi vung!... (Tự trào) Tản Đà sinh ra trong gia đình có truyền thống khoa bảng. Cha Tản Đà là Nguyễn Danh Kế, thi đỗ cử nhân, làm quan cho triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh. Ông Kế là người phong lưu tài tử, thường lui tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố. Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nghiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng Thao, Nam Định, bà lấy lẽ ông Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường. Bà là người hát hay, có tài làm thơ Nôm. Tản Đà là con trai út của mối lương duyên tài tử và giai nhân này. Năm Tản Đà lên 3 tuổi, bố mất, cuộc sống gia đình trở nên nghèo túng. Năm sau, vì bất hòa với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng. Tám năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn. Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ. Năm 14 tuổi, Tản Đà đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Năm 15 tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây. Nhưng ba lần đi thi đều trượt: năm 1908, thi vào trường Hậu Bổ.
<span class='text_page_counter'>(57)</span> (trường dành cho con em quan lại để ra làm quan), năm 1909 và 1912 thi Hương. Tản Đà đã giải thích cái sự trượt hoài của mình : Bởi ông hay quá, ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông”. (Tự trào) Chính vì thế, người ta còn gọi Tản Đà là Nhà Thơ Ngông! Năm 1913, người anh cả đã nuôi Tản Đà từ ba tuổi là Nguyễn Tài Tích mất, Tản Đà về Vĩnh Phú làm nghề báo, tờ báo ông cộng tác đầu tiên là Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh (1), phụ trách mục "Một lối văn nôm". Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con gái một tri huyện ở Hà Đông. Cũng năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên Đông dương tạp chí, nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép núi Tản, sông Đà,và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp suốt đời bay nhảy: Nước rợn sông Đà con cá nhảy / Mây trùm non Tản cánh diều bay!. ? Tại sao nói Tản Đà - người cất khúc dạo đầu cho một bản nhạc tân kì đang sắp sửa - Với cốt cách cá nhân độc đáo, quan niệm mới vè nhân sinh và về văn chương Tản Đà đã thổi luồng gió mới lạ và trở thành người cất khúc dạo đầu cho một bản nhạc tân kì đang sắp sửa - là mở đầu cho thời đại Thơ mới. - Biểu hiện ở những điểm sau: + Giữa lúc trên thi đàn có sự xáo trộn chưa phân định rõ các khuynh hướng thơ thì Tản Đà đem đến cái tôi trữ tình cá nhân có sự thách thức với con người chức năng của xã hội luân thường, đưa đến cái tôi Ngông. Sinh trưởng trong gia đình khoa bảng nhưng do tác động thời đại, hoàn cảnh xã hội mưa Âu gió Mĩ và tính cách riêng: tự phụ, tự đắc về cái tài và sự đa tình của mình, ông cho rằng con người lấy mình lam chủ thì mới có định, phải tự quyết định chứ không nghe thèo lời người khác để thành ra ngang dọc quay ngay, như cờ xem gió, như phao thử câu... Trong cái Ngông của ông thì có lòng tự hào về sự giỏi chữ, tự phụ cái nghèo thanh sạch... Người ta hơn tớ cái phong lưu Tớ hơn người ta cái sự nghèo + Tản Đà là lớp người đầu tiên mạnh dạn đưa những tình cảm riêng tư của con người cá nhân vào trong văn học một cách thành thực, tự nhiên và công khai. Đó là: thú ăn chơi, hưởng thụ, lối sống vội vàng, buồn vui, lo âu....
<span class='text_page_counter'>(58)</span> + Làm xuất hiện cái tôi cô đơn, vơ vẩn buồn man mác (Điều mà trong văn học trung đại chưa biểu hiện rõ): Con đường vô hạn khách đông tây Ta nhớ ai mà mãi đứng đây + Ông có đóng góp quan trọng vào quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc mấy chục năm đầu TK XX: Sáng tác thể loại mới trong bối cảnh đương thời : tản văn, văn xuôi du kí...; Thơ không bị gò bó bởi số câu chứ; Thể thơ bảy chữ từng khổ nối thành một bài; Nâng cao khả năng diễn đạt, tính biểu cảm của ca dao... * Chú ý: Tản Đà là khúc dạo đầu chứ không phải thành viên của dàn đồng ca Thơ mới bởi không đi đến tận cùng cái mới. 2.2. Quá trình phát triển PTTM 1932 - 1945 Thơ mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của Phong trào thơ mới. Tản Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh - Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi lớn của Phong trào thơ mới. Và đến ngày 10-3-1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh của Phong trào thơ mới chính thức bắt đầu. Có thể phân chia các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới thành 3giai đọan: a. Chặng đường 1932 - 1935 Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”. Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ …Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới. Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập Mấy vần thơ (1935). Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên … b. Chặng đường 1936 - 1939.
<span class='text_page_counter'>(59)</span> Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu (tập Thơ thơ -1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê -1936, Đau thương -1937), Chế Lan Viên (Điêu tàn - 1937), Bích Khuê (Tinh huyết - 1939), … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn” (Hoài Thanh). Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này. Sự khẳng định của cái Tôi một cách mạnh mẽ đã khiến giai đoạn này diễn ra phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau. Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng. c. Chặng đường 1940 - 1945 Từ năm 1940 trở đi phong trào xuất hiện nhiều khuynh hướng sáng tác khác nhau, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …; nhóm Trường thơ Loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,…Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới. Bên cạnh đó, một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát. 2.3 Những đóng góp cơ bản của PTTM * Thơ mới thực hiện cuộc cách mạng lớn trong quan nịêm về đối tượng, chức năng của thơ ca - Đối tượng Thơ mới là thế giới xung quanh với vẻ đẹp muôn hình muôn thể, là cõi tinh thần của con người. - Chức năng Thơ mới: miêu tả cuộc sống, thể hiện khát vọng của cá nhân * Tinh thần dân tộc sâu sắc - Ở thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng từ 1925 - 1931 (mà chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái). Nhà thơ Thế Lữ luôn mơ ước được “tung hoành hống.
<span class='text_page_counter'>(60)</span> hách những ngày xưa” (Nhớ rừng); Huy Thông thì khát khao: “Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng/Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”. - Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu mến những giá trị truyền thống, những điều giản dị xung quanh cuộc sống, yêu mến tiếng Việt. Nghe tiếng ru của mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hồn thiêng đất nước” trong từng câu ca:. “Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”. Có thể nói, các nhà thơ mới đã có nhiều đóng góp, làm cho tiếng Việt không ngày càng trong sáng và giàu có hơn. - Niềm hoài vọng xa xôi quá khứ vàng son, oanh liệt như cách phản ứng lại xã hội đương thời (Nhớ rừng - Thế Lữ) * Những cảm xúc thiết tha trong sáng về quê hương và thiên nhiên - Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ với những hình ảnh đẹp, sống động, có hồn, có tính. Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa Hương); hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận (Đẹp xưa); hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh (Quê hương) v.v… Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao: Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, … Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước.. - Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Và ở mỗi nhà thơ nó được nhìn với đôi mắt khác nhau: Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống trong cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”. Và đây là hình ảnh buổi trưa hè: “Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ” (Huy Cận)..
<span class='text_page_counter'>(61)</span> Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như: “Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng Những khóm tre cao rủ trước thành” tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. * Một số đặc sắc về nghệ thuật Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc:. - Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông Đồ (Vũ Đình Liên), Em đi chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp)… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, T.T.KH chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát v.v…. - Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định: “Tiếng địch thổi đâu đây Cớ sao nghe réo rắt Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt Mây bay… gió quyến, mây bay Tiếng vi cút như khoan như dìu dặt Như hắt hiu cùng hơi gió heo may” (Thế Lữ).. - Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những câu thơ toàn thanh bằng: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” (Xuân Diệu) hay:. “Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông” (Bích Khê) Ngoài ra Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt:.
<span class='text_page_counter'>(62)</span> “Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” (Xuân Diệu). - Về ngôn ngữ Thơ mới thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc: “Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều” (Xuân Diệu) Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử: “Trong làn nắng ửng, khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên dàn thiên lý. Bóng xuân sang”.. NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU (02 tiết - tiết 14,15) Nội dung: 1. Những tiền đề xã hội và văn hóa làm xuất hiện trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 2. Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và các chặng đường vận động biến đổi của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Định hướng: 1. Những tiền đề xã hội, văn hóa làm xuất hiện trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam Sau ngày17/06/1930, Nguyễn Thái Học và 12 yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, Pháp đẩy mạnh việc đàn áp, khủng bố, bắt bớ, tù đày các nhà ái quốc nhằm dập tắt các cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước để củng cố nền đô hộ. Cuộc khủng bố qui mô toàn quốc những năm 1930 đã gây một không khí hoang mang, lo sợ trong tầng lớp thanh niên và trí thức. Chỉ trong hai năm 1930 và 1931 riêng ở Bắc Kỳ, chính phủ bảo hộ Pháp đã mở 21 phiên tòa đặc biệt gọi là Hội Đồng Đề Hình xét xử tất cả 1094 vụ án chính trị, trong đó có 164 bản án tử hình, 114 khổ sai chung thân, 420 lưu đày biệt xứ. Đây là thời kỳ thoái trào của các hoạt động cách mạng chống Pháp dành độc lập cho đất nước..
<span class='text_page_counter'>(63)</span> Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 từ Pháp tràn về Đông Dương thuộc địa như một thiên tai khiến cuộc sống xã hội trở nên khó khăn. Hàng hoá rẻ mạt nhưng lại không kiếm ra tiền, các xí nghiệp kinh doanh thi nhau phá sản, sa thải nhân công. Ngân quĩ nhà nước bảo hộ thất thâu không đủ khả năng tuyển dụng thêm công chức, nạn trí thức thất nghiệp là mối lo âu chung của những người được Pháp đào tạo. Trộm cướp, thuốc phiện, bài bạc, đĩ điếm trở thành những vấn đề nan giải. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới càng tăng thêm bi quan cho bàu không khí u ám, buồn thảm vốn đang căng thẳng, ngột ngạt. Trong khung cảnh đó những người trí thức ấp ủ tinh thần dân tộc mang tâm trạng tiêu cực muốn thoát ly khỏi những vấn đề bức xúc của cuộc tranh đấu dành độc lập. Thái độ này được củng cố trên cơ sở mối bất hòa tuyệt vọng giữa họ và hoàn cảnh xã hộiù đương thời. Sự ra đời của trào lưu văn chương lãng mạn giải quyết được bế tắc, đáp ứng được nhu cầu cho giới trí thức trong bối cảnh xã hội bi quan đó. Con đường làm văn học nghệ thuật bằng chủ nghĩa lãng mạn là lốt thoát trong sạch, nơi trú ẩn tinh thần tương đối an toàn có thể gửi gấm tâm sự, và cũng là phương cách bày tỏ lòng yêu nước. 2. Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và các chặng đường vận động biến đổi của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 2.1. Tiểu thuyết Tố Tâm - Hoàng Ngọc Phách Tố Tâm là tiểu thuyết duy nhất của Hoàng Ngọc Phách được viết xong năm 1922, in lần đầu năm 1925 tại nhà xuất bản Châu Phương, Hà Nội. Tố Tâm xuất hiện “lập tức gây xôn xao, sôi nổi dư luận một thời” , “từ Nam đến Bắc không mấy ai là không biết đến” . Với sự ra đời của mình, “Tố Tâm đã làm dậy lên một phong trào đi tìm tự do cá nhân cho thanh niên nam nữ” Tố Tâm viết về chuyện tình trong sáng, say đắm nhưng cũng không kém phần bi thảm của Tố Tâm và Đạm Thủy. Đạm Thủy là sinh viên cao đẳng Sư phạm có tài văn thơ. Tố Tâm là cô con gái lớn xinh đẹp, nết na của bà Án, khi còn bé học chữ Nho, sau học trường Pháp – Việt, đỗ sơ học, rất yêu văn chương, đã thầm yêu Đạm Thủy khi đọc văn thơ của chàng đăng trên báo. Do tình cờ hội ngộ nên tình yêu giữa hai người nảy nở và ngày càng trở nên sâu nặng hơn. Song đó là một mối tình vô vọng bởi gia đình Đạm Thủy đã hỏi vợ cho chàng và chàng không muốn trái ý cha mẹ; còn Tố Tâm, mặc dù yêu tha thiết Đạm Thủy nhưng cũng không muốn làm cho người vợ chưa cưới của chàng đau khổ. Bà Án biết Tố Tâm và Đạm Thủy yêu nhau, chỉ “có ý giữ gìn” chứ không phản đối. Đến khi cậu tú B. dạm hỏi Tố Tâm, bà ưng gả nhưng Tố Tâm không thuận. Tố Tâm và Đạm Thủy thường xuyên trao đổi những bức thư tình. Nhưng thư từ cũng không thể làm nguôi nỗi nhớ thương, họ thực sự có nhu cầu gặp nhau, cùng nhau trò chuyện. Hễ có điều kiện là.
<span class='text_page_counter'>(64)</span> hai người đi chơi vùng ngoại ô, có khi còn đi biển Đồ Sơn. Đó là những tháng ngày say đắm và đẹp đẽ nhất của Tố Tâm và Đạm Thủy. Trước tình yêu trong sáng của Tố Tâm, đã có lúc Đạm Thủy muốn vứt bỏ sự nghiệp cùng nàng trốn đến một nơi nào đó để cùng hưởng hạnh phúc nhưng vì nghĩ đến gia thân nên lại thôi. Khi bà Án ốm nặng, bà muốn Tố Tâm nhận lời lấy cậu tú B. để yên bề gia thất. Thương mẹ nên Tố Tâm chiều theo ý bà mà ưng thuận. Lấy chồng xong, Tố Tâm nhuốm bệnh, 36 ngày sau thì qua đời. Tố Tâm được xem là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của nền văn học Việt Nam viết theo lối kết cấu tâm lý, kết tinh thành tựu của một giai đoạn có tính chất giao thời của hai giai đoạn văn học. Tình yêu nam nữ trong tác phẩm đã bắt đầu thoát ra khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, hướng tới một chân trời mới lạ. Với Tố Tâm, Hoàng Ngọc Phách đã có những đổi mới trong quan niệm về hiện thực phản ánh. Nếu các nhà văn khác cùng thời với ông có xu thế hướng ngoại, khai thác những vấn đề xã hội, hướng đến quan hệ giữa con người với con người để tố cáo xã hội thì Hoàng Ngọc Phách lại hướng vào nội tâm, vào thế giới bên trong, đi vào chiều sâu của tâm giới. Trong tác phẩm, mọi trạng thái tâm lý đều có cơ sở, có quá trình hình thành rất logic và hợp lý: để gặp và yêu ngay Tố Tâm, tiềm thức của Đạm Thủy đã lưu giữ gương mặt ấy ngay từ lúc ở nhà quan huyện; Tố Tâm đáp lại ngay chân tình của Đạm Thủy bởi nàng, vì yêu thơ, đã yêu cả chàng thi sĩ tài hoa – chủ nhân của những vần thơ bay bổng... Về phương diện ngôn ngữ và nghệ thuật kể chuyện, Tố Tâm đã những bước tiến nhất định. Nhìn chung, ngôn ngữ trong Tố Tâm là một thứ ngôn ngữ chải chuốt, giàu cảm xúc, đầy chất trữ tình, chất thơ... Nó mang đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết lãng mạn. Trong bối cảnh quốc văn còn đang phôi thai, trình độ tiểu thuyết còn thấp kém, một kỹ thuật diễn đạt như thế hoàn toàn xứng đáng được ghi nhận công lao gọt giũa, làm giàu chữ quốc ngữ. Xung đột chủ yếu là xung đột tình cảm và lý trí giữa Tố Tâm và Đạm Thủy. Có thể nói, Tố Tâm và Đạm Thủy chưa thực sự là nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn. Tình yêu của họ chỉ mới là một thứ tình yêu nửa vời tuy có đắm say nhưng vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của lễ nghĩa. Tố Tâm là cuốn tiểu thuyết tâm lý đặc sắc có vai trò mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại song nó lại không phải là một viên ngọc toàn bích do những hạn chế về thời đại và thế giới quan của tác giả - một nhà văn xthân Nho học vốn đã quen với nếp cũ. Về nội dung, tác phẩm chưa xây dựng được điển hình cho một tầng lớp, một giai cấp. Bản thân Đạm Thủy chỉ là một cá nhân cô đơn. Bi kịch của chàng thật cá biệt so với nhân vật ký giả và bạn bè cùng hoàn cảnh xuất thân như anh..
<span class='text_page_counter'>(65)</span> Về nghệ thuật, một số sự kiện trong truyện còn dài dòng, dàn trải, nhất là các đoạn đối thoại, những phần trích dẫn thư từ, hay những câu thơ xướng họa,... Lời văn nghệ thuật của tác phẩm, bởi tập trung miêu tả tầng lớp thượng lưu, lại được tác giả gọt giũa quá bóng bẩy nên khó hấp thu được lời ăn tiếng nói sống động của quần chúng nhân dân. Mặt khác, tác phẩm kể chuyện tình yêu thời hiện đại, nhưng nhà văn lại để đôi trai gái tân thời gởi cho nhau những câu đối, dòng thơ luật Đường khuôn sáo, hình ảnh mòn cũ: “liễu ủ hoa sầu, năm canh giọt lệ, sương sa gió thổi, tuyết phủ mây mờ,...”. Điều đó khiến người đọc không khỏi liên tưởng về cuộc tình của những văn nhân tài tử thời phong kiến ngày xưa. Ngoài ra, đôi chỗ, nhà văn, vì quá nôn nóng muốn dùng văn chương “gây nên một nền luân lý”, do đó, đã biến nhân vật Tố Tâm thành cái loa phát ngôn, thuyết lý cho đạo đức: “Em là phận gái, cái chức phẩm với đời, có cũng hay mà không cũng được, chả ai nghị luận gì, ai trách chi nữ nhi nan hóa, nhưng anh là bậc nam nhi hai vai nghĩa vụ, anh đừng làm như em mà giữ lấy một mối tình vô hy vọng. Anh là người có văn chương, có tư tưởng, anh nên nhớ rằng cái thân anh không phải của một mình anh, phải làm việc cho nhà, cho nước, cho xã hội...” Ngoài ra, Tố Tâm còn thể hiện thái độ nửa vời của Hoàng Ngọc Phách.Một mặt, nhà văn ca ngợi, ủng hộ tình yêu tự do của thanh niên nam nữ nhưng mặt khác lại để nhân vật của mình bị ràng buộc bởi gia đình, bởi trách nhiệm, bởi thứ đạo đức còn mang nhiều dấu tích của lễ giáo phong kiến hủ lậu.. 2.1. Quá trình vận động và phát triển * Giai đoạn 1932 - 1936 Mặc dù Tự Lực văn đoàn chính thức tuyên bố thành lập vào tháng 3 năm 1934, song nó đã hình thành từ cuối năm 1932. Với cơ quan ngôn luận là báo Phong Hóa, họ làm một cuộc cải cách xã hội bằng tiếng cười trào phúng. Bên cạnh đó, các khuynh hướng sáng tác (như khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng hiện thực,...) đều đã có mặt. Theo GS. Dương Quảng Hàm, tác phẩm tiêu biểu nhất của khuynh hướng này là cuốn Đoạn tuyệt (1934) và Lạnh lùng (1936).
<span class='text_page_counter'>(66)</span> Làm báo Phong Hóa được khoảng 2 năm, Nguyễn Tường Tam bèn xin phép ra thêm tờ tuần báo Ngày Nay (số đầu tiên ra ngày 30 tháng 1 năm 1935) nhưng để Nguyễn Tường Cẩm (là một công chức, anh của ông Tam) đứng tên. Ban đầu, báo không có mục trào phúng, nhưng có mục "phóng sự điều tra với nhiều hình ảnh có tính cách mỹ thuật". Đây là sự mới lạ đối với độc giả lúc bấy giờ, nên rất được hoan nghênh. Nhưng vì ấn loát tốn kém quá, lại phải chia sức ra, nên báo Ngày Nay chỉ ra được 13 số thì phải đình bản. Sau khi báo Phong Hóa bị đóng cửa (số cuối 190 ra ngày 5 tháng 6 năm 1936), báo Ngày Nay lại ra thay. Tục bản, báo chỉ có hai phần chính là “tiểu thuyết” và “trông tìm”, không có phần “trào phúng”, vì nó là nguyên nhân khiến tờ Phong Hóa bị rút giấy phép. Tuy nhiên, đến cuối năm ấy (1936), vì thời cuộc thay đổi (nổ ra phong trào lập kiến nghị để chờ đón Ủy ban điều tra của Chính phủ bình dân Pháp phái sang), khiến Tự Lực văn đoàn lại cho mở mục trào phúng nhưng giảm bớt so với trước, gọi là “cười nửa miệng” * Giai đoạn 1937 - 1942 Bước sang những năm 1937- 1939, tờ Ngày Nay lại trở thành một cơ quan chính trị hẳn hoi, với những bài xã luận đanh thép của Hoàng Đạo, đề cập đến những vấn đề cấp thiết của thời đại. Ngoài ra, đây cũng là nơi Tự Lực văn đoàn cổ động cho phong trào Ánh Sáng (mục đích cải tạo nếp sống ở nông thôn) của họ...Văn đoàn ở giai đoạn này, cũng đã mở rộng cửa ra hơn, để đón nhận thêm nhiều văn nghệ sĩ có tài khác như: Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Huy Cận, v.v.... Sau số 224 (ra ngày 07 tháng 09 năm 1940), báo Ngày Nay bị nhà cầm quyền đóng cửa (chưa biết lý do) Hầu hết những khuynh hướng văn học đã có đều được văn đoàn tiếp tục ở giai đoạn này, tuy nhiên tiếng cười hài hước không còn tràn lan như trước. Không những thế, văn đoàn còn chuyển sang hoạt động xã hội. Sau nhiều năm tháng chuẩn bị, ngày 16 tháng 8 năm 1937, Hội Ánh sángủa Tự Lực văn đoàn ra đời. Đây là một hình thức tổ chức “cải cách xã hội một cách êm thấm trong phạm vi luật pháp” (lời Hoàng Đạo), nhằm tập họp đông đảo những người có từ tâm trong nước, cùng nhau góp một phần công của để triệt phá dần những nhà ổ chuột, xây dựng những ngôi nhà kiểu mới hợp vệ sinh giá rẻ cho dân nghèo, đồng thời tiến hành các hoạt động cứu tế xã hội, v.v... Từ khoảng năm 1937, không khí của Chiến tranh thế giới thứ hai tác động mạnh đến đời sống xã hội Việt Nam. Năm 1940, khi Nhật vào Đông Dương, Nguyễn Tường Tam và một số thành viên trong nhóm chuyển sang hoạt động chính trị... Cuối năm 1940, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí...bị thực dân Pháp bắt giam rồi đầy lên Sơn La... Năm 1942, Nguyễn Tường Tam trốn sang Trung Quốc, Thạch Lam mất vì bệnh lao phổi tại Hà Nội, v.v...Theo một số nhà nghiên cứu văn học sử thì Tự.
<span class='text_page_counter'>(67)</span> Lực văn đoàn đã cơ bản tan rã từ khi ấy (tự giải tán vì "sẩy đàn tan nghé", nhưng không tuyên bố).. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Khuynh hướng tư tưởng và mô hình tiểu thuyết TLVĐ 2. Nêu những đóng góp cơ bản của PTTM cho thi đàn văn học Việt Nam từ đầu TK XX - 1945 (3-3) 3. Tại sao nói Tản Đà là người cất khúc dạo đầu cho một bản nhạc tân kì đang sắp. sửa (2 - 3) 4. Chuẩn bị bài “ Xuân Diệu” \. Tiết: 17 - 20. Ký duyệt Bài 6 XUÂN DIỆU. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Sự nghiệp văn học phong phú của Xuân Diệu, vị trí của thi sĩ trong phong trào Thơ mới. 2. Phân tích những đặc điểm nổi bật của thơ Xuân Diệu trên cả ha mặt: nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật. Nhất là những bài trong chương trình THCS.
<span class='text_page_counter'>(68)</span> 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động trong học tập. B. TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Tuyển tập thơ Xuân Diệu. 2. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942. 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ, CON NGƯỜI 1. Tiểu sử: Ông tên thật là Ngô Xuân Diệu (2/2/1916), bút danh là Trảo Nha, quê nội làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha là ông Ngô Xuân Thọ từng đỗ tú tài Hán học. Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn. Sau khi chuyển học từ Hà Nội vào Huế, ông gặp Huy Cận. Xuân Diệu là người cùng quê Hà Tĩnh với Huy Cận (làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) nên khi gặp nhau, hai ông đã trở thành đôi bạn thân. Vợ của Huy Cận, bà Ngô Thị Xuân Như là em gái của Xuân Diệu. Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với nhau nhiều năm. Tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, từng là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938–1940). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian. Khi Huy Cận tốt nghiệp kĩ sư Canh nông ông cũng xin thôi chuyển về Hà Nội sống cùng . Con nuôi của ông là Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ - con trai nhà thơ Huy Cận, và cũng là cháu ruột của ông (cậu ruột). Cù Huy Hà Vũ đã bị bắt vào năm 2010, và bị kết án 7 năm tù giam, 3 năm quản chế vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCNVN Xuân Diệu đã lập gia đình riêng một lần với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và họ không có con chung. Sau khi ly dị ông sống độc thân cho đến lúc mất, vào năm 1985, lúc 69 tuổi. Trong bài 'Khung cửa sổ', Xuân Diệu tả cuộc sống của mình như sau: Anh có nhà, có cửa. Những đêm đi xa về. Nhưng không vợ, không con. Tận xa nhìn cửa đóng. Sợ cái bếp không lửa. Không ánh sáng đón mình. Sợ cái cửa không đèn. 2. Con người:. Chẳng có ai trông ngóng.
<span class='text_page_counter'>(69)</span> - Trong con người ông có sự chung đúc hai truyền thống quý báu của hai miền đất nước: Cần cù, vượt khó (xứ Nghệ) và nồng nàn, dạt dào (miền biển Quy Nhơn) . Thể hiện qua bài thơ Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.. Con trong võng êm lành kêu kẽo kẹt. Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ. Ru tuổi thơ theo hai điệu bổng trầm.. Vượt đèo Ngang, kiếm nơi cần chữ.. Mẹ thảnh thót: Qua nhớ thương em bậu;. Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.. Cha hát dặm bài Phụ tử tình thâm. Hai phía đèo Ngang: một mối tơ hồng. Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang, Đói bao thuở, cơm chia phần từng bát.. Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong. Muốn ăn nhút, thì về quê với bố. Muốn ăn quýt, ăn hồng, theo cha mày mà về. Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát.. ngoài đó,. Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp Chàm.. Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,. Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.. Muốn ăn bánh tét, bánh Tổ,. Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm.. Thì theo tao, ở mãi trong này.. Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ, Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang.. Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con.. Bà ngoại nói: tôi trọng người chữ nghĩa,. Cảm ơn Thầy vượt đèo Ngang bất kể!. Dám gả con cho cách tỉnh, xa đàng. Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít. Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ: Nên máu con chung hòa cả hai miền.. Vào giữa mái tranh, giường chõng, cột nhà. Rứa, mô, chừ? cha hỏi điều muốn biết. Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha! - Là người có tâm hồn rung cảm phong phú chứa nhiều cung bậc cảm xúc: thiết. tha, rạo rực băn khoăn II. NỘI DUNG VĂN THƠ CỦA XUÂN DIỆU 1. Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu có hai tập thơ: Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945). Ông là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới cả về nội dung lẫn hình thức. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã khẳng định: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”. Trong thơ luôn thấy cái tôi bộc lộ nỗi đam mê nổi trội nhất, sắc màu độc đóa được bộc lộ trước hết ở cường độ cảm xúc. Đến với Xuân Diệu cái tôi không dè dặt bóng gió như trước nữa. Được biểu hiện cụ thể qua những phương diện như sau: 1. Nhà thơ của trần gian và hiện tại.
<span class='text_page_counter'>(70)</span> Khác với các nhà thơ cùng thời kì, Xuân Diệu gắn bó thiết tha với cuộc sống, “Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Khát vọng mãnh liệt đến với cuộc đời, giao cảm với đời là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của thơ XD ? Lí giải: Trước hiện thực cuộc sống, nhập nhằng ông không tìm ngả đường riêng để chạy trốn hay thoát li mà luôn chọn cách đứng vững trên cõi trần này, bám chặt lấy mỗi phút giây hiện tại mình đang sống để hưởng hạnh phúc làm quan niệm thẩm mĩ sáng tạo. ? Những biểu hiện - Khẳng định mối giao hòa, ràng buộc giữa cái tôi cá nhân với thế giới vạn vật đầy âm thanh và hương sắc: Cảm xúc. Tặng Thế Lữ Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió. Tay ấp ngực dò xem triều máu lệ. Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây. Nghìn trái tim mang trong một trái tim. Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây. Để hiểu vào giọng suối với lời chim. Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến. Tiếng mưa khóc, lời reo tia nắng đọng. Đây là quán tha hồ muôn khách đến. Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bổng. Đây là bình thu hợp trí muôn hương. Đi trong sân mà nhớ chuyện trên giời. Đây là vườn chim nhả hạt mười phương. Trút thời gian trong một phút chơi vơi. Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc.... Ngắm phong cảnh giữa hai bè lá cỏ.... Đôi giếng mắt đã chứa trời vạn hộc. - Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ. Đôi bờ tai nào ngăn cản thanh âm. Mà vạn vật là muôn đá nam châm. Của vu vơ nghe mãi tiếng kêu thầm.... Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm. Của xanh thẳm thấy luôn màu nói sẽ.... Sao lại trách người thơ tình lơi lả?. - Làm thơ để chạy trốn khỏi chợ đời, kịch đời, khỏi cô đơn nhưng không phải đâu xa mà chính ở giây phút hiện tại mình đang sống Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da ? Giơ tay muốn ôm cả trái đất Ghì trước trái tim, ghì trước mặt Cho đầy trước mặt khoảng cô đơn Bao la muôn trời, sâu vạn vực Bài thơ tuổi nhỏ. 2. Thi sĩ của tuổi trẻ và tình yêu. ? Tại sao có thể nói Xuân Diệu là thi sĩ của tuổi trẻ và tình yêu?.
<span class='text_page_counter'>(71)</span> * Đây là mảnh đất ông viết nhiều nhất, hay nhất và theo ông đã đem lại hạnh phúc nhất. Điều hạnh phúc này không phải nằm trong ý thơ mà nằm trong cảm xúc chân thành:. Chính hôm nay gió dại tới trên đồi Cây không hẹn để ngày mai sẽ mát Trời đã thắm, lẽ đâu vườn cứ nhạt Đắn đo gì cho lỡ mộng song đôi!. - Thơ Xuân Diệu mang theo sức sống rạt rào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này bởi sức trẻ và độ nồng cảm xúc - là sức sống của tuổi trẻ. + Thể hiện rõ nét trong hình ảnh mùa xuân. Đây là mùa trẻ nhất trong vũ trụ, là thời hoàng kim nhất của thiên nhiên, hội tụ mọi vẻ đẹp, yếu tố đỉnh điểm và gợi cảm nhất - là thời điểm của tuổi trẻ Đó là thế giới thiên trẻ trung, tươi thắm rực rỡ sắc màu, chói ngời ánh sáng, hương vị nồng nàn, âm thanh ríu rít... Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui Thiếu nữ nhìn xuân chói mặt trời Sao buổi xuân đầu êm ái thế Cánh hồng kết những nụ tươi cười Nụ cười xuân. Là Xuân không mùa (tr.290), là hình ảnh tươi trẻ ngọt ngào nhất - lần đầu tiên trong thơ kể tử khi PTTM xuất hiện. Đó là một bữa tiệc thần tiên quyến rũ có cặp ong bướm lả lướt, chim yến cất tiếng ca vui, màu xanh rì của thiên nhiên... Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yên anh này đây khúc tình si + Gọi tuổi trẻ là thanh niên, là xuân thì, dùng tuổi trẻ để đo đếm định giá những phương diện nhân sinh. Ôi! Thanh niên! Người mang hết xuân thì Hình ngự nở, nụ cười tươi màu tóc láng Mất thời trẻ mất thanh niên là rơi vào cô đơn, mất đi sự sống: Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Không còn người thôi cái gì cùng mất Thậm chí mùa xuân có thể tuần hoàn nhưng tuổi trẻ một đi không trở lại: Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật.
<span class='text_page_counter'>(72)</span> Nói làm chi rằng xuân đã tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Không cho dài tuổi trẻ của - Thế giới thơ của Xuân Diệu là thế giới của chữ tình - tình yêu: + Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là tình lứa đôi, tình đồng bào, đồng chí ... được tô đậm ở tình tự: Anh hút nhụy ở mõi giờ tình tự (giục giã). Điều làm nên cái mới nhất ở nhà thơ. Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài Những cánh tay quấn riết lấy đôi vai Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng Trong say sưa anh sẽ bào em rằng Gần nhau lắm thế hãy còn xa lắm Xa cách (Liên hệ: Tố Hữu: Người với người sống để yêu nhau, Nguyễn Đình Thi: Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời/ Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người; Phan Huỳnh Điểu: Càng yêu em anh càng hăng say , xây cho nhà cao, cao mãi...; + Miêu tả thiên nhiên, đặc biệt là mùa xuân thường rạo rực tình ái, muốn đong đưa gợi tình trao duyên: Lòng xuân chín ửng trên đôi má/ Thiếu nữ làm duyên đứng mỉm cười. Hay: Ái tình đem máu lên hoa diện/ Thi sĩ đi đâu cũng mỉm cười. + Thơ tình yêu là bài ca sự sống (Huy Cận): Tôi vốn biết cuộc đời thường đạm bạc/ Nên mang theo từng suối rượu nguồn tình (Chỉ ở lòng ta); làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào (Bài ca tuổi nhỏ) mặc dầu ông cảm nhận :“ Yêu là chết ở trong lòng một ít, vì mấy khi yêu mà chắc được yêu (Yêu); lao vào tình yêu biết là đau khổ Xa cách. Yêu là hành động sống, là cách làm ấm nóng lên cuộc đời đìu hiu dặm khách. Vội vàng + Tình yêu luôn hòa quyện vào cảm xúc, thân thể lẫn tinh thần, thức nhọn các giác quan và được thể hiện rất sôi nổi, nồng nàn và mãnh liệt. Tình yêu được Xuân Diệu diễn tả với nhiều cung bậc, từ Gặp gỡ rồi Yêu, cho đến khi Xa cách , Biệt li êm ái và với những tâm trạng và hành động khác nhau: Có khi là sự “dại khờ”, “mời yêu”,“ngẩn ngơ”, “nhớ mông lung”,“sầu” Xa cách. Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ.
<span class='text_page_counter'>(73)</span> Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài…” (Giục giã) Cũng có khi “ rạo rực” khát vọng Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm . Bởi thế, ông không lúc nào nguôi nỗi khát thèm mà đắm say ồn ĩ, giục giã mọi người khi tình non Mau với chứ, vội vàng lên với chứ Em em ơi, tình non sắp già rồi (Giục giã) Ông muốn tạo nên một không gian thấm đẫm tình yêu để gửi gắm niềm khao khát về tình yêu vô biên và tuyệt đích ” Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm”, Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi: Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ Phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần Phải mặn nồng cho mãi mãi đem xuân Đem chim bướm thả trong vườn tình ái. (Phải nói) Thậm chí không được cuộc đời đón nhận, khiến “cái tôi” phải cầu xin: Mở miệng vàng.. và hãy nói yêu tôi Dầu chỉ là trong một phút mà thôi!... (Mời yêu) 3. Nhà thơ của quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, của nỗi sợ hãi trước sự trôi chảy thời gian - Quan niệm thẩm mĩ: con người ở độ tuổi trẻ và trong tình yêu chính là vẻ đẹp tối cao trên thế gian này. Nhiều vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời được cảm nhận có hình dáng, tâm trạng như con người. VD: Dâng, Trao duyên, Vội vàng, Rạo rực, Xuân đầu: - Thiết tha với xuân nhưng ông hiểu: Xuân dài dằng dặc, tình có bèn đâu. Ông rất sợ thời gian trôi: Gấp đi em anh rất sợ ngày mai, đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn; Tôi run như lá, tái như đồng/ Trán chảy mồ hôi mắt lệ phồng/ Năm đẩy tháng dồi tôi đã đến/ Trước bờ lạnh lẽo của hư không’ (Hư vô). + Thời gian như dòng nước, nó cuốn đi tất cả tuổi trẻ tình yêu : giờ tàn như những cánh hoa rơi (Giờ tàn); Thời gian rót từng giọt khô héo/ Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều..
<span class='text_page_counter'>(74)</span> + Thậm chí có những lúc muốn truy lĩnh thời gian, gọi quá khứ về làm hiện tại Xuân đầu: Cho ta xin, cho ta xin sắc đỏ Xin màu xanh về tô lại khung đời Trời ơi, trời ơi, đâu rồi tuổi nhỏ? Hồn xưa đâu rồi, trời ơi, trời ơi! 4. Một hồn thơ cô đơn Hoài Thanh từng nói: Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Càng yêu đời bao nhiêu, Xuân Diệu càng tự đày ải trái tim của mình và càng thất vọng bấy nhiêu…Mang trái tim tràn đầy, si mê nhưng không như mong đợi Lòng anh là một cơn lũ Lại gặp lòng em là lá khoai Mưa biếc tha hồ tuôn giọt ngọc Lá khoai không ướt đến da ngoài Có những lúc tự kiểm điểm mình khi thấy đang lún sâu vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ và “say khướt đau thương”: Dại khờ Điều đó đã tạo nên sự “cô đơn muôn lần muôn thuở cô đơn” cho nhà thơ. Đặc biệt, có khi “ cái tôi” đã lên đến đỉnh cao của sự cô đơn, nhỏ nhen, tầm thường: Ta là Một, là Riêng là thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta ! “Cái tôi” gục xuống, sợ hãi, thốt lên lời rên rỉ trước cuộc đời thờ ơ, lạnh nhạt, hay đau đớn van xin : “Chớ đạp hồn em”, “Chớ để riêng em phải gặp lòng em” và rơi vào tâm trạng tuyệt vọng : Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt Mắt run mờ, kỉ nữ thấy trăng trôi Du khách đi, du khách đã đi rồi . (Lời kĩ nữ) Cũng vì thế, tình yêu trong thơ Xuân Diệu gắn liền với nỗi cô đơn và sự hoài nghi. Ngay cả khi “ được yêu” nhưng “ cái tôi” vẫn lo sợ vì cảm nhận sự biệt li, tan vỡ đang dần đến. Cho dù cùng người yêu dạo bước dưới ánh trăng “cái tôi” vẫn cảm thấy: Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ..
<span class='text_page_counter'>(75)</span> Tóm lại: Thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám biểu hiện rõ tấm lòng của một con người nặng tình với đời song bế tắc. Tình yêu nam nữ trong thơ Xuân Diệu thời kì này được diễn tả với tất cả cung bậc của nó qua những vần thơ uyển chuyển giàu âm thanh, màu sắc, hình ảnh…, để lại âm vang mạnh mẽ trong lòng người đọc. III. THƠ XUÂN DIỆU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM * Thời kì đầu sau Cách mạng tháng Tám: Xuân Diệu hướng về cuộc sống cách mạng của dân tộc , tự hào, phấn khởi trước sự thành công của Cách mạng tháng Tám. Ông bộc lộ khát vọng “Mở lòng ra ôm đón lấy sao vàng” và “Đi theo tiếng gọi nước non thiêng”. Thơ ông ở thời điểm này thể hiện cảm xúc mạnh mẽ trước hiện thực cuộc sống cách mạng với ý thức, trách nhiệm của một công dân đối với Tổ quốc. Lần đầu tiên viết về cách mạng, Xuân Diệu đã có được những vần thơ trong sáng, yêu đời. Điều đó được biểu hiện rõ ở Ngọn quốc kì (1945) và Hội nghị non sông (1946). Ý nghĩa thiêng liêng của lá cờ đỏ sao vàng được nhà thơ cảm nhận : Cờ như mắt mở thức thâu canh Như lửa đốt hòai trên chót đỉnh. Cờ như nắng mãi ấm luôn luôn, Sưởi khắp lòng ai nghe vắng lạnh. Sớm hôm canh giữ lấy hồn thiêng, Bay mãi trên trời, treo sứ mệnh. (Ngọn Quốc kì) Có thể nói, so với nhiều nhà thơ khác, thơ Xuân Diệu ra đời kịp thời, mang tính thời sự nhưng cũng giàu chất lãng mạn. Âm hưởng hùng tráng, đằm thắm thiếr tha toát lên từ tác phẩm của ông đã góp phần tạo nên sức cuốn hút, cổ vũ mạnh mẽ bạn đọc nhanh chóng vững lòng tin đến với đời sống cách mạng. * Thời kì kháng chiến chống Pháp Xuân Diệu hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, gắn bó với cuộc sống nhân dân. Càng ngày ông càng hiểu hơn về những con người giản dị mà vĩ đại. Đó chính là điều kiện thuận lợi giúp ông có được vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tạo để viết nên các tập thơ: Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954). Cảm hứng chủ đạo ở các tập thơ trên là niềm tin yêu, niềm lạc quan trước hiện thực đời sống cách mạng. Ông cảm nhận cuộc đời như Trở về: Một sớm mai hồng, một bình minh Xanh mắt trẻ con,.
<span class='text_page_counter'>(76)</span> Hồng môi thiếu nữ. Cuộc đời hiện tại dù còn bao gian truân thử thách nhưng đối với nhà thơ “Bà mẹ đời du dương tay mở rộng” và Hương đời luôn thấm đượm. Nhà thơ cho rằng: Đời đáng yêu – nhiều lúc có gì đâu… Như đôi lứa mình lặng lẽ nhìn nhau… Một cái nắm tay, một đầu thuốc dở, Một tiếng vang trong một mái đầu. (Hương đời) Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc cuộc sống cao đẹp của quần chúng và cảm thông với nỗi khổ đau của họ. Hình ảnh quần chúng lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Xuân Diệu chính là một nét mới về đối tượng phản ảnh, nó đánh dấu cho bước chuyển quan trọng về tình cảm nhận thức trên con đường thơ của ông (Tặng làng Còng, Bà cụ mù lòa…). Trên cơ sở đó, nhà thơ đã viết nên nhiều vần thơ giản dị mà thấm nặng nghĩa tình: Hạt cơm ăn của bà con Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần. ( Tặng làng Còng) Vẻ đẹp của hình ảnh của bà mẹ nghèo trong kháng chiến đã được nhà thơ thể hiện sinh động qua nhiều bài thơ và rõ nét nhất là tình yêu thương của mẹ. Cũng vì thế, khi giã từ Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội nhà thơ không thể nào quên được hình ảnh của mẹ: Mẹ nghèo vẫn cố nuôi con: Khi bùi măng nứa, khi ngon củ mài. Sẻ từng hạt muối cắn đôi Nhà sàn chung ở, chăn sui đắp cùng. (Ta chào Việt Bắc, về xuôi) Bên cạnh đó, Xuân Diệu cũng bày tỏ được một cách chân thành nỗi trăn trở và sự kính yêu của mình khi viết về Bác: Trên đầu tóc Bác sương ghi Chắc đôi sợi bạc đã vì chúng con. ( Sáng) Dù còn có hạn chế song các tập thơ trên đã thể hiện được bao nỗi niềm, tình cảm của Xuân Diệu trước hiện thực đời sống cách mạng. Thơ Xuân Diệu thời kì này đánh dấu một bước chuyển biến lớn về tư tưởng, tình cảm, giọng điệu… , trên con đường thơ ông. * Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mĩ.
<span class='text_page_counter'>(77)</span> - Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc bước vào cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hiện thực sôi động đó, với sự nhạy cảm, lòng tin yêu cuộc đời mới, thơ Xuân Diệu có sự vươn lên mạnh mẽ, đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc đời mới, biểu hiện rõ ở ba tập thơ: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay (1962), Khối hồng (1964). - Xuân Diệu say sưa ngợi ca những đổi thay mang ý nghĩa sâu sắc trong đời sống của dân tộc, và rồi ông trăn trở nghĩ về mình, bày tỏ chân thành niềm vui hạnh phúc qua nhiều bài thơ như : Ngói mới, Lệ, Chào Hạ Long... Ông nguyện nhìn đời bằng Đôi mắt xanh non, bởi vì, ở khắp mọi nơi, từ các làng quê vùng đồng bằng đến vùng núi Mã Pí-Lèng, hay hải đảo Chòm Cô Tô mười bảy đảo xanh, cuộc sống bao giờ cũng “xanh non”, và“mãi mãi tươi dòn”. Với Xuân Diệu, cuộc sống giờ đây chính là những trang đời đẹp nhất, “những trang tốt lành”, để rồi khao khát : Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh, Có lẽ lòng tôi cũng hóa thành Ngói mới. (Ngói mới) Không chỉ vui say mà nhà thơ còn tự hào khi đã qua rồi nỗi đau tê tái, “vị buồn ghê mặn chát”, “mực mài nước mắt gửi người thương”, “vũ trụ tưởng tàn, thế gian tưởng hết”…, và giờ đây hạnh phúc đến với mọi người. Vì lẽ đó, ở bài thơ Lệ nhà thơ có được cách nhìn, cách nghĩ rất thấm thía về quá khứ và hiện tại: Xưa lệ ta sa oán hận đất trời, Nay lệ òa, ta lại thấy đời tươi! - Giọt nước mắt ta Chan chứa tình người. Trong cảnh đất nước chia cắt ông Nhớ quê Nam, với “vườn xoài trưa nắng”, “gió biển Quy Nhơn”, “mảnh vườn Sa Đéc, con kênh Tháp Mười”, nhớ “bà má Năm Căn bỏm bẻm nhai trầu”, nhớ “trăng lam Đèo Cả, mây hồng Hải Vân”; nhớ điệu bổng trầm “… qua nhớ thương em bậu”, nhớ sông Thu Bồn, Trà Khúc, sông Hương, và Gửi sông Hiền Lương bao nghĩa tình sâu nặng : Gửi ngàn mến với muôn thương trong ấy Gửi lời về xin bớt nhớ, khoan thương Gửi kiên trinh một tấm lòng vàng. Càng đến với cuộc sống, tình đất nước, tình người trong thơ Xuân Diệu càng đằm thắm thiết tha, càng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc..
<span class='text_page_counter'>(78)</span> Khi cả nước có chiến tranh, Xuân Diệu nhanh chóng hòa nhịp với cuộc sống chiến đấu của dân tộc, ông không ngại khó khăn gian khổ đến với nhiều vùng đất nóng bỏng, ác liệt nhất với tâm nguyện : Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi, Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu, Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao. (Những đêm hành quân) Rất dễ nhận thấy, thơ viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của Xuân Diệu xuất hiện đều đặn trên báo chí vàcó khả năng ứng chiến nhạy bén trước những sự kiện của đời sống kháng chiến. Điều đó được phản ánh rõ nét qua ba tập thơ: Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976). Hơn lúc nào hết, nhà thơ nhận thức rõ hơn về sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trong chiến tranh. Ông khẳng định Sự sống chẳng bao giờ chán nản, và “chúng ta yêu sự sống bền dai, vĩnh viễn, bao la!”. Xuân Diệu có ý thức mở rộng thi đề để phản ảnh mọi mặt của đời sống. Có những cảnh như : Các cháu đi sơ tán, hay cảnh Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng đi vào hỏa tuyến đã gợi lên cho người đọc biết bao niềm xúc động mạnh mẽ. Nét mới của thơ Xuân Diệu ở thời kì này là vừa giàu chất trữ tình vừa chứa đựng tính triết lý biểu hiện rõ trong bài Quả sấu non trên cao và Sự sống chẳng bao giờ chán nản. Mặt khác, thơ ông còn có thêm chất trào phúng (Con chim và xác chiếc tàu bay Mĩ) . * Từ sau 1975 đến khi qua đời Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Xuân Diệu viết về Miền Nam quê ngoại, lòng dạt dào vui sướng khi Đi giữa Sài Gòn trong ngày chiến thắng và ông bồi hồi nhớ về quê ngoại sau bao năm xa cách. Ông có khát vọng: Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam, Nghe nhạc Nam để “thức mãi cùng thương nhớ”, đến Phan Thiết “thăm kinh đô cá mắm”, hay Tâm sự với Quy Nhơn sau hơn ba mươi năm trở lại với quê ngọai, nơi chan chứa kỉ niệm của tuổi thơ và tự hào hơn về vẻ đẹp của miền đất này: Ôi! Biển Quy Nhơn, biển đậm đà Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa. Cảm ơn quê má muôn yêu dấu Vẫn ấp iu hoài tuổi nhỏ ta..
<span class='text_page_counter'>(79)</span> Nhiều vần thơ ở thời kì này thể hiện sự đằm thắm nghĩa tình đối với miền Nam. Có thể nói: “Viết về miền Nam là Xuân Diệu đã khơi dậy những tình cảm, những kỉ niệm sâu sắc của mình, những hình ảnh được chắt lọc qua nhiều năm tháng để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ”(Mã Giang Lân ). * Thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám Với thơ tình, Xuân Diệu đã đạt được những thành công rất đặc sắc. Ở mảng thơ này bản lĩnh nghệ thuật của Xuân Diệu bộc lộ rõ nét nhất. Trước Cách mạng tháng Tám, thơ tình Xuân Diệu giãi bày niềm khao khát được ban phát tình yêu, hiến dâng, vồ vập nhưng rồi như Nước đổ lá khoai, và kết cục rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ. Còn sau Cách mạng tháng Tám, thơ tình của ông có được một nguồn mạch mới, đó là tình yêu bền chặt, gắn bó không thể gì chia cắt nổi bời tình yêu của lứa đôi bao giờ cũng nồng nàn, đến “ngàn năm không thỏa”. Dù “anh không xứng là biển xanh / nhưng anh muốn em làm bờ cát trắng” để có thể : Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ, thật êm Hôn êm đềm mãi mãi. ( Biển ) Còn nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của tình yêu được nhà thơ cảm nhận : Uống xong lại khát là tình Gặp rồi lại nhớ là mình của ta ( Uống xong lại khát) Xuân Diệu cảm nhận sự xa cách của tình yêu “một khắc là thế kỉ”. Bởi vậy, càng yêu nhau họ càng mong muốn gần nhau, gắn bó với nhau để rồi hiểu nhau hơn. Họ khao khát mãi bên nhau để san sẻ cả niềm vui hạnh phúc, cũng như nỗi buồn: Vai anh khi để đầu em tựa Cân cả buồn vui của một đời NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU (1 tiết - tiết 20) Nội dung :Sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu - Trước Cách mạng tháng Tám: + Thơ : Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945). + Văn xuôi : Phấn thông vàng (1939) - Sau Cách mạng tháng Tám:.
<span class='text_page_counter'>(80)</span> + Thơ : Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay ( 1962), Khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca (1982). + Văn xuôi, tiểu luận, phê bình : Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng (1958), Ba thi hào dân tộc (1959), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966), Đi trên đường lớn (1968), Và cây dời mãi mãi xanh tươi (1971), Mài sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( hai tập; 1981& 1982). + Dịch và giới thiệu thơ nước ngoài của các nhà thơ như : Targo, Puskin, Maiacốpxki, Đimitrôva,.... D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Những nét chính về tiểu sử, con người Xuân Diệu. 2. Vì sao nói Xuân Diệu là thi sĩ của tuổi trẻ và tình yêu? 3. Quan niệm thẩm mĩ, cái tôi cô đơn trong thơ Xuân Diệu được biểu hiện như thế nào? 4. Chuẩn bị bài Nguyễn Tuân. Tiết 21 - 23. Ngày kí duyệt Bài 7 NGUYỄN TUÂN. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT 1. Nắm được những nét chính về tiểu sử, con người Nguyễn Tuân và những nét lớn về sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Đồng thời nắm được những đặc điểm cơ bản của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, tính thống nhất và những biến đổi của phong cách ấy trước và sau Cách mạng tháng 8. 2. Kĩ năng phân tích, đánh giá và vận dụng kiến thức vào thực hành phân tích những tác phẩm văn học cụ thể trong chương trình Ngữ văn THCS. 3. Tích cực học tập. Yêu mến và hướng tới những giá trị nhân văn tốt đẹp qua tấm gương sáng về nhà thơ Nguyễn Tuân. B. TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Tuyển tập Nguyễn Tuân 2. SGK Ngữ văn THCS 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97..
<span class='text_page_counter'>(81)</span> 4. Báo văn học và ngôn ngữ, Tìm hiểu quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời (?) C. NỘI DUNG CẦN ĐẠT Nguyễn Tuânlà một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam hiện đại. Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào 1 trong 9 tác giả của văn học Việt Nam hiện đại. Ông viết văn với một phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng tiếng Việt. Hà Nội và rất nhiều tỉnh thành phố có con đường mang tên ông. I. Tiểu sử và con người của Nguyễn Tuân 1. Tiểu sử - Ông quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Khi còn sống, nhà văn Nguyễn Tuân kể về làng Mọc quê mình rất tự hào và thường gọi mình và những người làng Mọc là Kẻ Mọc chúng tôi. Nhưng lớn lên và sống chủ yếu ở tỉnh miền Trung, thời điểm đó môi trường nhà nho, viên chức nghèo với nếp sinh hoạt cổ đang bị lụi tàn và biến đổi trước sự xâm nhập của văn minh phương Tây thời Pháp thuộc. - Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn. Cha ông là Nguyễn An Lan (cụ Tú Hải Văn) đỗ tú tài khoa thi Hán học cuối cùng (nhà nho tài hoa bất đắc chí trong cảnh đi làm một viên chức nhỏ ở tòa sứ các tỉnh dưới chế độ thuộc địa của Tây, là người có nhiều ảnh hưởng tới tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân). Cụ Tú Ký lục có mẹ là người Huế có “dòng máu Huế”. Nên sau này, Nguyễn Tuân cũng rất yêu xứ Huế và ảnh hưởng nhiều tính cách của người Huế Hầu. Có quãng thời gian, cứ buồn là Nguyễn Tuân xách cặp da, chống ba toong lên tàu vào Nam. Hồi đó mua vé Hà Nội – Sài Gòn, tàu đến Huế, muốn xuống cứ xuống. Xuống rồi đưa cái vé vào ga đóng dấu. Thế là khi đi tiếp thì cứ thế lên tàu mà đi. Có khi Nguyễn Tuân ghé Huế chơi hàng tháng. - Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó vì chán ghét cuộc sống ngột ngạt, bế tắc của người dân ở một nước thuộc địa, ít lâu ông x"ê dịch"qua biên giới không có giấy phép và đã bị bắt. Đi và đi, như là một căn bệnh của con người lãng tử Nguyễn Tuân. Năm 1937, khi Tết đến rồi mà ông vẫn theo đoàn phim sang Hương Cảng đóng phim “Cánh đồng ma”. Cụ Tú Hải Vân, thân sinh Nguyễn Tuân rất buồn vì Tết Mậu Dần ấy vắng người con trai lớn ở nhà. Nhưng đổi lại sau chuyến đi đó, Nguyễn Tuân đã viết tùy bút “Một chuyến đi nổi tiếng”. Đi xa nhiều, xê dịch nhiều, nhưng Nguyễn Tuân cũng rất yêu Hà Nội..
<span class='text_page_counter'>(82)</span> - Nguyễn Tuân bắt đầu viết văn từ sau khi bị đi tù về lần thứ nhất. Lần đó ông sang Xiêm, bị chính quyền thực dân phát hiện, bắt đưa về trong nước. Từ những năm 1930, Nguyễn Tuân đã trở thành một cây bút nổi tiếng, với những ký, tùy bút nổi tiếng mà độc giả yêu văn chương đều biết -Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 -1958, ông giữ chức tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam - Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội năm 1987, để lại sự nghiệp văn học phong phú với những trang viết độc đáo, đầy tài hoa ( Mất vì bệnh tim đã được cảnh báo trước nhưng chủ quan vẫn có tìm hội văn học...) - Năm 1996 ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. 2. Con người - Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà..., những nhạc điệu hoặc đài của các lối hát ca trù hoặc dân dã mà thiết tha, những nét đẹp rất riêng của Việt Nam - Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao (Cái tôi ngông) + Ngay từ những năm 1939, khi mới bước chân vào văn đàn cái tài của ông đã lù lù chướng tai gai mắt. Ông luôn tin ở điều mình nghĩ, và trên con đường đời y lượm những hòn đá thực to, ném lung tung, bất kể trúng đích hay trật sang bên cạnh. Chàng cứ biết là phải ném đã. Ném vào nhiều mặt người. Có cả người quen nữa. + Đến với văn học thời kì này, do bất hòa với xã hội ối a ba phèng, ông phóng to cái tôi của mình thành phương tiện chống trả xã hội kim tiền ô trọc (thái độ cực đoan với xã hội. Vì không có mục đích lí tưởng rõ ràng nên ngòi bút của ông có khi chệch hướng. (Có lúc ông quất mạnh vào bọn người trọc phú học đòi hãnh tiến có lúc lại dè bỉu chế giễu từ ông ký ga già hom hem lụ khụ ngồi bấm vé một chỗ mà nhìn thiên hạ chảy xuôi theo dòng đến những cô Thúy Vân trong mắt không có hoàng hôn và ánh lủa, thậm chí cả những bà vợ dịu dàng căn cơ chỉ biết có nồi thịt đông và cơm nếp. Ông kiêu ngạo với cả bạn bè xung quanh. Những người tuy là bó đuốc thật đấy nhưng chỉ đủ để bắt một con ếch ở thửa ruộng xâm sấp nước mà thôi. Những con người theo ông thiếu bản lĩnh cá nhân không có gì khác người cuộc đời họ thật bình lặng và nếu chết đi thì cũng chỉ để lại vài dòng chữ loằn ngoằng trên mộ chí mà thôi)..
<span class='text_page_counter'>(83)</span> + Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là c"hủ nghĩa xê dịch"(sau nâng lên thành triết lý sống) để thay đổi thực đơn cho giác quan. Hồ hởi hưởng hết những sinh thú bất thình lình và những cảm xúc không đợi chờ. Đối với ông sống ở đời phải phơi mình ra nơi đường trường gió bụi. Chiếc va li mà nhẵn nhụi quá sẽ mất đi vẻ đẹp phong trần. Anh ta cho rằng: “ Đời cho được đi là một cứu cánh, đi để mà đi chứ không phải để mà đến và ước ao cuộc đời mình như hòn bi cứ lăn tròn mãi không bao giờ dính rêu. Chủ trương lấy sự hoàn toàn phát triển giác quan làm lẽ chính của cuộc sống. Đi là hình thức đẹp nhất của sự thoát ly khỏi cuộc sống tủn mủn hàng ngày. Lối sống tự do phóng túng của ông không phù hợp với chế độ thuộc địa (hai lần bị tù). Tuy nhiên có lúc trong ông lại có sự mâu thuẫn với chính những điều ông nói. Nguyễn Tuân luôn khao khát đi tìm “cái đẹp và cái thực” song trong thời đại mà Nguyễn Tuân sống, cái đẹp chân chính thật không dễ tìm chút nào, nói như nhà văn Nguyễn Đình Thi thì “Trong cuộc đời ông sống, cái đẹp và cái thật không bao giờ khớp được với nhau”. Ông không thoát li nổi vì chán nản thất vọng khi đi mà để đau khổ cho cả lúc đi lẫn lúc nghỉ. Ngồi trên một con tàu mà cứ phải lo nghĩ về một người có quyền nhớ mình, có quyền buồn bã vì mình và nếu người ly phụ ấy lại ốm tương tư nữa thì bao nhiêu trách nhiệm sẽ đổ lên đầu lữ khách đã phạm phải tội lãng mạn thèm nhớ một con đường dài, mơ tưởng đến vùng nước rộng (nhân vật Bạch - Thiếu quê hương). Đây là tiếng kêu mệt mỏi chán chường vì sự nổi loạn của chính mình. - Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam. Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng khả năng quan sát, diễn tả nghệ thuật văn chương. - Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc,thậm chí "khổ hạnh" và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷcủa mình để chứng minh cho quan niệm ấy II. Quá trình sáng tác 1. Trước Cách mạng tháng Tám /1945 Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua...nhất là tập Vang bóng một thời - một tác phẩm gần tới sự hoàn thiện, toàn mĩ (Vũ Ngọc Phan)..
<span class='text_page_counter'>(84)</span> Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: chủ nghĩa xê dịch" " , vẻ đẹp v"ang bóng một thời" , và " đời sống truỵ lạc" . * Đề tài chủ nghĩa xê dịch: - Nguyễn Tuân bị ảnh hưởng của trào lưu văn học Phương Tây - văn học Pháp. Người mà Nguyễn Tuân chịu ảnh hưởng nhiều hơn cả đó là nhà văn Pháp A.Gide-người đi đầu chủ nghĩa xê dịch. - “Xê dịch” hiểu nôm na là sự vận động. Người theo đề tài này thường viết về đường xá, xe cộ, sông nước và thác dữ. Người theo chủ nghĩa xê dịch thường thích đi đó đây để thay đổi thực đơn trong nhãn quan tâm hồn mình. Nguyễn Tuân đã đặt chân trên mọi miền đất nước hình chữ S thân yêu. Đi đến đâu ông cũng ghi lại cảnh đẹp thiên nhiên, con người Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ qua hai tác phẩm: “Thiếu quê hương” và “Một chuyến đi”. - Thể hiện cái tôi xê dịch và hưởng lạc coi cuộc đời chỉ như mọt trường du hí. Mong muốn “khi tôi chết đi người ta sẽ thuộc da ta làm chiếc va li” (Paul Morand). Và lấy đó làm đề từ cho cuốn Thiếu quê hương. Mục đích của ông chỉ là để thay đổi chỗ ở, tìm cảm giác mới lạ và thoát li mọi trách nhiệm với gia đình, xã hội. Lí do là Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết "chủ nghiã xê dịch" này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. - Viết về "chủ nghĩa xê dịch", Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa (Một chuyến đi, Thiếu quê hương). Ai đã từng đọc 2 tác phẩm này của Nguyễn Tuân đẽ dàng nhận thấy một Nguyễn Tuân với tình yêu quê hương đất nước thầm kín mà sâu sắc. Đó là tình yêu giang sơn Tổ quốc của “một thời đại trong thi ca”, mà Chế Lan Viên đã từng viết: “Nhân dân ở quanh ta mà sao chẳng thấy Tổ quốc ở quanh mình mà có cũng như không”. Còn Nguyễn Tuân thì viết: “Sống giữa quê hương vẫn thấy mình thiếu quê hương”. * Vang bóng một thời: Nguyễn Tuân - một nhà văn cả đời theo chủ nghĩa duy mỹ, cả đời phụng sự cái đẹp, phụng sự hai chữ “thiên lương” trong sáng. Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật”. Có thể nói trong suốt cuộc đời, bằng ngòi bút điêu luyện của mình, Nguyễn Tuân đã làm cho cái đẹp thăng hoa. Vang bóng.
<span class='text_page_counter'>(85)</span> một thời – tập truyện ngắn đặc sắc của Nguyễn Tuân trước Cách mạng là một chặng quan trọng trong hành trình đi tìm cái đẹp của nhà văn. Thể hiện những nội dung cơ bản sau: *** Cái nhìn hướng về quá khứ. - Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn v"ang bóng một thời" . + Cũng như biết bao nghệ sĩ lãng mạn, họ chìm đắm trong vòng cái “tôi” cô đơn. Họ không tin tưởng vào hiện tại, hoài nghi cả tương lai, họ quay trở về với quá khứ còn vang bóng. Nguyễn Tuân không nằm ngoại lệ. Ông trở về với thú vui tao nhã của nho sĩ cuối mùa với nền Hán học bị suy tàn Sở dĩ Nguyễn Tuân say sưa với những thú chơi của nho sĩ bởi ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học ở làng Mọc, Nhân Chính. Cụ thân sinh của Nguyễn Tuân là cụ Tú Hải - người rất có ý thức con mình trên nếp gia phong đã bị suy tàn. Ngay từ thuở nhỏ, các bậc tao nhân mặc khách thường qua lại gia đình Nguyễn Tuân để đàm đạo văn chương với cha ông. Vì vậy Nguyễn Tuân đã bị ảnh hưởng bởi cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ, của Cao Bá Quát. Thú uống trà: Truyện Những chiếc ấm đất kể về một ông cụ Sáu mê uống trà tầu, mà nước pha trà phải là thứ nước lấy ở cái giếng tận trên chùa Đồi Mai. Sư cụ chùa Đồi Mai nói về ông cụ Sáu “Danh và lợi, ông ta không màng. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, ông ta thực đã coi cái phú quí nhãn tiền không bằng một ấm trà tầu”. Cứ nhìn cái cách ông cụ nâng niu những chiếc ấm đất của mình, am hiểu tường tận về từng chiếc kim hỏa của chiếc ấm, mới thấy hết cái thú uống trà tầu ở con người này. Kể cả khi thất cơ lỡ vận, ông cụ Sáu vẫn “quen thói phong lưu, nhiều khi qua chơi ao sen nhà ai, gặp mùa hoa nở, cụ còn cố bứt lấy ít nhị đem ướp luôn vào gói trà giắt trong mình, nếu đấy là trà mạn cũ”. Con người xem việc uống trà như là một công việc quan trọng nhất của đời mình ấy đã có lúc phải ngồi bán đi lũ ấm đất của mình, lũ ấm đất “ngày trước giá có chồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy, chưa chắc cụ đã bán cho một chiếc”. Ẩn sau cái cười “hề hề” của ông cụ khi tiết lộ cái mẹo nhỏ là bán thân ấm rồi mới bán đến nắp ấm, ta thấy cả mỗi một nỗi lòng xót xa, đứt ruột! Chén trà trong sương sớm lại còn miêu tả tỉ mỉ hơn cái thú uống trà của lớp người xưa cũ ấy. Cụ Ấm trong truyện có thói quen uống trà từ rất sớm, từ lúc “trời còn tối đất”. Không khí của những buổi uống trà sớm ấy thật đặc biệt. Nổi bật lên trên khung cảnh tĩnh lặng và tinh khiết của buổi sớm là hình ảnh cụ Ấm “Sau màn khói, ẩn hiện một ông già chống nạnh ngồi bên gối xếp, cặp mắt liêu xiêu như một nhà sư nhập định, vẻ nghiêm trang lặng thinh của ông già muốn làm ngừng cả khói trắng hiếu động đang trôi trong không khí gian nhà gạch…”. Cách uống trà của ông cụ rất cầu kì, có thể nói đã giống như một thứ lễ nghi. Chưa bao giờ ông cụ dám cẩu thả trong cái “thú chơi thanh đạm” này mà đã để vào đấy bao nhiêu công phu, bởi vì theo cụ “trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhận thấy một chút mùi thơ và.
<span class='text_page_counter'>(86)</span> một tị triết lí và tâm lí”. Hỏa lò, những ấm trà, và nước pha trà thơm lành đọng trong lá sen.. tất cả sự cầu kì và công phu ấy dường như đã được đền đáp vì xung quanh ấm trà là những người tao nhã, cùng “một thanh khí” với nhau. Đối với gia đình cụ Ấm, việc uống trà còn gắn liền với việc bình văn, ngâm thơ buổi sớm. Giọng ngâm “trong và dài” của người con trưởng cụ Ấm vang lên trong không khí tĩnh lặng, trong lành của buổi sớm mai thực đã gợi ra nét văn hóa của một thời. Việc uống trà, bình văn, ngâm thơ buổi sớm, theo cụ Ấm còn là một cách “vận động thần khí kì diệu nhất của một người sống bằng cuộc đời tâm tưởng bên trong. Mỗi buổi ngâm như thế là đủ tiết hết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu tiên của trời đất” … Với Chén trà trong sương sớm, Nguyễn Tuân đã giúp ta hiểu thêm về một thú chơi nhã đạm của cha ông trong quá khứ, Và không phải riêng Nguyễn Tuân, người đọc ở những năm đầu thế khỉ XXI này cũng cảm thấy bâng khuâng, tiếc nuối! Hương cuội cũng làm người đọc thích thú, thán phục bởi một kiểu tiêu khiển khác, vừa quen thuộc vừa độc đáo của cụ Kép, con người “nguyện đem cả quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý”. Hình ảnh cụ Kép trong truyện tạo cho người đọc cảm giác về sự ẩn dật, lánh đời, thoát tục: “Trong cái vườn cây nhỏ, trong đám cỏ cây xanh rờn, những buổi sớm tinh mơ và những buổi chiều tàn nắng, người ta thường thấy một ông già lông mày bạc, tóc bạc mặc áo lông trắng lom khom tỉa những lá úa vàng trong đám lá xanh”. Lòng yêu hoa của cụ Kép thật đặc biệt “mỗi lần có người động mạnh vào giò lan đen, cụ Kép lại suýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình”. Với truyện ngắn này, Nguyễn Tuân đã giúp người đọc hình dung được cái không khí rất đặc trưng của những ngày Tết cổ truyển Việt Nam. Ngày 30 Tết, cả nhà cụ Kép đạng bận bịu dọn dẹp để ăn Tết. Mợ Ấm cả, mợ Ấm hai ngồi lau lá dong chăm chỉ còn lũ con trai thì “đang đánh bóng ngoài sân những lư, đỉnh, cây đèn nến bằng đồng mắt cua và bằng thiếc sông Ngâu”. Riêng cụ Kép và người bõ già thì lại bận bịu một công việc khác: chuẩn bị cho bữa rượu kẹo mạch nha có nhân đá cuội được ủ trong những chậu hoa lan thơm ngát. Công việc để chuẩn bị cho tiệc rượu độc đáo này được nhà văn miêu tả tỉ mỉ làm sao! Những viên đá cuội trắng tinh đã được rửa thật sạch, được lựa chọn thật kĩ, bây giờ được đem ra dúng vào nồi kẹo mạch nha đã nguội, rồi cuối cùng được người bõ già “đem đặt rất nhẹ nhàng lên trên lượt đá lót trên nền đất chậu hoa”. Sau đó những chiếc lồng bàn bằng giấy sẽ được úp cẩn thận lên những chậu mặc lan sắp nở hoa kia. Bữa tiệc rượu đặc biệt thanh tịnh được mở đầu rất ấn tượng: “Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một. Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ già và bõ già đánh hơi mũi, những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ khoảng không trong vắt như có ý theo dõi luồng hương thơm đang thâm nhập dần vào các lớp khí trời. Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian”. Những viên kẹo nhân đá ướp hương hoa, chén rượu tăm, và “Tiếng ngâm thơ quyến rũ đến cả tâm hồn” trong cái êm ấm của buổi chiều xuân… tất cả đã nói lên rất nhiều trân trọng của nhà văn trước thú vui nhã đạm này. Phải.
<span class='text_page_counter'>(87)</span> là người có vốn sống phong phú, có sự hiểu biết sâu sắc và yêu mến biết bao nhiêu những phong tục tập quán cổ truyền của dân tộc mới có thể viết được những trang văn tinh tế đượm tấm lòng trìu mến như thế.. Nguyễn Tuân còn đặc biệt thích thú trước tục thả thơ, đánh thơ như chữ trong tác phẩm “Dòng chữ cuối cùng” và được đổi tên thành “Chữ người tử tù”. Chính vì vậy, trong Vang bóng một thời, ông đã dành cả hai truyện ngắn cho đề tài này. Cũng như các truyện ngắn khác trong tác phẩm, hai truyện ngắn Thả thơ; Đánh thơ - nói như giáo sư Hoàng Như Mai – đã tạo cho ta những “khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt” bởi vì nhà văn “đã dạy cho ta nghệ thuật sống để tận hưởng ý vị tinh túy, sâu sắc của cuộc sống”. Đây là hai truyện ngắn tiêu biểu đã đề cao, làm sống lại một thú chơi tao nhã đã đang dần bị mai một trong hiện tại. Hãy chú ý lắng nghe lời giải thích của cô Tú – con cụ nghè Móm, về hai chữ “ Thả thơ” cho lũ học trò nhỏ tuổi để có thể hình dung thứ công việc vừa công phu lại vừa thú vị này: “Thầy sẽ viết vào mảnh giấy trắng một câu thơ bảy chữ mà chỉ có sáu chữ thôi. Còn một chữ thì bỏ trống và thay vào đấy một cái khuyên tròn. Cái khuyên tròn thay chữ đó thường gọi là chữ vòng…” Đánh thơ được tác giả gọi là “Một cuộc đỏ đen rất trí thức” trong truyện gắn liền với đôi vợ chồng lãng tử: ông Phó Sứ và Mộng Liên. Cuộc đánh thơ với tiếng đàn, giọng hát đã thu hút nhiều hạng người. Có những người đến không chỉ vì tiền mà là vì yêu thích văn chương. Đối với họ - những ông Hậu bổ, Thông phán tỉnh, Kinh lịch – được hay thua “cũng đều lấy làm thích cả”. Họ đến với cuộc thả thơ đôi khi chỉ là để được nghe những tiếng ngâm thơ trên làn nước lạnh, những “thanh âm nghe trong trẻo, du dương và thái bình như tiếng vang của một hội tao đàn nào”. Thả thơ đã đưa lại cho họ những phút giây hứng thú đặc biệt: “Mỗi lúc ngâm lên, cái hay của câu thơ đã làm cho bọn mình lạnh hết cả người”. Thế nhưng đến với cuộc thả thơ còn có cả những hạng người khác nữa. Nguyễn Tuân đã không dè dặt mỉa mai, châm biếm hạng người “dốt cay dốt đắng”, đã không biết thưởng thức thơ hay mà chỉ “mỏi tay vơ tiền”. Họ chính là những ông huyện Bình Khê “người trông đứng đắn thế vậy mà nhảm lạ…”.. + Cũng từ góc độ về cái đẹp, Nguyễn Tuân đã tỏ ra hết sức tinh tường, sắc sảo khi phát hiện ra những nét phản thẩm mĩ, những cái xấu xa của hạng người trưởng giả trong xã hội Tây Tàu nhố nhăng. Theo nhà phê bình Hà Văn Đức, Nguyễn Tuân đã lên án bọn người này không phải theo quan điểm về giai cấp mà xuất phát từ góc độ thẩm mỹ. Đây là nhận xét rất đúng. Trong tập Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân ghét cay ghét đắng hạng người trưởng giả không phải chúng áp bức bóc lột người nghèo mà vì chúng không biết thưởng thức cái đẹp, “ngồi xổm lên cái đẹp”. Như vậy, khác với các nhà văn hiện thực phê phán cùng thời, Nguyễn Tuân đã phản ứng lại cái xã hội kim tiền trên phương diện mỹ học. Những đối tượng mà Nguyễn.
<span class='text_page_counter'>(88)</span> Tuân hay nhắm tới là những ông huyện Bình Khê (Đánh thơ) là những kẻ “ít chữ” song sung sướng được “Lạm dự vào làng thơ phú” (Thả thơ). Đó còn là ông huyện Thọ Xương, “Một người có tâm thuật rất hèn kém”… Ở những truyện khác, Nguyễn Tuân có “Lối đánh mà người ta gọi là bỏ nhỏ, nhẹ mà đau điếng” (Hoàng Như Mai). Trong truyện Những chiếc ấm đất, tác giả để cho người khách của ông cụ Sáu kể một câu chuyện cổ tích. Đó là câu chuyện về một “tên ăn mày cổ quái” dám xin gia chủ cho uống trà tàu, mà lại xin uống cả ấm. Thế rồi điều bất ngờ đã xảy ra. Chính tên ăn mày chứ không là ai khác đã nhận ra vị trấu tạp lẫn trong hương vị thanh khiết của trà! Rõ ràng qua câu chuyện, nhà văn đã tỏ thái độ coi thường hạng người trọc phú, nhiều tài lắm của nhưng lại chẳng tinh tế chút nào. Về phương diện này, lão phú hộ giàu có trong truyện đã không bằng được một kẻ ăn mày. Ở Chén trà trong sương sớm, Nguyễn Tuân nói tới những ông khách tạp “uống trà rất tục”. Đối với “mấy thầy làm việc bên bảo hộ” có cách uống trà như uống giải khát này, theo nhà văn, phải uống thứ nước trà “pha sẵn trong bình tích” mới thật thích hợp. Uống trà – “lối giao du của cổ nhân đạm bạc”, nói như ông cụ Ấm trong truyện là không thể “ồn ào, huyên náo như bây giờ”…. - Mục đích: Phê phán hạng người trọc phú, những kẻ dốt nát, đề cao và hướng cái nhìn của mình vào quá khứ, vào những thú tiêu khiển tao nhã nói trên, Nguyễn Tuân đã tỏ rõ thái độ của mình. Đó là thái độ bất mãn trước hiện thực. Có lúc, thái độ ấy thể hiện trong suy nghĩ chua chát của một ông cụ Kép (Hương Cuội): “Nhưng nghĩ mình chỉ là một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu mất nhiều giá trị tinh thần…” Con người cho mình là “kẻ chọn nhầm thế kỷ” này chính vì vậy đã chọn việc uống rượu, chơi hoa làm một thứ công việc mang lại niềm vui cho mình trong buổi xế chiều của cuộc đời. Cũng có khi nhà văn lại mượn lời cô Tú (Thả thơ) để nói lên tâm sự bực dọc, chua chát của mình : "Ở đời ăn nhau may rủi, chữ nghĩa tài hoa mà làm gì"... Đó còn là thái độ nhớ tiếc những giá trị văn hóa tinh thần của một thời : "Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ ở một thời khác, chữ Hán chỉ còn là một thứxa xỉ phẩm trong cõi học vấn của một lớp người. Sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là những vật cổ tích gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám người mệt mỏi còn sống thêm một ngày là cảng chỉ thêm bỡ ngỡ với phong vận mới" (Báo oán). - Đọc những trang văn Nguyễn Tuân viết về những thú chơi tao nhã, về những phong tục đáng yêu đáng quý của dân tộc mới thấy được tinh thần yêu nước thầm kín, sự gắn bó, vốn hiểu biết sâu rộng về cuộc sống của ông. ***Quan niệm cái đẹp gắn liền với chất tài hoa tài tử. Trong Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân tỏ lòng mến mộ, yêu quý những con người tài hoa mà thất thế hay những lãng tử giang hồ. Ở những nhân vậy này, nhà văn chẳng những khai thác khía cạnh tài hoa tài tử mà còn chú ý cả những điểm khác người, thậm chí đến mức lập dị, cầu kỳ của họ..
<span class='text_page_counter'>(89)</span> Truyện Đánh thơ nói về một đôi vợ chồng lãng tử mà Nguyễn Tuân đã gọi họ bằng một cái tên trìu mến "Một lứa đôi tài tử". Mỗi tuần trăng, cặp tài tử này ở một tỉnh và chưa bao giờ" Nghĩ đến việc làm một cái tổ ở một chỗ nhất định nào". Ngay đến cả cái chết của kiếp con người, chất lãng tử cũng thật đậm nét khiến cho Nguyễn Tuân vừa ngậm ngùi thương tiếc lại vừa mến mộ : "Đi qua Hoành Sơn quan thấy cảnh đẹp, lòng sinh tình, hai ông mụ đã yêu nhau giữa một vùng trời nước bao la... Trúng cơn gió độc, ông Phó Sứ đã hóa ra ma chết sát ngay bên đường thiên lý" Cụ Hồ Viễn trong Ngôi mã cũ vốn xuất thân từ tướng Cờ Đen oai phong lẫm liệt một thờinay vì thất thế mà trở thành một ông thầy địa lý nhưng vẫn giữ được nét tài tử, nghệ sĩ. Nhân vật cô Tú trong truyện đã kể cho đứa em nghe nhiều chuyện về cụ. Đó là một con người mà qua lờikể của cô chị, cậu Chiêu "thấy cả một huyền sử bộc chung quanh một tướng võ nghệ cao cường". Hình ảnh cụ Hồ lúc còn làm tướng Cờ Đen thật oai phong lẫm liệt : "Bên thắt lưng điều, cụ giắt hai khẩu súng. Phía bên trái là một khẩu đoạn mã và phía bên phải là một khẩu súng thập bát hưởng bắn một lúc được mười tám phát liền". Nhưng người ta còn nhớ đến con người này bởi một phong thái ung dung, tài tử: "Những lúc việc quân thong thả, cụ mặc áo dài "sường sám", đội mũ "sường chí" có những quả bông đỏ, cầm quạt... trông nhàn nhã và văn vẻ lắm". Viên tướng Cờ Đen này lại có nét chữ viết rất đẹp, rất tốt "Chữ thầy viết có gân cứng cỏi như lá thiếp... nét sổ rất khỏe và rất thẳng". Con người ấy, dù đã thất thế, vẫn cố giữ một nét sinh hoạt cầu kì "Thuốc phiện, nếu không phải là thứ một lạng đựng vào cóng thì không hút", vẫn để móng tay út lá lan "cuống hai vòng như râu rồng" và mỗi bận rửa ta thì phải lại có vài quả chanh. Chất tài hoa tài tử còn được thể hiện trong chi tiết ông cụ Hồ Viễn và cậu Chiêu đã đánh với nhau mấy ván cờ không có quân đi, không có bàn bày trên đường đi... Trong Một cảnh thu muộn, ông Cử Hai là một mẫu người tài tử điển hình. Ông là "người có hoa tay" lại "thêm được chút tâm hồn lãng tử" nên "sống cuộc đời cũng như người ta chơi bờimà thôi. Người ấy thật là người không có lấy một giây phút trịnh trọng với nhân sinh. Ông ta sinh ra để mà đùa với cuộc sống và bắt đầu từ việc đem ngay cái tài hoa của mình ra mà đùa nhả vớisự nghiệp thân thế mình". Làm công việc dạy học mà con người chịu ảnh hưởng nhiều của nhân sinh quan Lão Trang này không mấy chú tâm, chỉ thích đi hội Đạp Thanh để làm thơ tức cảnh, lên núi hái lá thuốc, ngắm trăng trên đỉnh Sài Sơn hoặc ẩn mình đối với nhân vật này. Phải chăng đó là sự gặp gỡ, là hiện thân của chất tài tử, của chủ nghĩa xê dịch trong Nguyễn Tuân ? Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù. Con người tài hoa ấy chẳng những có tài bẻ khóa, vượt ngục mà con có tài "viết chữ rất nhanh và đẹp" nổi tiếng cả tỉnh Sơn. Bao nhiêu người trong đó có viên quản ngục đã từng aoước "có được chữ của Huấn Cao mà treo là một báu vật trên đời". Thế nhưng không dễ gì xin được chữ của ông. Con người ấy đã từng nói với viên quản ngục "Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi". Xây dựng hình tượng Huấn Cao, nhà văn đã làm nổi bật lên một nhân cách cao vời vợi. "Con.
<span class='text_page_counter'>(90)</span> ngưởi này vừa là một nghệ sỹ tài hoa vừalà một trang anh hùng dung liệt mặc dù chí lớn không thành nhưng bao giờ tư thế cũng hiên ngang bất khuất" (Trần Hữu Tá). Đọc truyện người ta dễ dàng nhận ra thái độ thán phục của Nguyễn Tuân trước trang anh hùng dũng liệt này. Nhân cách, khí phách của Huấn cao thể hiện trong cái vẻ lạnh lùng “thúc mạnh thành gông xuống đất đánh huỳnh một cái” mà không thèm để ý đến những lời dọa nạt của mấy tên lính áp tải, trong thái độ thản nhiên trước cái chết sắp cận kề, trong những lời nói thể hiện quan niệm sống coi thường bạc vàng, quyền thế của ông. Nhung nhân cách của Huấn Cao còn được thể hiện trong việc ông nhận ra sở thích cao quý của viên quản ngục. Chính vì thế, cảnh cho chữ phi thường mới diễn ra trong chốn ngục tù: “ Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên trạm canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián”. Trong cảnh tượng lạ lùng này, viên quản ngục – người nắm quyền uy, thì “Khúm núm”, tay “run run” bưng chậu mực. Còn Huấn Cao, tên tử tù sắp bị chém đầu thì ung dung, đĩnh đạc biết bao! Không nghĩ gì đến cái chết đang đón đợi mình, Huấn Cao chỉ chú ý đến mùi thơm của chậu mực, màu tinh khiết của bức lụa trắng và cuối cùng là lời khuyên viên quản ngục hãy thay đổi chỗ ở để khỏi “Nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”. Ở truyện ngắn này, quan niệm của Nguyễn Tuân thể hiện khá rõ: cái tài phải di cùng với cái thiên lương trong sáng và khí phách anh hùng đã làm nên nhân cách cao vợi của Huấn Cao.. *** Cái đẹp mang tính chất duy mỹ Là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật trong đời, Nguyễn Tuân nhiều khi đã không chú ý đến tính chất xã hội của hiện thực. Ông mải mê ca ngợi những cái đẹp thuần túy, mang tính hình thức. Hai truyện ngắn Chém treo ngành và Ném bút chì là những ví dụ tiêu biểu cho việc ca ngợi, phản ánh cái đẹp một cái duy mỹ của ông. Truyện Chém treo ngành kể về một tên đao phủ tên là Bát Lê. Bát Lê là người “có tài chém đầu người chỉ một nhát mà đầu vẫn dính vào cổ bằng lần da gáy” như quan Tổng đốc đã nhận xét về y. Cuộc chém đầu những kẻ phiến loạn được Bát Lê tập dượt bằng những buổi chém những thân cây chuối trên một góc thành. Tiếng hát của Bát Lê cùng với tiếng những thân chuối đổ trên mặt thành gây một cảm giác rờn rơn, chết choc. Nhà văn đã dừng lại khá lâu để miêu tả cảnh Bát Lê tập lối chém treo ngành trong vườn chuối: “Bát Lê tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu bên trái, Bát Lê thuận tay trái đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một thần hình người quỳ chịu tội. Thế rồi vừa hát, vừa chém bên trái, vừa chém bên phải, Bát Lê đã hát hết mười bốn câu và đánh gục mười bốn chân cây chuối… Bát Lê quay mình lại, ngắm các công trình phá hoại của mình. Thì ở mười bốn cây chuối chịu tội kia, thân trên bị chém vẫn còn dính vào phần gốc bởi một lần bẹ bị giập nát”. Buổi chém tử tù cũng được miêu tả với giọng văn hiện thực, có phần bàng quan, lạnh lùng như vậy: “Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp, các quan chỉ nghe thấy cái âm thanh lơ lớ rờn rợn. Quan Công Sứ chăm chú.
<span class='text_page_counter'>(91)</span> nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù và múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quỳ chẻ gục đến đấy. Những tia máu phun lên phì phì, vọt lên cao trên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống”. Vào những lúc nhộn nhạo quá đông tử tù, việc chém đầu người sẽ được tiến hành theo một cách còn “tài tình” hơn và tất nhiên cũng rùng rợn hơn. Người ta sẽ “Chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ từ tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một chiều. Đại để cũng giống như là cái lối cắp gắp chả chim mà nướng ấy”. Rồi đao phủ sẽ cầm gươm mà róc ngang như người ta “róc mắt mía”… Trong Ném bút chì, Nguyễn Tuân nói tới cái tài ném lưỡi mai chết người của Phó Kình, của Lý Văn trong một đảng cướp. Chỉ với “cây bút chì”– lưỡi mai thô sơ mà y (Phó Kình) đã dám “chấp cả một ấp người”. Tài ném lưỡi mai của hạng người này có thể nói đã được miêu tả như một thứ nghệ thuật: “Phó Kình cuộn mấy vòng dây thừng dài đến mấy sải vào cánh tay trái, bàn tay trái y nắm chắc cổ cán mai, bàn tay phải y giữ vững dốc nhọn mai… Bỗng sau một tiếng phập, thân trên cây chuối đã gúc xuống mặt đất, kêu đánh roạt.” Còn đây là những dòng miêu tả tài “ném bút chì” của Lý Văn: “Tiếng lưỡi mai ở tay Lý Văn phóng ra kêu đánh vút. Một tiếng gà oang oác. Cả bọn chạy ra luống khoai, giơ cao con gà gãy mất hai chân. Vết thương gọn gàng vừa đúng quãng đầu gối và gặp giò chưa lìa hẳn, vẫn còn sinh vào đùi bởi lần da hoen máu.” Lý Văn còn hứa hẹn với đồng bọn về một thứ “tài nghệ” mới: “ Để hôm nào rảnh anh sẽ dạy cho các chú tập đánh cái lối đòn bơi chèo bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến thì đầu người cứ rụng như sung”.. Đọc những truyện ngắn loại này, nhiều người có cảm giác giọng văn của Nguyễn Tuân lạnh lùng, tàn nhẫn làm sao! Tả cảnh chém đầu người giữa pháp trường mà giọng văn cứ lạnh lùng, tình táo như không. Thực ra cần phải hiểu quan niệm của Nguyễn Tuân khi miêu tả hiện thực. Phải chắng, với quan niệm “Viết văn không khuynh hướng”, Nguyễn Tuân chỉ chú ý ngợi ca những cái đẹp mang tính hình thức chứ không mang tính tư tưởng ? Sự phiến diện trong quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám là một hạn chế lớn . Đọc Vang bóng một thời hay Tóc chị Hoài,Chiếc lư đồng mắt cua…, dễ thấy nhiều khi Nguyễn Tuân tách rời ra khỏi cái đẹp có ích, đề cao cái đẹp một cách thuần túy. Trong Tóc chị Hoài, Nguyên Tuân cũng đã từng tuyệt đối hóa cái đẹp của hình thức khi miêu tả mái tóc người con gái. Ngay cả trong Chùa đàn – tác phẩm được viết sau 1945, người ta vẫn thấy quan niệm nghệ thuật cũ của Nguyễn Tuân trước cách mạng. Theo nhà văn, cái đẹp trước hết phải gắn với cái tài. Với Nguyễn Tuân, đã tài thì đều đáng khâm phục, không nhất thiết phải xem cái tài đó có lợi hay không. Trong Chùa Đàn, nhà văn ca ngợi tiếng đàn oan nghiệt ma quái: “Người ta vừa đàn vừa khóc và người ta đàn đến mức hộc máu ra mà gục chết dưới gốc nhạc khí.” Nếu gạt bỏ đi yếu tố ma quái trong truyện này, người đọc vẫn thấy rõ sự thán phục của nhà văn trước tài đánh đàn của Bá Nhỡ và tiếng hát điêu luyện, ngọt ngào của cô Tơ. Như vậy, với quan niệm cái đẹp mang tính duy mỹ nói trên, Nguyễn Tuân đã có nhiều khi tự mâu thuẫn với chính mình hay nói như nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Tuân đã “tự lừa dối mình trong những.
<span class='text_page_counter'>(92)</span> ngày tháng tuyệt vọng”. Nguyễn Tuân phức tạp cũng chính là ở điểm này. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân. 2. Sau Cách mạng tháng Tám /1945 - Nguyễn Tuân góp mình vào thi đàn văn chương Việt Nam thể loại “tùy bút” thể loại rất “kén” nhà văn. Bởi người viết “tùy bút” cần phải có một phông kiến thức rộng, ngòi bút phải phóng khoáng, thoải mái. Câu văn “tùy bút” phải phóng túng, thoải mái, dài, ngắn, co, duỗi nhịp nhàng. Nếu ai đã từng đọc tập tùy bút “Sông Đà” hay bài ký “Người lái đò Sông Đà” – linh hồn của tập tùy bút “Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân thì dễ dàng nhận thấy: Nguyễn Tuân đã làm chủ kiến thức về quân sự khi mô tả những tướng đá bày ra những trùng vi thạch trận để lừa bất kỳ con thuyền nào qua đây. Ông làm chủ lĩnh vực điện ảnh khi ông đưa ra được nghệ thuật “Ngược sáng”; lĩnh vực địa lý khi mô tả tường tận, chính xác 50 trên tông 73 con thác dữ từ ngã 3 biên giới Việt–Trung tới Chợ Bờ. Hai thiên tùy bút tiêu biểu nhất cho sự nghiệp của Nguyễn Tuân: “Hà Nội đánh Mỹ giỏi” và “Tùy bút Sông Đà” – gồm 15 bài ký. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất. III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT : 1) Giáo sư Nguyễn Ðăng Mạnh có nhận định : "Hạt nhân của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể gói gọn trong một chữ ngông. Cái ngông vừa có màu sắc cổ điển, kế thừa truyền thống tài hoa bất đắc chí của những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Ðà,... và trực tiếp hơn là cụ Tú Lan, thân sinh nhà văn ; vừa mang dáng vẻ hiện đại, ảnh hưởng từ các hệ thống triết lý nổi loạn của xã hội tư sản phương Tây như triết lý siêu nhân, quan niệm về con người cao đẳng, thuyết hiện sinh...” - Ngông là biểu hiện của sự chống trả mọi thứ nền nếp, phép tắc, định kiến cứng nhắc, hẹp hòi của xã hội bằng cách làm ngược lại với thái độ ngạo đời. - Nó còn bao hàm cái khí khái của người trí thức yêu nước không cam tâm chấp nhận chế độ thực dân, tự đặt những nghịch thuyết để tách mình ra và vượt lên trên cái xã hội của những kẻ xu thời, thỏa mãn với thân phận nô lệ. - Sau 1945, Nguyễn Tuân không còn lý do để mà gây sự, mà ném đá vào đời như trước nữa. Cái ngông tự mất đi phần cực đoan, chỉ giữ lại cái cốt cách vốn tạo nên nét độc đáo cho trang biết. Thói quen và sở thích tìm cách nói không giống ai khiến ngòi bút ông luôn tràn đầy sáng tạo và có sức hấp dẫn mạnh mẽ..
<span class='text_page_counter'>(93)</span> 2) Mới, lạ, độc đáo - Lâý đề tài "chưa ai khơi"nên thường tạo được cảm giác rất mạnh, ấn tượng rất sâu. Những điều tưởng chừng tủn mủn, lặt vặt nhưng được Nguyễn Tuân gọi về để làm sống dậy trong chúng những ý nghĩa có tính tư tưởng cao cả, chứ không nhằm thỏa mãn cảm giác hiếu kỳ, hời hợt. Ðến với những trang viết của ngòi bút tài hoa ấy một mặt người đọc thấy say sưa trước cảnh, tình và tri thức phong phú các các loại được bày biện một cách đẹp đẽ ; mặt khác, khi cảm giác nhất thời qua đi, bao giờ người ta cũng thấy như quý yêu thêm một chút, tự hào thêm một chút về dân tộc mình, về thời đại. - Hệ thống nhân vật của Nguyễn Tuân bao giờ cũng mang dáng vẻ riêng, độc đáo và rất đẹp - vẻ đẹp của tài hoa, của nhân cách. Ở cả 2 giai đoạn sáng tác, nhà văn luôn trân trọng những "đấng tài hoa" và say mê miêu tả, chiêm ngưỡng họ. Mỗi nhân vật thường sành hơn người ở một thú chơi hoặc một ngón nghề nào đó, đầy tính nghệ thuật. Ðó là cụ Kép, cụ Sáu, cụ Nghè Móm, ông Phó Sứ, ông Cử Hai,... những nghệ sĩ bậc thầy của nghệ thuật uống trà, uống rượu, chơi đèn kéo quân và đánh bạc bằng thơ (trong "Vang bóng một thời"). Là ông Thông Phu lắm tài nhiều tật, cuối cùng đã gục chết trên một ván cờ đất vì uất ức (trong "Chiếc lư đồng mắt cua"). Tài hoa, một khi đi kèm với nhân cách cao thượng thì càng đáng kính trọng. Nhân vật Huấn Cao tài hoa với khí phách, nghị lực phi thường là một tính cách tiêu biểu, được Nguyễn Tuân rất mực yêu thích. - Sự chuyển dịch của ý thức nghệ thuật theo hướng đưa văn học về với cuộc sống, phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước đã dẫn tới việc mở rộng thế giới nhân vật của trang viết Nguyễn Tuân. Nhưng không vì thế mà nhà văn đánh mất tính độc đáo, bất biến của phong cách. Ðó là niềm say mê phát hiện và ngợi ca những vẻ đẹp của tài hoa, khí phách, của văn hóa dân tộc : "Có cái như là Hoa Kỳ vừa đánh Hà Nội, vừa thử tài sức và trí lực Hà Nội. Trong cuộc đọ súng đọ lửa với giặc Hoa Kỳ, quân và dân thủ đô càng đánh càng phát huy truyền thống chống xâm lược của dân tộc mình. Chắc tay súng, đúng tầm đạn, chiều 5 tháng 5 vừa qua, tất cả cỡ súng Hà Nội có nòng và tên lửa không nòng đã quần cho một trận tơi bời (...). Chợ Ngọc Hà không phải vỡ chợ, mà chính là xác thù đã vỡ tan trên một buổi chợ chiều : mớ rau, xóc cua đồng, mẹt tôm riu đều nhấp nhánh mảnh vụn đuy ra F.105. Cô gái trại hàng hoa vứt đó cái ô-dòa sắp tưới vườn chiều, cầm vội tay súng và theo dõi trận mưa đuy-ra đang phá vườn hoa hợp tác".. 3) Sự tự do và chấp nhận những cảm xúc đậm màu sắc chủ quan. Thể hiện ở - Giọng điệu của tùy bút Nguyễn Tuân thường là giọng kể. Người dẫn chuyện luôn đóng vai trò quan trọng, trực tiếp tham gia vào câu chuyện và có quan hệ thân mật, tin.
<span class='text_page_counter'>(94)</span> cậy với các nhân vật khác. Người ấy thường có giọng lịch lãm, đôi khi tỏ ra hoài nghi, đùa bỡn nhưng vẫn đảm bảo độ mãnh liệt của cảm xúc và tầm cao tư tưởng bằng sự từng trải. - Nguyễn Tuân có lối ví von, so sánh thật chính xác, mới lạ theo chủ quan ; sự vật được miêu tả trong trường liên tưởng, cảm giác chuyển đổi tinh tế, bất ngờ "Nước bể Cô Tô sao chiều nay nó xanh quá quắt đến như vậy ? (...) Cái màu xanh luôn luôn biến đổi của nước bể chiều nay trên biển Cô Tô như là thử thách cái vốn từ vị của mỗi đứa tôi đang nổi gió trong lòng. Biển xanh như gì nhỉ ? Xanh như lá chuối non ? Xanh như lá chuối già ? Xanh như mùa thu ngả cốm làng Vòng ? Nước biển Cô Tô đang đổi từ vẻ xanh này sang vẻ xanh khác. Nó xanh như cái màu áo Kim Trọng trong tiết Thanh Minh ? Ðúng một phần thôi. Bởi vì con sóng vừa dội lên kia đã gia giảm thêm một chút gì, đã pha biến sang màu khác. Thế thì nước biển xanh như cái vạt áo nước mắt của ông quan Tư Mã nghe đàn tì bà trên con sóng Giang Châu thì có đúng không ? (...) Sóng cứ kế tiếp cái xanh muôn vẻ mới, và nắng chiều luôn luôn thay mầu cho sóng. Mà chữ thì không tài nào tuôn ra kịp với nhịp sóng".. - Nhà văn như mê mẩn trong ma lực của ngôn từ và truyền được trọn vẹn đến người đọc chất men say nhiều khi kỳ quái ấy. Nguyễn Tuân có một kho từ vựng hết sức phong phú do cần cù tích lũy cả đời, với lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ. Không chỉ góp nhặt những từ sẵn có, ông còn luôn có ý thức sáng tạo từ và cách dùng từ mới, lạ. Rất nhiều từ ngữ tưởng như đơn nghĩa hoặc cũ mòn, nhưng khi vào tay ông, chợt trở nên dồi dào sức biểu hiện. Hãy xem cách ông dùng hai từ " góa bụa"và " lõa lồ": "Hiu quạnh sống trong người mình và chung quanh mình, cái gì cũng gợi đến những ý vắng, lạnh và cũ và mỏi và ngừng hết. Ngồi ăn một mình cả một mâm cơm chiều nay, tự nhiên tôi có cái cảm tưởng gở dại là mình đã trở nên một người góa bụa, hoàn toàn góa bụa. Góa vợ con, thân thích, anh em bạn, góa nhân loại, góa tất cả. Bát cơm và vào miệng, chỉ là những miếng thê lương". "Mãi đến bây giờ về gần đến Phố, tôi mới nhớ ra trong xe còn có thêm một hành khách nữa. Ấy là một người đàn bà, một thứ đàn bà tồi. Tồi ở chỗ lõa lồ trong câu nói tiếng cười. Tồi ở cái cách phục sức rẻ tiền mà cứ gắng làm ra lộng lẫy cho kỳ được".. Vốn từ vựng ấy, có lúc Nguyễn Tuân dùng để chơi ngông với đời, hoặc để trêu ghẹo thiên hạ và xót xa cho thân mình. Ông tự nhận xét : "Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Ðọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được". Từ sau Cách mạng tháng Tám, không còn cực đoan nữa, Nguyễn Tuân dùng ngôn từ như công cụ đắc lực để cất cao lời ngợi ca tổ quốc, ngợi ca nhân dân mình và giáng những đòn thật cay độc vào bản chất tàn bạo của kẻ thù.. IV. KẾT LUẬN :.
<span class='text_page_counter'>(95)</span> Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân thật xứng đáng ở tầm cỡ nhà văn lớn nghệ sĩ ngôn từ bậc thầy, là "người thợ kim hoàn của chữ" (Ý của Tố Hữu). Trong hành trình gian khổ hơn nửa thế kỷ ấy có lúc va vấp, có lúc chênh vênh, cũng có lúc phải tự "lột xác" đớn đau, nhưng nhà văn vẫn luôn giữ vẹn được nhân cách, bản ngã của mình. Cái ngông, suy đến cùng, lại như một giá trị, được đảm bảo bởi sức bền vững của tài hoa và tầm cao tư tưởng nghệ thuật. Vẻ đẹp của trang viết Nguyễn Tuân là kết quả tất yếu từ một cách viết mang chiều sâu, bề rộng và tầm cao văn hóa. Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, đặc biệt biểu hiện ở thái độ thành kính trân trọng tiếng mẹ đẻ và các giá trị truyền thống chính là động lực bên trong, thôi thúc nhà văn không ngừng tìm tòi, khơi nguồn vốn cũ và sáng tạo giá trị mới.. NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CÚU (01 tiết - Tiết 23) Nội dung: 1. Thành tựu văn học chủ yếu của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng 2. Đề tài đời sống trụy lạc trong văn Nguyễn Tuân Định hướng: 1. Thành tựu văn học chủ yếu -. Trước Cách mạng: thành tựu đạt được chủ yếu ở truyện ngắn. . Vang bóng một thời (1940). . Chiếc lư đồng mắt cua (1941). . Một chuyến đi (1941). . Tùy bút (1941). . Tóc chị Hoài (1943). - Sau cách mạng: thành tựu đạt được chủ yếu ở tùy bút . Nguyễn (1945). . Đường vui (1949). . Tình chiến dịch (1950). . Tùy bút kháng chiến (1955). . Tùy bút kháng chiến và hòa bình (1956). . Sông Đà (1960). . Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972). . Ký (1976) 2. Đề tài đời sống truỵ lạc. - Hoàn cảnh: Lúc ấy, Nguyễn Tuân xa vào lối xa hoa trụy lạc. thường đi nghe hát ả Đào ở. ngõ chợ Khâm Thiên. Nguyễn Tuân cũng hay ngồi bàn đèn để hút sách. Toàn bộ những thú chơi này được Nguyễn Tuân ghi lại trong tác phẩm “Chiếc lư đồng mắt cua”..
<span class='text_page_counter'>(96)</span> - Nội dung: Điều tác phẩm muốn nói không phải là sự trụy lạc mà là tâm trạng khủng hoảng cực độ của thanh niên tri thức bất mãn với xã hội, muốn thoát nhưng không thoát được và thoát đi đâu.. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Trình bày những nét lớn về tiểu sử, con người của Nguyễn Tuân. 2. Những đề tài chủ yếu trong sáng tác của Nguyễn Tuân. 3. Nêu những nét khái quát phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân (1 -4) 4. Chuẩn bị bài Thạch lam. Tiết: 24 - 25. Ký duyệt Bài 9 THẠCH LAM. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được: 1. Vị trí của Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn trong văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Hiểu được những nét đặc sắc cơ bản của phong cách nghệ thuật Thạch Lam. 2. Có kí năng phân tích được đặc điểm thế giới nhân vật trong sáng tác, phân tích các truyện ngắn của Thạch Lam để thấy rõ một tấm lòng xót xa thương cảm trước bao nỗi cực khổ của tầng lớp bình dân. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. Phát huy tính chủ động trong học tập. Tin yêu và trân trọng đáng quý với con người Thạch Lam B. TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1, NXB ĐHSPHN. * Tài liệu tham khảo: 1. Tuyển tập Thạch Lam (Phong Lê sưu tầm). 2. Hà Văn Đức, Văn học Việt Nam 1900 - 1945. 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. 4. Nhiều tác giả, Thạch Lam về tác giả và tác phẩm, NXB GD, HN, 2002. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ, CON NGƯỜI THẠCH LAM 1. Tiểu sử.
<span class='text_page_counter'>(97)</span> - Tên tuổi: Thạch Lam tên khai sinh Nguyễn Tường Vinh tại Hải Dương, nhưng nguyên quán ở làng Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam), bút danh khác là Việt Sinh. Sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 tại Hà Nội. (Nguyên tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt là Nguyễn Tường Sáu, vì ông là con thứ 6 trong nhà. Khi bắt đầu đi học ở trường huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), bố mẹ ông làm lại khai sinh là Nguyễn Tường Vinh. Đến năm Thạch Lam 15 tuổi, thấy mình học chậm, cần tăng thêm tuổi để học "nhảy" 4 năm, ông làm lại khai sinh lần nữa, thành Nguyễn Tường Lân).. - Xuất thân: Trong một gia đình công chức, gốc quan lại đã đến hồi sa sút. Cha Thạch Lam là Nguyễn Tường Nhu, sinh năm 1881, thông thạo chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông Phán Tòa sứ nên thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu. Mẹ là bà Lê Thị Sâm, con gái cả ông Lê Quang Thuật (tục gọi Quản Thuật), người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở Cẩm Giàng cùng thời với Huyện Giám (tức ông nội Thạch Lam). Ông bà Nhu có tất cả bảy người con (6 trai, 1 gái): Tường Thụy, Tường Cẩm, Tường Tam, Tường Long, Thị Thế, Tường Vinh và Tường Bách. Trừ Tường Thụy, làm công chức, các người con còn lại đều đã ít nhiều dự vào nghiệp văn chương. Trong số đó, nổi bật là Tường Tam (Nhất Linh), Tường Long (Hoàng Đạo) và Tường Vinh (Thạch Lam). Một lần từ Cẩm Giàng lên Hà Nội tiếp tế tiền gạo cho hai con học tập, ông Nhu gặp lại người lãnh đạo cũ là viên Công sứ Hải Tường, mời sang Sầm Nứa (Lào) để làm thông ngôn cho ông. Gặp năm lũ lụt, mất mùa, buôn bán ế ẩm nên ông Nhu nhận lời ngay. Ngày 31 tháng 7 năm 1917, ông Nhu đi nhưng chỉ làm được tám tháng, thì ông mắc bạo bệnh qua đời (1918). Kể từ đó, mẹ Thạch Lam phải một mình mua bán tảo tần nuôi một mẹ chồng và 7 người con.... - Tuổi thơ nhọc nhằn: Ở Cẩm Giàng, Thạch Lam học tại trường Nam (tiểu học Hải Dương, nay là trường tiểu học Tô Hiệu). Đến khi người anh cả là Nguyễn Tường Thụy ra trường dạy học ở Tân Đệ (Thái Bình), mẹ ông đã đưa cả nhà đi theo người con này, nên Thạch Lam đến học ở Tân Đệ. Nhưng ở được 1 năm, làm vẫn không đủ cho các miệng ăn, mẹ ông dẫn các con (trừ Nguyễn Tường Thụy) về Hà Nội ở nhà thuê, rồi cứ thế lúc ở Hà Nội, lúc ở Cẩm Giàng... Muốn sớm đỡ đần cho mẹ, Thạch Lam đã nhờ mẹ nói khéo với ông Lý trưởng cho đổi tên và khai tăng tuổi để học ban thành chung. Tiếp theo, ông thi đỗ vào Cao đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng chỉ học một thời gian, rồi vào trường Trung học Albert Sarraut để học thi Tú tài.. - Bước vào nghiệp văn: Khi đã đỗ Tú tài phần thứ nhất, Thạch Lam thôi học để làm báo với hai anh. Buổi đầu, ông gia nhập Tự Lực văn đoàn do anh là Nguyễn Tường Tam sáng lập, rồi được phân công lo việc biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của bút nhóm này. Đến tháng 2 năm 1935, thì ông được giao làm Chủ bút tờ Ngày nay. Khoảng năm 1935, Thạch Lam lấy vợ và được người chị (Nguyễn Thị Thế) nhường lại căn nhà nhỏ tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây (Hà Nội). Tuy chỉ là một mái tranh vách đất, thế nhưng “nhà cây liễu” là nơi thường lui tới của các văn nghệ sĩ. - Ngôi sao sớm tắt:.
<span class='text_page_counter'>(98)</span> Một tuổi thơ nhọc nhằn cộng với cuộc sống lao lực vì miếng cơm manh áo đã làm Thạch Lam sớm mắc căn bệnh lao phổi, một căn bệnh nan y thời bấy giờ. Ông mất tại “nhà cây liễu” vào ngày 27 tháng 6 năm 1942, lúc mới 32 tuổi, khi đang còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn. Ông ra đi để lại người vợ trẻ cùng với ba đứa con thơ (hai trai, một gái) trong cảnh nghèo. Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Thạch Lam có ba người con, hai trai một gái: Nguyễn Tường Nhung (sau này là vợ của trung tướng Ngô Quang Trưởng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa trước đây), Nguyễn Tường Đằng, và trước vài ngày khi ông mất, vợ ông sinh thêm con trai mà sau này là nhà văn Nguyễn Tường Giang. Ông ra đi để lại người vợ trẻ cùng với ba đứa con thơ trong cảnh nghèo. Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Theo nhà văn Băng Sơn thì sau khi Thạch Lam mất, vợ và các con ông có về sống ở Cẩm Giàng với bà Phán Nhu một thời gian rồi vào Nam. 2.. Con người - Thạch Lam là con người thành thực ngay cả trong sáng tác: viết những gì ông. nhìn thấy. - Thạch Lam là người trầm tĩnh kín đáo, thiên về đời sống nội tâm: không tích ồn ào thái quá, ít khi phản ứng bồng bột, mạnh mẽ. Mọi hành động đều cẩn trọng, chân thành. - Con người đa cảm, có tâm hồn tinh tế: Nhà văn Thế Uyên (con trai bà Nguyễn Thị Thế, cháu gọi Thạch Lam là cậu), trong bài Tìm kiếm Thạch Lam, có đoạn: Mẹ tôi bảo chú Thạch Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thủa nhỏ đã thế... Và chính ở đây (trại Cẩm Giàng) những người đàn ông ngồi uống trà, hút thuốc, nói chuyện tâm đắc...Có khi bàn chuyện văn chương, báo chí, có thể là chuyện cải cách dân tộc. Thường trong lúc ấy, Thạch Lam ngồi trong đám bạn văn thơ, bởi tính cách Thạch Lam chỉ có thế... Nhà văn Vũ Bằng kể: Thạch Lam yêu sự sống hơn bất kỳ ai. Anh quý từ cốc nước chè tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần như thành kính...như thể cảm ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy. Anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời...khiến người ta tủi thân mà buồn. Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng… Anh là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn... Có lần Thạch Lam nói: Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ. Người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ. Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống..
<span class='text_page_counter'>(99)</span> Một lần, Thạch Lam cho tiền một đứa trẻ bán rạc lang bị cướp mất tiền, tôi nhắc khéo là có thể bị đứa trẻ đánh lừa, Thạch Lam trả lời: Bị lừa hay không, cái đó không quan hệ lắm. Mình cần làm một việc xét ra phải làm, theo ý mình... Tháng 2/1935, Thạch Lam được giao quản trị báo Ngày nay. Một nhà thơ, vì cảnh nhà túng quẫn, cứ đến gặp ông xin tạm ứng tiền nhuận bút. Nhưng bạn vay 10 mà trả bài có 3. Có người nhắc ông sao không chặn lại, ông vẫn cho tạm ứng và bảo rằng: Chẳng ai muốn làm một việc như thế, người ta không còn con đường nào khác mới phải làm như vậy. Nếu không giúp đỡ, họ sống ra sao? Và mặc dù là người nghèo nhất trong gia đình (nhà tranh vách đất, thậm chí cái mền không có tiền mua), Thạch Lam vẫn thường mời bạn văn đến chơi nhà và thiết đãi tận tình. Khúc Hà Linh cho biết: Thạch Lam nghèo một phần vì sách của ông bán ế, nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng. Những bữa rượu cứ tiếp diễn, và bao giờ Thạch Lam cũng mời mọc thịnh tình cho đến khi thực khách say mềm. Trong lúc chè chén, có khi sinh sự ồn ào, những lúc ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén, không nói lớn, mà chỉ cười... - Là người luôn nhìn cuộc sống thiên về cái đẹp. Vì thế dù sống cùng thời với NTT, VTP, NC, NCH nhưng ông có cách viết khác. II. KHÁI QUÁT SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG THẠCH LAM Hầu hết sáng tác của Thạch Lam được đăng báo trước khi in thành sách: - Ba tập truyện ngắn: + Gió đầu mùa (Nxb Đời nay, 1937) + Nắng trong vườn (Nxb Đời nay, 1938) + Sợi tóc (Nxb Đời nay, 1942) - Tiểu thuyết: Ngày mới ( Nxb Đời nay, 1939) - Tập tiểu luận, Theo dòng (Nxb Đời nay, 1941) - Tập kí: Hà Nội băm sáu phố phường (Nxb Đời nay, 1943) - Và 2 quyển truyện viết cho thiếu nhi: Quyển sách, Hạt ngọc. Cả hai đều do Nxb Đời Nay ấn hành năm 1940.. III. THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC THẠCH LAM - Thế giới nhân vật trong sáng tác của Thạch Lam hầu hét là những con người ở địa vị thấp bé, có cuộc sống nghèo khổ, vất vả thường ở trong nhịp sống đơn điệu, nhàm tẻ. Ngoài ra các nhân vật hầu như chịu đày đọa về tinh thần. - Nhưng đằng sau đó là những con người có vẻ đẹp thanh cao. Đó là: 1. Vẻ đẹp của lòng thương yêu, đức hi sinh - Đó là những người phụ nữ bao giờ cũng sống, cũng nghĩ cho người khác..
<span class='text_page_counter'>(100)</span> - Họ đẹp trong sự nhẫn nhịn: Thường cam chịu kiếp người bất hạnh đến mòn mỏi và rồi dấy lên niềm thương cảm thân phận mình và dù thế nào đi nữa thì họ vẫn lặng lẽ hi sinh, tần tảo. 2. Vẻ đẹp của sự đùm bọc, sự sẻ chia - Các nhân vật luôn biết yêu thương nhau, sẻ chia cùng nhau những khó khăn tron cuộc sống. - Luôn giàu lòng trắc ẩn 3. Vẻ đẹp của lòng thủy chung, tình nghĩa - Luôn đối xử với nhau tình nghĩa, thủy chung - Ca ngợi lòng thủy chung với làng quê và quá khứ. 4. Vẻ đẹp của sự ăn năn, ý thức làm người và khao khát hoàn lương. - Dù không gặp những thử thách khắc nghiệt như trong các truyện ngắn HTPP nhưng những nhân vật của Thạch Lam sẵn sàng ăn năn, nhận lỗi khi mắc sai lầm. - Nhân vật luôn hướng thiện, và dù có cam chịu nhưng đằng sau đó là ý thức thân phận và khao khát làm người tốt. IV. TẬP BÚT KÍ HÀ NỘI BĂM SÁU PHỐ PHƯỜNG Thạch Lam là đại diện ưu tú của người Hà thành phong nhã, hào hoa. Ông yêu mến và hiểu biết Hà Nội tường tận trong mọi ngõ ngách của đời sống, cả trong không gian lẫn thời gian. Ông không coi thường bất cứ cái gì ở mảnh đất kinh kỳ này, và không có cái gì mà ông không nhìn theo cách của riêng ông, cách Thạch Lam. Hãy nghe ông biện giải về đất và người chốn văn vật, để thấy rõ ân tình mà Thạch Lam dành cho Hà Nội sâu đắm nhường bao: “Người Pháp có Paris, người Anh có London, người Tàu có Thượng Hải… Trong các sách vở, trên các báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha thiết, mến yêu… Ta phải nghe người Pháp nói đến Paris, người ở Paris, mới hiểu được sự yêu quý ấy đến bực nào. Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố rất nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp thật (chúng ta chỉ còn tim những vẻ đẹp ấy ra), và cũng vì chúng ta yêu mến. Yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội cũng như người Parisien chính hiệu yêu mến Paris… Trong những cuộc phiếm du - phiếm du ngoài các phố Hà Nội là một cái thú vô song, chỉ người Hà Nội có”. Quả đúng vậy! Cái thú thả bước tà tà, dọc theo các ngõ phố Hà Nội, trở thành căn bệnh trầm kha đối với những ai mang dòng máu lãng du trong người. Cũng là đi bộ, cũng là đi để dậy gió cảm xúc, nhưng đi trên ngõ phố Hà Nội vẫn thiêng liêng hơn, vẫn nhã thú hơn. Chẳng hay có phải vậy không, mà sau này nhà thơ Phan Vũ đã có hai câu thơ tuyệt hay nói về cái nhã thú vô song đó: “Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố/ Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường”. Với một lối hành văn nhẹ nhàng, thanh thoát, Thạch Lam đã “bất tử hóa” những cái bình thường, và làm thảng thốt những ai yêu mến Hà Nội. Bởi nhẽ, trong những đoạn văn thanh nhã,.
<span class='text_page_counter'>(101)</span> nhiều âm vang, ta vẫn nhận ra sự phấp phỏng âu lo của Thạch Lam trước sự đổi thay đã đến nơi mảnh đất kinh kỳ: “Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm. Những phố cũ, hẹp và khuất khúc, với những nhà thò ra thụt vào, những mái tường đi xuống từng bực như cầu thang, những cửa sổ gác nhỏ bé và kín đáo, đã nhường chỗ cho phố gạch thẳng và rộng rãi, với từng dãy nhà giống nhau đứng xếp hàng. Thẳng và đứng hàng, đó là biểu hiện của văn minh ( … ) Nhưng đối với người tản bộ đi chơi, lòng thư thả và mải tìm sự đẹp, thì phố xá mới không có gì thú vị. Không có những cái khuất khúc dành cho ta nhiều cái bất ngờ, không có một cây hoa nhô sau bức tường thấp, khiến chúng ta đoán được cả một thửa vườn nhỏ bên trong, ở đấy biết đâu lại không thướt tha một vài thiếu nữ khuê các như xưa”. Lời văn xa ngái như những nốt nhạc trầm buồn khẽ buông đã gợn lên trong ta không ít tiếc xót, ngậm ngùi. Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm. Tất nhiên, không vì thế mà triệt tiêu tính bay bổng, ngược lại vẫn lấp lánh cái nhung cái tuyết trong từng con chữ; nhiều đoạn lại thánh thót như thơ, nhưng là những khúc thơ man mác buồn. Cái buồn đáng có và nên có, làm cho con người thêm yêu cuộc sống và biết trân quý những gì đã có, đang có, để rồi gắng công mà lưu giữ, nếu không sẽ mai một dần. Dưới ngòi bút tinh tế, nặng về duy cảm, Thạch Lam dẫn ta vào cái hào hoa, cái phong nhã của người và sản vật Hà thành: “Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng là ngon lành và lịch sự. Ở các thôn quê, chút “quà Hà Nội” là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của người cho ( … ) Bao nhiêu ý tốt tình hay gửi vào trong chút quà nơi đô hội, món quà đem đến cho khắp nơi cái vị sành và trang nhã của băm sáu phố phường”. Đây là phở, một trong những thức quà chính tông của Hà Nội, dưới lăng kính Thạch Lam: “Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội không phải chỉ riêng ở Hà Nội mới ngon. Đó là thứ quà suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa và ăn phở tối”. Cũng theo Thạch Lam: “Nếu là gánh phở ngon – cả Hà Nội không có đâu làm nhiều – thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát; thịt mỡ gàu dòn chứ không dai, chanh, ớt, với hành tây đủ cả…”. Hàng bún ốc trong mắt Thạch Lam cũng đầy thi vị: “Có ai buổi trưa vắng hay buổi chiều, đêm khua, đi qua nhà các cô đào, và các chị em thanh lâu, thấy họ ăn cái quà ấy một cách chăm chú và tha thiết đến thế không? Nước ốc chua làm nhăn các nét mặt tàn phấn và mệt lả, miếng ớt cay làm xoa xuýt những cặp môi héo hắt và khiến đôi khi rỏ những giọt lệ thật thà hơn cả những giọt lệ tình”. Giọng văn kín đáo, nhẹ nhàng đi vào lòng người, khơi sâu niềm trắc ẩn với nỗi buồn thoáng vương trên gương mặt các cô gái. Do vậy, nhiều người bảo văn Thạch Lam giàu chất thơ. “Một ông đồ cuồng chữ ở nhà quê, một hôm khăn gói, ô lên Hà Nội, đã phải ứng khẩu đọc hai câu thơ như thế này, khi ngửi thấy mùi khói chả: Ngàn năm bửu vật đất Thăng Long/ Bún chả là đây có phải không? Mà cảm hứng thế là chí phải. Khi ngồi cuối chiều gió, đói bụng mà đón lấy cái khói chả thơm, thì ngài dễ thành thi sĩ lắm. Khói lam cuộn như sương mờ ở sườn núi, giọt mỡ chả xèo trên than hồng như một tiếng thở dài, và tiếng quạt khẽ đật như cành cây rung động, quà bún chả có nhiều cái quyến rũ đáng gọi là mê hồn, nếu không là mê bụng”. Thật thú vị khi gặp được đoạn văn dí dỏm mà tinh tế đến thế ở Thạch Lam. Hình như lúc này con người ẩm giả đã nhường chỗ cho.
<span class='text_page_counter'>(102)</span> con người nghệ sĩ, là dịp để ngòi bút Thạch Lam tha hồ tung tẩy. Và khi cơn gió heo may dợm bước ngoài ngõ phố cũng là lúc tiết trời Hà Nội chuyển dần vào thu, trong ta lại hanh hao nỗi nhớ một thức quà thanh nhã và tinh khiết của mùa thu: Cốm. “Cốm là thứ quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam”. Thật tinh tế và mơ màng! Cứ thế Thạch Lam lần lượt điểm qua tất cả những thức quà hiện thời của đất Thăng Long văn vật. Từ bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, ngô bung, xôi cho đến phở, bún ốc, bún bung, bánh cốm, bánh khảo, kẹo lạc, chè chén, bánh đậu, cốm… Từ những biển hàng, người ta viết chử Tây, những chốn ăn chơi, các hiệu cao lâu khách cho đến hàng nước cô Dần, bà cụ bán xôi, chợ mát ban đêm… Tất cả. Hữu danh và vô danh. Mọi vật đều bóng lên ánh thơ dưới cái nhìn của Thạch Lam. Rồi tiếng rao đêm trên đường phố Hà Nội từng ám ảnh Thạch Lam thuở nào: “Đêm khuya nữa… Ở các con đường vắng, một bóng người lủi thủi đi, một chấm lửa nhỏ lung lay theo từng bước. Chậm chạp và thong thả, bác hàng quà đi nhẹ như chân ma, thỉnh thoảng cất lên một tiếng rao khe khẽ, ngắn và chóng chìm vào quãng tối. Giầy giò, giầy giò… Tiếng rao buồn thảm, yếu ớt và uể oải như hàm một mối thất vọng không cùng. Cái đời tối tăm ấy ở những các đường phố xa, hẻo lánh như không còn mong mỏi chút gì. Cả cái thức quà của bác ta cũng vậy: mấy khoanh giò nguội, mấy chiếc bánh giò chưa ăn lạnh như sương trên mồ người chết. Cho nên bác cứ đi như thế, lẩn lứt ở các ngõ tối đêm khuya, chả mong bán được cũng chả mong ế, lặng lẽ và chán nản như một linh hồn có tội…”. Đó là tiếng rao bốn nghìn năm. Và có lẽ còn lâu nữa về sau, hình ảnh bác bán hàng lủi thủi đi trong đêm của Thạch Lam vẫn mãi là một ám ảnh thân thương, dễ động lòng người Việt. Bởi nó lặn sâu trong ký ức cộng đồng như một ảnh tượng của quê hương Việt Nam ngàn đời tảo tần, lam lũ. Văn Thạch Lam đượm một nỗi buồn sang trọng. Với Hà Nội băm sáu phố phường, Thạch Lam trở thành nhà chép sử đặc biệt của Hà Nội văn vật. Xét về phương diện này, Thạch Lam xứng đáng là một nhà phong tục học xuất sắc, đã làm rung động trái tim bao người, bằng một thứ ngôn ngữ dung hòa giữa văn xuôi và thơ, giữa hiện thực và lãng mạn; và sau hết là say sưa vì cảm giác về cái cao đẹp. Đồng thời, qua đó cũng cho chúng ta thấy được tình yêu vô bờ bến của Thạch Lam đối với cảnh sắc Hà thành.. V. ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM 1. Truyện không nhiều sự kiện, xung đột gay cấn mà thường nảy sinh từ tình huống nhẹ nhàng, mạch truyện ít cao. 2. Nhân vật ít có hành động mạnh mà chủ yếu thiên về hướng nội, thích giãi bày. 3. Lời văn trữ tình, mượt mà, nhẹ nhàng, trầm tĩnh. Gon gẽ 4. Lối trần thuật thiên về nhân vật tự giãi bày. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP. 1. Tiểu sử và con người Thạch Lam?.
<span class='text_page_counter'>(103)</span> 2. Thế giới nhân vật của Thạch Lam có gì đặc sắc? 3. Đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam 4. Ôn tập văn học lãng mạn chuẩn bị kiểm tra viết. Tiết: 26. Ký duyệt. THI GIỮA KỲ (Bài viết số 2) A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT. Giúp Sinh viên nắm được 1. Những nội dung về trào lưu văn học Lãng mạn, phong cách sáng tác, quan điểm sáng tác nghệ thuật, nội dung văn thơ của Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Thạch Lam. 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, các nội dung liên quan tới văn thơ của nghệ sĩ thuộc trào lưu văn học lãng mạn, nhất là những tác phẩm được dạy trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. B. TÀI LIỆU HỌC TẬP. * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. C. NỘI DUNG KIỂM TRA. - Thời gian: 45 phút - Hình thức: thi viết Đề bài: Vì sao nói Xuân Diệu là thi sĩ của tuổi trẻ và tình yêu? Đáp án:. Nội dung cần đạt Thang điểm * Lí giải vì sao Xuân Diệu là thi sĩ của tuổi trẻ và tình yêu, SV cần 7.0 làm rõ được những nội dung cơ bản sau: 1. Đây là mảnh đất ông viết nhiều nhất, hay nhất và theo ông đã đem. 1.0. lại niềm hạnh phúc nhất cho cuộc đời sáng tác với cảm xúc hết sức chân thành. 3. Khẳng định Xuân Diệu là thi sĩ của tuổi trẻ, bởi vì: - Xuân Diệu đem đến cho người đọc sức sống của tuổi trẻ bởi sức trẻ mãnh liệt và độ nồng cảm xúc một cách chân thành trong thơ.. 1.0.
<span class='text_page_counter'>(104)</span> - Thể hiện ở những điểm: + Thơ Xuân Diệu mang theo sức sống rạt rào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” (phân tích hình ảnh mùa xuân là mùa. 1.0. trẻ nhất trong vũ trụ, là thời hoàng kim nhất của thiên nhiên, hội tụ mọi vẻ đẹp, yếu tố đỉnh điểm và gợi cảm nhất - là thời điểm của tuổi trẻ; là thế giới thiên trẻ trung, tươi thắm rực rỡ sắc màu, chói ngời ánh sáng, hương vị nồng nàn, âm thanh ríu rít...) + Gọi tuổi trẻ là thanh niên, là xuân thì, dùng tuổi trẻ để đo. 1.0. đếm định giá những phương diện nhân sinh. Cho rằng mất thời trẻ mất thanh niên là rơi vào cô đơn, mất đi sự sống. 4. Khẳng định Xuân Diệu là thi sĩ của tình yêu, bởi vì: - Là người viết về tình yêu hay nhất với đầy đủ cung bậc cảm xúc. 1.0. mà các nhà thơ khác chưa diễn tả được hết: từ Gặp gỡ rồi Yêu, cho đến khi Xa cách, Biệt li êm ái và với những tâm trạng và hành động khác nhau.. 1.0. - Xuân Diệu đã đem đến quan niệm mới trong tình yêu: tình yêu là tình tự. Để thể hiện được điều này ông thường lấy thiên nhiên để. 1.0. miêu tả. - Thơ tình yêu trong Xuân Diệu được coi là bài ca sự sống. Nó hòa quyện vào cảm xúc, thân thể lẫn tinh thần, thức nhọn các giác quan và là không gian gửi gắm niềm khao khát về tình yêu vô biên và tuyệt đích 4. Liên hệ và có dẫn chứng được với các nhà thơ cũng viết về tuổi trẻ và tình yêu để thấy được những nét riêng. * Kết lại vấn đề. * Hình thức: trình bày, bố cục logic, sạch đẹp... D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Ôn lại kiến thức đã học 2. Chuẩn bị bài Khái quát trào lưu văn học Hiện thực phê phán. 1.0 1.0 1.0.
<span class='text_page_counter'>(105)</span> Tiết: 27 - 29. Ngày ký duyệt Bài 9. 1930 - 1945 A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Sự hình thành chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam, các giai đoạn phát triển và những đặc điểm cơ bản của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam. 2. Phân tích vấn đề nội dung, tổng hợp và so sánh đối chiếu với khuynh hướng văn học khác của văn học Việt Nam hiện đại. 3. Phát huy tính chủ động trong học tập: sưu tầm tài liệu, hoạt động nhóm... B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Nguyễn Đức Đàn, Mấy vấn đè về văn học hiện thực phê phán Việt Nam 2. Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. SỰ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG VHVN - Sự xuất hiện: Chủ nghĩa hiện thực phê thực chất là một thuật ngữ của chủ nghĩa hiện thực hiểu theo nghĩa phương pháp sáng tác. Nó có nhiều dạng: Chủ nghĩa hiện thực thời Phục Hưng, Chủ nghĩa hiện thực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thự thời phong kiến mạt kì ở phương Đông. Nhưng chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX ở Tâu Âu phát triển đỉnh cao nhất nên người ta gọi là chủ nghĩa hiện thực cổ điển , và cì cảm hứng chủ đạo của nó là cảm hứng phê phán nên theo ý kiến của [M. Goocki, người ta thường gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán.(Chủ nghĩa hiện thực phê phán còn có nghĩa là một trào lưu văn học, đối tượng của bộ môn lịch sử văn học) Khác với chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa cổ điển thường bị phối bởi một vài nguồn ý thưc tư tưởng, chủ nghĩa hiện thực cóa tham vọng phải khơi nguồn ở nhiều phương diện khác nhau và tất cả phải cuối cùng phải được kết tinh lại thành một nguyên tắc nhất quán là phản ánh chân thực cuộc sống ở những phương diện khác nhau của nó..
<span class='text_page_counter'>(106)</span> - Ở Việt Nam: + Trước K XX: văn học Việt Nam chủ yếu phát triển về thơ ca còn văn xuôi thực sự rất ít không tự nó đưa đến con đường hiện thực chủ nghĩa. + Những năm 1930, văn học có manh nha những yếu tố hiện thực trong văn xuôi nhưng chưa thực sự là những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa. + TKXX, với tiền đề chính trị xã hội văn hóa tạo cơ sở cho sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực: thực dân xâm lược, đô thị hóa, mâu thuẫn xã hội, thành tựu khoa học phương Tây... Cộng với sự ảnh hưởng văn học hiện thực phê phán ở các nước phương Tây. Từ đây nền văn xuôi chữ quốc ngữ phát triển đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự là tiền đề then chốt cho sự ra đời chủ nghĩa hiện thực. Ở VN hiện thực chủ yếu phát triển theo diễn biến 3 chặng đường với sự tiếp nối. Thời gian đầu, các tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là những người đem đến tinh thần phê phán nhưng mới ở những phần khái quát. Tiếp đến là các tên tuổi Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng với sự phát triển đột khởi, nhanh chóng. Đến chặng cuối, Nam Cao là nhà hiện thực phê phán tiêu biểu nhưng lúc này khuynh hướng văn học bắt đầu suy yếu. II. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRÀO LƯU VH HIỆN THỰC PHÊ PHÁN VN 1. Mang tính dân chủ và tính nhân dân sâu sắc, có nhiều yếu tố tiến bộ, yêu nước và cách mạng. - Tính dân chủ: Đối tượng tiếp nhận và sáng tác mở rộng. Một số tác phẩm được viết dưới sự ảnh hưởng, gợi ý trực tiếp của những người cộng sản. Văn học không bó hẹp phạm vi chủ đề mà mở rộng ra các vấn đề mới của cách mạng như vấn đề ruộng đất, dân cày, công nhân... - Tính nhân dân: không chỉ chĩa mũi nhọn phê phán vào giai ấp địa chủ, quan lại mà đặc biệt quan tâm nhiều tới đời sống nhân dân lao động, thể hiện nỗi khổ của nhân dân với sự cảm thông sâu sắc. + VHHTPP PT TK XIX: chủ yếu xây dựng hình tượng nhân vật quý tộc. + VHHTPPVN chủ yếu xây dựng nhân vật là nông dân. - Yếu tố tiến bộ, yêu nước và cách mạng: văn học hiện thực phê phán đã thẻ hiện được không khí oi bức ngột ngạt đầy khắc khoải trước hiện thực ở tận cùng sự thối nát đang trong cơn quằn quại lột xác để đổi thay. Đồng thời ẩn chứa những niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc..
<span class='text_page_counter'>(107)</span> 2. Giàu tính thời sự và có tính chiến đấu cao - Tính thời sự: phản ánh kịp thời không khí xã hội chính trị sôi nổi, căng thẳng. - Tính chiến đấu: do chính sách kiểm duyệt gắt gao và tình hình xã hội chuyển biến căng thẳng, văn học đã đứng lên phê phán, đả kích phủ định trật tự xã hội đương thời. 3. Cảm hứng yêu thương và cảm hứng trào phúng là những cảm hứng nổi bật. - Cảm hứng yêu thương: những sáng tác văn học luôn quan tâm tới số phận của những người nông dân nghèo khổ trong xã hội. Đồng thời đề cao những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động. - Cảm hứng trào phúng: được các nhà văn sử dụng với tỉ lệ và tần suất cao , đa dạng, phong phú về tiết tấu, âm sắc, trường độ và cao độ... có ý nghĩa thế giới quan sâu sắc, góp phần khám phá cuộc sống đặc biệt. 4. Là dòng văn học không thuần nhất có nhiều ảnh hưởng phức tạp - Có sự trộn lẫn hai phương pháp hiện thực và lãng mạn, òa trộn với dòng văn học cách mạng... - Chứa nhiều ảnh hưởng phức tạp, nhiều mâu thuẫn, có cả tích cực và không tích cực của nhiều trào lưu văn học phương Tây: hiện thực chủ nghĩa, chủ nghĩa tự nhiên... NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU ( 01 Tiết - Tiết 29 ) Nội dung: Tìm hiểu quá trình vận động và phát triển của văn học hiện thực phê phán Việt Nam từ 1930 - 1945 Định hướng: Văn học hiện thực phê phán Việt Nam vận động và phát triển qua 3 chặng đường 1. Chặng đường từ 1930 -1935 - Thời gian đầu vận động của văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam - Nội dung phản ánh một xã hội thành thị Việt Nam với khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đồng thời toát lên tinh thần phê phán hiện thực, bộc lộ sự cảm thông thương xót với những nạn nhân của chế độ xã hội. Nhưng chỉ ở phần hạn chế, mới khai thác ở bề nông. - Tên tuổi tiêu biểu: Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng.
<span class='text_page_counter'>(108)</span> 2. Chặng đường từ 1936 - 1939 - Thời kì phát triển thuận lợi, vượt lên trên lấn át văn học lãng mạn. - Đặc điểm cơ bản: Giàu tính thời sự và có tính chiến đấu cao. - Thành tựu phát triển trên nhiều thể loại, tiểu biểu nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết. - Tuy nhiên văn học hiện thực thời kì này vẫn không tránh khỏi một số hạn chế, một vài tác phẩm bị ảnh hưởng tư tưởng bảo thủ, cải lương.. - Tên tuổi tiêu biểu: Ngô Tất Tố và Nguyên Hồng 3. Chặng đường từ 1940 - 1945 - Tình hình chiến sự chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tác động mạnh mẽ tới bộ phận văn học công khai làm cho cây bút hiện thực trở nên hoang mang, dao động. - Đội ngũ các nhà văn hiện thực có thay đổi lớn. - Nội dung ít trực tiếp thể hiện những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội như ở chặng trước mà hướng vòa đề tài có tính chất phong tục, hoặc đi vào những chuyện đời tư vặt vãnh hàng ngày...Thiên về hướng nội, giàu tính chật tự truyện và mang - Nội dung ít trực tiếp thể hiện những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội như ở chặng trước mà hướng vòa đề tài có tính chất phong tục, hoặc đi vào những chuyện đời tư vặt vãnh hàng ngày...Thiên về hướng nội, giàu tính chật tự truyện và mang ý vị trữ tình sâu sắc... - Tên tuổi: Nam Cao D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Những đặc điểm cơ bản của khuynh hướng văn học hiện thực phê phán Việt Nam 2. Quá trình hình thành, vận động và phát triển của VHHT PP VN. 3. Chuẩn bị bài Nguyễn Công Hoan. Tiết: 30 - 32. Ký duyệt Bài 9 NGUYỄN CÔNG HOAN. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT.
<span class='text_page_counter'>(109)</span> Giúp Sinh viên nắm được 1. Kiến thức cơ bản về Nguyễn Công Hoan: quan điểm xã hội và đạo đức; những thành công và nhược điểm trong tiểu thuyết nhất là những phong cách nghệ thuật độc đáo của ông trong truyện ngắn trào phúng. 2. Có kí năng tiếp cận và phân tích truyện ngắn trào phúng 3. Phát huy tính chủ động trong học tập. Thêm yêu mến và trân trọng những thành quả mà cha ông ta đã tạo dựng. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Nhiều tác giả, Nguyễn Công Hoan nhà văn hiện thực lớn... 2. Lê Thị Đức Hạnh, Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 3. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. 4. Tuyển tập Nguyễn Công Hoan C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ VÀ Ý THỨC SÁNG TÁC 1. Tiểu sử - Sinh ngày 6/3/1903 trong một gia đình nhà nho thất thế. Bố là bác làm quan liêm chính , thanh bạch nên gia cảnh cũng không lấy gì làm khá giả, Nguyễn Công Hoan phải ở nhà bác (làm tri huyện). Vì thế ông cảm nhận sự bất công và bất lực, cảm nhận sự cay đắng ở thời đại. - Tốt nghiệp trường Sư phạm (1926) đi dạy học tiểu học và viết văn. Nhưng vì nhà giáo tiểu học không được ưa vì dễ bảo, trung thành nên bị đổi đi nhiều nơi : Là điều kiện đi thực tế để tiếp xúc với nhiều người, quan sát nhiều cảnh đời. - Từ nhỏ đã nghe trong nhà nói tới những người yêu nước tiên tiến như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, phong trào Đông Kinh nghĩa thục . Cộng với sự tiếp thu trí thức từ những sách báo yêu nước. Gia đình nhiều nhười thoát ly làm cách mạng và bị tù đày. Tiếp xúc với nhiều người là cộng sản, chịu ảnh hưởng của luồng tư tưởng ĐCS... Thôi thúc tinh thần yêu nước, dám đứng lên tố cáo hiện thực nằng con mắt hiện thực. (Tham khảo: Mặc dù sinh thời, Phạm Quỳnh nhận xét về Nguyễn Công Hoan rằng: "Truyện viết hay như Tây" nhưng ông rất ít đọc các tác phẩm văn học nước ngoài, kể.
<span class='text_page_counter'>(110)</span> cả tác phẩm của các tác giả bậc thầy. Theo ông kể lại, ngày còn đi học, ông được một người thân cho ba đồng bạc để mua sách, ông góp thêm tiền vào mua được bộ tiểu thuyết "Bá tước Monte Cristo" (bấy giờ được dịch sang tiếng Việt là "Ngọc Sơn bá tước") của Alexandre Dumas. Sách mua về, ông chỉ đọc có chương đầu tiên rồi bỏ, từ đấy cuốn sách chỉ để cho mượn. Khi ông được người bạn cho mượn một tập truyện ngắn của Guy de Maupassant thì ông cũng chỉ đọc có truyện đầu là truyện "Lão ăn mày", rồi không xem thêm nữa Một lần, cảnh sát khu vực phường Trần Hưng Đạo đến nhà gặp Nguyễn Công Hoan để kê khai bổ sung về hộ khẩu, lý lịch. Đến mục "Trình độ văn hóa", ông khai là "đọc thông, viết thạo". Người cảnh sát khu vực tròn xoe mắt thắc mắc: "Thưa bác, bác là nhà văn lớn mà khai như thế này, liệu có khiêm tốn quá không?". Ông Hoan nói: "Ghi đúng đấy. Tôi hồi trước học theo văn bằng của Pháp chỉ tương đương hết phổ thông bây giờ. Tôi từng chỉ là thầy giáo tiểu học. Nhưng bây giờ nhiều trường đại học vẫn mời tôi giảng bài cho các thế hệ sinh viên. Theo anh, tôi nên khai như thế nào?". Ông nội của Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đức Liên, đưa ra quy ước về cách đặt tên đệm lần lượt theo các đời là "Đức, Đạo, Công, Tài, Trường, Thiên, Thế, Tộ", do vậy ông được đặt tên đệm chữ "Công". Các con trai của ông được đặt tên đệm chữ "Tài" (Nguyễn Tài Khoái, Nguyễn Tài Đông, ngang hàng có "Nguyễn Tài Dư, Nguyễn Tài Anh"...). Cháu nội ông lấy đệm chữ "Trường" (Nguyễn Trường Thống Nhất, Nguyễn Trường Đại...). Cũng theo quy ước đó, khi đến chữ "Tộ" thì quay lại chữ "Đức". Ý nghĩa của tám chữ được dùng để đặt tên đệm đó đại ý là có đạo đức, có tài năng thì tiếng tăm được lưu truyền trên thế gian này mãi mãi).. 2. Ý thức sáng tác - Yếu tố về gia đình: Sinh trưởng trong gia đình quan lại, khoa bảng. Cha là một nhà nho thất thế. Vì thế Nguyễn Công Hoan chịu ảnh hưởng khá nặng của hệ tưởng phong kiến đó là + Bất mãn, phản ứng một cách tiêu cực bằng cách cố giữ nền nếp Nho phong cùng đạo đức phong kiến lỗi thời. + Ý thức về tinh thần dân tộc. - Xã hội: Nhiều biến động. Chứng kiến những mâu thuẫn giàu nghèo trong xã hội. Bản thân gia đình cũng xuất thân nghèo khó. + Nguyễn Công Hoan luôn bị ám ảnh về những mâu thuẫn đó và trở thành ý thức nghệ thuật chi phối cách dựng truyện, kết cấu.
<span class='text_page_counter'>(111)</span> + Luôn đứng về phía nghười nghèo bị hiếp ức bóc lột để lên án bọn giàu có bất nhân. - Văn hóa tư tưởng: Chịu ảnh hưởng từ rất sớm những mỗi trường văn hóa phương Tây. Cộng với đó là phong trào cách mạng, tấm gương yêu nước tiến bộ, ánh sáng của Đảng nên những sáng tác của ông thường đứng trên lập trường tư tưởng tiến bộ, có sự kết hợp hài hòa và sâu sắc truyền thống và môi trường văn hóa. II. QUAN ĐIỂM NHÌN NHẬN HIỆN THỰC CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN 1. Quan điểm xã hội chủ yếu là quan điểm giàu nghèo. - Chỉ ra sự xung đột rõ rệt giữa kẻ giàu và người nghèo. Một đằng chẳng làm gì cả mà ăn ngập mày ngập mặt không hết tiền, hết của. Một đằng thì vất vả đủ đường mà suốt đời đói rách. Hai cái bụng có thể coi là dạng kết cấu đơn giản nhất nhưng tiêu biểu của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan theo quan điểm nói trên - Chi phối cách dựng truyện, kết cấu, xây dựng nhân vật... Có một đề tài cứ trở đi trở lại luôn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: Chuyện ăn cắp, thói ăn cắp. Có lẽ xoay quanh những vụ trộm cắp, nhà văn dễ tìm ra những tình tiết ly kỳ hấp dẫn chăng? Có phần chắc là, viết về đề tài này, Nguyễn Công Hoan có dịp thuận tiện để đem công lý của người nghèo chọi lại một cách thú vị "công lý" của nhà giàu. Nghĩa là ông đóng vai trạng sư cãi trắng án cho những kẻ ăn cắp do nghèo đói mà phải ăn quỵt hai xu bún riêu, bốc trộm củ khoai, một tấm bánh (Thằng ăn cắp, Bữa no đòn, Thế cho nó chừa...), ngược lại, ông chỉ đích danh thủ phạm chính là bọn nhà giàu. Cách dựng truyện ở đây dắt dẫn độc giả bắt quả tang những vụ trộm bất ngờ: Chẳng hạn, Cái ví ấy của ai? là chuyện mấy ông huyện, ông đốc, bà tham, bà cử nào đó rất chi là sang trọng lịch sự, đang khiêu vũ với nhau, nói toàn tiếng Tây, tưởng đâu chỉ có say vì nhạc, mê vì tình. Ấy thế mà xoay ra lần ví của nhau. Thằng Quýt tố cáo một ông phán ăn cắp tiền của đầy tớ một cách đểu giả, độc ác. Cụ Chánh Bá mất giày cũng là một kiểu ăn cắp không hơn không kém: dựng đứng lên chuyện mất cắp để thực sự ăn cắp một đôi giày mới. Đê tiện và bất ngờ nhất có lẽ là vụ Đồng hào có ma: người dân đen ngày trước đã vào đến cửa quan thì như con sâu cái kiến, ai chửi bới, bóp nặn cũng phải chịu. Nhưng có ngờ đâu quan huyện oai vệ là thế mà lại đi ăn cắp mà ăn cắp một đồng hào đánh rơi của người dân nghèo, mặt cứ tỉnh như không, đúng là ăn cắp chính tông! Một trường hợp khác còn có phần ly.
<span class='text_page_counter'>(112)</span> kỳ hơn: quan huyện ăn cướp của một thằng ăn cướp đến nỗi nó phải giải nghệ vì lỗ vốn to với quan lớn (Thằng ăn cướp)... - Thường bênh vực cho người nghèo khổ. Vì lối đánh là lối đánh ác, nên một khi đánh trúng thì truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thường đem đến cho độc giả những giây phút hả lòng hả dạ. Đó là những khi đòn châm biếm giáng vào bọn thực dân, quan lại (cả quan ông lẫn quan bà), bọn tư sản, địa chủ, cường hào, lính tráng. Ông ghét cay ghét đắng hai tội này của chúng: cậy quyền cậy thế lấy thịt đè người và tham lam vô độ, vơ vét cả đến đồng xu cuối cùng của người dân nghèo. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Công Hoan tả chứng nhất loạt đều to béo, béo đến chảy mỡ, đến phát phì ra. Đây là cách giải thích rất Nguyễn Công Hoan: "Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khoẻ mạnh, béo tốt. Thuyết ấy sai. Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực, ở đời này, bao nhiêu những anh béo khoẻ, đều là những anh thích ăn bẩn cả"(Đồng hào có ma). "Ăn bẩn" nghĩa là đục khoét dân, hút máu hút mủ của dân. Hàng loạt truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan chỉ xoay quanh các mánh khoé "ăn bẩn" của bọn quan lại, cường hào thôi mà không hề trùng lặp. Có những cách "ăn uống" thật oái ăm, kỳ lạ và hết sức đê tiện. Nghĩ lại, thấy người dân đen ngày trước thật cực khổ vô cùng: Khổ vì nghèo đói đã đành, đến con chết cũng không được chôn (Thịt người chết), mẹ chết không được đưa ra đồng (Người thứ ba), thậm chí khóc cũng không được khóc. "Cụ thư ký (...) mặt hầm hầm, trỏ ba toong vào mặt chị Cu, hất hàm hỏi: - Ai cho phép mày khóc? - Lạy cụ, mẹ con chết thì con khóc. Rồi không nhịn được nỗi thương tâm, chị ti tỉ: - Mẹ ơi! Hai mắt long lên, cụ Ký giơ năm đầu ngón tay: - Ông thì vả vỡ tan họng mày ra bây giờ! Mẹ mày chết, mày đã trình báo gì tao chưa, mà đã dám khóc?"(Công dụng của cái miệng). - Lên án bọn có quyền mà bất nhân. Thế là trong cái xã hội của truyện ngắn, truyện dài Nguyễn Công Hoan, bọn thống trị chỉ là một lũ ăn cắp, ăn cướp. Luật pháp của chúng bày ra chỉ là để đè đầu người dân xuống mà ăn cắp, ăn cướp..
<span class='text_page_counter'>(113)</span> Nguyễn Công Hoan đã phản ánh được chính xác, một khía cạnh bản chất của hiện thực Đây là quan điểm tiến bộ, nhân đạo và mang tinh thần dân chủ. 2. Quan điểm luân lí, đạo đức - Đả kích sâu cay bọn quan lại hãnh tiến vô liêm sỉ, bọn tư sản, thanh niên chạy theo Âu hóa nhố nhăng... - Vẫn coi trọng những giáo điều mà lễ giáo phong kiến ràng buộc. Cũng như Tú Xương, ông cảm thấy đau đớn, phẫn uất trước tình trạng chủ nghĩa thực dân và sinh hoạt tư sản đã đẻ ra biết bao quái thai, ngang nhiên xéo lên những truyền thống đạo đức của cha ông. Tú Xương từng chứng kiến: Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng. Đến thời Nguyễn Công Hoan, tình trạng còn thối nát hơn nhiều. Nhà văn đã ghi lại nhiều cảnh thật tồi tệ; Một ông chủ xe ô tô Con Cọp nào đó giỗ cha rất linh đình, nhưng mà mẹ nghèo còn sống sờ sờ ra đây thì cấm cửa (Báo hiếu: trả nghĩa cha), một bà tham hay bà đốc gì đó đã đền ơn chồng bằng cách "Thế rồi mợ nó đi Tây"; một ông viên chức nọ vác ba toong dạy vợ về đạo tòng phu, hiểu theo nghĩa phải vâng lệnh chồng đi ngủ với cấp trên (Xuất giá tòng phu), một bà quả phụ quan tuần phủ kia kiếm được bốn chữ "Tiết hạnh khả phong" bằng cách vứt bỏ chính cái tiết hạnh của mình (Một tấm gương sáng), Hai thằng khốn nạn, Thật là phúc, Mất cái ví, Thằng điên... cũng đều là những truyện đặc sắc nói về tính cách "khốn nạn" của bọn thống trị, bóc lột trong xã hội cũ. Ở những tác phẩm như thế, quan điểm đạo đức đã thống nhất chặt chẽ với quan điểm giàu nghèo, giúp nhà văn luyện được những đòn vừa chính xác vừa hiểm hóc. III. TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN 1. Và nét về quá trình sáng tác Nguyễn công Hoan : Tôi đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn, chứ không phải vào việc viết truyện dài. Tôi chỉ viết truyện dài khi nào tôi lười đi tìm đề tài để viết truyện ngắn” (Đời viết văn của tôi). Nguyễn công Hoan sáng tác truyện ngắn vào những năm 20 của thế kỷ XX, nhưng tài năng của ông nở rộ từ năm 1933 với “Kép Tư Bền”. Tài năng truyện ngắn.
<span class='text_page_counter'>(114)</span> của ông phát triển mạnh vào thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939). Từ khỏang 1940 trở đi, Nguyễn Công Hoan có sự khủng hoảng về tư tưởng, dao động về quan điểm nghệ thuật. Ông sáng tác những truyện dài lãng mạn. 1.1. Chặng đường từ 1929 - 1935 - Nguyễn Công Hoan là nhà văn đầu tiên có công mở đầu, cắm ngọn cờ chiến thắng cho trào lưu văn học hiện thực phê phán trong lĩnh vực truyện ngắn. - Thể hiện quan điểm nhìn thẳng vào hiện thực, làm nổi rõ sự đụng chạm của cái giàu nghèo trên đường đời, sự coi trọng đồng tiền. Ví dụ: Chuyện Răng con chó của nhà tư sản, Đàn bà là giống yếu... - Thể hiện tình cảnh khốn cùng thảm thương của dân nghèo thành thị: những người dưới đáy xã hội như phu xe, lưu manh, ăn mày... Ngựa người người ngựa, Thằng ăn cắp - Hạn chế: tầm bao quát hiện thực chưa rộng, nhiều khi thái độ trân trọng còn mờ nhạt. 1.2. Chặng đường từ 1936 - 1939 - Đề tài mở rộng hơn. Đối tượng trào phúng chính xác hơn. Tiếng cười đả kích sâu cay hơn. Ngượng mồm, Gánh khoai lang, Đồng hào có ma - Sự đối lập giàu nghèo tiến gần đén quan điểm giai cấp. - Nhân vật mở rộng ở tất cả đối tượng. Thái độ của nhà văn cũng cảm thông, trân trọng hơn. - Hạn chế: tiếng cười còn phù phiếm ít có ý nghĩa nhân sinh. 1.3. Chặng đường từ 1940 - 1945 - Đây là chặng đường sa sút ngòi bút của NCH do chịu ảnh hưởng từ xã hội ngột ngạt, đen tối. Nhiều khi do không kiên định lập trường tue tưởng tỏ ra hoang mang, dao động. - NCH: Đời viết văn của tôi có thể gọi là tàn tạ, sắp chết. 2. Phong cách Nguyễn Công Hoan Phan Cự Đệ: “Nguyễn Công Hoan là người có phong cách truyện ngắn độc đáo...” (Lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn Công Hoan) ? Những nhân tố nào đã tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo của NCH. 2.1. Truyện ngắn NCH là tiếng cười trào phúng sâu sắc.
<span class='text_page_counter'>(115)</span> - Là người có năng khiếu trào phúng bẩm sinh. Ngay cả khi làm giấy khai sinh ông cũng lấy ngày 1 - 4, đẻ năm 1905, lậu 2 tuổi. - Yêu thích hài kịch Moolie, thích tìm những thói xấu của người khác làm đề tài dựng kịch để chế nhạo. - Thích trêu đùa và lêu lổng . Có thể đứng hàng giờ ở công đường để nghe, nói đủ thứ chuyện...từ đó dần dần đi vào văn chương với tính trào phúng sâu cay. - Môi trường sống giả dối, lừa bịp, bất công là một thứ vũ khí mài sắc ngòi bút truyện ngắn trào phúng của NCH. - Tiếng cười của Nguyễn Công Hoan chịu ảnh hưởng tiếng cười dân gian truyền thống, tiếng cười của chèo, tiếu lâm. Trạng Quỳnh,… thể hiện qua yếu tố tục, thái độ hạ bệ, san bằng tất cả, « bốp chát dánh vỗ mặt đối phương. 2.2. Truyện ngắn trào phúng của NCH thể hiện cách nhìn đời rất độc đáo: * Đời chỉ là một sân khấu hài kịch, một tấn trò hề lố lăng, giả dối. - Đời ở đây là: xã hội thực dân tư sản với mọi sản phẩm lố lăng, thối nát, đồi bại. Và ông nhìn đâu cũng thấy nghịch cảnh, phi đạo lí, thấy cái đáng cười và đáng chế giễu. Ví dụ: Kép Tư Bền : hiện tượng bên ngoài pha trò, cười cợt, nhưng bên trong tan nát ruột gan. Anh kép hát muốn khóc lại phải cười. Xuất giá tòng phu, hiện tượng bên ngoài là chồng dạy vợ đạo tòng phu, nhưng thực chất là phản lại đạo tòng phu. Người đàn bà trong câu chuyện bị đặt trong tình huống bị chồng cưỡng bức đi ngủ với quan trên để thực hiện ’đức tam tòng’. Tinh thần thể dục, hiện tượng bên ngoài là chăm lo sức khỏe và sự giải trí cho dân ; nhưng thực chất là đem tại họa đến cho dân. Thật là phúc, hiện tượng bên ngoài là cửa quan nơi thực hiện công lý, nhưng thực chất quan là tai họa, hung thàn của dân. Đồng hào có ma, hiện tượng bên ngoài : quan là tôn nghiêm, cao cả, nhưng thực hất là ti tiện. - Nguyên nhân: + Nguyễn Công Hoan sinh ra trong một gia đình quan lại nhà nho suy tàn vì sự đổi thay của chế độ. Từ quan điểm nhà nho thất thế, chứng kiến tư sản phá vỡ luân thường đạo lí Nho gia nên xã hội thực dân tư sản đã in dấu trong trí nhớ tạo cái nhìn riêng độc đáo không trộn lẫn. + Nguyễn Công Hoan là một nhà văn của người nghèo, có tinh thần dân chủ, dân tộc. Ông là nhà văn ác cảm với bọn có tiền, có quyền trong xã hội thực dân. Ông căm ghét xã hội thực dân nhưng lại cảm thấy bất lực khi bọn thực dân lên ngôi. Cái.
<span class='text_page_counter'>(116)</span> nhìn ấy khiến ông cảm nhận đời là một sân khấu hài kịch. Trong đó những kẻ đóng vài hề là bọn ông chủ, bà chủ. Diễn viên chính là thực dân, quan lại mới, bọn tư sản, nhà giàu thành thị, cùng tay sai của chúng ở nông thôn. Đối với chúng, những gì thiêng liêng nhất đều trưở thành trò đùa, trò bịp, đều là diễn kịch trên khấu cuộc đời. Quan lại diễn trò công minh, công lý (Thật là phúc, Đồng hào có ma, Thịt người chết, Sáu mạng người,… Vợ chồng diễn trò tam tòng tứ đức (Xuất giá tòng phu, Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn,…) Đàn bà diễn trò tiết hạnh (Thế là mợ nó đi Tây, ỏan tà roằn,…) Con cái diễn trò báo hiếu (Báo hiếu : trả nghĩa cha, Báo hiếu : trả nghĩa mẹ, …) Nhà nước diễn trò mị dân (Đào kép mới, Tinh thần thể dụ,…) Tát cả là sân khấu diễn trò làm nổi bật triếng cười căm uất cay đắng như muốn phủ nhận tất cả, tung hê tất cả. * Cuộc đời luôn có chứa những mâu thuẫn trào phúng: Mỗi truyện một tình huống trào phúng thể hiện cái nhìn sắc sảo, tinh nhạy. - Những mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức, giữa bản chất và hiện tượng, mục đích và ý nghĩa... + Hiện tượng > < bản chất : Báo hiếu : trả nghĩa cha, Báo hiếu : trả nghĩa mẹ, Kép tư bền, Đào kép mới,… + Bên ngoài chinh nghĩa > + Nguyên nhân tầm thường> < hậu quả nghiêm trọng : Thằng ăn cắp, … + Hy vọng >< thất vọng : Ngựa người và người ngựa, Ngậm cười,… + Phúc > < họa : Được chuyến khách, hé !... - Diễn đạt mâu thuẫn luôn được phóng đại theo hệ thống từ thấp tới cao và luôn đảm bảo tính như thật. Răng con chó của nhà tư sản: Bà chủ vừa trang điểm xong, ra ngồi đó để tiếp khách. Trên chiếc ghế thứ tư, con chó nhảy tót lên, ngồi chồm chỗm, thè lưỡi, nhìn hết người nọ đến người kia. Người đời ai được phú quý cũng hay khoe của. Cho nên, dù khôn ngoan khéo léo hơn người, ông chủ nhà này cũng mắc phải cái bệnh ấy. Nay cái dinh cơ này, cái ô tô này, cái bộ buồng khách, buồng ăn này, đối với ông, đã là cũ rồi, khoe lắm cũng chán miệng, cho nên ông nói đến cái mới. Cái mới đây, là con chó Lu. - Ây, chính nó là giống Bleu d'Auvergne đấy, bác ạ. Tôi mua nó mất ba trăm bảy mươi đồng. Cái người Tây bán nó cho tôi, vì nể tôi lắm, mới để rẻ thế. Cứ kể ra thì những hơn bốn trăm kia! Cũng có con đẹp hơn thế này, những hơn năm trăm. Nhưng kể ra An Nam mà đã dám bỏ ra ngót bốn trăm bạc để mua chó, thì đã là ngông lắm rồi! Vả lại, người mình mấy ai chơi chó sành,.
<span class='text_page_counter'>(117)</span> cho nên mua con nhiều tiền quá cũng phí mất. Này, bác ngắm kỹ nó mà xem. Giống chó này tai to, mũi lúc nào cũng ướt ướt, chân cao và to, lốm đốm. ấy, không biết nhận xét thì lầm với giống khác đấy. Con này, tôi chỉ yêu về cái đầu vuông như chữ điền, này, nét ngang đây nhé nét sổ đây nhé,, thần tình không? Con nào được cái bụng thon, mõm ngắn, nhất là hai lườn phình ra như lườn dê thế này, là khoẻ và nhanh lắm đấy. Hẳn ban nãy, bác đã thấy cái dáng nó oai vệ là ngần nào rồi đấy nhỉ. Có phải bao giờ nó cũng đi trước tôi mười thước không? Cứ lấy thước mà đo, cũng chả sai mấy tí đâu. Lúc đi như thế, cái mắt nó đưa đưa cái mũi nó ngửi ngửi, trông đẹp đáo để. Khi nào nó đánh hơi thấy chim nấp ở trong bụi, thì nó gục đầu xuống, khẽ ngỏng ngỏng cái đuôi. Thế là tôi biết hiệu. Lúc tôi lắp đạn xong, tôi "chutt!" một tiếng, thì nó chồm ngay vào con chim. Anh chim bay ra, "Pan!" thôi còn chạy đằng trời! Mười lượt như thế cả mười, chẳng sai một lượt nào! Lúc ấy, con Lu ngồi trên ghế, đối diện với chủ, chúm chúm cái mõm để nghe chuyện. Lúc ấy, hai con mắt người ăn xin chòng chọc nhìn vào đĩa cơm của con chó. Hắn thèm quá. Nước dãi chảy ròng ròng, không nuốt kịp. Muốn vào ăn trộm một miếng, nhưng chỉ sợ con chó cắn cho một miếng thì chết! Hắn thấy con chó cứ đứng gần đĩa cơm mà không ăn, thì không hiểu ra làm sao. Hắn tưởng con chó chê cơm nhạt, không thèm ăn, thì hắn muốn đánh đổi số phận hắn cho con chó nhà giàu! Giá con chó biết tiếng người, hẳn hắn đã lân la đến gần để đánh bạn, rồi kể lể nỗi đói khát, có lẽ, chỗ anh em, con chó cũng động tâm mà lấy tình "nhân đạo" nhường cho hắn đĩa cơm ấy. Hay là vì hắn xù xù ngồi đó, cho nên con chó phải đứng canh chăng? Hắn liền lẩn ra sau cái cột cổng để dòm vào. Một lúc, quả hắn thấy con chó lừ lừ ra nằm chỗ khuất bóng ở cạnh tường. Được dịp may, người ăn mày đánh liều dồ ra, tiến gần lại mấy bước. Nhưng con chó lập tức đứng dậy, cũng tiến gần lại mấy bước, vừa đi vừa gừ. Thằng người giương hai mắt nhìn con chó, con chó cũng giương hai mắt nhìn lại thằng người. Thành ra đĩa cơm ở giữa, người tiến thì chó cũng tiến, người lui thì chó cũng lui. Hai bên hầm hè nhau, người lườm chó, chó lườm người đều cùng giữ miếng nhau, như hai kẻ thù không đội trời chung vậy. Cứ như thế, không bên nào chịu bên nào. Độ hơn mười phút, người ăn mày cùng thế, nghĩ ngay được một kế. Tay hắn vớ được hòn đá to tướng, thu thu đằng sau, chạy tọt lại đĩa cơm, rón một miếng rõ nhanh, đút tỏm vào mồm. Nhưng con chó nhanh hơn. Nó cũng chồm vọt lại, nhẩy xổ lên, há mồm, nhe răng ra cắn. Người ăn mày giơ thẳng cánh tay, nhằm giữa mồm con chó, uỵch hòn đá một cái rõ mạnh. Con chó ẳng lên một tiếng, rồi nhanh như chớp, nó vật được kẻ thù xuống đất, giơ hai chân ra cào mặt và móc mồm. Nhưng nó bị ngay một cái đấm nữa vào đầu. Nó chịu buông thằng người ra, nằm sóng soài, ẳng rầm lên. Ông chủ đương ăn cơm, nghe tiếng chó kêu, vội bỏ cả bát đũa, lẫn vợ, lẫn khách, ông cầm đèn hấp tấp chạy ra: - Thôi chết rồi! Con Lu làm sao thế này! ối giời ơi! Nó gãy hai cái răng rồi! Khổ tôi quá! . à, mày đánh gãy răng chó ông, ông chỉ kẹp cho mày chết tươi, rồi ông đền mạng. Bất quá ba chục bạc là cùng! Nói đoạn, ông tắt đèn pha, phóng xe hết sức nhanh để đuổi theo..
<span class='text_page_counter'>(118)</span> Tinh thần thể dục: Nay thừa lệnh Tỉnh đường, ngày 19 Mars này, tức 29 tháng Giêng An Nam, tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đá rất hay, mọi nhẽ. Vậy sức các thầy phải thông báo cho dân làng biết và phải thân dẫn đủ một trăm người, đúng 12 giờ trưa đến xem, không được khiếm diện. Những người đã cắt đi dự cuộc khánh thành sân thể dục tháng trước, thì lần này được miễn. Ai có mặt tại sân vận động cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh, và phải vỗ tay luôn luôn, vì hôm ấy có nhiều quan khách. Ngay từ sáng tờ mờ hôm 29, ở sân đình làng Ngũ Vọng, đã có tiếng ông lý quát tháo om sòm: - Thiếu những mười tám thằng kia à? Tuần đâu, đến tận nhà chúng nó, lôi cổ chúng nó ra đâỵ Chứ đã hẹn đi lại còn định chuồn phỏng! Sau tiếng dạ ran, những ngọn đuốc linh tinh kéo đi các ngả. ông lý dặn theo, tiếng oang oang: - Hễ đứa nào láo, cứ đánh sặc tiết chúng nó ra, tội vạ ông chịụ Mẹ bố chúng nó! Việc quan thế này chết cha người ta không! Chúng bay gô cổ cả, giải cho được ra đây cho ông! Lại một tiếng dạ nữa, giữa những tiếng chó rống dậỵ Ngọn lửa đỏ như nổi lềnh bềnh trong biển sương mù. Thì đại khái cái cảnh diễn ra như thế này: Hai người tuần, một người cầm đuốc, một người cầm tay thước, đạp cửa vào nhà thằng Cò. Sau khi tìm sục khắp gian ngoài, buồng trong, không thấy một ai, họ xuống bếp, chọc tay thước vào cót gio và bồ trấụ Rồi họ lùng ra mé sau nhà. Cũng vô hiệụ Nhưng bỗng có tiếng trẻ khóc thét lên, thì hai anh tuần mới khám phá ra chỗ người trốn: Thằng Cò nằm ẹp với con ở cạnh đống rơm, phủ lên mình đầy rơm. Nó bị lôi ra ngoàị Nó van lạy: - Lạy các bác, các bác cho tôi ở nhà làm ăn. - Sao anh đã hẹn với ông lý, lại không đi, để ông ấy chửi địa lên kia kìạ - Tôi đi thì tôi mất cả ngày, mà mất buổi làm thì tôi với cháu nhịn đóị - Tôi không biết! - Mấy lị tôi không mượn đâu được quần áọ - Không biết! Anh ra đình mà kêu với ông lý. Thằng bé con nhắm nghiền mắt, ôm chặt lấy bố. Nó sợ quá, không khóc được nữạ Thằng Cò chưa kịp trả lời, đã bị lôi sềnh sệch đị + + + Cuộc săn dù ráo riết đến đâu cũng không sao tróc đủ một trăm người phải đi xem đá bóng. Dăm sáu anh khôn ngoan, đã kéo đến ngủ nhờ nhà khác, hoặc làng khác. Họ làm như lánh nạn. Khi thấy đã chậm giờ, ông lý trưởng nghiến răng nói: - Chúng nó ngu như lợn. Người ta cho xem đá bóng chứ ai làm gì mà cũng phải bắt.. - Đẩy mâu thuẫn trào phúng phát triển cao độ và kết thúc đột ngột: Tiếng cười trào phúng thường khẩy ra từ một mâu thũan có tính hài hước nào đó, trong một tình huống trào phúng nào đó. Mâu thuẫn đầy rẫy trong thực tại ở nhiều dạng khác nhau, Nguyễn Công Hoan nhạy cảm phát hiện, gạt bỏ những gì không thích hợp sau đó phóng đại lên :.
<span class='text_page_counter'>(119)</span> Hai cái bụng : Cái bụng đau khổ của nhà nghèo được phóng đại cao độ đối lập với cái bụng tức anh ách « không chịu đói » của nhà giàu « chỉ thèm ăn được », trái với cái bụng lép kẹp « chỉ thèm được ăn » của người nghèo. Xuất giá tòng phu : Phóng đại cái vô lý và vô đạo. Chồng bắt quả tang vợ ngoại tình, nhưng chính ông ta bắt vợ đi ngoại tình,… Oăn tà rroằn : Tác giả để cô gái tính nết lăng nhăng, tằng tịu hết người này lại đến người khác, nhưng lúc nào cũng : « Tôi là con nhà thi lễ », « tôi đối với cậu rất chung tình » ; rút cục đẻ ra thằng bé : « nước da đen như cột nhà cháy… Nó là giống oẳn tà rroằn không biết chống gậy » Bộ ấm chén cổ: kể về một ông thích chơi đồ cổ, cuối truyện tác gải chỉ trích vào lũ con gái hư hỏng của ông ta bằng câu : « Duy chỉ có mấy cô con gái có thể ngờ là tân, còn thì tuốt tuột là cổ ». Đồng hào có ma : tác giả kết truyện : « Vẫn tự nhiên như không. Ông cúi xuống thò tay, nhặt đồng hào đôi sáng loáng,… rồi bỏ tọt vào túi ». Mất cái ví : « ông cháu quý hóa », « cốt làm thế để bận sau ông cậu đừng ra chơi nữa. Tốn kém lắm ! - Tác dụng: Làm bật lên cảm hứng phê phán xã hội ở phương diện đạo đức. 2.3. Thế giới nhân vật. - Thế giới nhân vật của Nguyễn Công Hoan bao gồm những hạng người quen thuộc với hai môi trường sống: + Cửa quan ở các phủ huyện, thành thị. Có lẽ do ấn tượng tuổi thơ mà tạo nên thế giới nhân vật ở hai môi trường sống này. Vì vậy, với các nhân vật ông quan bà quan, hương lý, chức dịch chiếm tỷ lệ lớn trong các truyện ngắn của nhà văn. Với các nhân vật này, ông chỉ cần phác qua một vài nét là tính cách hiện lên sinh động. Ví như Đàn bà là giống yếu, quan ông : Quan ông vừa nói vừa lả lơi cười, rồi ôm chầm lấy quan bà - tác giả liên tưởng như một con nhái bén bám vào một quả dưa chuột”. Còn quan bà được miêu tả: Người ta tưởng chiếc bánh giầy đám cưới, ở giữa dặt một quả chuối ngự, và ngay đầu quả chuối nằm dài hai múi cà chua. Rồi khi hai múi cà chua tách ra để theo nhịp với cặp mắt híp, đưa quan ông vào chốn nát bàn, thì ai cũng phải thấy một cái hố sâu thăm thẳm, sâu như bụng dạ một người đàn bà”. + Hạng 2 là người dân tầm thường, nhỏ mọn trong xã hội : Thằng ăn cắp, Hai thằng khốn nạn....
<span class='text_page_counter'>(120)</span> - Đối lập giữa các nhân vật. +Những truyện chủ đề phê phán xã hội, thường có kết cấu đối lập giữa hạng nhà giàu quyền thế với hạng người nghèo khổ lép vế (Đồng hào có ma, mất cái ví…) + Ở những truyện ngắn mang chủ đề đạo đức luân lý, quan hẹ luyến ái, hôn nhân gia đình ; kết cấu thường dựa trên sự đối lập giữa người già người trẻ, giữa nam và nữ (Thế là mợ nó đi Tây, Cô Kếu, Đàn bà là giống yếu…). - Tuy nhiên, khắc họa hình tượng nhân vật không phải là điểm mạnh của Nguyễn Công Hoan, nhân vật của ông ít có chiều sâu nội tâm. Nhân vật của ông, chủ yếu là nhân vật phản diện thường có những nét tính cách sau. Bọn đàn ông nhà giàu, quyền lực : tham, ác, đê tiện, đểu cáng, trắng trợn ; bọn đà bà : dâm đãng và xảo quyệt. Tất nhiên các nét tính cách trên tùy nhân vật mà đậm nhạt khác nhau. Đồng hào có ma nổi bật là tham lam, đê tiện ; Thịt người chết nổi bật là bỉ ổi, độc ác; Mất cái ví, xuất giá tòng phu nổi bật là đểu giả, đê tiện ;… - Tuy nhiên, để làm nổi bật nhân vật, NCH dùng thủ pháp cường điệu, phóng đại với nguyên tắc là nhấn mạnh vật hóa, lố bịch, kệch cỡm hóa những nhân vật phản diện để tô đậm nét hài trong những bức chân dung biếm họa. Thằng ăn cắp trong truyện: Trông nó đáng sợ thật. Hai mắt trắng dã, lấm la lấm lét, tóc thì bồng lên như tổ quạ. Da đen thui thủị. Mặt rạn như men lọ cổ. Hai tay thọc vào túi cái áo tây tàng, xơ xác như tổ đỉa, nó đứng nhích ra chỗ bóng nắng, dún dẩy cho ấm.. - Xây dựng nhân vật « ngớ ngẩn » để đánh lừa. Nỗi lòng tỏ cùng ai : Bà mẹ nhân vật « ngớ ngẩn » trước nỗi bùon của con gái yêu. Những phán đoán của bà về lý do gây ra nỗi buồn cho con khiến ta cũng ngớ ngẩn theo. 2.4 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Công Hoan. * Trong sáng, giản dị có tính chất bình dân. Văn chương Nguyễn Công Hoan trong sáng phát huy khả năng diễn đạt của tiếng nói dân tộc. - Ngôn ngữ một bà nhà quê : Thưa thầy, từ đây lên huyện những chín cây-lômếch, sợ nhà đi nắng thì cảm, rồi phải lại thì oan gia… » (Tinh thần thể dục). - Ngôn ngữ lính tráng : Nói nôm na, chú Ván-cách cũng muốn chim chị Tam đáo để. Có bận chú định ngồi trong mành mành, ví chị Tam một câu rõ hay. Giá chú biết làm thơ, làm văn thì hẳn đã nghĩ được một bài trường thiên rõ dài để tặng ! Khốn nhưng chú chỉ quen thói bóp ngực lần lưng dân, cho nên chỉ học mốt chim gái.
<span class='text_page_counter'>(121)</span> của bạn đồng nghiệp, thẳng như nòng súng, là giữ nón, chắn đường, hoặc nắm cổ tay mà bắt nói một câu : - Van nhà, nhà buông em ra ! (Thật là phúc) - Ngôn ngữ chị vú, con sen: “Lậy ông bà, chúng con có biết cái ví tiền của ông mặt ngang mũi dọc thế nào, thì chúng con cứ chết một đời cha ba đời con!” (Mất cái ví). - Ngôn ngữ bà bán bún riêu: “Ba mươi sáu cái nõn nường! Mỗi bát mấy đồng xu của người ta đây! Thôi đi! Dơ!...” (Thằng ăn cắp). * Ngôn ngữ thân mật, suồng sã. - Bakthin: “Tất cả những gì nực cười đều gần gũi... Tiếng cười có một sức mạnh tuyệt vời kéo đối tượng lại gần, tiếng cười lôi đối tượng vào khu vực tiếp xúc thân mật đến thô bạo, ở đó có thể suồng sã sờ mó từ khắp phía...”. - Văn của Nguyễn Công Hoan không là thứ văn đạo mạo, mà là văn lột trần tất cả tôn ti trật tự xã hội, không chừa một ai. Trong Bữa no... đòn: “Chẳng ai thương nó cả. Nó cũng là người. Duy chỉ khác mọi người là chẳng may nó bị tạo hóa ruồng bỏ, cho nên đói khát, phải ăn cắp giấm giúi để nuôi thân. Cái ấy cũng khác hẳn với người thường. Họ thừa, họ cứ đường hoàng ăn cắp”. - Văn trần thuật của Nguyễn Công Hoan nhìn chung là những lời trò chuyện giữa tác giả, nhân vật và độc giả như những kẻ bằng vai phải lứa cùng đùa cợt bông phèng với nhau. “Một loạt truyện ngắn của ông viết vừa rồi về quan trưởng tôi có đọc hết. Tôi nhận thấy có truyện ông đã bịa thêm nhiều...” (Tôi tự tử). “Vì mới chết lần này là lần đầu, nên anh Xích chưa có lịch duyệt về khoản ấy. Thực vậy, nếu chết ở tỉnh, thì ai láu nên chọn vào đêm thứ sáu. Như thế, vợ con có vừa vặn thì giờ để cáo phó lên báo. Và chủ nhật, cất đám, có đủ các cụ, các quan, các ông, các bà, thân bằng cố hãu đi đưa đông. Ở nhà quê, nếu chết vì tai nạn, người khôn ngoan bao giờ cũng tránh những ngày chủ nhật hoặc ngày lễ, thì sự khám xét, tống táng mới mong chóng được. Nhưng khốn nỗi, xưa nay, không ai chết lần thứ hai để được bài học kinh nghiệm về cách chết. Vì vậy, vẫn có nhiều người chết một cách ngờ nghệch” (Thịt người chết). “Dạy học là một nghề khó nhọc. Dạy lớp Đồng ấu lại khó nhọc gấp mười. Trẻ con phần nhiều đãng trí, hay quên, có khi tay cầm quản bút, nhưng lại mách thầy là anh nào ăn cắp. Có khi lọ mực móc dây vào ngón tay, nhưng lúc hứng, cứ như thế, đưa cả lên đầu mà gãi! Lại có đứa thò lò mũi xanh. Có đứa mải chơi, đi “mô tô” ra quần lúc nào không biết. Quàn áo thì bẩn thỉu, hôi.
<span class='text_page_counter'>(122)</span> thối, đất cát, mồ hôi bê bết nhễ nhại, cáu ghét tầng tầng. Trong lớp thì hơi người tanh nồng lên. Không trách người Tây gọi lớp ấy là Ăng-phăng-tanh cũng phải” (Thầy cáu). - Ngôn ngữ kẻ ăn mày: “Giàu hai con mắt, đói hai bàn tay, con kêu van cửa ông cửa bà thí bỏ cho con bát cháo lưng hồ...” (Cái vốn sinh nhai). - Ngôn ngữ của lí trưởng: Ông lý nhăn mặt, nhặt 3 hào bỏ vào túi: LÀm việc mà cứ gặp phải những người như bà thì tôi đến chết mất”. Khi áp giải đám dân đi xem bóng đá: Chín mươi tư thằng ở đây, xếp hàng năm lại, đi cho đều bước. Tuần chúng bay phải kèm chung quanh giúp tao. Đứa nào mà trốn về thì ông bảo ... Mẹ bố chúng nó cho đi xem đá bóng chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc”. * Ngôn ngữ giễu nhại. Lời văn trân thuật của Nguyễn Công Hoan luôn có giọng giễu nhại. Bằng biện pháp giễu nhại, tác giả hạ bệ tất cả những gì gọi là nghiêm trang, nghiêm túc; biến chúng thành trò cười với hình thức mô phỏng (hí phỏng) một cách hài hước lời nói, giọng điệu của những nhân vật nào đấy, hoặc phong cách ngôn ngữ của một tàng lớp xã hội nào đấy. Tả cái áo rách của thằng ăn cắp: “Cái áo dài vải Tây nay chỉ còn giữ được màu nước dưa, thì ở lưng, vai, tay, ngực bướp ra, mà năm khuy thì về hưu trí. Mỗi chỗ rách là kỉ niệm một trận đòn mê tơi...”. Tả chó sủa: Tiên sinh xứ tự do ngôn luận oang oang... cứ diễn thuyết ràm rộ, hô hào dữ dội đến nỗi cả nhà mất ngủ”. *Chơi chữ. - Chơi chữ trong cách đặt tên truyện. Hai thằng khốn nạn: Một người khốn nạn về vật chất (nghèo khổ) và một người khốn nạn về tinh thần, về cách sống (nhà giàu). Thế là mợ nó đi Tây: “đi Tây” vừa chỉ người Việt Nam sang du học bên Tây vừa chỉ sự ra di hẳn, cắt đứt hẳn. Xuất giá tòng phu: Dùng ngôn ngữ đạo lý để chỉ chuyện vô đạo: Tòng phu không phải là thủy chung với chồng mà theo mệnh lệnh chồng di ngủ với quan trên. - Chơi chữ trong văn trần thuật: Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy người ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh béo tốt. Thuyết ấy sai. Trăm lần sai, nghìn lần sai vì tôi thấy sự thực ở đời, bao nhiêu những anh béo khỏe, đều là những anh thích ăn bẩn cả...” (Đồng hào có ma). Miêu tả cách ghẹo gái có.
<span class='text_page_counter'>(123)</span> tính chất lính tráng của một viên cơ. Lão khám một mụ buôn thuốc phiện lậu, thấy có mấy đồng trinh: “-À, con này gớm thật, mày vẫn còn trinh à?”. THỰC HÀNH Bài 1: Thực hành và soạn giảng một phần nội dung trong bài học (đã có sự chuẩn bị ở nhà) - Sinh viên đảm bảo nội dung cần đạt, thiết kế đúng tiến trình dạy học. - Thực hành trình bày trước lớp... Bài 2: Phân tích tác phẩm Đồng hào có ma để làm sáng rõ quan điểm nhìn nhận hiện thực của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Cần đạt: * Quan điểm giàu nghèo: - Chỉ ra sự xung đột rõ rệt giữa kẻ giàu và người nghèo. - Chi phối cách dựng truyện, kết cấu, xây dựng nhân vật... Cách dựng truyện ở đây dắt dẫn độc giả bắt quả tang những vụ trộm bất ngờ: - Thường bênh vực cho người nghèo khổ. - Lên án bọn có quyền mà bất nhân. Thế là trong cái xã hội của truyện ngắn, truyện dài Nguyễn Công Hoan, bọn thống trị chỉ là một lũ ăn cắp, ăn cướp. Luật pháp của chúng bày ra chỉ là để đè đầu người dân xuống mà ăn cắp, ăn cướp. Nguyễn Công Hoan đã phản ánh được chính xác, một khía cạnh bản chất của hiện thực Đây là quan điểm tiến bộ, nhân đạo và mang tinh thần dân chủ. * Quan điểm luân lí, đạo đức - Đả kích sâu cay bọn quan lại hãnh tiến vô liêm sỉ, bọn tư sản, thanh niên chạy theo Âu hóa nhố nhăng... - Vẫn coi trọng những giáo điều mà lễ giáo phong kiến ràng buộc Bài 3: Phân tích tính trào phúng được thể hiện trong truyện Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan. Cần đạt: - Trào phúng là một trong những đặc điêm nghệ thuật độc đáo trong truyện ngắn của NCH. Trào phúng là cái cười, tiếng cười mang ý nghĩa sâu xa, hàm ý châm biếm, mỉa mai, đôi lúc đả kích sâu cay..
<span class='text_page_counter'>(124)</span> - Trong Tinh thần thể dục, tính trào phúng thể hiện qua trò đời hài kịch, lố lăng, giả dối. Trong hoàn cảnh người dân cơm không đủ no áo không đủ, bị bắt đi xem trận bóng đá nên phải chạy trốn hoặc thực hiện một cách cưỡng ép. - Biểu hiện cụ thể qua: * Nghệ thuật dựng truyện: Năm cảnh tưởng rời rạc mà lại liên kết chặt chẽ với nhau đẻ thể hiện chủ đề, châm biếm cái tinh thần thể dục của một thời trước CM. Cảnh 1: Tờ trát về làng với giọng hách dịch, cứng nhắc là nguyên nhân cho cảnh sau. Cảnh 2,3,4 là cảnh đối phó của nhân dân trước cảnh sắt đá của quan huyện. Cảnh cuối: cảnh tróc nã dữ dội, cảnh đưa người đi xem đá bóng mà như giải tù binh. * Mâu thuẩn tạo trào phúng là Mâu thuẩn giữa bản chất với hiện tượng, giữa nội dung và hình thức của phong trào thể thao. +Mệnh lệnh yêu cầu gắt gao bắt buộc dân làng Ngũ Vọng phải xem đá bóng và sự sợ hải, lẫn trốn của dân làng. + Phân tích cảnh: Cảnh anh Mịch xin xỏ ông lí được miễn đi xem đá bóng để đi làm trừ nợ nhưng không được chấp nhận. Cảnh bác Phô gái xin đi thay chồng nhưng không được chấp nhận. Cảnh bà cụ Phó bính xin hối lộ ông Lí để thuê thằng Sang đi thay. Cảnh tróc nã người đi xem đá bóng. c. Ý nghĩa trào phúng: Vạch trần bản chất giả dối, bịp bợm của phong trào thể dục thể thao mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ để đánh lạc hướng nhân dân. NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU ( 01 Tiết - Tiết 32) Nội dung: Tìm hiểu về tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan Định hướng: - Đây không phải là sở trường của ông. - Thực chất là những câu chuyện dài được sắp xếp với nhau, liền mạch có đầu đuôi..
<span class='text_page_counter'>(125)</span> - Chủ đề là những chuyện tình lãng mạn, lâm li nhuốm màu đạo đức phong nho. - Kết cấu chặt chẽ, cốt truyện phát triển tương đối hợp lí, nhân vật khá sinh đông, nhất là những nhân vật phản diện. - Kể tên một số tác phẩm tiêu biểu: Tắt lửa lòng, Lá ngọc cành vàng, Ông chủ, Bước đường cùng. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Nêu những nét lớn về tiểu sử, ý thức sáng tạo nghệ thuật của NCH 2. Trình bày phong cách nghệ thuật của NCH 3. Chuẩn bị bài Vũ Trọng Phụng.. Tiết: 33 - 35. Ký duyệt Bài 9 VŨ TRỌNG PHỤNG. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Những yếu tố gia đình thời đại ảnh hưởng tới quá trình sáng tác của Vũ Trọng Phung. Những thành công nghệ thuật trong tác phấm Giống tố, Số đỏ của VTP. 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, các nội dung liên quan tới văn chương của VTP, nhất là những tác phẩm được dạy trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Phát huy tính chủ động trong học tập..
<span class='text_page_counter'>(126)</span> B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Tuyển tập Vũ Trọng Phụng 2. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I . VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ CON NGƯỜI 1. Tiểu sử: - Cha mất sớm, nhà nghèo nghèo gia truyền. Vũ Trọng Phụng học hết bậc tiểu học phải nghỉ, đi làm để đỡ gánh nặng cho mẹ. - Hai lần mất việc, Vũ Trọng Phụng chuyển sang viết báo lúc 18 tuổi. Từ 1930- 1939 ông viết cho nhiều tờ báo. Ông viết nhiều thể loại khác nhau. Ðặc biệt là thể loại phóng sự và tiểu thuyết. Ông được tôn vinh là ông vua phóng sự đất Bắc. - Do làm việc quá sức, đời sống nghèo khổ, ông mắc bệnh lao, mất ngày 13/10/1939 để lại người vợ trẻ và đứa con chưa đầy một tuổi. 2. Con người: - Là con người bình dị, người của khuôn phps, nền nếp, song ở con người ông luôn chứa một tâm sự phẫn uất không nguôi. Sớm bươn trải với cuộc sống, mầm mống bất mãn thời thế đã ẩn trong ông ngay từ những ngày bị mất việc. Hơn nữa, sống trong xã hội Á Âu xô lệch, sự tàn bạo giả dối của giai cấp thống trị biểu hiện ngày càng rõ nét. Hoàn cảnh sống thì phức tạp. Vì thế tạo nên trong ông thái độ căm phẫn, uất ức cao độ với xã hội khốn nạn, chó đều. - Với hoài bão ôm ấp một sự đổi thay để cuộc đời dễ thở, nhưng rơi ngay vào những sự kiện khủng hoảng: khủng hoảng kinh tế, khủng bố trắng, thoái trào cách mạng. Mặt khác cả đời chỉ sống ở căn gác hẹp phố hàng BẠc xung quanh là xã hội ăn chơi, có vua thuốc lậu, me Tây hạng sang, sòng bạc... Còn tầng lớp bình dân mà ông tiếp xúc thì khá phức tạp, thường là dân nghiện, cờ bạc, bịp bợm ma cô... Tóm lại một là hạng người trâng tráo chó đều, hai là những người nghèo hạ lưu đê tiện. Môi trường ấy đã gieo cho ông tư tưởng hoài nghi bi quan khinh bạc với đời. II. TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG 1. Tiểu thuyết Giông tố.
<span class='text_page_counter'>(127)</span> Là bước nhảy vọt, là một trong những đỉnh cao nhất của sự nghiệp sáng tác Vũ Trọng Phụng, đồng thời cũng là thành tựu xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán . 1.1. Khả năng bao quát hiện thực - Đó là bức tranh xã hội đương thời có tầm khái quá tổng hợp cao chưa từng có trong văn học. - Không gian mở rộng, mang tầm vĩ mô hết sức rộng lớn dàn trải từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến rừng núi... 1.2 Chiều sâu mới trong phản ánh hiện thực và phân tích xã hội - Nhìn xã hội trên tinh thần giai cấp, phản ánh hiện thực từ góc độ mâu thuẫn giai cấp, phơi bày bản chất thực mối quan hệ của các tầng lớp xã hội đương thời. - Ý thức phanh phui mổ xẻ, vạch trần bản chất mối quan hệ bẩn thỉu giữa các thế lực thống trị trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội... 1.3 Cảm nhận sâu sắc về sự biến động quay cuồng, đảo điên của xã hội vạn ác, bất công, vô nghĩa lí. - Xã hội trong Giông tố là cơn lốc chứa nhiều tình huống trớ trêu có biết bao số phận thăng trầm, lên voi xuống chó, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông... - Giông tố mang đậm màu sắc chính trị, thời sự thể hiện rõ khả năng bám sát và cập nhật những vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng của nhà văn. 1.4 Thành tựu nghệ thuật nổi bật - Khả năng tạo cốt truyện hấp dẫn, căng thẳng, đầy kịch tính, xung đột truyện luôn được đẩy lên đỉnh cao - Thành công nổi bật là hình tượng điển hình Nghị Hách: + Nhân vật địa chủ tư sản có đầy đủ yếu tố phản diện có xương thịt. Được miêu tả trên hai bình diện: sự vô đạo đức, loạn luân ghê tởm, và sự liên kết giữa đồng tiền và quyền lực chính trị, tạo nên sức mạnh hắc ám thao túng. + Là nhân vật thể hiện sâu sắc bản chất của tầng lớp phản động thối nát của giai cấp tư sản trước Cách mạng. + Là tên độc ác, tàn nhẫn đến lạnh lùng... + Mang tính chất điển hình giai cấp có ý nghĩa khái quát cao độ... 2. Tiểu thuyết Số đỏ 2.1. Đối tượng trào phúng tiểu thuyết Số đỏ.
<span class='text_page_counter'>(128)</span> - Là tầng lớp ông bà chủ là giới thượng lưu Hà thành cùng với những hoạt động cải cách xã hội và phong trào văn hóa giả dối bịp bợm - Hướng tới sự ngô nghê ngốc ngếch của mọi hạng người trong xã hội - Nhân vât Xuân tóc đỏ. 2.2 Cung bậc tiếng cười trào phúng - Tiếng cười hài hước: có tính khôi hài - Tiếng cười như đùa như chơi nhưng rất hiểm ác. Tiếng cười ở đây là tiếng cười châm biếm, đả kích sâu cay. 2.3 Nghệ thuật trào phúng Trào phúng là cái cười, tiếng cười mang ý nghĩa sâu xa, hàm ý châm biếm, mỉa mai, đôi lúc đả kích sâu cay. _ Trào phúng bao hàm hai yếu tố: yếu tố phê phán và yếu tố hài hước. Hai yếu tố kết hợp với nhau trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. _ Tiếng cười được vang lên từ những thủ pháp nghệ thuật được sắp đặt theo chủ đích của tác giả. Sử dụng ngôn ngữ, cách xây dựng nhân vật, hoạt động của nhân vật. Tính chất trào phúng đạt đến sự thành công cả về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật _ Tính chất trào phúng trong Số đỏ; Giông tố, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần mặt trái tự nhiên. Tóm lại, Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực xuất sắc. Vũ Trọng Phụng đã để lại những tác phẩm văn học như một di sản văn hóa. Tác phẩm của ông là một kho phong phú các thủ thuật trào phúng hài hước 3. Cá tính sáng tạo và đặc điểm tiểu thuyết hiện thực - Nhìn nhận hiện thực rất riêng và ấn tượng - Phân tích trong cách xây dựng hiện thực ở tp. NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU ( 01 Tiết - Tiết 35) ? Tìm hiểu về phóng sự của Vũ Trọng Phụng Định hướng: - Vũ Trọng Phụng bước vào làng văn bằng truyện ngắn đăng báo năm 1931, từ đó sự nghiệp văn chương của ông bắt đầu phát triển. Ông để lại 7 tập phóng sự . Tác phẩm gây sự chú ý cho dư luận đương thời đối với Vũ Trọng Phụng là phóng sự.
<span class='text_page_counter'>(129)</span> đầu tay Cạm bẫy người - bút danh Thiên Hư, đăng trên báo Nhật Tân, từ số 1 (2/8/1933 ) đến số 14 ( 1/11/1933 ) .Năm sau cũng trên báo này ông in thêm phóng sự thứ hai " Kỹ nghệ lấy Tây ", viết về cái nghề lấy Tây để nuôi thân .Rồi đến " Cơm thầy cơm cô " ( 1936 ) viết về cảnh đời những ngươi đi ở , " Lục Xì " ( 1937 ) in trên báo Tương Lai ...Với số lượng phóng sự như thế , cùng cây bút đàn anh đi trước như : Tam Lang ( Vũ Đình Chí ) , cùng nhà văn đồng trang lứa Vũ Bằng , Vũ Trọng Phụng đựoc liệt vào bộ ba " những nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta ". Đặc biệt ông được Mai Xuân Nhân tôn vinh là ông vua phóng sự đất Bắc (dẫn theo Tập san văn học , số 5 /1960 ) . Danh hiệu này sau được nhiều người tán thành, vì quả thực xưng tụng như vậy là xứng đáng với những gì ông đóng góp cho nghề phóng sự ở nước ta . - Mãi đến năm 1934, Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tay " Dứt tình " còn có tên là "Bởi không duyên kiếp" đăng trên tờ Hải Phòng báo. Với tiểu thuyết này, ông chứng tỏ ngòi bút tả chân đã khéo léo có thể coi là một bức tranh ...phỏng theo sự thực của đời , không tô điểm cho đẹp thêm, cũng không bôi nhọ cho xấu đi ( Tràng An). - Nghệ thuật viết phóng sự Vũ Trọng Phụng . + Vũ Trọng Phụng đã đạt được thành công lớn là đã xây dựng được những một số điển hình sinh động bất hủ về xã hội tư sản thành thị Việt Nam lúc bấy giờ. + Ông vạch ra sự khác biệt giưa 2 trường phái lãng mạn và hiện thực trong cách nhìn nhận đời sống xã hội, trong cách miêu tả hiện thực và con người - Sự phong phú, đa dạng về phương thức tiếp cận hiện thực là yếu tố quan trọng tạo lên tính độc đáo cho những thiên phóng sự Vũ Trọng Phụng. Đó là cá tính sáng tạo của riêng ông, đồng thời chứa đựng cả tấm lòng , tâm huyết với nghề D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Những thành công nội dung và nghệ thuật trong Giông tố và Số đỏ của VTP. 2. Chuẩn bị bài Ngô Tất Tố..
<span class='text_page_counter'>(130)</span> Tiết: 36 - 38. Ký duyệt Bài 9 NGÔ TẤT TỐ. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Những nét lớn vè tiểu sử, con người, và sự nghiệp trước tác của Ngô Tất Tố. Từ đó hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của nhà văn 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, và vận dụng tích cực vào giảng dạy các tác phẩm được dạy trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Phát huy tính chủ động trong học tập. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Ngô Tất Tố, tác gia và tác phẩm, Nxb GD, 2001. 2. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. C. NỘI DUNG BÀI HỌC.
<span class='text_page_counter'>(131)</span> I. TIỂU SỬ CON NGƯỜI 1. Tiểu sử Ngô Tất Tố sinh năm 1893 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội). Ông là con thứ hai, nhưng là trưởng nam trong một gia đình có bảy anh chị em, ba trai, bốn gái. Lúc còn nhỏ Ngô Tất Tố được thụ hưởng một nền giáo dục Nho học. Mấy đời thi cử long đong, lận đận vì nghề cử tử. Ông nội nhà văn lận đận bảy khóa thi Hương cũng chỉ đậu tú tài. Ông thân sinh sau sáu lần lều chõng về không đành cam chịu phận thầy đồ. Từ năm 1898, Ngô Tất Tố được ông nội dạy vỡ lòng chữ Hán ở quê, sau đó ông theo học ở nhiều làng quê trong vùng. Năm 1912, Ngô Tất Tố học tư chữ Pháp một thời gian ngắn và bắt đầu tham dự các kỳ thi truyền thống lúc bấy giờ vẫn còn được triều đình nhà Nguyễn tổ chức. Ông đỗ kỳ sát hạch, nhưng thi hương bị hỏng ở kỳ đệ nhất. Đến năm 1915, ông đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh, nên được gọi là đầu xứ Tố, rồi thi hương lần thứ hai, khoa Ất Mão, cũng là khoa thi hương cuối cùng ở Bắc Kì. Ông qua được kỳ đệ nhất, nhưng bị hỏng ở kỳ đệ nhị. Sau này ông chuyển vào làng báo và khẳng định tên tuổi của mình. Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo. Ông viết cho tờ An Nam tạp chí. Nhưng vì thiếu tiền, tờ báo này phải tự đình bản, Ngô Tất Tố cùng với Tản Đà đã vào Sài Gòn. Mặc dù không thật sự thành công trong cuộc thử sức ở Nam Kì, nhưng tại đây, Ngô Tất Tố đã có cơ hội tiếp cận với tri thức và văn hóa thế giới ở vùng đất khi đó là thuộc địa chính thức của Pháp cũng như theo đuổi nghề báo để chuẩn bị sau này trở thành một nhà báo chuyên nghiệp. Trong thời kỳ này, ông viết với các bút danh Bắc Hà, Thiết Khẩu Nhi, Lộc Hà, Tân Thôn Dân... Sau gần ba năm ở Sài Gòn, Ngô Tất Tố trở ra Hà Nội. Ông tiếp tục sinh sống bằng cách viết bài cho các báo: An Nam tạp chí, Thần chung, Phổ thông, Đông Dương, Hải Phòng tuần báo, Thực nghiệp, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba, Tương lai, Công dân, Đông Pháp thời báo, Thời vụ, Hà Nội tân văn... với 29 bút danh khác nhau như : Thục Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình, Thôn Dân, Phó Chi, Tuệ Nhơn, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ... Trong thời gian những năm 1936-1939, Ngô Tất Tố viết nhiều tác phẩm chỉ trích quan lại tham nhũng phong kiến. Hà Văn Đức, trong bài viết Ngô Tất Tố Nhà văn tin cậy của nông dân (báo Nhân dân, ngày 10 tháng 6 năm 1997), cho biết năm 1935, Ngô Tất Tố từng bị chánh sở mật thám Hà Nội gọi lên "để mua chuộc",.
<span class='text_page_counter'>(132)</span> nhưng ông từ chối. Ngoài ra, nhiều lần Ngô Tất Tố bị cấm viết báo và bị trục xuất khỏi Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Năm 1939, chính quyền thuộc địa ra lệnh cấm tác phẩm Tắt đèn. Nhà Ngô Tất Tố ở Bắc Ninh bị nhà chức trách khám xét và ông bị bắt giam ở Hà Nội vài tháng. Ông là người hiếu học luôn đọc sách tìm tòi, sáng tạo. Năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ngô Tất Tố tham gia vào ủy ban giải phóng ở xã Lộc Hà quê ông. Ngô Tất Tố là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng chưa rõ ông gia nhập đảng năm nào. Năm 1946, Ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Thời gian này, Ngô Tất Tố đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng chi hội văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở thông tin khu XII, tham gia viết các báo Cứu quốc khu XII, Thông tin khu XII, tạp chí Văn nghệ, báo Cứu quốc trung ương... Ngoài ra, ông còn viết văn. Ngô Tất Tố được bầu vào vị trí ủy viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam tại đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (1948). Ông qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1954 tại Yên Thế, Bắc Giang. Không rõ Ngô Tất Tố có bao nhiêu người con, nhưng ông có bốn con trai đã trưởng thành là Ngô Mạnh Duẩn, Ngô Thúc Liêu (liệt sĩ), Ngô Hoành Trù (kĩ sư chế tạo máy), Ngô Hải Cao (liệt sĩ) và ba ngươi con gái là Ngô Thị Khiết, Ngô Thị Miễn và Ngô Thanh Lịch (đại biểu quốc hội). Chồng bà Lịch, tiến sĩ Cao Đắc Điểm là một nhà nghiên cứu khá tích cực về Ngô Tất Tố. 2. Con người Xuất thân là cựu nho có vốn Hán học phong phú nhưng ông không phải là người bảo thủ. Có tư tưởng tiến bộ cấp tiến. Ông phản đối lối chạy theo phong trào phục cổ do thực dân Pháp đề xướng. Là người có nhân cách lớn đầy bản lĩnh và có tinh thần chiến đấu dũng cảm. Lòng yêu nước của Ngô Tất Tố gắn liền với lòng yêu dân- những người nông dân lao động cần cù tốt bụng. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc phong trào ái quốc thời Ðề Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. nên nhanh chóng đứng trên lập trường dân chủ tố cáo những áp bức của bọn thực dân phong kiến. II. SỰ NGHIỆP TRƯỚC TÁC CỦA NGÔ TẤT TỐ 1. Phóng sự Tập án cái đình và Việc làng.
<span class='text_page_counter'>(133)</span> a. Tập án cái đình - Phơi bày những chuyện kì quát, những hủ tục ở làng quê diễn ra ở chốn đình trung. Ông đem cái ổ hủ bại chắp lại thành thiên điều tra về thái độ ứng xử của bọn cường hào kì mục ở nông thôn, làm khốn khổ cho người dân. - Tập án cái đình" nghiêng về mặt miêu tả những phong tục, nói cho đúng hơn là những hủ tục kỳ quái được duy trì ở nông thôn. Nó cung cấp được nhiều tài liệu về mặt xã hội học. * Dẫn chứng: Các cụ chỉ chung nhau bát nước mắm HÌnh như đã bị một giải thành đất giam hãm trong vành trôn ốc quanh co, con ốc cổ ấy tuy có sống lâu, nhưng vẫn không thể nhích đi bước nào. Nó chỉ hơn người cái lớn. Tính cả nam phụ lão ấu, làng ấy có tới trên một vạn người. Riêng về số người phải đóng thuế thân, cũng đã đến gần ba nghìn. Ba nghìn người chung nhau một cái đặc tính. Các ngài về tỉnh Phúc an, bất kỳ hàng cơm hay quán nước, hễ thấy có kẻ ăn tục nói khoác, thì cứ hỏi họ có phải là người làng Cổ Loa hay không. Nếu họ đáp không, ấy là họ nói dối. Đào tạo cho họ cái đặc tính ấy, một phần là do ngôi chợ Xa, cái chợ rất lớn của tỉnh Phúc an. Hàng hóa nhiều nhất trong chợ là lợn. Cứ đén phiên chợ, lợn lớn lợn nhỏ đo nhau nằm một dãy dài. Vì thế trong cố đô nhà Thục, sản xuất rất nhiều lái lợn. Họ đã tổ chức thành một nhóm hội, hội viên cũng khá đông. Với một vành khăn tai chó ngất ngưởng trên bộ trán da hồng, hàng phiên, các hội viên ấy thi nhau xưng hùng xưng bá ở dẫy hàng lợn. Bất cứ kẻ mua ,người bán , nếu không qua tay họ không xong. Nghề ấy rất có sức mạnh, nó đã làm cho cả làng ấy biến thành quân thù của văn học. Họ cũng học đấy, song mà không cần phát đạt. Trong cái thời đại hán học dằng dặc gần một nghìn năm, họ chỉ đóng góp với các xứ một ông tú tài. Từ ngày Tây sang đến giờ, chưa có người nào thi đậu Cao đẳng tiểu học.Nhưng mà người họ rất thọ. Các làng Bắc kỳ, phần nhiều có lệ năm mươi nhăm tuổi thì được lên lão. Những ông gọi là lão nhiêu đáng lẽ phải đóng thuế thân thêm sáu năm nữa mới được miễn trừ, song vì tục dân trọng lão đã quen, cho nên dân phải vui lòng chia nhau gánh đậy cho các lão ấy. Làng này hơi khác. Hạng lão già hơn hạng lão các nơi năm tuổi, bởi vì cái tuổi lên lão của họ phải đúng sáu mươi . Vậy mà số lão ở đây mới đông làm sao. Có thể bằng một làng nhỏ. Chợ Xa họp vào ngày sáu, ngày một. Trong những ngày ấy, khoảng chín, mười giờ, đứng ở cổng chợ phía bắc, người ta sẽ thấy những ông tóc bạc, râu dài, lộc chộc chống chiếc gậy trúc kéo vào phía trong chợ từng lũ. Rồi đến buổi chiều, cũng ở chỗ ấy trở vào cổng làng với những bộ mặt dỏ như mặt trời và những hơi thở sặc sụa mùi rượu..
<span class='text_page_counter'>(134)</span> Các cụ no say về lợn. Bao nhiêu con lợn đem bán ở chợ Xa đều phải đóng thuế cho các cụ cả. Giữa chợ có một cái quán khá rộng, người ta thường gọi là chầu các cụ. Cứ đến phiên chợ các cụ ăn cơm thật sớm, rồi lại rủ nhau ra ngồi tại quán đó, để ra lệnh cho tên mõ chợ đi lùng trong dẫy hàng lợn. Những người đi bán lợn con thường có một đồ dùng đặc biệt. Họ rốt lợn vào rọ, họ đựng dọ bằng chiếc lồng to , rồi họ dùng cây đòn tre khiêng cái lồng ấy vào chợ. Lồng lợn của họ vừa đặt xuống, mõ chợ đã đến thu mất cây đòn để đem về quán trình với các cụ, muốn khiêng lồng về, ngưồi ta phải đến quán ấy mà chuộc lấy cây đòn ấy. Tiền chuộc tùy ý các cụ định liệu, ít nhất cũng phải hai hào. Đó là thuế một lồng lợn. Một cái thị trường rộng lớn như ngôi chợ Xa, mỗi phiên phải có hàng trăm lồng lợn. Bời vì lợn của mấy huyện gần đấy, đều phải bán ở chợ ấy. Cho nên, riêng số thuế lợn, mỗi ngày đã có vài chục đồng. Trừ ra một phần để dành, món tiền ấy sẽ làm cho các cụ no say trong ngày hôm ấy. Vì vậy, các cụ mong đến phiên chợ chẳng khác con gái mong đến ngày cưới. Mưa bão chết cò, cũng cố dò đi, chỉ khi nào ốm nặng mới chịu ở nhà. Trong lúc ăn uống các cụ không thèm dùng đến đầy tớ , nhà bếp. Đã có cụ dưới đi phục dịch cụ trên. Thì ra cái tuổi lục tuần, ở các làng khác là tuổi cơm bưng, nước rót, con cháu dưới gối sum vầy, nhưng ở làng này, vẫn còn là tuổi chỉ để năm ngày một lần ra chợ thái thịt, đun bếp , xách bát, dựng mâm cho các người khác. Đấy là cái nạn hàng phiên. Cái nạn hàng năm còn khổ hơn nữa. Một làng Cổ Loa tất cả trên sáu trăm cụ. Mỗi năm một lần, cứ đến hồi cuối tháng chạp, mấy trăm cụ đó họp nhau đánh chén một bữa. Chi phí về bữa chén đó đã có số tiền thuế lợn để dành trong hàng phiên. Các cụ chỉ cần người chứa. Những ai đóng vai ấy? Thì lại mấy cụ ngồi dưới. Họ kêu là chức các cụ. Tôi đã bị một phen sặc cười khi nghe một cụ làng ấy thuật lại chi tiết của công cuộc đó. Cái đặc sắc của "cỗ việc làng" làng này chỉ là thịt chém mấu nứa. Các ngài nếu chưa ăn cỗ nhà quê, chắc chưa biết thứ thịt đấy. Nó là những miếng thịt luộc chặt ra, lớn bằng nắm tay đứa trẻ lên năm trùng trục như mấu cây nứa , người ta đựng bằng lá chuối và để lù lù giữa mâm, cỗ của làng này ăn uống tại đình, phần nhiều chỉ có món đó. Nhưng đến bữa tiệc tất niên của các bô lão, thì lại không dùng kiểu ấy, các cụ ăn lối nửa chợ nửa quê. Đã có điều lệ nhất định, mỗi mâm phải tám thứ nấu, tám thứ dò nem, chả lòng,thịt, tất cả cũng tám thứ nữa. Cộng trong một mâm, lớn nhỏ hai mươi bốn thứ. Cứ thế cũng đủ chết người chứa rồi, vì không có hạng mâm nào đựng được hết bấy nhiêu thứ. Nhưng nào có thế thôi, nó còn gấp lên nhiều lần..
<span class='text_page_counter'>(135)</span> Theo tục làng ấy, mỗi cỗ đều phải đóng sáu. Sáu người ngồi chung một cỗ, tránh sao cho khỏi cái tệ ăn tham? Với hạng trai trẻ, người ta có thể dùng cách bẻ đũa để trừng phạt những kẻ gắp nhiều, nhưng các cụ là bực đạo mạo, không thể làm theo kiểu ấy. Chắc hẳn ngày xưa đã có cụ nào nghĩ đến chỗ đó, nên mới đặt ra lệ ăn riêng. Trong một mâm, bất cứ món gì đều phải đủ con số sáu. Sáu dò, sáu nem. sáu bong bóng, sáu mắm mực. Cái gì cũng sáu tất cả. Các ngài hãy thử tưởng tượng hình dạng một mâm ấy ra sao. Sáu lần hai bốn, thành ra một trăm bốn tư. Một trăm bốn tư bát đĩa xếp vào một đống. Kém gì một cái gò nhỏ. Cố nhiên trong cái thế gian này, không có một thứ mâm nào bầy được nhiều đĩa bát. Người ta phải đặt nó vào chiếc chiếu. Thế rồi, khi ăn, phần của ai thì nguời ấy gắp, các cụ chỉ chung nhau có bát nước mắm. Những cái dạ dày già nua chứa sao hết bấy nhiêu món ăn? Ăn không hết các cụ lấy phần. Mỗi phần ít ra cũng đầy rổ. Chỉ khổ các cụ nhà chứa. Nhà nào sắm cho đủ bấy nhiêu đĩa bát. Trước ngày phải nhờ họ hàng đi mượn, sau ngày chứa lại cậy họ hàng đi trả. Bao nhiêu con lợn chết theo với cuộc chứa đó. Nhiều người làm ăn gom góp từ trẻ đến già, chỉ chứa một bữa là hết. Cuộc thi giết lợn Một toán, hai toán , ba toán, bốn toán. Hai phía đầu đình cả bấy nhiêu toán lần lượt tiến vào. Toán nào toán nấy, mở cờ giong trống, linh đình như những đám quan trẩy. Đó là bốn con lợn lớn. Thứ lợn nuôi để cúng thần, đã được tôn làm ông Ỷ. Giữa đám lọng xanh, lọng vàng xúm xít bốn ông lợn lớn, chõm xhoej ngồi trong bốn chiêc cũi tre, giống như hồi xưa người ta giải các tướng giặc bị bắt. Có điều cũi của tướng giặc ngày xưa chỉ có đanh chốt đóng giữ, còn cũi của mấy ông lợn này thì chằng buộc toàn bằng thừng chạc nhuộm mầu cánh sen, coi bộ cực kỳ long trọng. Hơn nữa, đằng sau mỗi cũi, lại có một đội âm nhạc đủ cả đàn sáo kèn nhị và một ông già đội mũ té áo thụng xanh, cung kính đi hầu. Như đám hàng tổng đánh cướp, tróng cái trống con của các đoàn thi nhau thúc một hồi cuối cùng. Bốn chiếc cũi tre đồng thời được rước vào tận trước đình, và sắp thành chữ nhất. Bằng vẻ mặt rất tự nhiên, cả bốn "ông lợn" cùng chầu vào cửa đại đạo, không sợ hãi và không ụt ịt một tiếng nào hết. Cờ quat tàn lọng cừa được dựng lên mái đình hay là cắm vào tổ giá, một đội nồi, sanh ở đâu nhất tề tiến ra với những người khỏe mạnh hung tợn chẳng khác một bọn tướng cướp. Các sanh đều có để bát muối trắng và con dao bầu sáng choang. Các nồi đều đặt vào chiếc quang dài do hai người khiêng lễ mễ. Miệng nồi tuy có đậy nắp, hơi khói vẫn bốc lên nghi ngút, tỏ rằng ở trong đó có đựng nước sôi. Trong đình nổi một hồi tùng cắc. Ông thủ từ phủ phục phía trước hương án, hai tay dơ lên che miệng và làm rầm khấn khứa, để cho một lũ ông khác sì sụp lễ theo. Mỗi nguời vừa hết bốn lễ, ba vái thì tiếng tùng cắc vừa tan. Một ông trong bọn vừa cởi áo thụng vừa chạy ra trước cửa đình để nói một câu rất hách dịch:.
<span class='text_page_counter'>(136)</span> -Chạ đã làm lễ tỉnh sinh xong rồi. Các quan đám truyền cho gia nhân vào việc đi chứ. Tiếng reo đồng thời nổi lên ồn ồn với những tiếng ti-u của các hiệu sừng, hiệu ốc. Trẻ con đàn bà, những người vô sự hết thảy bạt ra ngoài tường bao lan, nhường khu đất trước đình cho các đội đồ tể. Có thể tưởng như đám quỉ sứ phá ngục, những ông khỏe mạnh hung tợn chực ở chung quanh các cũi hùng hổ xúm lại kẻ thì dùng dao chặt hết những sợi thừng chạc nhuộm đỏ những ông khỏe mạnh hung tợn chực ở xung quanh các cũi hùng hổ xúm lại kẻ thì dùng dao chặt hết những sợi thừng trạc nhuộm đỏ, người thì chém đanh, chém chốt, tháo hết các then cũi ra. Mỗi cũi chừng hơn mười người xấn vào. Nhanh như cắt, họ túm ông lợn lôi ra xềnh xệch. Lúc này đối với con lợn, người ta không giữ lễ độ như trước nữa. Tựa cái sức mạnh của đông người, họ không cần trói, chỉ giữ bằng bàn tay không, thế mà ông lợn cũng chỉ há mồm mà kêu eng éc, không thể động cựa, dù mà sức lực "ông ấy " to lớn gần bằng con trâu. Cái sanh đựng muối đã được một nguời sách lấy hai quai và hứng dưới cổ con vật đáng thương. Một người khác sắn gọn hai ống tay áo, lăm lăm cầm con dao bầu đâm vào cổ nó, giữa lúc hai người béo lớn lật đật khiêng nồi nước sôi đi sau, để cho một người nhanh nhẩu cầm gáo múc nước dội vào mông nó. Bấy giờ công việc mới càng túi bụi. Tiết ở cổ lợn cứ việc chảy ra lòng sanh, nước ở trong gáo cứ việc đổ vào mông lợn, người bưng cái sanh, ngừoi cầm cái gáo, người khiêng cái nồi nước sôi cũng như những người túm chân lợn, đều chạy như bắn. Ra khỏi đầu đình bốn tốp chia bốn ngả, tốp nào về nhà chủ lợn tốp ấy. Sao mà tài quá đi mất. Cả đám đều chạy như thế, mà không người nào dầy séo lên chân người nào, tiết lợn cũng không vung vãi ra đất một giọt. Theo sau một đám, để coi cho biết cứu cánh của cuộc tể sát lạ đời, tôi bỗng nghĩ đến cái cáng. Người ta bảo chính vua Quang Trung đã chế ra thứ đồ vận tải ấy. Bấy giờ quân Tôn Sỹ Nghị đã vào đóng trong thành Thăng Long. Vua Quang Trung muốn gấp đường tiến quân cho kịp đánh họ một trận vào dịp nguyên đán, vì sợ lính tráng họ đi suốt ngày suốt đêm, thì tất nhiên ai nấy nhọc mệt không đủ sức mà đánh giặc, ngài mới nghĩ ra cái cáng để các quân sĩ cắt lượt nhau hai người khiêng cho một người ngủ. Sách Tàu có một chuyện giông giống như thế. Tôi không nhớ là viên tướng nào, chỉ nhớ trong khi gấp đường tiến quân, viên tướng đó đã bắt quân lính đổ gạo đổ nước vào các sanh lớn, rồi hai người khiêng, một người vừa đi vừa cầm đuốc mà đốt dưới sanh. "Ừ thì việc binh mới phải thần tốc, người ta mới dùng đến cái cách vừa đi vừa ngủ hay vừa đi vừa nấu cơm.Chứ việc cúng thần cũng không lấy gì làm cấp bách, sao cái làng này cũng dùng đến cái cách vừa chạy vừa giết lợn?" Tôi đương hỏi tôi và tôi đương phân vân tìm câu trả lời, nhưng vẫn chưa tìm được -Anh em sắp chày ra! Một tiếng dục dã dữ dội báo cho tôi biết đã tới cổng nhà quan đám. Không biết họ đã cạo lông lúc nào, cái mông con lợn của họ đang khiêng đã trắng phôm phốp cả rồi..
<span class='text_page_counter'>(137)</span> Trong sân nhà quan đám đã kê sắn một tấm phản ngựa, dao, thớt, rổ , rá, bát, đĩa, nồi, chậu la liệt bầy khắp xung quanh. Con lợn sau khi bị khiêng qua cổng, liền được đặt trước vào phản. Người ta làm việc đúng như nhà thương mổ xẻ người bệnh. Một người khoét miếng thịt mông đã cạo lông rồi quăng ra cái rổ. Hai ba người khác pha miếng mông ấy làm hai ba mảnh và lọc lấy nạc thái ra. Rồi lại hai ba người nữa bỏ những miếng thịt ấy vào cối mà giã. Một người cứ muc nước sôi đổ vào mình lợn. Hai ba người khác cứ việc cầm dao cạo lông. Giữa lúc người này cầm cái sỏ lợn đem luộc, thì người nữa cũng đã rạch bụng lợn moi lấy lòng gan đem rửa. Hoạt động chưa đầy một giờ đồng hồ họ đã làm xong một mâm cỗ lớn đủ cả giò, nem, ninh mọc, lục phủ ngũ tạng con lợn và đệ ra đình cúng thần. Mọi người hí hửng cười ran: -Chắc là cỗ của nhà ta được giải nhất. QUan đám vui vẻ bảo với chúng tôi: -Làng tôi, mỗi năm có bốn đám, mỗi người phải nuôi một con ỷ, cứ đến hôm nay đem ra thờ. Của làng có năm sào ruộng treo giải, hễ ai làm xong trước, và làm được cỗ nhất nghĩa là cỗ có nhiều món thì sẽ được cấy năm sào ruộng ấy. Kể ra năm sào ruộng không đáng bao nhiêu, nhưng nếu chậm, cỗ bé, thì sẽ mang tiếng với làng nước. Vì thế chúng tôi phải cố. Ông tính một ngày như vậy, nhà tôi cũng phải tốn kém đến hơn trăm bạc, vì lát nữa còn phải mời làng ăn uống một bữa. Như thế, cấy năm sào ruộng của làng một năm đã bù lại được một phần mười hay chưa? Từ biệt ông chủ đi ra, bạn nói cho tôi biết , làng ấy vẫn thờ một ông .....tướng cướp. Chỉ có những ông tướng cướp mới có cái kiểu giết lợn hỏa tốc như vậy.. b. Phóng sự Việc làng - Có sức tố cáo rộng rãi đến những người đặt ra tục lệ hủ tục, quái gở ở nông thôn. Đồng thời nói lên nỗi thống khổ của người dân: Việc làng của Ngô Tất Tố không miêu tả những mặt đó mà muốn tập trung nhấn mạnh cái mặt tiêu cực, tính chất phong kiến của cái làng Việt Nam thời Pháp thuộc. Trong các tác phẩm của mình, Ngô Tất Tố đã chứng minh rằng bọn quan lại địa chủ dần dần chiếm đoạt hết ruộng công điền (Bãi nước bọt trên mặt ông tuần phủ), thủ tiêu hết những yếu tố dân chủ thị tộc còn sót lại (Đảng Dân chủ Đông Dương hay là cái trở lực cho sự tiến hoá của dân Nam kì) và biến những quan hệ cộng đồng (làng xóm, phe giáp) thành những gánh nặng đè nên cuộc sống tinh thần và vật chất của người nông dân. Trong trường hợp này người ta nói Phép vua thua lệ làng là nhằm bênh vực cho cái quyền tác uy, tác phúc của bọn phong kiến địa phương; bọn trùm nhất, lí trưởng, chánh hội là những ông vua còn không ai dám đụng chạm đến. "Làng là bọn đó chứ có ai đâu". Không tuân theo chúng, không chịu khuất phục trước uy thế của chúng tức là không tuân lệ làng, lập tức bị làng ngả vạ. Chúng cứ việc m " ua lợn, mua rượu, mua gạo đem ra điếm làng mà ăn. Phí tổn bao nhiêu người có lỗi đó phải chịu"(Một tiệc ăn vạ). Nhân danh "lệ làng", nhân danh hương ước.
<span class='text_page_counter'>(138)</span> chúng đặt ra nhiều luật lệ, phép tắc kì quặc, vô lí nhằm bóc lột nông dân. Chế độ thực dân phong kiến duy trì ở nông thôn nhiều kiểu bóc lột trắng trợn (sưu thuế, địa tô, cho vay nặng lãi, khoanh vùng cắm đất làm đồn điền), có kiểu bóc lột nấp sau các hủ tục, hương ước của từng làng, lại có hình thức tiền được ngụy trang kín đáo hơn sau các bức màn tôn giáo và mê tín dị đoan. Những hủ tục, những luật lệ vô lí thực chất cũng là một thứ thuế trá hình mà bọn phong kiến địa phương đánh vào đầu những kẻ thấp cổ bé miệng ở nông thôn. Một người dân ngụ cư phải ba đời mới được nhập bạ và "một đám vào ngôi"như thế phải lo lót cho bọn chức dịch mất gần hai trăm bạc! Hàng năm cứ đến thượng tuần tháng giêng, làng vào đám là "trai đinh phải cắt lượt nhau làm cỗ bưng ra đình để từ bàn trùm trở lên uống rượu nghe hát", mà trong cái làng ba nghìn suất đinh đó có đến bốn trăm ông trùm có ít đâu! (Mua cỗ). Bọn lí dịch cũng thường lợi dụng lòng mê tín của nông dân để đục khoét. Hương chức làng Phong Phú quận Thủ Đức, gần Sài Gòn, bày ra lễ cưới vợ cho thần thánh để làm tiền dân chúng (Chủ nghĩa tự do luyến ái đã lan đến giới thần thánh). Có khi bọn chánh hội, lí trưởng đã cướp không cái gia tài mồ hôi nước mắt của người đàn bà goá không con muốn xin đặt hậu để được làng thắp cho một "nén hương sau khi chết". Việc làng là một phóng sự về các hủ tục ở nông thôn nhưng nó không dừng lại ở những hiện tượng tiêu cực trên bề mặt như Làm dân của Trọng Lang. Thông qua việc miêu tả nạn xôi thịt ở đình trung, Ngô Tất Tố đã lên án bọn cường hào, lí dịch lợi dụng hủ tục để bóc lột nông dân. Đó là cái lí do chủ yếu cắt nghĩa tại sao những hủ tục vẫn tồn tại đời này qua đời khác "như một vị thần thiêng", không ai dám đụng chạm đến. Và cũng thông qua thiên phóng sự về những hủ tục này, một lần nữa nhà văn Ngô Tất Tố lại có dịp nói lên nỗi khổ của nông dân. Có người phải dỡ cả nhà bán lấy củi để lo một cỗ oản tuần sóc, có người phải bỏ làng ra đi vì không đủ tiền mua cỗ cho một đứa bé mới lên năm tuổi, có người phải đi ở kéo xe làm cái kiếp ngựa người để trừ một "món nợ chung thân"vì lo đám tang cho vợ, có kẻ bị làng "ngả vạ"uất ức quá phải thắt cổ tự tử! Mỗi chuyện trong Việc làng là một tấn thảm kịch ngắn và Việc làng bổ sung cho Tắt đèn sẽ làm thành một tấn bi kịch lớn của nông thôn Việt Nam dưới ách thực dân phong kiến. Tuy nhiên nếu như trong Tắt đèn tập trung ca ngợi những bản chất tốt đẹp của nông dân thì Việc làng bắt đầu nêu lên một số hiện tượng tiêu cực trong tư tưởng và tâm lí người nông dân trong xã hội cũ. Cái chính sách của bọn thực dân nhằm duy trì những hư danh ngôi thứ ở chốn nông thôn rất là thâm hiểm. Nó làm cho một số người lao vào tranh cướp nhau chỗ ngồi ở chốn đình trung, lấy đó làm lẽ sống cao nhất và tất cả đều quên mất cái sự thật đau đớn, mình vẫn là thân nô lệ! Chẳng qua anh nô lệ này cưỡi lên đầu anh nô lệ khác mà sống và cuối cùng là đám cùng đinh đành chịu cái kiếp con rùa trong câu phong dao cổ. Kết quả của việc chạy theo hư danh, ngôi thứ là sự lục đục, chia rẽ ở nông thôn. Bọn lí dịch tuy hùa nhau ăn hiếp cánh áo ngắn nhưng chúng lại chia ra năm bè bảy cánh kình địch nhau, có khi đâm chém nhau vì một chức tiên chỉ (Cái án ông cụ)… Trong một xã hội người bóc lột người, ý thức hệ của giai cấp thống trị là ý thức hệ thống trị. Các bậc đàn anh trong làng hiếu danh như thế, ham chức tước bổng lộc như thế thì lẽ tất nhiên một số nông dân sẽ có cái tâm lí m " ột miếng thịt giữa làng bằng một sàng xó bếp", "một miếng thịt làng bằng một sàng.
<span class='text_page_counter'>(139)</span> thịt mua". Điều đó là một quy luật không tránh khỏi. Vì thế mới có chuyện tự nguyện bán cả gia tài, cho vợ đi ở vú để lấy tiền mua một chức "lí cựu"! G " óc chiếu giữa đình". Và cũng vì thế người ta đã nâng niu một con gà thờ với tất cả lễ nghi thành kính, lấy làm "mãn nguyện"vì đã chăm sóc tận tình lúc "người"bị "thương thực"hơn là lo lắng cho bà mẹ mình bị ốm nặng? (Con gà thờ). Ngô Tất Tố đã phê phán cái tâm lí chạy theo hư danh ngôi thứ nhưng không bao giờ ông xem đó là bản chất của nông dân. Nhà văn hiện thực thấy rất rõ đó là những ảnh hưởng xấu từ giai cấp thống trị tiêm nhiễm vào người dân bị áp bức từ lâu đời. Việc làng đã thú hút người đọc bằng khả năng lí giải vấn đề một cách sâu sắc, bằng óc quan sát và nghệ thuật miêu tả tinh tế của một nhà văn sống lâu đời ở nông thôn. Việc làng đã góp phần lên án chính sách ngu dân thâm độc của đế quốc Pháp ở thuộc địa, đã tố cáo những thủ đoạn bóc lột của bọn cường hào lí dịch ở nông thôn và là một đòn đánh rất mạnh trực tiếp vào chủ nghĩa phục cổ. Qua những tác phẩm của Ngô Tất Tố, ta thấy nhà văn có một thái độ phủ định gần như là triệt để đối với nhiều mặt cơ bản của xã hội phong kiến. Ông lên án cái quan hệ "thằng còng làm cho thằng ngay ăn", đòi huỷ bỏ chế độ áp bức bóc lột vô nhân đạo của bọn thống trị (Tắt đèn)… Đặc biệt ông tập trung tố cáo những hủ tục đồi bại như một gánh nặng đè nên đời sống người nông dân và đặt vấn đề phải gấp rút cải tạo bộ mặt của cái làng phong kiến Việt Nam (Việc làng). Kết luận khách quan tiến bộ toát ra từ tác phẩm của Ngô Tất Tố là: phải gấp rút giải phóng người nông dân ra khỏi chế độ thực dân phong kiến cũng như ý thức hệ phong kiến.. - Lối tự sự có khuynh hướng đi gần tới lối viết truyện ngắn. - Lối kể chuyện linh hoạt: hoặc đi từ hinej tượng có kết quả hết sức nghiêm trọng đến nguyên nhân, hoặc mở đầu bằng cuộc tranh luận của người làng khiến người đọc tò mò * Dẫn chứng: "Góc chiếu giữa đình" Ông Luỹ người làng Đ.Tr. rất thật thà, chân chỉ. Mười lăm năm trước đây, ông còn làm nghề cày thuê, vợ ông đi ở vú sữa. Nhờ tiết kiệm mà ngày nay vợ chồng ông đã có gần mẫu ruộng và nửa con trâu, lên đến bậc có máu mặt, lưng vốn. Trong mấy năm nay, vợ ông không còn sữa, ông cũng không được khoẻ mạnh nên cả hai vợ chồng đều tự hưu trí để cùng trông nom ruộng nương nhà cửa. Nhờ trời, hồi ấy được mùa luôn, trong chuồng lúc nào cũng có lợn lớn, thóc lúa đủ ăn từ vụ nọ đến vụ kia. Tuy đã ngoài năm chục tuổi, nhưng chỗ ngồi trong đình làng ông vẫn phải ngồi vào lớp cuối cùng với bọn bố cu bố đĩ hạng bạch đinh. Mấy lần, ông định mưu lấy chút danh phận chạy chức lí trưởng, phó lí nhưng vì không biết chữ nên không được như nguyện. Năm nay, mái đình làng bị dột mấy chỗ nhưng quỹ làng không còn để mua ngói. Các ông kì dịch trong làng bèn mời ông Luỹ ra đình để bán cho ông cái chức lí cựu với giá một trăm đồng bạc để chi tiêu vào việc tu bổ. Lúc đầu ông cũng phân vân vì cái của "không tân mà cựu" sẽ không.
<span class='text_page_counter'>(140)</span> được ai quý trọng, nhưng về sau nghe bọn lí dịch nói rất bùi tai, nào là chỉ tốn trăm bạc mà được ngồi ngang với lí trưởng phó lí, nào là được ăn biếu ăn xén như ai, nên cuối cùng ông cũng cho là có lí. Vợ ông cũng muốn làm bà Cựu, nên khuyên ông cố lo. Ông Luỹ bán ruộng, bán trâu được hơn trăm bạc nộp cho làng. Công việc mười phần đã xong chín phần, chỉ còn khao làng một bữa thì sẽ thành danh ông Cựu. ý ông định hoãn đến tháng mười có lúa gạo, nhà đỡ phải vay mượn mất lãi, nhưng bọn lí dịch không nghe vì để lâu không tiện, dân làng đã vậy, còn quỷ thần. Cái áo còn lo được, huống chi cái dải! Ông Lũy cố mua bát họ hơn sáu chục để lo chuyện ăn khao. Ông chỉ có bốn gian một chái nhà tranh nên phải dựng rạp. Số người kéo đến giúp đáp rất đông. Buổi chiều dựng rạp, ông phải mổ con lợn bảy yến làm năm chục mâm cỗ, chỉ ăn một lượt là hết. Sáng hôm sau lại phải giết tiếp ba con lợn nữa: hai con để làm cỗ đãi họ hàng, một con để đem lễ thờ rồi biếu dân làng. Ông còn phải mổ vài ba con lợn nữa để mời các lão và tư văn vào buổi chiều... Từ cổng tới nhà, bát đĩa mâm nồi bày la liệt khắp nơi. Trong rạp đông nghịt những người. Ngoài số tay dao tay thớt còn có ba bàn tổ tôm và bốn bàn thuốc phiện. Sau bọn tư văn kéo đến là các bô lão... Cuộc linh đình kéo dài mãi đến sáng hôm sau Năm ngày sau cuộc ăn khao, vợ ông Luỹ với dáng điệu không vui cắp nón đi ra cổng làng để sang Hà Nội làm vú già. Bà Cựu cho tác giả biết: gần mẫu ruộng và nửa con trâu đã bán hết cả, lại còn nợ thêm hơn bảy chục đồng nữa. Vợ chồng ông Luỹ như bị cuốn và mê hồn trận. Nhà tranh bốn gian một chái sao chứa được hàng trăm khách? Phải dựng rạp số người kéo đến"giúp đáp"thật đông. Thôi thì "Mẹ nào con ấy, chị nào em ấy, người ta kéo vào từng lũ". Phải giết con lợn bảy yến, dọn năm chục cỗ, chỉ ăn một lượt trong buổi chiều là hết! Sáng hôm sau lại mổ tiếp ba con lợn nữa: hai con để họ hàng ăn cơm uống rượu, một con để đem lễ thờ, rồi biếu dân làng. Còn khách hàng tổng, các lão và tư văn, hết toán nọ đến toán kia lũ lượt kéo đến, phải giết thêm "vài ba con nữa"mới đủ! Ông "Cựu mới"không thể xử cách "nhom nhem"được. Mang tiếng chết! Một quang cảnh bày ra giữa thanh thiên bạch nhật đến hai, ba ngày. Tiếng lợn kêu eng éc. Bát đĩa mâm nồi la liệt bày ra khắp mặt đất từ cổng trở vào. Trong rạp lúc nào cũng đông nghịt những người. Có ba bàn tổ tôm và bốn bàn thuốc phiện đủ mặt bọn kì dịch. Ông Luỹ lúc thì "tất bật", lúc thì "lơi lả"chào mời khách khứa. Có lẽ ông "lí Cựu"vô cùng sung sướng khi được đứng trên đỉnh cao danh vọng! Tác giả "Việc làng"hạ một câu: "Cuộc linh đình còn mãi đến sáng hôm sau". Đó là cả một nỗi niềm thương cảm của tác giả đối với vợ chồng ông Lũy. Năm ngày sau cuộc ăn khao, tác giả gặp bà cựu cắp nón đi ra cổng làng, với một dáng điệu không vui. Bà Lũy còn đâu sữa nữa nên phải đi làm vú già! Cái cơ ngơi chắt bóp suốt mười lăm.
<span class='text_page_counter'>(141)</span> năm trời đã tan biến. Cái giá mua chức lí cựu và cuộc ăn khao đâu có rẻ: "gần mẫu ruộng và nửa con trâu đã bán hết cả, lại còn nợ thêm hơn bảy chục đồng".. 4. Tiểu thuyết Tắt đèn Nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) từng khen ngợi Tắt đèn là "một tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy". Phong Lê, trên Tạp chí Sông Hương tháng 12 năm 2003, gọi những tác phẩm viết về nông thôn của Ngô Tất Tố là "một nhận thức toàn diện và sâu sắc, đầy trăn trở và xúc động về cảnh ngộ và số phận người nông dân Việt Nam" đạt đến "sự xúc động sâu xa và bền vững". Từ một góc nhìn khác, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, trong bài Ngô Tất Tố và một cách thích ứng trước thời cuộc trích từ cuốn Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2005), viết Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết "rất xúc động" khiến người đọc có thể "nhiều phen ứa nước mắt". - Tắt đèn là câu chuyện thảm thương của gia đình nông dân vì cái thẻ sưu. Phản ánh sâu sắc thực trạng nạn sưu thuế nóng bỏng thời kì Mặt trận Dân chủ. Ấn tượng bao trùm về Tắt đèn là một bức tranh đời sống sắc sảo, góc cạnh và chi tiết trên tất cả mọi chân dung và đối thoại, không trừ ai, trong số mấy chục nhân vật có tên hoặc không tên, xoay quanh một hình tượng trung tâm là chị Dậu. - Nhịp điệu của Tắt đèn là một hơi văn mạnh mẽ và rắn rỏi từ đầu đến cuối. Kết cấu chặt chẽ, tình tiết mạch lạc, tập trung làm nổi bật chủ đề. Hệ thống tuyến nhân vật chia rõ ràng thành các tuyến chính diện phản diện. Cách thức miêu tả nhân vật cũng tuân thủ theo quy tắc nghiêm ngặt miêu tả một chiều đồng nhất. *Bài tập: Phân tích hình tượng nhân vật Chị Dậu - Chị Dậu là nhân vật chính diện được miêu tả đồng nhất một chiều và là điển hình xuất sắc, chân thực, toàn vẹn về người phụ nữ nông dân trước Cách mạng. - Là hình tượng tiêu biểu cho số phận người phụ nữ nông dân Việt Nam trước Cách mạng: + Nạn nhân của xã hội tàn bạo, đẩy chị phải gặp nhiều oan trái, hết hạn nọ đến hạn kia, bị xã hội tàn bạo đẩy xuống bùn đen:.
<span class='text_page_counter'>(142)</span> Xuất thân nhà nghèo, quanh năm chăm chỉ làm ăn không chơi ngày nào . Khi mẹ và em chồng chết thì nhà nghèo lên tới cùng đinh trong làng Chồng đau ốm mà vẫn bị cùm trói vì nợ sưu thuế, một mình phải đôn đả vay mượn, bị đánh đập hành hạ vẫn cam chịu. Thậm chí phải đứt ruột bán con để cứu chồng. Chị đi làm thuê rồi lại suýt bị hãm hiếp... + Ở chị Dậu lại ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn - phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ nông dân Việt Nam. Chị yêu thương chồng con, giàu đức hi sinh: bị giải lên huyện vẫn nghĩ đến chồng con ở nhà... + Là người trung hậu đảm đang tháo vát, thông minh sắc sảo. + Là người giàu lòng tự trọng và có sự ý thức về nhân phẩm. + Là người tiềm tàng khả năng phản kháng ngoan cường Thành công của Ngô Tất Tố là thành công của quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, của một nhà văn tự thấy phải hoạt động, phải xông pha, phải lăn lộn với dân chúng. NỘI DUNG SINH VIÊN TỰ HỌC, TỰ NGHIÊN CỨU ( 01 Tiết - Tiết 38 ) ? Những công trình khảo cứu, phê bình dịch thuật Ngô Việt Xuân Thu (dịch, 1929) Hoàng Hoa Cương (dịch, 1929) Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (truyện ký lịch sử, 1935) Đề Thám (truyện ký lịch sử, viết chung, 1935) Thơ và tình (dịch thơ Trung Quốc, 1940) Đường thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940) Thi văn bình chú - tủ sách Tao Đàn - nhà xuất bản Tân Dân - Hà Nội (tuyển chọn, giới thiệu, 1941) Văn học đời Lý (tập I) và Văn học dời Trần (tập II) (trong bộ Việt Nam văn học) (nghiên cứu, giới thiệu, 1942) Lão Tử (biên soạn chung, 1942) Mặc Tử (biên soạn, 1942) Hoàng Lê nhất thống chí (dịch, tiểu thuyết lịch sử, báo Đông Pháp, 1942) Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946) Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện vừa, 1946).
<span class='text_page_counter'>(143)</span> Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946) Duyên máu (dịch, truyện ngắn, 1946) Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946-1954) Địa dư các nước châu Âu (biên soạn chung với Văn Tân, 1948) Địa dư các nước châu Á, châu Phi (biên soạn chung với Văn Tân, 1949) Địa dư Việt Nam (biên soạn, 1951) Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (kịch bản chèo, 1951). Đóng góp (kịch, 1951) Kinh dịch (chú giải, 1953). ? Những tiểu phẩm văn học trên báo chí - Gần gũi với tạp văn của Lỗ Tấn, có sức thuyết phục, lập luận chặt chẽ. - Nhà văn luôn cho thấy những tiểu phẩm có lập trường vững vàng, có tính phê phán mạnh mẽ. - thường viết báo châm biếm đả kích.. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Tìm hiểu về tiểu sử con người của NTT 2. Sự nghiệp trước tác của NTT 3. Chuẩn bị bài Nam Cao?.
<span class='text_page_counter'>(144)</span> Tiết: 39 - 41. Ngày ký duyệt Bài 9. NAM A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Những nét lớn về tiểu sử, con người, đề tài sáng tác... của nhà văn Nam Cao 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, và những tác phẩm được dạy trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. * Tài liệu tham khảo: 1. Nam Cao - tác gia và tác phẩm, Nxb GD, 2001. 2. Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97. 3. Tuyển tập truyện ngắn của Nam Cao. C. NỘI DUNG BÀI HỌC I. TIỂU SỬ VÀ CON NGƯỜI 1. Tên thật là Trần Hữu Tri. Sinh năm 1915 trong một gia đình trung nông ở làng Ðại hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc Nam Hà). Gia đình Nam Cao sống cũng chật vật. Trong số anh em chỉ có Nam Cao được ăn học. Học hết phổ thông trung học vì ốm nên không thi đậu. Nam Cao theo người nhà vào Sài Gòn làm thư ký cho một cửa hiệu may. Sau trận ốm nặng, Nam Cao lại trở về làng. Ôn tập lại vốn học và thi đậu, nhưng vì sức khỏe yếu nên không có việc làm. Sau đó người làng mở trường tư ở Hà Nội, cần một chân dạy có bằng trung học, Nam Cao được mời dạy. Ðược ít lâu trường bị đóng cửa vì Nhật chiếm làm chổ nuôi ngựa. Nam Cao sống vất vả, khi viết văn, khi làm gia sư nhưng cũng không đủ sống. Thời kỳ này Nam Cao được giác ngộ Cách mạng và tham gia sinh hoạt tổ văn hóa cứu quốc 1943. Khi cơ sở văn hóa ở Hà Nội bị khủng bố, Nam Cao về làng.
<span class='text_page_counter'>(145)</span> tham gia phong trào Cách mạng ở địa phương. Tổng khởi nghĩa, Nam Cao tham gia cuộc đánh chiếm Phủ Lý Nhân và làm chủ tịch xã một thời gian, trước khi được điều lên công tác văn hóa, văn nghệ ở báo trung ương. - Những ngày sôi nổi của tuổi trẻ, cũng như buổi đầu đến với văn học, Nam Cao làm một số thơ lãng mạn và viết những truyện tình thơ mộng. Ở thời kỳ này ngòi bút của Nam Cao dò dẫm tìm một lối đi, tâm hồn Nam Cao dần dần đổi thay, có được một cái nhìn đúng đắn cuộc sống. Những áng mây xốp bồng bềnh trôi nổi, ánh trăng xanh huyền ảo, ngọn gió mát lành thơm tho thoảng qua từ những mái tóc, tà áo thiếu nữ, những cuộc hẹn hò, trang sức... Tất cả chất liệu ấy có lần đến với ngòi bút Nam Cao, mạng theo nhiều mơ ước xa xôi và những nỗi buồn vẩn vơ của lứa tuổi học sinh chịu ảnh hưởng của sách báo lãng mạn. Nam Cao trong tuổi trẻ không khỏi có lúc Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh Vương vấn theo ai bốn góc trời Nhưng Nam Cao chóng trở về với cuộc đời thực. Cái buồn thường sớm nhường chỗ cho những cái lo. Nỗi cơm áo, bệnh tật, công ăn việc làm, Nam Cao không thích sự mơn trớn, vuốt ve "Nghệ thuật không thể là ...". Nam Cao tìm đến sự thật với tấm lòng yêu thương cuộc sống, những lớp người và những cảnh đời đau khổ. Với những rung động xót xa đến cháy lòng trước bao ngang trái, bất công của chế độ cũ, Nam Cao muốn phơi bày sự thật của cuộc đời và của lòng người. Nam Cao gần gũi và quen thuộc chốn đồng quê và những cảnh đời lầm than, đau khổ và chính cái làng quê ấy đã đi vào những trang viết rất chân thật sinh động của ông. Tiếp xúc và cọ xát với nhiều loại người, nhiều số phận khác nhau, Nam Cao đã từ cái bao quát chung để thấm thía và chiêm nhiệm cho thân phận tầng lớp và của riêng mình Năm 1943, Nam Cao tham gia nhóm văn hóa cứu quốc do Ðảng lãnh đạo. Khi bị khủng bố gay gắt, Nam Cao về hẳn làng tham gia phong trào Việt minh ở địa phương. Sau ngày tổng khởi nghĩa nhà văn được bầu là chủ tịch xã ít lâu sau, Nam Cao được điều lên công tác ở hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký toà soạn báo Tiền phong, cơ quan của hội. Năm 1946 theo đoàn quân Nam tiến vào vùng nam trung bộ. Trở về, Nam Cao tiếp tục làm công tác thông tin tuyên truyền như viết tin, viết tài liệu, làm ca dao, xem sách. Thời gian này Nam Cao được kết nạp vào Ðảng Cộng.
<span class='text_page_counter'>(146)</span> Sản Ðông Dương. Tháng 11-1951 trên đường vào công tác vùng địch hậu liên khu Ba, Nam Cao bị một toán phục kích bắn chết gần bốt Hoàng đan, Ninh bình Nam Cao ngả xuống giữa lúc đang ấp ủ cuốn tiểu thuyết lớn về quê hương chuyến đi đó nhà văn lấy tài liệu để hoàn chỉnh tác phẩm Làng. 2. Nam Cao là con người hiền lành trầm mặc nhút nhát đến vụng về, có vẻ như lạnh lùng khó gần. Nhà văn rất khổ tâm về cái tật "hãi người" và "cái mặt không chơi được"(tên một truyện ngắn) của mình. Con người "Mảnh khảnh thư sinh, ăn nói ôn tồn nhiều khi đến rụt rè, mỗi lúc lại đỏ mặt mà kỳ thực mang trong lòng một sự phản khán mãnh liệt". Trước Cách mạng, Nam Cao luôn sống trong tâm trạng đau khổ u uất, bất đắc chí. Ôúm yếu thất nghiệp Nam Cao sống lay lắt bằng nghề văn và dạy tư là hai cái nghề bạc bẽo khi đó. Nam Cao viết văn rất sớm và khá nhiều, tài năng trưởng thành rất nhanh. Nhưng gần 10 năm viết văn trước Cách mạng. Nam Cao hầu như không có vị trí gì trên văn đàn đương thời. Hầu hết truyện dài của Nam Cao đều phải bán bản quyền để rồi bị vứt xó cho đến khi bản thảo bị thất lạc. Hiếm có một nhà văn có tài mà bước vào làng văn lại chật vật và bị đối xử bất công như Nam Cao. Nam Cao luôn chất chứa trong lòng tâm sự của người nghệ sĩ "Tài cao phận thấp chí khí uất"(Tản Ðà) mà đó cũng là tâm trạng P " hản kháng mãnh liệt"của người trí thức tiến bộ với cái xã hội bóp nghẹt cuộc sống con người. Nam Cao không như kẻ khác do bất mãn cá nhân mà hằn học, thù nghét "cả giống người". Con người bề ngoài có thể lạnh lùng đó bên trong là một tâm hồn chan chứa yêu thương. 3. Sự gắn bó cảm động với bà con dân quê là một tình cảm nổi bật trong con người Nam Cao. Nhà văn lớn lên trong sự đùm bọc của những người nông dân nghèo khổ ruột thịt. Ðó là bà ngoại nhà văn góa chồng năm 22 tuổi, suốt đời vất vả cực nhọc nuôi con cháu. Ðó là người mẹ hiền lành lam lũ. Ðó là người vợ chịu thương chịu khó. Ðó là người dì nuôi đã bế ẵm nhà văn khi còn tấm bé. Hình ảnh những con người đó trở đi trở lại trong nhiều trang viết của Nam Cao. Tác phẩm của Nam Cao luôn luôn hiện lên cái làng Ðại Hoàng thân thiết. Hình ảnh quê hương đã nâng đỡ nhà văn lúc bi quan bế tắc. Là một thanh niên tiểu tư sản, lại sống giữa xã hội đầy xấu xa. Nam Cao không phải không tiêm nhiễm nhiều cái tiêu cực. Nhưng cái đáng quí ở Nam Cao là.
<span class='text_page_counter'>(147)</span> tự mình đấu tranh nghiêm khắc để vượt mình, vượt khỏi cuôc sống tầm thường, nhỏ nhen, đê tiện, vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái cao thượng. II. QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT Nam Cao bước vào làng văn từ năm 1936, lúc ông mới 19 tuổi, với những truyện ngắn đầu tay nhuốm đậm màu sắc lãng mạn. Phải đến khi tuyệt tác Chí Phèo và tập Đôi lứa xứng đôi ra đời vào năm 1941, ý thức nghệ thuật hiện thực của Nam Cao mới được khơi dòng mạnh mẽ. 1. Dứt khoát từ bỏ và phê phán nghiêm khắc xu hướng thoát li tiêu cực, quay lưng lại với đời sống, thờ ơ trước nỗi đau khổ của nhân dân... 2. Văn học phải gắn bó sâu sắc với hoàn cảnh đời sống: Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”; Phỉa hướng tới niềm vui và tin yêu của con người ’phải chứa đựng một cái gì lớn lao vừa đau đớn vừa phấn khởi”. Đặc biệt là phải chứa đựng tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Ngòi bút của Nam Cao dường như đã bắt được mạch sống cuộc đời và cái "tạng" của riêng mình, liên tục cho ra mắt một loạt truyện ngắn và cả tiểu thuyết đặc sắc trong vòng 3 năm, từ 1942 đến 1945. Như vậy là, phải mất gần 5 năm Nam Cao mới "cập bến" chủ nghĩa hiện thực; so với các nhà văn hiện thực tiền bối xuất sắc như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố... thì quá trình "tìm đường" và "nhận đường" ở Nam Cao diễn ra liên tục và vất vả hơn nhiều. Tuy nhiên, nhờ thế mà giai đoạn sáng tác sung mãn nhất của đời văn Nam Cao luôn có sự đồng hành của hệ thống các quan điểm nghệ thuật hiện thực, không ở bên ngoài hay phía trước để "dẫn đường" mà hóa thân trong chính những hình tượng nhân vật sống động của tác phẩm, như Điền (Trăng sáng), Hộ (Đời thừa), Lộc (Truyện người hàng xóm), Ngạn (Nhìn người ta sung sướng) v.v... 4. Với Nam Cao, nghề văn cần nhất là tiềm năng sáng tạo. Đề cao vai trò người viết. Nhà văn chân chính nhất thiết không phải là một "người thợ", dù có là người thợ khéo tay đi chăng nữa, do đó đi theo lối mòn, rập khuôn, xơ cứng, theo Nam Cao, là điều tối kị đối với người nghệ sĩ. Cạn nguồn sáng tạo, văn chương chỉ còn là thứ sản phẩm "rất nhẹ", "rất nông", "vô vị", "nhạt phèo" – như suy nghĩ của nhân vật nhà văn Hộ trong truyện ngắn Đời thừa. Hộ cho rằng: "Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có". Do vậy, để có thể "đem một chút mới lạ gì đến văn chương" thì không thể thỏa hiệp được "thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi"..
<span class='text_page_counter'>(148)</span> Phải sáng tạo cái mới, và đạt tới mức sâu sắc. Song cái mới tuyệt nhiên không phải là cái lạ lẫm, cái lập dị, tồn tại thuần túy tự thân; mà phải vì con người, vì sự thật, vì thiên chức cao quý của nghệ thuật. Trong Những truyện không muốn viết, nhân vật Cao kể rằng, mình đã bị bạn thân trách là "đổ đốn", "dơ dáng" vì "đem chuyện hắn ra mà viết"; song Cao là người trong cuộc nên thấm thía những chuyện không muốn viết ấy "bao giờ nghe cũng buồn". Vì sao? Nhân vật Điền phát biểu trong Trăng sáng: "Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta", và để cho sự héo tàn tính người trong con người bớt đi giữa cuộc đời thì "nghệ thuật không cần phải là áng trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than". Viết lời Tựa cho tập truyện Đôi lứa xứng đôi cuối năm 1941, nhà văn Lê Văn Trương thẳng thắn nói rằng: "Giữa lúc người ta đắm mình trong những truyện tình thơ mộng và hùa nhau "phụng sự" cái thị hiếu tầm thường của độc giả, ông Nam Cao đã mạnh bạo đi theo một lối riêng", cho dù "những cạnh của tài ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn". Nam Cao không đối lập mình với văn chương lãng mạn đang nở rộ lúc bấy giờ, song nếu lãng mạn và kiểu cách tới mức gieo vào đầu người ta "đầm đìa thuốc phiện" giữa lúc cuộc sống của những số phận "thấp cổ bé miệng" chứa chất bao điều khốn khổ, thì ông nhất quyết không đồng tình. Nam Cao thành thực lớn tiếng bênh vực, đề cao kiểu văn chương "thoát thai từ những kiếp lầm than". Chối bỏ điều này, với ông chỉ là thứ văn chương nhạt nhẽo, vô duyên, thậm chí là dối trá, lừa mị. Trong tác phẩm Trăng sáng, Nam Cao đối sánh biểu tượng lãng mạn của ánh trăng với thực tế khách quan của nhân sinh để khẳng định chân lý, lý tưởng của cái đẹp nằm ngay ở chính sự thật cuộc đời:" Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh.Nhưng trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình!". Đó là sự đối sánh cái bên ngoài và cái bên trong, cái hiện tượng và cái bản chất, cái nội dung và cái hình thức.Bản chức của văn chương, theo Nam Cao, phải nói cho được, cho rõ sự thật đang tàn phá nhân thể, nhân tính con người, như Điền nghĩ: "Điền muốn tránh sự thực nhưng trốn tránh làm sao được" (Trăng sáng), và như Lộc nói: "– Anh viết những cái gì? – Những cái tôi vừa nói với anh, nghĩa là sự thật" (Truyện người hàng xóm). Ở đây ta nhận thấy sự gặp gỡ giữa Nam Cao và một bậc thầy khác của dòng văn học hiện thực Việt Nam 1930-1945 – nhà văn Vũ Trọng Phụng. Không giấu giếm lòng căm hờn trước trật tự xã hội đầy ngang trái đương thời, Vũ Trọng Phụng kêu gọi sự can đảm và thành thực của nhà văn "tả chân": "Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời". Nam Cao, như nhân vật Điền, "chẳng cần đi đâu cả", "chẳng cần trốn tránh', "cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời". Vừa đau đớn, vừa trầm tư mà lại ung dung lên lộ trình sự thực ở đời, thế giới nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám luôn đứng vững trên mảnh đất điển hình hóa, coi trọng độ trung thực, chính xác của những chi tiết cụ thể, mang sắc thái cá tính độc đáo trong mô tả con người và cuộc sống... vốn là những nguyên tắc mỹ học bao trùm của chủ nghĩa hiện thực..
<span class='text_page_counter'>(149)</span> Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nam Cao lên Việt Bắc, tự chiêm nghiệm và trải nghiệm "đôi mắt nghệ thuật" của mình từ khói lửa của cuộc chiến tranh, lòng không nguôi nghĩ suy về tư cách "con dân nước Việt", về trách nhiệm của nhà văn và văn chương trước vận mệnh của dân tộc. Tự nhìn nhận cho đúng về mình cũng là để nhìn người cho chân thực, để tự soi mình và để tiếp cận cuộc sống, sự thật. Trong nhật ký Ở rừng, Nam Cao chân thành tâm sự: "Nhiều khi phải biết quên mình đi. Quên cái tên tuổi của mình, nếu muốn thành người có ích. Có cần gì phải cầy cục ghi tên mình lại cho lịch sử? Tạo ra lịch sử là một việc làm lớn lao hơn. Nhưng tạo ra lịch sử lại là sự nghiệp của số đông. Ta nên nghĩ đến cái số đông nhiều hơn ta". Trước gian khổ và hy sinh lớn lao của cuộc chiến tranh vệ quốc, mỗi người cần "biết hy sinh, biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến tên mình, không nghĩ đến cả thân mình nữa". Cho nên, Nam Cao luôn đặt công việc làm văn của mình bên cạnh công việc của những người đi kháng chiến nhằm tìm ra cái ý vị văn chương mà cuộc sống đang cần. Ông không giấu giếm sự thật là trong ông tồn tại cả hai ý nghĩ về công việc làm văn. Một mặt, "vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ cũ trong người tôi vùng dậy"; mặt khác, ông tự chất vấn mình: "Sao tôi lại không thể dằn cái ý muốn kiêu căng của tôi xuống, để góp sức vào công việc "không nghệ thuật" lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn", tức là tham gia vào công tác tuyên truyền, động viên toàn dân kháng chiến cứu nước. Ý thức ấy được Nam Cao nâng lên thành quan điểm lý luận có tính chất định hướng hoạt động sáng tạo của mình trong bài viết Vài ý nghĩ về văn nghệ đăng trên báo Cứu quốc, tháng 7-1948: "Điểm lại những tác phẩm cũ của chúng ta, chúng ta thấy tác phẩm nào cũng có khuynh hướng cả. Riêng về địa hạt văn chương, từ Trần Tuấn Khải, Tản Đà đến Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Vũ Hoàng Chương... Từ Tố Tâm qua những tiểu thuyết của Tự Lực Văn đoàn đến những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Nguyên Hồng, Tô Hoài v.v... đều đẩy cho người đọc có một thái độ nào đó trước cuộc đời, đẩy họ phản ứng lại cuộc đời cách này hay cách khác... Phân tích cho thật kỹ, bới tìm đến tận cái cốt ở bên trong, ta thấy tác phẩm nào cũng tuyên truyền tranh đấu". Những ý tưởng, quan điểm của Nam Cao về nghề văn và lao động sáng tạo nghệ thuật, trước cũng như sau Cách mạng tháng Tám, cho thấy ông luôn "nhập cuộc" văn chương bằng một cái tâm sáng trong, đầy nhiệt huyết. Khởi nguồn từ cội rễ nhân văn ấy, tác phẩm của Nam Cao luôn cắm rễ sâu xa, gắn bó thắm thiết với mảnh đất hiện thực, luôn sáng lên những suy tưởng lớn bởi sự khám phá chiều sâu số phận con người và cuộc đời ngay trong những cái – hàng – ngày ấm nồng hơi thở sự sống. Cội rễ ấy đã nuôi dưỡng và phát lộ tài năng văn chương xuất chúng của ông, đưa ông trở thành một nhà nhân đạo lớn, một nhà văn hiện thực bậc thầy.. III. SÁNG TÁC CỦA NAM CAO THỜI KÌ TRƯỚC CÁCH MẠNG 1. Đề tài tiểu tư sản.
<span class='text_page_counter'>(150)</span> Sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám tập trung viết về tầng lớp tiểu tư sản nghèo . * Hầu hết các nhân vật giống nhau về cảnh ngộ, tính cách... ít nhiều họ đều là hình ảnh bản thân Nam Cao. Ðó là những học sinh thất nghiệp, những viên chức hạngbét, những giáo khổ trường tư, những nhà văn nghèo bất đắc chí ... họ "phải bán dần sự sống để giữ cho mình khỏi chết" (Quên điều độ ). Nhân vật chính trong "Xem bói" đó là một thanh niên thất nghiệp "ăn cháo loãng cầm hơi, tối đến vợ chồng cắn rứt nhau, những ngày vác đơn khúm núm đi xin việc hết công sở này đến công sở khác, đã từng bị những ông chủ hảng đuổi khỏi cửa như đuổi một kẻ ăn mày". Những lo lắng cơm áo hằng ngày đè nặng cuộc đời họ, giày vò tâm trí họ, tạo cho họ cái tâm trí xo ro thảm hại, cái nhịp sống điều độ tội nghiệp. Cả cuộc đời họ không một chút lạc thú, một tiếng cười vui, có chăng là tiếng cười thiểu não trong truyện "Cười". Tiếng cười đó còn khổ hơn cả giọt nước mắt của Ðiền trong "Nước mắt" khi anh cảm thấy mình khổ quá "Khổ như một con chó vậy" *Nam Cao viết về những nổi đau quằn quại trong tâm hồn, nhiều khi có tính bi kịch của họ. - Họ là những nhà văn mang tên Hộ, Ðiền, Du, có khi được gọi làhắn và xưng là tôi. Họ thường ôm ấp một hoài bảo về sự nghiệp tinh thần. Họ đã từng sẳn sàng hiến cả đời mình cho nghề văn. Với sự say mê, Hộü không còn giới hạn nào trong mơ ước: trong một phút cao hứng anh tuyên bố, tác phẩm của anh sẽ đoạt giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu. - Tác phẩm của họ có tính nhân đạo. Theo Hộ, tác phẩm có giá trị phải là "tác phẩm chung cho cả loài người. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái , sự công bình... nó làm cho con người gần người hơn " - Ở họ giữa ước mơ và hiện thực mâu thuẫn nhau: hàng ngày chuyện áo cơm ghì sát đất . Lẽ ra ngòi bút của họ phải viết về một cái gì đó to lớn, góp phần xây dựng nhân loại thì giờ đây, để kiếm tiền nuôi vợ con đã phải viết toàn những cái vô vị nhạt phèo, gợi tình cảm rất nhẹ, rất nông. Họ đau đớn nhận ra rằng mình là một con người thừa. - Họ rơi vào mâu thuẩn giữa tình thương và sự nghiệp: họ định thoát li vợ con để rảnh rang theo đuổi văn chương. Nhưng Hộ không thể ích kỷ tàn nhẫn như vậy..
<span class='text_page_counter'>(151)</span> Hộ đã hy sinh sự nghiệp để giữ lấy tình thương. Rồi lại rơi vào sự nuối tiếc, sự cục cằn thô bạo. Khi tỉnh lại, Hộ càng đau đớn hơn nữa lẽ sống cuối cùng cũng không giữ được. Hộ nói với vợ trong tiếng nức nở : "Anh ... chỉ là... một thằng... khốn nạn" * Người trí thức trong truyện ngắn Nam Cao còn ghi lại những quằn quại trong cuộc đấu tranh tư tưởng của người tiểu tư sản. Ðấu tranh với xu hướng thoát li hưởng lạc "Quên điều độ " "Nhìn người ta sung sướng", "Trăng sáng", "Truyện tình" Câu chuyện tội nghiệp của anh chàng Lưu trong "Truyện tình" với cô Kha nhí nhảnh. Ðó là bài học với anh tiểu tư sản nghèo cay đắng. Cái cô gái xinh đẹp, nhí nhảnh, thơm tho đầy quyến rủ kia chẳng phải là của anh, chúng nó chỉ là đứa giả dối, hợm hĩnh, ích kỷ, đểu cáng, chúng chẳng quý trọng gì người nghèo mà chỉ lợi dụng cái ngây ngô khờ dại của anh rồi quẳng anh đi bất cứ lúc nào. Nam Cao thù ghét sự ích kỷ độc ác và quan niệm về kẻ mạnh "không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỷ, kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình "(Ðời thừa). Nam Cao luôn muốn bênh vực mọi người bằng lỗi lầm của họ. Muốn hoà giải con người bằng sự cảm thông. Truyện của Nam Cao ghi lại những giằng xé quằn quại của người tiểu tư sản trong cảnh bế tắc, đồng thời cũng ghi lại sự chiến thắng của tư tưởng nhân đạo. Nhưng nước mắt chỉ là nước mắt. Lý tưởng nhân đạo ấy chỉ xoa dịu và giữ cho Nam Cao trước vực thẳm sa ngã, tuyệt vọng, chứ hoàn toàn không có khả năng cải tạo xã hội. Nam Cao và cá nhân vật của mình vẫn bế tắc. Tiểu thuyết "Sống mòn" "Sống mòn"nguyên "Chết mòn"viết xong cuối năm 1944, nhưng bản thảo sau khi bán bản quyền cho nhà xuất bản bị vứt lay lắt không được in mãi năm 1956, "Sống mòn" mới được ra mắt độc giả lần đầu tiên. a. Bi kịch "Chết mòn" về tinh thần tri thức của người tri thức tiểu tư sản - Lớp tri thức tiểu tư sản: sống nghèo khổ tủi nhục, bế tắc Cậu giáo Thứ, giáo San: những thanh niên con nhà có máu mặt một chút ở thôn quê, bằng con đường học hành, họ cố leo lên một chổ đứng tử tế trong xã hội, những mong thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn. Nhưng lớp "đồ tây" ấy chẳng may mắn hơn lớp đồ nho trước họ: hoặc học hành giỏi giang hoặc có mảnh bằng đấy mà.
<span class='text_page_counter'>(152)</span> vẫn thất nghiệp. Họ rơi vào tình cảnh dở sống dở chết. Bị hắt ra ngoài lề xã hội một cách thảm hại. Nhân vật Thứ : Thứ đã từng nuôi giấc mộng lớn: "y sẽ vào đại học đường, y sẽ sang Tây... y sẽ thành vĩ nhân đem những đổi thay lớn lao đến cho xứ sở mình". Với niềm tin ngây thơ và lòng hăng hái của tuổi trẻ lãng mạn, Thứ đi Sài gòn, tưởng đâu là một cuộc viễn du đẹp đẽ. Nhưng sau 3 năm lặn lội kiếm sống bệnh tật đã trả, quẳng Thứ về quê nhà để nằm dài thất nghiệp và để chứng kiến cái làng quê tiêu điều của mình càng thêm điều hơn. Thứ phải tìm cái trường tư vô danh ở một xó ngoại ô để dạy học kiếm sống. Nhưng "công việc mỏi mệt quá đi cày " mà đồng lương quá bạc bẻo. Thứ làm việc đến kiệt sức, hà tiện vắt ruột mà cứ túng thiếu không cất đầu lên được. Cuộc sống khốn khổ ấy cũng không xong: chiến tranh đến, trường đóng cửa. Thứ bị hắt về quê ăn bám vợ, "đời y sẽ mốc lên sẽ rỉ đi, sẽ mòn ra ở một xó nhà quê...rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả chết mà chưa sống !...". Ðó là bước đường cùng không lối thóat của tầng lớp tri thức tiểu tư sản nghèo, đó là thực trạng đau sót buồn thảm, bế tắc của cả môt xã hội đang rên xiết. Nhưng giá trị "Sống mòn" không dừng ở đó "Sống mòn" tập trung đi sâu vào bi kịch "Chết mòn" về tâm hồn con người trong cái xã hội không cho con người sống, có ý thức về sự sống mà không được sống. Bị nhấn chìm trong cảnh "chết mòn" mà không cưỡng lại được. Thứ khao khát một cuộc sống hữu ích, cao cả Anh có quan niệmkhá sâu sắc, đúng đắn về ý nghĩa chân chính cuộc sống: "Mỗi người sống phải làm thế nào cho phát triển tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở mình. Phải gom góp sức lực mình vào công việc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi phải để lại một chút gì cho nhân loại". Nhưng "đau đớn thay cho những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất". Cuộc đời khốn nạn bắt Thứ phải sống "cái lối sống quá ư loài vật, chẳng còn biết đến một việc gì ngoài cái việc kiếm thức ăn đổ vào dạ dày". Một lối sống mà Thứ hết sức khinh ghét. Thứ khao khát một cuộc sống rộng lớn luôn luôn đổi mới. Nhưng cuộc đời đã giễu cợt giấc mộng giang hồ của Thứ và bắt Thứ kéo lê cuộc sống đơn điệu, mòn mỏi, tù đọng ở một xó ngoại ô dở tỉnh dở quê, ngày tháng trôi đi "bình lặng và vô sự... không có hy vọng gì đổi thay"..
<span class='text_page_counter'>(153)</span> Thứ mong muốn giữa người với người có sự cảm thông, yêu thương. Anh muốn trân trọng mọi người và có ý thức gần gũi nhân phẩm của mình. Nhưng "chất độc ở ngay trong sự sống"thấm vào máu từng người. Chất độc ấy vùi dập những gì tốt đẹp, kích thích những gì nhỏ nhen xấu xa trong con người. Thứ cũng không tránh được sự nhỏ nhen xấu xa trong cuộc sống đang xảy ra chung quanh mình với vợ con, với bạn bè đồng nghiệp. Thứ có lúc nghĩ tới sẽ phản bội vợ, vũ phu với vợ, phản bội bạn bè và mong cho bạn chết. Nghe tin Ðích ốm nặng, Thứ thầm mong Ðích chết ngay lúc ấy. Thứ đã khóc "khóc cho cái chết của tâm hồn y". Cả cuốn "Sống mòn"là tiếng khóc lặng lẽ mà đau đớn về "cái chết của tâm hồn". Với những mẩu chuyện tầm thường trong sinh hoạt hàng ngày. Nam Cao đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa lớn lao, sâu sắc. "Sống mòn" dõng dạc kết án cái xã hội thối nát đã bóp nát mọi ước mơ, mọi khả năng tiềm tàng và mọi cái tốt đẹp trong con người, đã tàn phá tâm hồn, giết chết sự sống. Từ chiều sâu tác phẩm vút lên tiếng kêu khẩn thiết: hãy cứu lấy con người, cứu lấy sự sống. b. Phê phán lối "Sống mòn" và tư tưởng tiểu tư sản - Lối "Sống mòn" : ngòi bút sắc sảo của Nam Cao đã phơi ra ánh sáng những lối "Sống mòn" đáng thương và đáng sợ. - Bộ mặt tinh thần của mấy thầy giáo, cô giáo trong "Sống mòn" thật buồn tẻ, thảm hại. Họ sống chen chúc trong một không khí tù đọng, bụi bặm, ẩm mốc. Chỉ mong có miếng ăn và được yên thân. Nhân vật San : sống buông xuôi, luôn thèm khát thú vui vật chất, chẳng có một ước mơ gì cao xa. Nhân vật Oanh : lại "Sống mòn" theo kiểu khác. Ở người đàn bà "gầy đét, cứng nhắc và khô"này, tình cảm tâm hồn con người bị vắt kiệt để chỉ còn những tính toán, ích kỷ, nhỏ nhen, keo kiệt đến độc ác. Xã hội ấy, tình trạng "Sống mòn" là rất phổ biến, ngay trong những người lao động cũng đầy rẫy những lối sống vô lý, những lối sống mòn. Cuộc sống của ông Học, ngày nào cũng như ngày nào, ông dậy sớm, chẻ củi, xay đậu.. "như một cái máy". Cả đời ông chỉ có hai niềm vui gần như say mê: ăn mía lau và thổi kèn tàu. Tâm hồn ông có cái hồn nhiên, đơn giản nhưng quá đơn giản đến nghèo nàn, thô kệch, mù tối. Theo Thứ sống như vậy chưa phải là sống. "Yên thân, nhưng yên thân.
<span class='text_page_counter'>(154)</span> như vậy để làm gì ? Làm để có ăn, ăn để sống, sống để đợi chết ... cả cuộc đời chỉ thu gọn vào bằng ấy việc thôi ư ?" Hình ảnh u em nhà ông Học "lặng lẽ như một con ma ngồi vá bên một ngọn đèn con", T " hứ có cảm tưởng thị vá chỉ vì đêm dài quá, không sao ngủ hết". Ðó là những hình ảnh có sức gợi rất nhiều về việc sống buồn tẻ, nhẫn nhục, thầm lặng đến phát sợ trong cuộc đời cũ. Với một tâm hồn dịu dàng, nhạy cảm với đôi mắt sắc sảo tinh tế, Nam Cao đã phơi bày không che đậy lối "Sống mòn" đang phổ biến. Một mặt Nam Cao lên án nghiêm khắc cái xã hội đẩy con người vào tình trạng giam hãm lâu đời trong cái khổ, trong sự tù túng và dốt nát. Mặt khác, nhà văn đã thức tỉnh trong con người nỗi "ghê sợ " lối sống mòn dung tục và niềm khao khát một cuộc sống đẹp, ý nghĩa. - Phê phán lối sống tiểu tư sản + Nhân vật Thứ hình ảnh bản thân Nam Cao đã bộc lộ khá đầy đủ lối sống tiểu tư sản. Nổi bật là tâm lý bất lực, ươn hèn, cái tính nhút nhát, tật "hãi người " từ bé, tính do dự, hay nghĩ ngợi quấn quanh, sợ đổi thay, đổ vở, ngại hành động. Chính bất lực và bất động đó dẫn đến tâm trạng tự ti, buồn tủi rất phổ biến ở người tiểu tư sản nghèo lép vế. Thứ luôn luôn bị ám ảnh bởi những ý nghĩa cay đắng "y xấu, y hèn, y chỉ là anh giáo khổ trường tư nên chỉ dám nghĩ, dám nhìn một người con gái xa xa lặng lẽ... nhìn để buồn... để chua chát . Thầy thanh niên nghèo khổ này đôi lúc cũng vẫn lên nổi thèm khát ăn chơi hưởng lạc. Dự định đến trọ nhà Hải Nam đã gợi cho Thứ cả một giấc mộng về cảnh sống đàn điếm, lãng mạn. Có điều, Thứ vốn là người có ý thức về nhân phẩm, sống vị tha và có trách nhiệm nên đã tự đấu tranh để vuợt qua được. + Những hoài nghi, bi quan về "người đời" tính đa nghi, cái nhìn xoi mói đôi khi tàn nhẫn đối với người đời. Cái tật hay ghen không tin "ở lòng dạ đàn bà " của Thứ là những biểu hiện của tâm lý hoài nghi, vốn có nguồn gốc xã hội sâu xa. + Thói sĩ diện hão cũng là một nét nôi bật trong tính cách tiểu tư sản, nhất là ở phần tử tri thức. Kẻ sĩ diện thường dấu giếm cái nghèo hèn và phô trương cái giàu sang "cao quí " của mình. Thứ rất nghèo túng nhưng muốn tỏ ra hào phóng để rồi sau đó hối hận xót xa. Không dám dọn nhà ban ngày vì sợ thiên hạ biết mình ít đồ đạc, ban đêm mới lẻn đi giống như một cô gái chửa hoang đi đẻ. Người tiểu tư sản trong "Sống mòn"mang tính bi hài kịch..
<span class='text_page_counter'>(155)</span> c. Sức mạnh tố cáo của "Sống mòn" và niềm khao khát đổi thay Nhân vật phản diện trong "Sống mòn" là cuộc đời là toàn bộ cái xã hội tàn bạo đã gây nên cảnh chết mòn thê thảm của mọi nhân vật. Trên giường bệnh Ðích rít lên trong cơn hấp hối "Ðời ! ... ôi chao đời !" Thứ cũng hằn học: "Cuộc sống... cuộc sống thật là một cái gì nặng nề, trói buộc quá "những tiếng kêu rên xiết toát lên từ chiều sâu bi thảm của mỗi số phận, lặp đi lặp lại như một nét nhạc toàn buồn tạo nên cái âm hưởng chủ đạo của bài ca "Sống mòn". "Sống mòn"không trực tiếp phản ánh trên bình diện đấu tranh giai cấp nhưng Nam Cao thấy rõ tình trạng bất công phổ biến trong xã hội đương thời: B " ao giờ và ở đâu cũng thế thôi. Thằng nào đã chịu khổ quen rồi thì cứ cố mà chịu mãi đi ! mà thường thường những kẻ ăn nhiều nhất, hưởng nhiều nhất lại là những kẻ không đáng ăn một tí nào, hưởng một tí nào ". Trong "Sống mòn"không có hai chữ chế độ. Nhưng Nam Cao đã đặt ra vấn đề chế độ. Vấn đề không phải tại "người này hay người kia" mà là toàn bộ cái xã hội phải thay đổi. "Sống mòn" toát lên cái yêu cầu cấp bách đòi phá tung trật tự khốn nạn thít chặt lấy số phận con người. - Niềm khao khát đổi thay Cuối truyện một sự thật "to lớn quá, mạnh mẽ quá, bi thảm quá ". Nhân loại đang lên "cơn sốt rét", đang "quằn quại để đổi thay". Phải thay đổi trong bế tắc cùng đường. Thứ muốn bám vào một niềm tin. Thứ dự cảm thấy một sự đổi thay to lớn: "Lòng Thứ đột nhiên hé ra một tia sáng mong manh. Thứ tự thấy hy vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này cuộc sống sẽ dể chịu hơn, công bình, đẹp đẽ hơn". Tác phẩm kết thúc bế tắc, nhưng tia sáng mong manh đó vẫn le lói như hứa hẹn một bình minh xa xôi sẽ tới. Nhưng đổi thay bằng cách nào ? Thứ cho rằng phải "nhìn nhận rõ ràng cái khổ để tìm cách diệt khổ ". Anh phản đối thái độ sống nhẫn nhục đầu hàng. Xã hội tương lai mà Thứ mơ ước: "Ai cũng phải làm, ai cũng phải được no đủ, tự do mà chỉ ai làm mới được no đủ tự do" Tuy vậy, "Sống mòn" chưa vương tới tư tưởng Cách mạng. Nam Cao, về căn bản cũng chưa vượt khỏi nhãn quan và lập trường tiểu tư sản. Thứ vẫn cứ là nạn nhân bất lực, chỉ suy nghĩ suông mà chưa hành động. Ðó là hạn chế căn bản của nhân vật Thứ cũng là hạn chế của tác giả..
<span class='text_page_counter'>(156)</span> "Sống mòn"vẫn chưa vượt khỏi khuôn khổ của văn học hiện thực phê phán. Nhưng trong khuôn khổ ấy nó xứng đáng được coi là thành công xuất sắc cuối cùng của trào lưu hiện thực phê phán trước Cách mạng tháng Tám. 2. Đề tài nông thôn, nông dân * Những nhân vật nông dân trong truyện ngắn Nam Cao Mỗi tác phẩm của nhà văn là một lời tố khổ chân thực, cảm động về cuộc sống tối tăm, thê thảm của người nông dân. Nông thôn trong tác phẩm Nam Cao là nông thôn Việt Nam vốn triền miên trong bần cùng, giờ đây đang tiến tới thảm họa khủng khiếp 1945. - Cảnh chết đói: lão Hạc ăn bả chó tự tử để tránh chết đói. Anh Cu Phúc chết lặng lẽ trong xó nhà ẩm thấp trước đôi mắt "dại đi vì quá đói " của hai đức con (Ðiếu văn). Bà cái Tí chết vì một bửa quá no, một kiểu chết đói (Một bửa no). Cảnh đám cưới chạy đói (Một đám cưới). Một đám cưới của Dần trong cảnh nghèo, không đón đưa, không may mặc, không cỗ bàn, một đám cưới có 6 người cả nhà gái nhà trai: : "cả bọn đi lũi lũi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt nhau đi tìm chỗ ngủ ". Còn biết bao nhiêu truyện thương tâm về người nông dân bị đày đọa nhục nhằn xung quanh cái đói (trẻ em không biết ăn thịt chó). Nghèo từ ngày mẹ chết, Ðòn chồng. - Nam Cao chú ý đến những người thấp cổ bé họng nhất, bị áp bức bất công nhiều nhất, chịu số phận đen đủi, hẩm hiu. Những kẻ cố cùng như Bình Chức "làm thì cật lực mà quanh năm vẫn nghèo rớt mùng tơi, chỉ vì một miếng ăn mà cũng không giữ được mà ăn, đứa nào vớ được nó cũng xoay mà đứa nào xoay cũng chịu". Như Chí Phèo bị cả xã hội bỏ rơi ngay từ khi mới ra đời. Ðó là Thị Nở một người đàn bà ế chồng, sinh ra từ một gia đình có mả hủi, bị loài người xa lánh. Ðó là một mụ Lợi, Cu Lộ Lang Rận, những người không được loài người coi là người. Ðó là thân phận trâu ngựa của những đứa ở cho nhà giàu, những cái Tí, cái Dần, anh Cu Phúc ăn thì chẳng bao giờ đủ no mà công việc và những lời chửi rủa thì thừa bửa tứa tát. - Bị ức hiếp nhiều nhất có lẽ là người phụ nữ trong xã hội; đó là dì Hảo (Dì Hảo), Nhu (Ở hiền) những cô gái hiền như một ngụm nước mưa, cả đời chỉ biết yêu.
<span class='text_page_counter'>(157)</span> thương, nhường nhịn nhưng cả đời chỉ gặp cay đắng phủ phàng. Ðó là Mụ Lợi (Lang Rận), 36 tuổi vẫn lận đận về chuyện chồng con, chỉ vì nghèo quá suốt đời đi ở "kể người ta nuôi mụ chỉ biết nuôi, nuôi để mụ hầu hạ người ta, còn cái sự mụ có chồng hay không có chồng thì mặc mụ ". Trong xã hội ấy, thân phận người phụ nữ là thân phận nô lệ, luôn bị chà đạp thô bạo, bất công có khi họ là nạn nhân khốn khổ cùng kẻ mà họ phải thờ phụng. Những thằng chồng vũ phu, tham ăn tục uống, hành hạ vợ một cách dã man (Ở hiền, Dì Hảo, Ðòn chồng, Trẻ em không được ăn thịt chó ) Ði vào cuộc đời những con người bị ức hiếp nhiều nhất, càng hiền lành càng lụi xuống bùn đen, Nam Cao đã làm nổi bật lên tình trạng bất công ghê gớm trong xã hội: "tại sao trên đời này nhiều sự bất công đến thế ?". câu hỏi không lời giải đáp đó trongỞí hiền" một truyện ngắn có tính chất luận đề nghi vấn, cái "đạo lí ở hiền gặp lành " cũng là vấn đề Nam Cao đặt ra trong hầu hết tác phẩm của mình. - Trong tác phẩm của Nam Cao ta thường gặp những nhân vật nông dân xấu xí, thô lỗ, độc ác, nhục nhã trong cuộc sống của họ. Ðiều đó khiến cho một số người hoài nghi ý nghĩa hiện thực và nhân đạo của nhiều truyện Nam Cao. Ðúng là trong sự biểu hiện một số truyện Nam Cao có vẻ tự nhiên chủ nghĩa. Nhưng không như những nhà văn chủ nghĩa nhìn quần chúng như một lũ vật - người ngu dốt đầy thú tính. Trái lại từ cái bề ngoài xấu xí, có khi rất thú vật của người nông dân đã phát hiện ra tâm hồn con người. Nam Cao không chỉ nói đến tình cãnh bị bóc lột về thể chất mà đi sâu vào nổi khổ, tâm hồn con người bị đày đọa, nhân phẩm bị xúc phạm, giá trị làm người bị tước đoạt. "Một bữa no" là câu chuyện cay đắng thê thảm về cái chết nhục nhã của một bà lão khốn nạn "Ðòn chồng" là câu chuyện về một người đàn bà khác bị sỉ nhục, bêu riếu hành hạ dã man. "Lang Rận"là một câu chuyện cực nhục thê thảm nhất. Lang Rận con người nghèo khổ, bẩn thỉu bị mọi người hắt hủi đã tìm đến với Mụ Lợi - một người đàn bà xấu xí bị hắt hủi như mình. Nhưng mối tình chính đáng tội nghiệp của họ trở thành trò bêu riếu trò chơi thú vị kích thích tính tò mò của hai đưá đàn bà nhà giàu "nồng nộng chơi, không suốt ngày tơ tuốt ", "cười hy hý và phát lưng nhau đồm độp ... "..
<span class='text_page_counter'>(158)</span> Cuối cùng chúng đã đặt Lang Rận vào một tình thế vô cùng nhục nhã khiến Lang Rận chỉ còn một cách thắt cổ tự tử. Bị sỉ nhục tàn tệ, người nông dân khốn khổ chỉ có thể hoặc từ bỏ cuộc sống như Lang Rận, hoặc phải từ bỏ lòng tự trọng nhân phẩm như Cu Lộ, Chí Phèo. Nam Cao đã đanh thép lên án cái xã hội chà đạp người nông dân lượng thiện và dõng dạc bênh vực nhân phẩm của họ ngay trong khi bị nhục mạ một cách độc ác bất công. Trước Cách mạng tháng Tám ít có nhà văn hiểu được cách sâu xa ngõ ngách sâu kín, những hy sinh thầm lặng mà cao quí trong tâm hồn người nông dân như Nam Cao. Ðó là chỗ mạnh trong cái tài của nhà văn nhưng trước hết là ở cái tâm "chữ tâm kia với bằng ba chữ tài " tức là ở tấm lòng tri âm của nhà văn đối với người nông dân nghèo khổ. Số phận người nông dân có thay đổi được không ? câu hỏi đó, Nam Cao cũng như mọi nhà văn hiện thực phê phán chưa trả lời được. Truyện Nam Cao bao trùm một không khí buồn thảm, u ám. Ðó là cái u ám của hiện thực. Nhưng cũng là u ám trong tâm hồn Nam Cao. Dưới cái nhìn bi quan của nhà văn, cuộc sống là bế tắc vô vọng, con người vật vã quằng quại, đau khổ nhưng chẳng đi đến đâu. Người nông dân thì chỉ biết cúi đầu chịu đựng, đến khi không chịu đựng được nữa thì điên lên, liều mạng vát dao giật lấy miếng ăn. Nam Cao không đồng tình đối với thái độ nhẫn nhục cam chịu: "cái nghề đờii hiền quá hóa ngu, đã nhịn thì chúng ấn cho đến không còn ngóc đầu lên được"(Chí Phèo). - Miêu tả người nông dân Nam Cao quá thiên về mặt tha hóa nặng nề, những con người xấu xí đến quái dị, ý nghĩa thẩm mỹ rất mỏng manh. - Trong bi quan, bế tắc có lúc Nam Cao như mất phương hướng rơi vào khủng hoảng, khi ấy nhà văn dễ tiếp thu tư tưởng định mệnh, ma quái: "Nửa đêm"những nhân vật chính đều là những con vật người, điên loạn trong một không khí ghê rợn. * Truyện ngắn "Chí Phèo" a. Chí Phèo lương thiện Trong làng Vũ đại, Chí Phèo là thằng cùng hơn cả thằng cùng, không cha mẹ, không người thân thích, không nhà cửa không có miếng đất cắm dùi. Tuổi thơ bơ vơ hết đi ở cho nhà máy lại đi ở cho nhà khác, đến tuổi thanh niên làm canh điền cho Bá Kiến..
<span class='text_page_counter'>(159)</span> Sống cuộc sống lao động cực khổ của người cố nông, khỏe mạnh, hiền lành, chất phác. Có những ước mơ chân chính: một gia đình nhỏ làm thuê cuốc mướn vợ dệt vải. Trong xã hội cũ, ước mơ chỉ là ảo tưởng, còn đau xót khổ cực mới là hiện thực. Chí Phèo là một thanh niên có tâm hồn đẹp: yêu - ghét, khinh - trọng rất rõ. Anh đã phân biệt tình yêu chân chính với thói dâm dục xấu xa. Bị gọi lên bóp chân, đùi cho bà ba anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì. Khi tỉnh rượu, anh tha thiết được trở lại với xã hội loài người "thèm lương thiện muốn làm hòa với mọi người biết bao". Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã loé lên một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối dằng dặc. Sự săn sóc giải dị ở Thị Nở, người đàn bà khốn khổ ấy đã khơi dậy, đánh, thức bản chất lương thiện của người cố nông Chí Phèo. Lần đầu tiên sau bao năm Chí Phèo nghe tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói của mấy người đi chợ về, tiếng anh thuyền chài gõ đuổi cá. Ðây là tiếng gọi tha thiết của sự sống đang níu kéo anh trở về với lương thiện. b. Chí Phèo lưu manh Quãng đời lương thiện của Chí Phèo quá ngắn ngủi và chấm dứt khi bị Bá Kiến cho giải lên huyện rồi đi ở tù : Sau bảy tám năm biền biệt, khi trở về Chí hoàn toàn thay đổi. Hắn không còn là người nông dân nữa mà là phần tử bị loại ra ngoài xã hội. Nhà tù thực dân bắt người lúc lương thiện và thả ra thành hung dữ, nhà tù giết cái phần "người " của Chí, chỉ còn lại cái phần "con". Hiện tượng bi thảm ấy có tính chất qui luật, tính phổ biến trong cái xã hội ăn thịt người. Trong truyện ngắn của Nam Cao, ta đã gặp những họ hàng xa gần của Chí Phèo như Trạch Văn Ðoành, Lê Văn Rự (Ông thiên lôi) "Nửa đêm", Cu Lộ Tư cách mỏ ", Tư Lăng, Binh Chức, Năm Thọ những tiền bối gần xa của Chí Phèo. Những cơn say triền miên của Chí dẫn đến hậu quả : say ( chửi; say (cướp giật; say ( chém giết. Chí Phèo sống cuộc đời bản năng thô bạo, cũng giống như những người bạn say của Chí "lúc nào cũng nghĩ tới màu xanh của một chai rượu văn điển và màu vàng của một đùi thịt chó nướng"..
<span class='text_page_counter'>(160)</span> Chí Phèo trở thành tên quỉ dữ của làng Vũ Ðại. Chí Phèo sống trần trụi, Chí Phèo gây tội ác một cách vô ý thức. Sau khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo rơi vào bi kịch của con người không được làm người, muốn làm lại cuộc đời không được chấp thuận. Trong cơn tuyệt vọng, Chí vác dao đi trả thù. Chí Phèo chưa có ý thức giai cấp rõ rệt nhưng dây không phải là một hành động trả thù có tính chất bản năng mù quáng. Chí Phèo truy tìm nguyên nhân, phù hợp với trạng thái như chập chờn say tỉnh của Chí Phèo. Chí Phèo chưa có ý thức trả thù Bá Kiến ngay. Trước tiên nghĩ đến bà cô Thị Nở. Phải chăng theo thói quen của bước chân, Chí đến thẳng nhà Bá Kiến, nhưng cũng không hẳn là quen chân mà sâu xa hơn là một nhân tố mới đã xuất hiện trong ý thức của người nông dân. Hai chữ "lương thiện" thốt lên ở cửa miệng con người khốn khổ vừa là một lời cầu mong, một niềm phẩn uất đồng thời là một điều tuyệt vọng. Chí Phèo trong trạng thái tỉnh của một cơn say đã lần ra đầu mối của vấn đề. Chí Phèo hiểu rỏ Bá Kiến đãtước đi cái quyền làm người lương thiện và khả năng trở lại một người lương thiện. Tiếng gọi đòi trở lại người lương thiện mang nội dung xã hội và có ý nghĩa giai cấp. Nó như một tia sáng vụt dậy qua suốt cả cuộc đời cực nhọc tăm tối và đó cũng là giây phút tỉnh táo, có ý thức nhất, vượt lên khỏi trạng thái bản năng tự nhiên. Chí Phèo muốn được trở lại chính mình, trở về với bản chất vốn có của người nông dân sau những năm tháng dài bi tha hóa. Hạn chế về mặt nội dung "Tre già măng mọc, thằng ấy chết còn thằng khác". Nhà văn không hề thấy khả năng thay đổi vươn lên làm chủ vận mệnh của người nông dân. Sự thức tỉnh của Chí Phèo chỉ dẫn đến hành động khủng hoảng bi thảm. Trong thế giới nông dân của nhà văn, nếu không phải kẻ mặt mày dữ tợn, những con ác thú, thì cũng là những con sâu cái kiến, sống trong sợ hãi nhẫn nhục đến tê liệt. Ngay cả đến Chí Phèo trước khi đi tù, tuy là canh điền khỏe mạnh nhưng vừa bóp chân cho bà Ba vừa run. Binh Thức thì hèn đến nổi "ai quát một tiếng thì đái ra cả quần". Trong cái làng Vũ Ðại không có lấy một bộ mặt sáng sủa, có sinh khí. Chỉ có một bộ mặt vằn ngang vằn dọc của Chí Phèo, bộ mặt xấu xí "không được như mặt lợn" của Thị Nở. Bộ mặt vô nghĩa lí của lão Tư Lãng thầy cúng kiêm hoạn lợn,.
<span class='text_page_counter'>(161)</span> của mụ hàng rượu, của bà cô Thị Nở. Trong cái nhìn tri âm của Nam Cao đối với nông dân vẫn đôi lúc xen vào con mặt khinh bạc, cố ý trút tất cả những nét "mỉa mai của hóa công" vào nhân vật Thị Nở một chân dung biếm họa quá ghê tởm và lạc lõng. Nam Cao cũng như hầu hết các nhà văn hiện thực phê phán, chưa thể vưỏn tới nhận thức cách mạng cũng chưa có một quan điểm giai câp chính xác. Khi triết lý một cách bi quan: những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác phải là kẻ mạnh. Nhà văn đã xóa nhòa ranh giới giai cấp và vô tình biên hộ cho thống trị đầy tội ác mà nhà văn vừa lên án đanh thép . IV. VÀI NÉT VỀ ÐẶC ÐIỂM NGHỆ THUẬT Nam Cao có một bản lĩnh nghệ thuật già dặn, một phong cách đa dạng, mới mẻ độc đáo. 1. Phản ánh những khía cạnh chân thực Sức mạnh tài năng của Nam Cao thể hiện trước trước hết ở sự chân thực trong nội dung và trong hình thức nghệ thuật. Một đặc điểm đặc sắc của Nam Cao là từ những sự việc rất mực tầm thường quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày đã đặt vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn. Ðọc Nam Cao, ta vừa thấy hiện rõ trước mắt những chi tiết chân thực cụ thể vừa vương vấn những suy nghĩ triết lý mà tác giả gửi gắm đằng sau mỗi câu chuyện. Viết về người nông dân, cốt truyện đơn giản mà ý nghĩa xã hội sâu sắc. Viết về người tri thức là viết theo dòng suy nghĩ của nhân vật. Truyện của Nam Cao thường đậm đà ý vị triết lý, mang nặng suy nghĩ. Ðó là những suy nghĩ được vắt ra từ cuộc sống vất vả, lầm than, từ những giằng xé của một tâm hồn trung thực cố bám sát vào cuộc sống và vươn tới chân lý. 2. Chất trử tình "Trong văn xuôi trước Cách mạng, chưa có ai có được ngòi bút sắc sảo, gân guốc, soi mói như của Nam Cao"(Lê Ðình Kị văn nghệ số 54, 8-5-1964) Ngòi bút của Nam Cao thường lạnh lùng nhưng không hề giống cái lạnh lùng trước số phận quần chúng của các "tác giả tả chân tư sản". Ngôn ngữ của Nam Cao dùng cho "ông Chánh ", "bà phó " và dửng dưng khi nói đến con người nghèo khổ thường gọi là "hắn ", "y", "thị ", "mụ ". chính giọng bình thản lạnh lùng ấy là cảm xúc nén lại khiến cho sự phẩn uất xót thương càng tăng lên..
<span class='text_page_counter'>(162)</span> Ở nhiều truyện, Nam Cao thường mở đầu bằng tiếng cười hả hê, vô tâm trước một bộ mặt xấu xí, một tình huống khôi hài của nhân vật, nhưng khi gấp trang truyện lại, người đọc thấy sót xa rùng mình về số phận thê thảm của con người bị đè nén, bóc lột, bị sỉ nhục thậm tệ. Tác phẩm của Nam Cao có một phong thái trữ tình thắm thiết. Truyện Nam Cao thường là truyện ít tình nhiều. Nhiều truyện có tính chất tự truyện kể về cuộc đời, tâm sự tác giả. Nhà văn thường xen lẫn tự sự và trữ tình, vừa kể chuyện vừa tham gia vào câu chuyện. Có khi Nam Cao bước hẳn vào tác phẩm trực tiếp đứng ra kể chuyện và phát biểu cảm nghĩ của mình. Số phận bi thảm của dì Hảo Câu chuyệnvề anh Cu Phúc là những lời "điếu văn" cảm động trước cái chết (Ðiếu văn). Giữa một câu văn tự sự bỗng vút lên tiếng kêu thương cảm thán: "Lão hạc ơi ! Lão hãy yên lòng nhắm mắt ", "Dì Hảo ơi ! tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ đi lấy chồng. Ðó là một buổi chiều cỏ sương bay". Một đám cưới "lủi thủi đi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chổ ngủ "(Một đám cưới) 3. Miêu tả tâm lí nhân vật Viết về người nghèo, Nam Cao chú ý đến những đau khổ về tinh thần của họ. Viết về người trí thức tiểu tư sản, Nam Cao phát hiện ra bi kịch tâm hồn. Thế giới nhân vật của Nam Cao đông đảo mỗi nhân vật có một diện mạo tâm lý riêng. Tính cách, tâm lý nhân vật được khắc họa rõ nét chủ yếu bằng sự soi sáng bên trong hơn là bằng miêu tả ngoại hình và hành động bên ngoài. Nhân vật Bá Kiến có giọng quát "rất sang " và tiếng cười "Tào Tháo" bá Kiến là một con hổ biết cười. Nhân vật trí thức tiểu tư sản Nam Cao chú ý cái thư thế còm ròm, xo ro, thể hiện một cuộc sống mờ nhạt thiểu não nhỏ nhen. Có những nhân vật không miêu tả ngoại hình mà vẫn sống vì được soi sáng từ bên trong. Ngòi bút Nam Cao sinh động khi miêu tả diển biến tâm lý nhân vật, Bá Kiến, Chí Phèo..
<span class='text_page_counter'>(163)</span> - Truyện Nam Cao kết cấu không theo trình tự thời gian: phần kết thúc đưa lên trước, thường là bắt đầu từ giữa câu chuyện rồi mới ngược trở về trước và tiếp tục về sau (Chí Phèo, Một đám cưới, Ðời thức, Sống mòn) - Nam Cao ít tả cảnh, mà có tả cảnh cũng để soi sáng nội tâm nhân vật. Cũng có trăng, trăng của anh văn sĩ lãng mạn là "liềm vàng", "đĩa bạc là cái vú mộng tràn đầy mà thi sĩ của muôn đời mơn man"(Trăng sáng). Còn trăng trong "Chí Phèo"thì "nhễ nhại", "rời rợi như là ướt nước ...giẫy lên đành đạch như là hứng tình" - Ngôn ngữ trong truyện của Nam Cao là lời ăn tiếng nói quần chúng, giản dị mà phong phú chắc chắn mà uyển chuyển, có khi xù xì dài dòng nhưng trong sáng đậm đà thường xen lẫn thành ngữ, tục ngữ. V. KẾT LUẬN Nam Cao thực sự là một cây bút văn xuôi đầy tài năng Một quan điểm nghệ thuật vững vàng. Nội dung viết ra trong tác phẩm là tấm lòng yêu thương ưu ái với tầng lớp người biết áp bức. Văn chương của Nam Cao là "tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp lầm than" Nghệ thuật của Nam Cao là thứ nghệ thuật tìm tòi, sáng tạo "Biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi nhữngnguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có ". D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP 1. Những nét lớn về con người, sự nghiệp sáng tác, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao... 2. Ôn tập để kiểm tra..
<span class='text_page_counter'>(164)</span> Tiết: 42. Ký duyệt Bài 9. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT. Giúp Sinh viên nắm được 1. Những nội dung về văn học hiện thực phê phán 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, các nội dung văn học hiện thực phê phán, nhất là những tác phẩm được dạy trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc. B. TÀI LIỆU HỌC TẬP. * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. C. NỘI DUNG KIỂM TRA. - Thời gian: 45 phút - Hình thức: thi viết Đề bài: Nêu suy nghĩ của anh chị về cái kết của Lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao. Đáp án: 1. Mở bài: Giới thiệu về cái kết của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam. 1.0.
<span class='text_page_counter'>(165)</span> Cao 2. Thân bài: Thể hiện được suy nghĩ về cái kết của nhân vật nhưng phải đảm bảo những nội dung cơ bản sau: - Thứ nhất là nguyên nhân cái chết. + Lão Hạc đã già yếu, nay lại ốm nên không thể tự nuôi sống nổi mình mà lại không. 1.0. muốn phiền người khác. + Sự dằn vặt đau đớn khôn nguôi khi quyết định bán “Cậu Vàng” - người bạn thân. 1.0. thiết, kỷ vật cuối cùng của con trai lão + Thương con trai vì nghèo phải đi làm xa không muốn ăn vào tiền để dành cho con. Nhận xét: Từ nguyên nhân về cái chết của lão có thể thấy Lão Hạc rất tự trọng, giàu. 1.0 1.0. đức hi sinh cao cả của người cha. Vì thế, món tiền dành dụm bán chó và mảnh vườn mang là ý nghĩa danh dự của kẻ làm người cha, lão không thể tiêu vào đó. Cuối cùng lão chọn cái chết để tự giải thoát. - Phương cách chết của lão Hạc:. 1.0. + Lão chết bằng bả chó, chết do trúng độc bả chó. + Trả lời tại sao Lão không chọn cái chết êm dịu hơn, nhẹ nhàng hơn, lặng lẽ hơn?. 1.0. Nam Cao đã tôn trọng cái logic của sự thật cuộc đời để tố cáo xã hội đương thời lúc ấy đã đẩy con người bất hạnh đến cùng đường tuyệt lộ, khiến họ phải chết một cách thê thảm đớn đau. Nam Cao muốn đề cập vấn đề nhân phẩm: dù phải trả giá đắt đến mấy, con người cũng phải giữ cho được phẩm chất của mình. - Ý nghĩa cái chết của Lão Hạc.. 1.0. + Đó là bi kịch của sự đói nghèo, bi kịch của tình phụ tử, bi kịch của phẩm giá làm người. + Nêu ra vấn đề hạnh phúc của con người là một tấm chăn hẹp người này kéo thì người kia hở + Nhưng xét một cách toàn diện thì cái chết ấy lại toát lên niềm tin sâu sắc vào phẩm chất tốt đẹp ở người nông dân của tác giả. 3. Kết bài: Kết lại vấn đề và nêu bài học thực tiễn * Hành văn. 1.0 1.0. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP Ôn tập lại kiến thức và chuẩn bị bài thực hành (hướng dẫn giảng dạy các nội dung của học phần liên quan tới chương trình Ngữ văn THCS).
<span class='text_page_counter'>(166)</span> Tiết: 43 - 45. Ký duyệt Bài 9. A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Giúp Sinh viên nắm được 1. Xác định nội dung học tập của học phần Văn học VNHDD1 với các vấn đề về văn học lãng mạn, hiện thực phê phán và trào lưu văn học yêu nước cách mạng. 2. Có kí năng phân tích các tác phẩm, định hướng nội dung giảng dạy các tác phẩm của văn học giai đoạn này trong nhà trường THCS hiện hành. 3. Phát huy tính chủ động trong học tập. Thêm yêu mến và trân trọng những thành quả mà cha ông ta đã tạo dựng. B.TÀI LIỆU HỌC TẬP * Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1. C. NỘI DUNG BÀI HỌC NHỮNG NỘI DUNG CẦN NẮM VỮNG KHI VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY I . KHUYNH HƯỚNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG * Những đặc điểm cơ bản 1. Thể hiện nhiệt tình cứu nước, khát vọng dân chủ, duy tân. 2. Phản ánh những vấn đề cơ bản, cốt yếu nhất của xã hội Việt Nam, con người Việt Nam trong thời kì lịch sử sôi động..
<span class='text_page_counter'>(167)</span> 3. Văn học Cách mạng là tiếng nói mạnh mẽ khỏe khoắn của những tâm hồn rực lửa đấu tranh và vững vàng trước gian nguy thử thách. 4. Văn học vô sản thể hiện niềm tin vững chắc vào tương lai. * Những tác giả tiêu biểu: 1. Phan Bội Châu: Những trò lố Varen hay là Phan Bội Châu - Phản ánh cái nhìn hiện thực - Là tư tưởng yêu nước tiến bộ. 2. Hồ Chí Minh : Nhật kí trong tù. - Tinh thần yêu nước cách mạng - Tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng. II. TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN 1. Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học là một khuynh hướng thẩm mỹ được khơi nguồn từ sự khẳng định cái tôi cá nhân cá thể được giải phóng về mặt tình cảm, cảm xúc, phát huy mạnh mẽ trí tưởng tượng. 2. Chia thành 2 khuynh hướng văn học *Thơ mới. Thực hiện cuộc cách mạng lớn trong quan nịêm về đối tượng, chức năng của thơ ca - Đối tượng Thơ mới là thế giới xung quanh với vẻ đẹp muôn hình muôn thể, là cõi tinh thần của con người. - Chức năng Thơ mới: miêu tả cuộc sống, thể hiện khát vọng của cá nhân Tinh thần dân tộc sâu sắc - Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu mến những giá trị truyền thống, những điều giản dị xung quanh cuộc sống, yêu mến tiếng Việt.. - Niềm hoài vọng xa xôi quá khứ vàng son, oanh liệt như cách phản ứng lại xã hội đương thời (Nhớ rừng - Thế Lữ) Những cảm xúc thiết tha trong sáng về quê hương và thiên nhiên - Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ với những hình ảnh đẹp, sống động, có hồn, có tính. -“Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và. trước thiên nhiên, vũ trụ”. Một số đặc sắc về nghệ thuật.
<span class='text_page_counter'>(168)</span> - Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc. - Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên. - Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. - Về ngôn ngữ Thơ mới thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, * Tự lực văn đoàn. Khuynh hướng tư tưởng: Mô hình tiểu thuyết - Về đề tài: chủ yếu viết về tình yêu. Trong 19 cuốn tiểu thuyết TLVĐ chỉ có Thừa tự của Khái Hưng không đề cập đến. - Nhân vật: kiểu nhân vật thanh niên tân, tên gọi chàng và nàng. - Nghệ thuật viết theo lối hiện đại. 3. Các tác giả, tác phẩm - Xuân Diệu: Đỉnh cao phong trào thơ mới Nhà thơ của tình yêu và tuổi trẻ. - Nguyễn Tuân: Đảo Cô Tô Cái tôi độc đáo, ngông và phá phách Cây bút kí tài hoa, uyên bác - Thạch Lam: Hai đứa trẻ Phong cách trữ tình lãng mạn III. VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN * Đặc điểm cơ bản: Mang tính dân chủ và tính nhân dân sâu sắc, có nhiều yếu tố tiến bộ, yêu nước và cách mạng. Giàu tính thời sự và có tính chiến đấu cao Cảm hứng yêu thương và cảm hứng trào phúng là những cảm hứng nổi bật. Là dòng văn học không thuần nhất có nhiều ảnh hưởng phức tạp * Những tác giả tiêu biểu.
<span class='text_page_counter'>(169)</span> - Nguyễn Công Hoan với tác phẩm Đồng hào có ma - Vũ Trọng Phụng - Ngô Tất Tố - Nam Cao. THỰC HÀNH SOẠN GIẢNG Vận dụng tri thức về phương pháp giảng dạy và nội dung, chọn và thực hành giảng dạy một phần của văn bản VNHĐ từ TK XX - 1945 - Sinh viên thực hành có sự chuẩn bị trước ở nhà - Thực hành giảng, sinh viên cùng giáo viên chữa lỗi và phân tích các vấn đề. D. HƯỚNG DẪN HỌC TẬP Ôn tập học phần.
<span class='text_page_counter'>(170)</span>