1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
TRẦN ĐÌNH HỒNG
KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRANG PHÁT TRIỂN DU
LỊCH HUYỆN HƯƠNG SƠN
CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH
Vinh, 2012
2
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................1
Chương 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH HUYỆN HƯƠNG SƠN...................3
1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên ................................... 3
1.2. Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn .........................12
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH .............................44
2.1. Doanh nghiệp du lịch ...............................................................................44
2.2. Lao động ...................................................................................................47
2.3. Các điểm và các tuyến du lịch .................................................................48
2.4. Kết quả kinh doanh ..................................................................................52
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
HƯƠNG SƠN ................................................................................................57
3.1. Những cơ sở để định hướng phát triển Du lịch ở huyện Hương Sơn ......57
3.2. Quan điểm, mục tiêu ................................................................................58
3.3. Định hướng phát triển ..............................................................................60
3.4. Giải pháp phát triển Du lịch Hương Sơn .................................................64
KẾT LUẬN .................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................70
PHỤ LỤC
3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt q trình thực hiện khóa luận, được sự giúp đỡ tận tình của
thầy cơ và bè bạn, đặc biệt là cơ giáo Nguyễn Thị Bình Minh đã khuyến khích
chỉ bảo và giúp đỡ tơi hồn thành cơng trình nghiên cứu này. Qua đây, tơi xin
được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bạn bè, gia đình, các thầy cơ giáo khoa Lịch
sử. Xin kính chúc các thầy cô luôn mạnh khỏe, thành công trong sự nghiệp và
hạnh phúc trong cuộc sống.
Để hồn thành khóa luận tốt nghiệp, bản thân đã đã nỗ lực cố gắng
nhưng không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự góp ý, bổ sung của Hội
đồng khoa học, các thầy cô giáo khoa Lịch sử Trường Đại học Vinh và tập thể
lớp 49B1 Du lịch khoa Lịch Sử, khóa 2008 - 2012.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế xã hội thế giới phát triển theo hướng
mở rộng không phân biệt sự khác nhau giữa các nước, các khối nước, tồn
cầu hóa, khu vực hóa đang trở thành xu thế phát triển của thế giới. Trong bối
cảnh ấy, đời sống con người được nâng cao, du lịch ngày càng trở thành trở
thành một hoạt động không thể thiếu và là một ngành kinh tế quan trọng. Đối
với Việt Nam, Đảng và nhà nước ta đã xác định du lịch là một ngành kinh tế
mũi nhọn.
Hương Sơn là một huyện biên giới của tỉnh Hà Tĩnh. Với nền kinh tế
còn kém phát triển nhưng là một huyện có nhiều tiềm năng du lịch. Đây là
mảnh đất vừa có rừng, có sơng, có suối tạo nên cảnh quan thiên nhiên hữu
tình. Đồng thời là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa với nhiều di tích lịch
sử văn hóa có giá trị, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp làm say đắm biết bao du
khách trong và ngoài nước. Nhận thấy được những tiềm năng du lịch của
huyện Hương Sơn là rất to lớn, nhưng thực trạng khai thác cịn nhiều hạn chế,
tơi đã quyết định chọn đề tài này. Vận dung những kiến thức du lịch đã học,
tôi tiến hành nghiên cứu tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch của huyện
Hương Sơn, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm
năng sẵn có. Với sự cố gắng nỗ lực của bản thân tơi mong rằng mình có thể
góp một phần nhỏ vào sự phát triển kinh tế của quê hương.
2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả muốn qua quá trình
nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn hoạt động du lịch trên địa bàn huyện sẽ góp
phần làm sáng rõ hơn về tiềm năng du lịch và thực trạng phát triển về du lịch
2
huyện Hương Sơn; Qua đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch huyện
Hương Sơn.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội, tài nguyên du lịch Hương Sơn và thực trạng hoạt động du lịch của huyện
Hương Sơn.
Về thời gian, tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch
huyện Hương Sơn từ năm 2008 - 2011, về không gian là những hoạt động du
lịch diễn ra trên địa bàn huyện Hương Sơn.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài của mình, tác giả đã áp dụng phương pháp nghiên
cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Về phương pháp nghiên
cứu lý thuyết, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phân
loại, hệ thống hóa tư liệu. Về phương pháp nghiên cứu thực tiễn, tác giả đã sử
dụng các phương pháp quan sát khoa học, phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
Đồng thời tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế.
5. Bố cục khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1. Tiềm năng du lịch huyện Hương Sơn.
Chương 2. Thực trạng hoạt động du lịch.
Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch Hương Sơn.
3
Chương 1
TIỀM NĂNG DU LỊCH HUYỆN HƯƠNG SƠN
1.1. §iỊu kiƯn thiên nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên
1.1.1. V trí địa lý
Hương Sơn là một huyện trung du - miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của
tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp nước bạn Lào, phía Đơng giáp huyện Nam Đàn
(Nghệ An) và huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), Phía Bắc giáp huyện Thanh Chương
(Nghệ An), phía Nam giáp huyện Hương Khê (Hà Tĩnh).
Huyện Hương Sơn là một địa danh lịch sử, được Lê Thánh Tông niên
hiệu Quang Thuận thứ 10 mệnh danh là “núi Thơm” - Tiền thân của nó là đất
Đỗ Gia Hương thời Lý. Thời Thuộc Minh là đất hai huyện Thổ Hoàng và Cổ
Đỗ thuộc phủ Nghệ An. Đầu thời Lê gọi là Đỗ Gia - Đời Quang Thuận thứ 10
(1469) đổi tên thành Hương Sơn thuộc phủ Đức Quang, huyện Hương Sơn
mang tên từ đó - huyện Hương Sơn, thời Lê gồm đất hai huyện Hương Sơn và
Hương Khê, Hà Tĩnh.
Với diện tích 1.400 km2, rừng núi chiếm khoảng 80% tổng diện tích.
Kết quả địa danh thu thập được với số lượng 165 ngọn núi, 160 con khe, 128
đồi, rú, cồn đã phản ánh đặc điểm địa hình địa lý Hương Sơn phong cảnh hữu
tình thơ mộng như vẽ vốn có của nó. Chiều dài 63km đường biên giới giáp
nước bạn Lào cùng với đồn cửa khẩu Cầu Treo đã mở ra một sự giao lưu
thông thương buôn bán với nước bạn Lào và Thái Lan. Đặc biệt trong những
năm gần đây với chính sách mở cửa của nhà nước, vùng Trung Tâm có quyết
định của Chính Phủ cho thành lập Thị trấn Tây Sơn, xây dựng chợ đường
biên, nền kinh tế phát triển tạo nên một khu Trung Tâm trù phú giàu có. Như
vậy, vị trí của huyện có những thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và
phát triển du lịch nói riêng [1].
4
1.1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình Hương Sơn có đủ loại rừng núi đồi trọc, có rừng rậm đại
ngàn, có rừng thưa, đồi núi chằng chịt liên hoàn nối tiếp nhau tạo thành cánh
cung phía Tây - Tây Nam. Ngồi ra, hầu như xã nào cũng có đồi núi thấp
chen giữa vùng cánh cung đồi núi ấy. Hương Sơn như cái lòng chảo khổng
lồ lọt giữa vùng cánh cung đồi núi bao quanh, thiên nhiên hùng vĩ đã tạo cho
nơi đây nhiều danh lam thắng cảnh đẹp. Nhắc tới Hương Sơn, chúng ta
không thể không nhắc tới dãy núi Thiên Nhẫn, danh Thắng Giáo Nước Đổ Thành Lục Niên... những tên đất tên vùng đã trở thành biểu tượng của non
nước Hương Sơn.
Dãy núi Thiên Nhẫn chạy dọc theo bờ sơng Ngàn Phố, là địa hình che
chắn phía bắc của huyện. Dãy Thiên Nhẫn có tới một nghìn ngọn núi nhơ lên
trịn trịa như hình chiếc nhẫn, có những địa điểm núi chồng núi tạo nên nhũng
hình ảnh rất đẹp, hiện nay là dãy núi ngăn cách giữa Nghệ An và địa bàn
huyện Hương Sơn gần 1000 km2, có những ngọn núi trên 600m, và chiều dài
gần 26 km. Đây là địa bàn ngày xưa Lê Lợi chọn làm nơi đóng quân cùng với
Nguyễn Tuấn Thiện để chống giặc Minh, giờ đây các dấu tích vẫn cịn lại như
những chứng tích lịch sử hào hùng của dân tộc.
Dãy Thiên Mụ là một trong những dãy núi có thể nói là dài và đẹp nhất
của huyện Hương Sơn, là dãy núi kéo dài phía tây Trường Sơn, là dãy biên
giới nối Việt Nam và nước bạn Lào. Đỉnh cao nhất của dãy núi gần 2.000 km
so với mực nước biển. Là dãy núi thượng nguồn của dịng sơng Ngàn Phố, và
cũng là dãy núi chia cắt đông Trường Sơn và tây Trường Sơn. Nơi đây luôn
thu hút du khách du lịch qua cảnh qua cửa khẩu Cầu Treo. Ngoài ra, Hương
Sơn cịn có dãy núi Thép Ngầm nổi tiếng bởi đây là nơi hội tụ dịng nước
nóng mà khi nhắc đến hầu như ai cũng biết đó là khu Nước khống Sơn Kim.
5
Điều kiện thiên nhiên địa lý phong thổ đó rất thuận lợi cho một nền
nông nghiệp nương rẫy xen lẫn một nền nông nghiệp trồng lúa nước ở các
thung lũng lòng chảo và ven các bờ, khe suối xung quanh lưu vực sơng Ngàn
Phố, Sơng Con.
Ở đây có rất nhiều đồi thoai thoải, thuận lợi cho việc trồng chè, cây ăn
quả và trồng trỉa lúa nương, lúa rẫy, các loại cây lương thực, thực phẩm khác
như ngô, sắn, đậu, lạc, mía....Hơn ở đâu hết, hàng ngàn năm nay kinh tế vườn
Hương Sơn phát triển hơn bất cứ huyện nào trong tỉnh với cam, quýt, bưởi,
mít, dứa.... xưa nay dân Hương Sơn vẫn truyền nhau câu nói:
“Nhất mẫu trạch bằng bách mẫu điền”
Kinh tế vườn đồi cùng với kinh tế chăn ni hươu, dê, bị … hàng năm
đưa lại cho dân Hương Sơn thu nhập lớn, góp phần quan trọng vào việc tồn
tại dân cư ở đây bao đời nay.
Con sông Ngàn Phố và một nhánh sông Con xẻ dọc huyện Hương Sơn
ra thành hai cánh tả ngạn và hữu ngạn, hai vùng thượng lưu và hạ lưu. Miền
hạ lưu có hai cánh đồng tương đối rộng và phẳng.
Vùng đất Hương Sơn xưa kia chủ yếu là người dân tộc Thái sinh sống
nên cịn có tên là châu Ngọc Ma, do tù trưởng đứng đầu. Vì vậy, ở lưu vực
sơng Ngàn Phố đã tồn tại một tiểu vùng văn hóa riêng biệt so với các tiểu
vùng khác trong tỉnh (La Giang - Cửa Sót), đó là văn hóa nương rẫy, nền văn
minh nương rẫy mà chủ thể của nó ban đầu là người Thái và sau này thêm
người Kinh và dần dần người Kinh đã lấn át người Thái [1].
Người Kinh ngày càng sinh sôi phát triển mang theo nền văn minh cấy
trồng - tức nền văn minh nông nghiệp lúa nước đến du nhập vào kỹ thuật sản
xuất ở Ngọc Ma (Hương Sơn). Do thế mạnh của văn minh lúa nước nên ngày
càng làm thay đổi diện mạo văn hóa ở Ngọc Ma, cả văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần. Sự đan xen văn hóa đó làm nảy sinh tác động lớn hai nền văn
6
hóa và do những hồn cảnh khách quan, những yếu tố văn hóa, nương rẫy
sườn đồi. Tuy nhiên, khơng vì thế mà văn hóa lúa nước ở đây làm mất đi văn
hóa nương rẫy. Ngược lại, tùy theo đặc điểm địa hình của từng tiểu vùng mà
cả hai yếu tố văn hóa đó nương tựa, hỗ trợ bổ sung cho nhau cùng phát triển
trong đó yếu tố vườn - sườn đồi ngày càng phát triển mạnh hơn.
Như vậy, xét về địa hình, Hương Sơn có những thuận lợi để phát triển du
lịch với các loại hình du lịch sinh thái, các hoạt động tham quan, thăm viếng.
Tuy nhiên, mặt hạn chế của địa hình Hương Sơn đó là các tài ngun có quy
mơ nhỏ, phân bố rời rạc, vì vậy khi đầu tư phát triển gặp nhiều khó khăn.
1.1.3 Khí hậu
Hương Sơn nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, với hai mùa rõ
rệt: Mùa nóng và mùa lạnh. Nhiệt độ trung bình năm là 220c-250c, lượng mưa
bình quân hàng năm đều trên 2.400 mm và tập trung khoảng 90% vào mùa
mưa (từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm). Tháng 9 và tháng 10 là trọng tâm
của mùa mưa trên địa bàn huyện. Hương Sơn chiếm một lượng mưa lớn đối
với địa bàn tỉnh, trung bình lượng mưa là 3.400 mm, số giờ nắng 1.719 giờ
nắng/năm.
Đặc điểm khí hậu là một trong những yếu tố hạn chế phát triển kinh tế
nói chung, các ngành nơng lâm nghiệp và ngành du lịch nói riêng. Lượng
mưa hàng năm lớn lại tập trung trong mùa mưa ngắn nên hiện tượng lũ lụt
thường xuyên, kết hợp với địa hình đồi núi dốc gây nhiều khó khăn.
Qua quan sát nhiều năm cho thấy, tần suất trung bình 2 cơn bão trên
năm đổ bộ vào huyện Hương Sơn và toàn tỉnh; Là một trong những huyện
chịu nhiều ảnh hưởng của gió Tây khơ nóng, gió Lào (gió phơn Tây Nam)
thường xuất hiện trên địa bàn huyện trong những tháng 4,5,6,7 hàng năm gây
nên hiện tượng thời tiết nóng bức khó chịu đối với sức khỏe con người, gây
nên hạn hán, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất. Hàng năm huyện Hương Sơn
7
chịu sự ảnh hưởng gió Tây khơ nóng vào loại nhất tỉnh và khu vực (gần 2
tháng) ròng rã. Vào mùa hè, là mùa du lịch sinh thái nghỉ dưỡng nhưng nhiệt
độ ở đây lại quá cao cùng với gió Tây khơ nóng, đã làm giảm lượng khách du
lịch đến với Hương Sơn. Đặc biệt, thiên tai bão lũ hàng năm gây thiệt hại rất
lớn tới đời sống kinh tế vật chất tinh thần của nhân dân, đó là sự tàn phá đối
với cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và kỹ thuật và tài nguyên du lịch.
1.1.4. Thủy văn
Hương Sơn có hệ thống sơng chính đó là sơng Ngàn Phố. Hệ thống
sông Ngàn Phố dài 86 km, bao gồm hệ thống sơng chính và hệ thống sơng
phụ đó là Sơng Con (Hai nhánh sơng này hịa lại làm một tại điểm đầu xã Sơn
Quang và Sơn Diệm) chính vì vậy mà hệ thống lưu vực 1.065 km2 nước từ
khắp mọi làng quê của huyện đổ ra sông La, con sơng hạ nguồn của dịng
sơng Ngàn Phố. Đây là hai hệ thống sơng nước chảy hiền hịa trong xanh bốn
mùa, không chỉ là nguồn cấp nước dồi dào cho huyện mà cịn góp phần tạo
nên cảnh quan thơ mộng hữu tình. Sơng Ngàn Phố đã đi vào thơ ca, núi Nầm
trở thành biểu tượng hào hùng của nhân dân huyện Hương Sơn.
Q hương tơi có núi Nầm sơng Phố
Năm bốn mùa gió hát thơng reo
Cầu in suối nước trong veo
Sơng ơm lấy núi núi chiều lịng sơng
Đấy là những câu thơ viết về dịng sơng Ngàn Phố chảy quanh núi Nầm
uốn lượn quấn qt. Phía trên dịng sơng hiền hòa ấy là chiếc cầu Treo ở ngã
ba Nầm. Cầu được bắc qua sông với chiều dài hơn 100m, thế nhưng hình
bóng ấy in xuống dịng sơng thật nên thơ, thật dịu hiền.
Con sông Ngàn Phố hàng năm mang trên mình gần 3.000 triệu m2
nước, với hơn 40 vạn tấn phù sa, tạo nên hai bên bờ sông tả ngạn và hữu ngạn
sông Ngàn Phố màu xanh bát ngát. Nơi đây, từ xa xưa đã hình thành những
8
xóm làng n ả, với đồng lúa, đồng mía, bãi ngô, nương dâu xanh biếc một
màu, với rất nhiều nghề thủ cơng như làng nón - Sơn Tân, làng chợ vơi - Sơn
Thịnh, làng cót - Sơn Ninh, làng mộc Xa Lang - Sơn Tân, tất cả đã tạo nên
cuộc sống hiền hịa. Chính những danh lam thắng cảnh sơng Ngàn Phố là
nguồn cảm hứng vô tận của các thi nhân, nghệ nhân sáng tạo nghệ thuật.
Đập Cao Thắng, đây là cơng trình ngăn thượng nguồn Khe Nước Cắn,
thuộcđịa phận xã Sơn Giang, đóng vai trị khơng nhỏ vào việc cung cấp nguồn
thủy lợi cho nhân dân, Đập được xây dựng vào vào năm 2001 và hoàn thành
vào năm 2004. Với khí hậu mát mẻ quanh năm, cảnh trời mây và rừng núi khe
suối mênh mơng mn hình mn vẻ, giàu tài nguyên nên hệ thống nước nơi
đây đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân. Du khách đến tham quan và ngắm cảnh
nơi đây, du thuyền trên đập nước mênh mơng vào thượng nguồn của đập có thể
chiêm ngưỡng vẽ đẹp của Khe Đen - một thác nước trong xanh của thượng
nguồn đập Cao Thắng, cùng với những nhũ đá nhấp nhơ sóng nước, vẻ đẹp ấy
được nhiều du khách ví đây như là “vịnh Hạ Long” trên cạn. Đến đây du khách
có thể du thuyền câu cá ngắm cảnh sơng núi hữu tình nên thơ.
Đặc biệt, khu du lịch sinh thái tự nhiên Nước nóng Sơn Kim, đây
khơng những là khu du lịch sinh thái nổi tiếng của huyện Hương Sơn tỉnh Hà
Tĩnh mà còn là một trong những khu du lịch được cả nước biết đến bởi thiên
nhiên đã ban tặng cho nguồn nước khống nóng lộ thiên. Nhiệt độ nóng đến
750c. Trải rộng trên 300 ha, khu du lịch tổng hoà các cảnh quan tươi đẹp, sơn
thuỷ hữu tình, trên là những dãy núi cao trùng điệp với nhiều loại cây, con
quý hiếm. Dưới là dòng suối trong xanh với nhiều bãi đá, bãi cát tự nhiên.
Vào sâu trong khu du lịch khoảng 500m, bạn sẽ gặp thác Cá Nhảy với nhiều
sự tích dân gian, thác nước Tiên Nữ dội thẳng đứng từ trên cao tung bọt trắng
xoá bên cạnh những tảng đá tự nhiên mang hình dáng các con vật ở nhiều tư
thế khác nhau. Đặc biệt, dưới lịng đất là nguồn nước khống nóng phù hợp
9
cho việc giải khát, dưỡng bệnh và chữa bệnh. Tại đây, sau khi tham quan
thưởng ngoạn cảnh đẹp của núi rừng, trèo đèo, lội suối, bạn có thể ngâm mình
trong nước khống nóng để thư giãn và dưỡng bệnh, nhận về mình sự thư
thái, khoan khối sau những ngày lao động mệt mỏi, cảm giác gần gũi với
thiên nhiên, bỏ lại phía sau thế giới hiện đại, ồn ào nơi phồn hoa đơ thị để hồ
mình trong sự tĩnh lặng nhưng đầy sức sống của núi rừng. Du khách đến đây
ngắm nhìn khe suối nước chảy rỳ rầm suốt ngày đêm trên những tảng đá trắng
trong, hai bên là rừng cây cổ thụ um tùm, cứ buổi chiều hồng hơn khi mặt
trời xuống núi sương mù bắt đầu phủ xuống làm cho không gian ở đây mờ mờ
ảo ảo, tạo cảm giác như chốn tiên cảnh, dòng nước trong xanh chảy mãi bốn
mùa, để đêm về trong không gian huyền bí, lấp lánh ánh sao trời, tiếng gầm
tiếng hú của muôn thú, và tiếng ầm ầm của nước xô đá bao đời nay, cùng với
tiếng gió nơi đại ngàn rì rào tạo thành những bản nhạc tự nhiên vô cùng
phong phú, có thể nói khu du lịch Nước khống Sơn Kim và đập thủy điện
Sơn Kim là một nơi có tiềm năng du lịch rất lớn.
Hồ mình với thiên nhiên tươi đẹp là những nhà sàn, bên sườn núi để
giúp bạn tìm những giây phút nghỉ ngơi thoải mái và yên tĩnh. Nhà hàng
Trung tâm với các món ăn mang đậm nét đặc trưng của núi rừng sẽ làm
chuyến du lịch của bạn càng ý nghĩa và thú vị hơn.
Ngoài ra, chúng ta có thể đến thăm thác nước Xai Phố, thuộc xã Sơn
Hồng huyện Hương Sơn là một trong những thác nước có độ cao tương đối
nhưng rất đẹp, ắt hẳn một lần quý khách về thăm sẽ nhớ mãi nơi này.
1.1.5. Thế giới động thực vật
Hương Sơn có sự đa dạng về địa hình, diện tích phần lớn là đồi núi và
biên giới, giáp với nước bạn Lào tới 63 km nên thế giới động, thực vật rất đa
dạng và phong phú. Sự đa dạng phịng phú đó thể hiện rõ nhất ở sự đa dạng
nguồn động thực vật ở rừng và sông suối, ở các hệ sinh thái rừng.
10
Dịng sơng Ngàn Phố nước chảy bốn mùa trong lành nên nguồn thuỷ
sản của dong sông tương đối phong phú, chính vì vậy mà hình thành nên các
làng ven sơng thường gọi là Làng Vạn.
Chính vì vậy khi du khách đến Hương Sơn sẽ được thưởng thức các
món ăn như canh hến, cá leo sông Ngàn Phố, cá nuôi lồng của của nhân dân.
Mặt khác, trên địa bàn huyện có rất nhiều hồ đập của nhân dân nuôi cá nuôi
tôm, tạo nên sự đa dạng phong phú về nguồn thuỷ sản.
Sự đa dạng sinh học của Hương Sơn còn được thể hiện ở các khu rừng
“theo điều tra sinh học vùng dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở dãy núi Bắc
Trường Sơn” tháng 5/2005, các nhà khoa học của trung tâm Nghiên cứu tài
nguyên môi trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã xếp rừng Hương Sơn Hà Tĩnh có tầm vị trí ngang bằng, đồng thời là cầu nối với 3 khu vực bảo tồn
thiên nhiên quan trọng nhất trong khu vực Đông Nam Á là Vườn quốc gia Pù
Mát (Nghệ An), vườn quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) ở Việt Nam và khu bảo
tồn thiên nhiên Na Kai - Nậm Then của nước bạn Lào. Đây là khu vực rừng có
tính đa dạng sinh học rất cao, đồng thời là rừng phòng hộ đầu nguồn của các
con sông Ngàn Sâu, Ngàn Trươi, Ngàn Phố, những chi lưu của sông La, con
sông lớn nhất của tỉnh Hà Tĩnh. Hơn nữa, vùng lõi Rào Àn của rừng Hương
Sơn còn được các nhà khoa học quốc tế đánh giá là “một trong những cánh
rừng nguyên sinh đẹp nhất thế giới”. Khu vực xung quanh đỉnh Pù Hùng Lều
(cao 2.100m), giáp bản Nacađốc, huyện Cămcớt, tỉnh Bolikhămxay (Lào) đến
nay vẫn hầu như chưa có dấu chân người. Ở đó vẫn tồn tại những thảm động
thực vật lưỡng cư dày đặc, những đàn bướm khổng lồ cùng nhiều loại động vật
quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ. Theo thống kê có khoảng 60 lồi thú, trong
đó có nhiều lồi thú quý hiếm các loài đặc hữu là Hươu Sao và Mang Lớn, có
lồi tưởng chừng như hồn tồn bị diệt chủng, nhưng lại xuất hiện ở Hương
Sơn như Sao La, Chồn Ngận, Vọc Quần Đùi, Hổ báo, vượn má vàng, Chà Vá
11
chân nâu, Mang lớn,Voi. Ngồi ra Hương Sơn cịn là thế giới của các loài
chim, đã thống kê được 280 lồi, trong đó có những lồi điển hình ở Đơng
Dương như trĩ sao, gà lam đuôi trắng, gà lôi lông tía... có những lồi đặc hữu
thuộc vùng đát thấp của dãy Trường Sơn là: trĩ sao, khướu cổ dài chích chạnh
má xám, chào mào trắng, họa my vàng. nhóm bị sát cũng có đến gần 40 lồi,
trong đó có 9 loại rùa vàng, tắc kè, kì đà, trăn đất, ba ba trơn, ba ba gai, và hàng
chục loại rắn khác nhau, tiêu biểu là rắn hổ chúa.... Nhóm lưỡng cư có 25 lồi,
riêng ếch có 7 lồi, nhóm cá theo thống ke có tới 50 lồi có nhiều ngon như cá
mát, cá leo, lăng, bóng đen, bọp nghệ. Tại đây có tới hơn 300 lồi bướm thuộc
10 họ và 36 lồi đặc hữu cho miền Bắc Việt Nam…..
Chính vì sự đa dạng ấy mà nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã
nghiên cứu và đề xuất hàng loạt biện pháp nhằm bảo vệ khu vực rừng quý
hiếm này. Năm 2001, chính phủ Đan Mạch đã tài trợ kinh phí để thực hiện
Dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học dãy núi Bắc Trường Sơn”. Từ năm 1999
đến nay, rất nhiều đồn nghiên cứu khoa học đã tìm đến Hương Sơn. Năm
2005, một đoàn 30 nhà khoa học từ các nước Anh, Hà Lan, Mỹ, Australia,
Nga đã tình nguyện dựng lều ở đây 9 tháng ròng rã trong lõi rừng Hương Sơn
để khảo sát nghiên cứu. Ngày 23/1/2006, Gs. Võ Qúy và nhiều nhà khoa học
thuộc Trung tâm Tài nguyên môi trường Quốc gia đã làm việc với UBND tỉnh
Hà Tĩnh nhằm bàn bạc sáp nhập vùng lõi rừng Hương Sơn vào Vườn quốc gia
Vũ Quang, biến nó thành khu dự trữ sinh quyển thế giới đề nghị UNESCO
công nhận. Cũng theo điều tra của các nhà khoa học, hiện tại ở Hương Sơn,
tài nguyên thực vật ở đây rất phong phú như: kền kền, pơmu, thông tre, gul
lau, sến mật. Về cây đặc sản có hơn 100 lồi gỗ, 40 loài cây cảnh, 40 loài cây
ăn quả, 89 loài cây thuốc chữa bệnh, và hơn 40 loài cây đặc sản khác.
Như vậy có thể nói rừng Hương Sơn là một kho báu vô giá để khai thác
du lịch sinh thái trên địa bàn huyện.
12
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.1. Điều kiện kinh tế- xã hội
1.2.1.1. Dân cư và nguồn lao động
Chúng ta biết rằng từ thời Lý đã có nhiều cuộc thiên di của người Kinh
từ vùng đồng bằng Bắc Bộ vào trấn Nghệ An. Miền ven biển và núi Nghệ An
ngày càng nhiều dân cư người Kinh đến sinh sống. Chứng cứ là ở đây có
những làng rất cổ có thể đã tồn tại hàng ngàn năm đến nay còn được bảo lưu,
phản ánh qua lớp từ “kẻ”. Hương Sơn hiện còn 12 địa danh mang từ kẻ, như
kẻ De, kẻ E, kẻ Trúa, kẻ Động, Kẻ Mui, kẻ Ác, kẻ Mỏ.. “Kẻ” là một đơn vị
cộng đồng dân cư tương đương với làng của người Kinh “Việt cổ”. Thời giam
qua trên địa bàn huyện đã có rất nhiều cổ vật được nhân dân tìm thấy, điều
này chứng tỏ nơi đây xưa kia đã từng là nơi sinh sống của các cư dân người
Việt [19].
Là huyện trung du, miền núi gần như biệt lập so với các xứ khác, nên
kinh tế Hương Sơn chủ yếu là tự cung, tự cấp.
Trải qua các thời kỳ lịch sử đã xây đắp cho con người Hương Sơn đức
tính cần cù, lịng quả cảm với tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường bất
khuất quyết tâm chống giặc ngoại xâm. Họ đã sáng tạo được nhiều món ăn
mang đậm nét riêng của mình như kẹo Cu Đơ, Dê núi Hương Sơn, rượu
Huyết Hươu, rượu Nhung Hươu... Đó là những đặc sản nổi tiếng ở Hương
Sơn, Hà Tĩnh.
Con người Hương Sơn thích ăn chắc mặc bền, cần kiệm, giản dị trong
cuộc sống, giàu tình thương, trọng lẽ phải, ưa sự thẳng thắn, quan tâm văn
hóa tín ngưỡng, tơn trọng các hình thức lễ hội mang lễ thức nơng nghiệp, văn
hóa dân gian, hiện nay trên tồn huyện còn 80 đền chùa, miếu mạo.
13
Văn hóa truyền thống của con người Hương Sơn cịn lưu giữ lại qua
các làng nghề truyền thống mà các giá trị của nó mang đậm nét văn hóa dân
gian như Mộc Xá Lang (Sơn Tân), nghề đan làng Chinh xá...
Văn hóa, “xóm làng”, là nét đặc thù của người dân Hương Sơn, do đặc
điểm con người luôn phải chống đỡ với thú dữ, với những trận cuồng phong
của thiên nhiên nên đã hình thành mối quan hệ sinh hoạt cộng đồng rất gắn bó
keo sơn, thủy chung son sắt trong tình làng nghĩa xóm, sự tương trợ giúp đỡ
lẫn nhau, Khi năm mới đến hay trong làng có người hoạn nạn, ốm đau, hiếu hỉ
là cả làng cùng đến thăm hỏi động viên, chúc tụng lẫn nhau, “bán chị em xa
mua láng giềng gần”. Một ấm nước chè xanh cả làng cùng uống, cùng sinh
hoạt giao tiếp với nhau, sống với nhau bằng “làng ta”, “xóm ta”, “giếng
nước làng”, một kết cấu xóm làng hết sức bền vững cịn lưu giữ mãi cho đến
ngày hôm nay.
Năm 2011 dân số Hương Sơn là 131,337 người, trong đó số người
trong độ tuổi lao động là 72,921 người, trong đó cơ cấu lao động theo ngành
có sự chuyển biến so với năm 2008. Lao động trong ngành nông - lâm - ngư
nghiệp có xu hướng giảm từ 64,6% năm 2008, xuống cịn 62,4% năm 2011,
lao động ngành cơng nghiệp dịch vụ có xu hướng tăng lên, năm 2008 là 5,1 %
lên 5,9% năm 2011, lao động thương mại và dịch vụ cũng có xu hướng tăng
năm 2008 là 4,6 lên năm 2011 là 5,8% còn lại là số lao động đi làm ở các
tỉnh và đi xuất khẩu lao động các nước trên thế giới.
Tỉ lệ dân thành thị có xu hướng tăng lên (năm 2008: 18%, năm 2011:
20%), ngược lại tỉ lệ dân nơng thơn có xu hướng giảm (năm 2008: 82%, năm
2011: 80%).
Người dân Hương Sơn có truyền thống hiếu học, bản tính cần cù, chịu
khó có ý chí, nghị lực vượt lên khó khăn. Tuy nhiên, Hương Sơn hiện nay
đang xẩy ra hiện tượng “chảy máu chất xám”, phần lớn những con người
14
được đào tạo bài bản, có chất lượng cao khơng quay về huyện phục vụ. Để
xẩy ra hiện tượng này là do huyện Hương Sơn chưa có chính sách thu hút
nhân tài, những người có trình độ lao động cao, đặc biệt là các khối dịch vụ,
công nghệ, kỷ thuật ít có cơ hội làm việc ở huyện. Lao động phổ thơng phần
nhiều cịn phải rời q hương đến các tỉnh thành phố khác tìm việc làm do
nền kinh tế của huyện chưa thu hút được nhiều nguồn lao động. Nguồn lao
động ít có cơ hội ở lại làm việc vì huyện cịn có nhiều khó khăn, kinh tế
chậm phát triển, các khu nhà máy cơng nghiệp cịn chưa phổ biến.
Như vậy, dân cư và nguồn lao động là một nguồn lực quan trọng để
phát triển kinh tế, xã hội nhưng hiện tại huyện chưa sử dụng có hiệu quả
nguồn nguồn lực này. Mặt khác nguồn lao động trong các ngành nông, lâm
nghiệp chiếm phần lớn, chất lượng lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của
các ngành công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là du lịch cho nên vấn đề đào tạo và
sử dụng nguồn lao động đang được đặt ra đối với các cấp lãnh đạo của huyện
Hương Sơn.
1.2.1.2. Cơ sở hạ tầng
Hương Sơn có 2 tuyến đường huyết mạch, một là đường mịn Hồ Chí
Minh con đường huyền thoại và quốc lộ 8A. Đường mịn Hồ Chí Minh xẻ dọc
trung tâm huyện chia thành hai phần đó là phần đông và tây với chiều dài
25km. Hiện tại và trong tương lai đây sẽ là con đường thuận lợi cho việc vận
chuyển hàng hóa và thơng thương trao đổi với cư dân vùng lân cận.
Con đường thứ hai là quốc lộc 8A nối quốc lộ 1A tại thị xã Hồng Lĩnh,
nối với nước bạn Lào thông qua Cửa khẩu Cầu Treo với tổng chiều dài 85
km, chạy qua huyện Hương Sơn hơn 50 km theo hướng đông tây xẻ ngang
dãy Trường Sơn đi giữa đại ngàn núi rừng xanh biếc một màu rừng cây và
một bên là dòng sơng Ngàn Phố hiền hịa nước chảy bốn mùa. Chính vì điều
này mà năm 2002 Bộ Giao thơng Vận tải chọn đây là con đường đẹp nhất
15
Việt Nam. Không chỉ núi non hùng vĩ mà con đường còn uốn lượn tạo cảm
giác mạnh đối với những người ưa thích mạo hiểm. Mặt khác con đường này
tạo điều kiện giao lưu buôn bán thông thương và du lịch với các nước Đông
Nam Á đặc biệt là Lào và Thái Lan.
Hệ thống sông Ngàn Phố, sông Con cũng tạo điều kiện thuyền bè thông
thương giao lưu buôn bán giữa miền xi và miền ngược. Đây cịn là con
đường để du khách có thể ngược thượng nguồn ngắm cảnh sơn thủy hữu tình
và lên thượng nguồn du lịch nghỉ dưỡng du lịch Nước Sốt, du thuyền ngắm
cảnh hai bên bờ sơng.
Ngồi ra, huyện Hương Sơn cịn có hàng ngàn km đường nhựa, đường
bê tông liên thôn, liên xã - thị trấn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh
tế nói chung và du lịch nói riêng.
Hương Sơn cịn có con đường du lịch nối từ mộ Hải Thượng Lãn Ông
lên khu lưu niệm và vườn đào của Ông, con đường cắt ngang đường mịn Hồ
Chí Minh với chiều dài 7km chạy dọc theo bờ sông Ngàn Phố thơ mộng.
Hệ thống thông tin - truyền thông ở Hương Sơn ngày càng phát triển,
truyền hình được đổi mới, hệ thống cơ sở hạ tầng viễn thông đã được tăng
cường đáng kể, đáp ứng công tác thông tin tuyên truyền cho nhân dân. Các
doanh nghiệp viễn thông như Viettel và Vinaphone đã có các bưu điện và cột
sóng hầu khắp huyện, hệ thống intener mạng dây và không dây được trang bị
đến các xã và hộ dân, đảm bảo thông tin liên lạc cho nhân dân cũng như du
khách khi đến với Hương Sơn.
Về hệ thống cấp thoát nước, lượng nước sạch cấp cho nhu cầu sử dụng
còn rất hạn chế cả về số lượng và chất lượng và chỉ tập trung ở một số xã và
thị trấn trong huyện.
Như vậy, cơ sở hạ tầng của huyện Hương Sơn phần nào đáp ứng được
nhu cầu của ngành du lịch nói riêng và nhu cầu phát triển kinh tế nói chung.
16
Tuy nhiên, hiện tại trong huyện hệ thống đường xá ngày một xuống cấp, cần
phải có sự tu bổ và khai thác một cách hợp lý hiệu quả. Tuy huyện Hương
Sơn nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung chưa có sân bay, đây cũng là vấn đề
đặt ra cho sự phát triển kinh tế huyện Hương Sơn và du lịch.
1.2.1.3. Tình hình phát triển kinh tế
Thời gian qua, cùng với sự phát triển chung của tỉnh và cả nước nhờ
phát huy được các nguồn lực nội lực đặc biệt là nguồn lao động và nguồn vốn
nên hầu hết các chỉ tiêu kinh tế của huyện chủ yếu đều đạt và vượt so với kế
hoạch. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện năm sau luôn cao hơn năm
trước. Năm 2011 giá trị sản xuất (theo gia giá hiện hành) ước tính đạt 2.890 tỷ
đồng, tăng 24,59%. Trong đó, cơ cấu tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp, thủy
sản 41,7 %; công nghiệp, TTCC- xây dựng 20,35%. Giá tổng sản phẩm nội
huyện (GDP) đạt 1.803 tỷ đồng, tăng 11,5%. Thu nhập bình quân đầu người
đạt 15,5 triệu đồng/năm.
Giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm, thủy sản (theo giá cố định) ước đạt
308 tỷ đồng, tăng 9,74%. Tổng diện tích gieo trồng 18.007 ha, đạt 100,32%
kế hoạch. Tổng sản lượng lương thực đạt 43.405 tấn, bằng 100,94% kế hoạch,
tăng 0,9% so với năm trước. Giá trị bình quân trên một ha đất canh tác đạt
49,8 triệu đồng. Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 5.160 tấn, bằng 113,16%
kế hoạch, tăng 5,81% so với năm 2010; sản lượng nhung Hươu đạt 6.500 kg,
tăng 23,81 % so với năm 2010, sản lượng thủy sản đạt 453 tấn. Các loại nơng
sản hàng hóa chủ yếu như đậu, lạc, chè, củ quả,... được giá và thuận lợi trong
tiêu thụ, góp phần tăng thu nhập cho nơng dân.
Chăn ni có bước tăng trưởng, tổng đàn bò 34,317 con, tăng 12%; lợn
17.933 con, tăng 14,71%; hươu 25.550 con, tăng 8,96; dê 3.724 con, tăng
2,25%; đàn gia cầm 467 nghìn con, tăng 12,26%. Chương trình cải tạo đàn bị
tiếp tục đạt kết quả tích cực, tỷ lệ bị lai đạt 31,08%; trồng mới 100 ha cỏ góp
17
phần đảm bảo nguồn thức ăn cho gia súc. Công tác phòng chống dịch bệnh
cho gia súc, gia cầm được triển khai thực hiện có hiệu quả. Tổng giá trị ngành
chăn nuôi (giá hiện hành) đạt 359,64 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 42,68% trong
ngành nơng nghiệp [20].
Chăm sóc, khoanh ni, bảo vệ rừng đạt chỉ tiêu, kế hoạch đề ra, khơng
để xẩy ra các vụ cháy rừng. chăm sóc trên 5.500 ha rừng trồng; khoanh nuôi
tái sinh 739,1 ha. Đến nay, tổ chức giao khoán bảo vệ rừng 17.230,75 ha, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho 4.085 hộ gia đình, cá nhân, với
diện tích 152,66ha, đưa tổng diện tích đạt 381,8 ha. Đẩy mạnh truy quét nạn
chặt phá rừng.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nơng thơn mới được tập
trung quyết liệt, 100% xã hồn thành việc phê duyệt đồ án quy hoạch, đề án
xây dựng nông thôn mới và đề án sản xuất nông cao thu nhập cho người dân.
Cơng nghiệp - xây dựng có nhiều nỗ lực khắc phục khó khăn, nhiều dự
án đạt tiến độ. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng ước tính đạt 544
tỷ đồng, tăng 10,87%, trong đó cơng nghiệp ngồi quốc doanh đạt 78,8 tỷ
đồng, tăng 24%.
Công tác huy động vốn đầu tư phát triển đạt kết quả khá, kết quả hạ
tầng được tăng cường. Chiến dịch giao thông nông thôn - thủy lợi nội đồng
đạt 45,6 tỷ đồng (tăng 10,6 tỷ đồng). Cứng hóa giao thông nông thôn 41 km,
đạt 102,5% kế hoạch; xây mới hơn 9km kênh mương cứng. Duy tu, bảo
dưỡng 98 km đường giao thơng nơng thơn.
Cơng tác giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án trọng điểm trên
địa bàn cơ bản đảm bảo tiến độ, đã hoàn thành ban giao mặt bằng tại Khu
Cổng B và Khu công nghiệp Đại Kim, đang tiếp tục triển khai GPMB đường
tìm kiếm cứu nạn, phòng chống lụt bão kết hợp phát triển kinh tế - xã hội phía
Tây huyện, một số gói đấu thầu dự án nâng cấp quốc lộ 8A; đường nối cầu
18
Mỹ Thịnh với quốc lộ 8A. Các cơng trình khắc phục hậu quả lũ lụt được khẩn
trương thực hiện, đảm bảo đúng quy trình thủ tục đầu tư.
Năm 2011, trong đầu tư xây dựng cơ bản tồn huyện có 88 cơng trình,
dự án lớn nhỏ đã và đang được triển khai, với tổng số vốn được cấp 289,4 tỷ
đồng. Trong đó, các cơng trình do huyện làm chủ đầu tư 253,4 tỷ đồng. Các
cơng trình do cấp xã làm chủ đầu tư 36 tỷ đồng. Đến nay, tỷ lệ giải ngân
nguồn vốn các dự án đầu tư xây dựng đạt 100%.
Thu hút đầu tư vào Khu Kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đạt kết quả
khá. Năm 2011, có 12 doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh, nâng số
doanh nghiệp đăng ký tại khu kinh tế lên 114 đơn vị. Đến nay, đã có 11 dự án
được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn trên 2.500 tỷ đồng. Đầu tư
phát triển hạ tầng Khu kinh tế được tăng cường, số vốn đầu tư trong năm
2011 ước đạt 130 tỷ đồng. Công tác quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết các
khu chức năng chính trong khu kinh tế đã tạo định hướng phát triển và làm
căn cứ để lập kế hoạch đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong khu kinh tế, đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư. Tổng kim ngạch nhập khẩu
40,38 triệu USD; kim ngạch xuất khẩu 29,79 triệu USD.
Lĩnh vực thương mại và dịch vụ khá sôi động; cơng tác quản lý thị
trường, kiểm sốt giá và chống gian lận thương mại đạt nhiều kết quả. Tổng
mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội cả năm ước đạt 574,5
tỷ đồng, tăng 18,4%. Thị trường cung cấp, cầu hàng hóa có nhiều chuyển biến
tích cực, hoạt động bán hàng được các doanh nghiệp, hộ cá thể áp dụng với
nhiều hình thức khuyến mãi, giảm giá... đã thu hút được khách hàng. Công tác
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quan tâm. Kiểm soát thị trường, đấu
tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường, các đoàn kiểm
tra liên ngành đã kiểm tra việc công khai, niêm yết giá cả và xử lý nghiêm các
sai phạm, tạo sự ổn định cho thị trường, góp phần kiềm chế lạm phát.
19
Công tác phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã được quan tâm, triển khai
tích cực. Đến nay tồn huyện đã có 157 doanh nghiệp và có 59 hợp tác xã,
trong đó năm 2011 thành lập mới 19 doanh nghiệp, 10 hợp tác xã.
Ngân sách trên địa bàn năm 2011 thu đạt 54 tỷ đồng, vượt 3,8% so với
kế hoạch. Trong đó, thuế và lệ phí đạt 28,5 tỷ đồng, bằng 109% kế hoạch; tiền
cấp quyền sử dụng đất đạt 22 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch.
Các ngân hàng thương mại đã tích cực mở rộng mạng lưới, cải tiến
cách thức huy động nguồn tiền nhàn rỗi tại chỗ để cho vay, đáp ứng nhu cầu
sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Tổng số vốn huy động và quản lý đến cuối
năm ước tính đạt 765 tỷ đồng, tăng 197 tỷ đồng (34,7%). Tổng dư nợ ước đạt
595 tỷ đồng, tăng 68 tỷ đồng (12,9%) so với đầu năm, trong đó dư nợ cho vay
lĩnh vực phi sản xuất 277 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 46,65; dư nợ cho vay lĩnh
vực nông nghiệp, nông thôn 268 tỷ đồng, chiếm 45% tổng dư nợ.
Ngân hàng chính sách xã hội đã giải quyết cho 18.121 lượt hộ nghèo,
hộ dân tộc thiểu số, học sinh sinh viên và người đi xuất khẩu lao động vay số
vốn 286,28 tỷ đồng, góp phần giải quyết việc làm cho người dân lao động.
Lĩnh vực y tế có nhiều tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh từng bước
được nâng cao. Tăng cường mua sắm trang thiết bị, áp dụng cơng nghệ và kỷ
thuật mới trong chuẩn đốn và điều trị góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ
y tế, năm 2011 có thêm 3 đơn vị được cơng nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế,
đưa tổng số 32/32 đơn vị đạt chuẩn [17].
Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng như vậy là khả quan
và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường. Tuy nhiên, sự chuyển
dịch còn chậm, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, nên chưa có
khả năng tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế huyện. Điều này chứng tỏ tốc
độ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế - xã hội của huyện Hương Sơn
còn chậm so với nhiều địa phương trong tỉnh và cả nước. Như vậy mặc dù
20
nền kinh tế - xã hội của huyện trong những năm qua đã được cải thiện đáng
kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng do điểm xuất phát của nền kinh
tế thấp nên nền kinh tế huyện hiện nay vẫn ở mức thấp so với các huyện trong
tỉnh và cả nước.
1.2.1.4 Chính sách - đường lối phát triển
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, cùng với toàn tỉnh
và cả nước tham gia vào quá trình hội nhập thế giới; Các cấp quản lý, lãnh
đạo của huyện đã có những chính sách đổi mới phù hợp để phát triển kinh tế
xã hội. Đặc biệt, trong những năm gần đây, huyện Hương Sơn đã có những
chính sách tích cực nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội như chính sách
khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng, khuyến khích nguồn nhân lực tại chỗ và thu
hút nhân tài.
Các chính sách khuyến khích, đào tạo, bồi dưỡng nhằm áp dụng với
những đối tượng như cán bộ, công chức đang hoạt động tại các cơ quan Đảng,
nhà nước, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, các sinh viên tốt nghiệp đạt
loại giỏi, hoặc các tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa, các lĩnh vực thuộc nhu
cầu của huyện. Những đối tượng này, nếu có đủ điều kiện được hưởng chính
sách sẽ được trợ cấp một phần kinh phí học phí, bồi dưỡng kiến thức.
Bên cạnh đó, huyện cịn có các chính sách khuyến khích phát triển cây
cơng nghiệp, chính sách về đầu tư phát triển du lịch, chính sách thu hút nhân
tài, chính sách khuyến khích nguồn nhân lực tại chỗ.
Đường lối, chính sách phát triển đóng vai trị đặc biệt quan trọng, là
yếu tố soi đường và vậy những chính sách đổi mới tích cực của tỉnh là nhân tố
quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù nền kinh tế của huyện
cịn nhiều khó khăn nhưng với những chính sách nói trên huyện sẽ có điều
kiện phát triển hơn và bước vào một thời kỳ mới với nhiều đổi thay. Ngành du
lịch cũng là ngành chịu sự chi phối mạnh mẽ của những chính sách phát triển
21
kinh tế của huyện, hiện nay huyện đang có những chính sách liên quan trực
tiếp như chính sách đầu tư phát triển du lịch, chính sách thu hút nhân tài, đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực …tạo điều kiện thuận lợi để ngành Du lịch có
những bước tiến mới.
1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
1.2.2.1. Di tích
Thiên nhiên và con người Hương Sơn trong quá trình phát triển của lịch
sử đã tạo nên một miền quê hội tụ nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam
thắng cảnh. Hương Sơn có trên 80 di tích lịch sử đền chùa miếu mạo, trong đó
có 32 di tích đã được kiểm kê xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, có 8 di tích
được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp
Quốc gia.
Con người Hương Sơn ln hịa mình với thiên nhiên và cũng luôn
phải đương đầu với sự khắc nghiệt của chính nó và gánh nặng của các cuộc
chiến tranh nên đã hình thành ở đây một vùng đất với những con người tài
giỏi. Hầu như thời nào cũng xuất hiện các anh hùng, hào kiệt trong các cuộc
đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Hầu Tạo (tức Lê Hữu Tạo) trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình chuyên
chế Minh Mạng năm 1821, làm cho triều Nguyễn phải kinh hồn bạc vía.
“Núi Đại Hàm, 28 chân tay, vang lừng chiêng bạc, trống đồng, 30 vệ
quân triều đình lạc phách.
“Khe Tình Diệm 42 vây cánh, sát khí gươm Trần, giáo dượng 400 dư
quân trấn cũng kinh hồn” (phú Hầu Tạo).
Đội đội quân cờ vàng của Trần Quang Cán (tức Đội Lưu) trong phong
trào khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) cùng phối hợp với Trần Tấn, Đặng Như Mai
ở Nghệ An làm cho giặc Pháp phải thất điên bát đảo.
22
Ngược dịng lịch sử,về với hào khí Hương Sơn với nghĩa binh Nguyễn
Tuấn Thiện ở làng Cổ Đậu, căn cứ Tiên Hoa đã làm cho quân Minh nhiều
phen bạt vía kinh hồn. Hào khí Hương Sơn với trận đánh tan hai vạn quân
Minh do tổng binh Trần Trí chỉ huy tại Cửu Khẩu (Hói Nầm) khi Y liều lĩnh
tiến vào căn cứ Tiên Hoa. Hào khí Hương Sơn là trận “sấm vang chớp giật”
trên bến Đỗ gia (Sơn Tân) mở đầu cuộc phản công chiến lược của nghĩa quân
Lam Sơn.
Hào khí ấy là sức mạnh hùng hậu của mọi tầng lớp nhân dân Hương
Sơn trong việc dành chính quyền Xơ Viết từ những năm 1930 - 1931. Đình
Tứ Mỹ - một đình làng được xây dựng năm 1912 ở xã Sơn Châu và chính đây
là nơi chi bộ Đảng đầu tiên của Hương Sơn đã tổ chức các cuộc biểu tình đấu
tranh chống thực dân phong kiến.
Hào khí Hương Sơn là cuộc khởi nghĩa của Hồ Hảo được Đảng và nhân
dân Hương Sơn đánh giá cao:
“Gọt máu Bắc Sơn chưa ráo, Đội Cung nỗi dậy dẫn khố xanh mà diệt
tụi hung tàn”
“Khói bom Nam Bộ vừa tan, Hồ Hảo đứng lên đem lịng đỏ thề cùng
non nước...(Hịch đánh giặc Pháp).
Chính mảnh đất địa linh này đã sinh ra biết bao nhõn kit danh nhân,
anh hùng, liệt sĩ đ-ợc nhân dân tôn kính, ng-ỡng mộ, dựng bia, tạc t-ợng, lập
đền thờ, họ sống mãi với non sông đất nước như: Cao Thắng, Nguyễn Tuấn
Thiện, Hầu Tạo, Tống Tất Thắng, Trần Đạt - Trần Lễ, Hồ Đắc Thọ và tiêu
biểu là danh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, cùng với biết bao chiến sĩ vô
danh khác, họ mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân Hương Sơn...
Di tích đầu tiên khi đến Hương Sơn chúng ta không thể không kể đến
đó là di tích Thành Lục Niên, nơi mà năm xưa khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
(1418 - 1427) do Lê Lợi cầm đầu đã tập hợp anh hùng hào kiệt khắp nơi cùng