Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Bài thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (115.13 KB, 11 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Mơn: Hành chính
Hồ sơ số: 12
Diễn lần: 2

Họ và tên: Ngơ Nhật Ánh
Lớp tại TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 20


I.

Tóm tắt vụ án
Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013, Đồn kiểm tra Thanh tra Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã đến kiểm tra cơ sở kinh doanh
phịng trọ Hồng Lan của bà Tuyết tại 241 đường Lê Lai, thành phố P,
tỉnh G.L.
Sau khi kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã kết luận tại Biên bản vi phạm
hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 11/BB-VPHC
thì cơ sở kinh doanh của bà Tuyết có vi phạm như sau:
Phịng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành
không có Giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phịng
số 9 có ơng Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy khơng có Giấy kết hơn
đang ở chung phòng xem ti vi. Vào thời điểm kiểm tra phòng số 11 chủ
cơ sở kinh doanh phịng trọ Hồng Lan khơng vào sổ bà Nguyễn Thị
Lành. Vì vậy, Đồn kiểm tra Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tỉnh G.L kết luận chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần


trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật như trên.
Ngày 10/3/2014, Ông Trần Ngọc Minh – Phó giám đốc kiêm Chánh
thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP xử phạt bà Nguyễn Thị Tuyết
số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) theo khoản 1 Điều 25
Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.
Khơng đồng ý với quyết định xử phạt, ngày 24/3/2014, bà Tuyết có
làm đơn khiếu nại lần 1 gửi đến Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh G.L đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Thanh tra Sở về mức tiền đối với cơ sở
kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan.
Ngày 07/4/2014, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L có Cơng
văn số 167/CV-VHTDL trả lời đơn khiếu nại ngày 24/3/2014 của bà
Nguyễn Thị Tuyết.
Ngày 20/4/2014, Thanh tra sở ra Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc
giải quyết khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính của bà Tuyết ngày
24/3/2014 vẫn giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
23/QĐ-XP.
Ngày 02/5/2014, bà Tuyết làm đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án nhân
dân tỉnh G.L giải quyết nhằm hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-

2


XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tỉnh G.L
Ngày 13/05/2014, Tòa án ra thơng báo thụ lý vụ án.
Ngày 10/9/2015, Tịa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
II.


Vấn đề chung vụ án
- Đương sự trong vụ án:
1. Người khởi kiện: bà Nguyễn Thị Tuyết. Sinh năm: 1982
Địa chỉ: 241 Lê Lợi, tổ 9, phường Đông Lân, TP P, tỉnh G.L.
Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: ông Mai Anh Tuấn.
Địa chỉ: 33 đường Minh Khai, TP P, tỉnh G.L.
2.

-

-

-

III.

Người bị kiện: Ơng Trần Ngọc Minh – Phó giám đốc kiêm Chánh
thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai
Địa chỉ: 06 Trần Hưng Đạo, TP P, tỉnh G.L.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: ơng Dương Văn Thành –
Phó chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Đối tượng khởi kiện: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong
hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-XP ngày
10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, thể thao, du lịch của tỉnh
G.L
Yêu cầu khởi kiện: Hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-XP
ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, thể thao, du lịch của
tỉnh G.L và hồn trả lại Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá

thể của bà Nguyễn Thị Tuyết theo Biên bản vi phạm hành chính số
11/BB-VPHC ngày 23/12/2013.
Ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của người bị kiện: Bác bỏ toàn bộ
đơn yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng
cáo số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa,
thể thao, du lịch của tỉnh G.L là hợp pháp và đúng quy định pháp luật

Kế hoạch hỏi tại phiên tòa:
1. Hỏi người khởi kiện – bà Nguyễn Thị Tuyết:

3


-

-

2.

-

-

-

Bà cho biết ngày 23/12/2013, khi đoàn kiểm tra đến nhà trọ có đọc
quyết định kiểm tra trước khi tiến hành kiểm tra không?
Nội dung Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC có đúng với
sự việc diễn ra vào tối ngày 23/12/2013 hay không?

Sau khi bị lập Biên bản vi phạm, bà Tuyết có được u cầu giải trình
khơng?
Bà nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014
của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, thể thao, du lịch của tỉnh G.L vào
ngày tháng năm nào?
Bà Tuyết khẳng định cho HĐXX biết bà có hành vi vi phạm như trong
Quyết định số 23/QĐ-XP đã nêu hay khơng?
Bà Tuyết cho biết, bà có được nhận thông báo về việc gia hạn thời hạn
xử phạt không?
Bà Tuyết cho biết, bà bị thu Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là
khi nào?
Sau khi nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐXP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch tỉnh G.L thì tình hình kinh doanh của cơ sở nhà trọ Hồng Lan có
bị ảnh hưởng gì khơng? Nếu có thì là những gì?

Hỏi người bị kiện – (ông Trần Ngọc Minh ủy quyền cho ông
Dương Văn Thành, chức vụ Phó chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch):
Ông cho biết ngày tiến hành kiểm tra nhà trọ của bà Tuyết là ngày
nào?
Tại thời điểm kiểm tra, trong nhà trọ có những ai?
Căn cứ vào đâu để Đoàn kiểm tra kết luận những người trong nhà trọ
đang mua bán dâm diễn ra tại nhà trọ Hoàng Lan vào lúc 21 giờ 10
phút ngày 23/12/2013?
Tại sao trong Biên bản số 11 lại không ghi rõ điều khoản xử phạt?
Tại sao Quyết định số 23/QĐ-XP ban hành ngày 10/3/2014 dựa trên
Biên bản số 11 ngày 23/12/2013 nhưng lại có nội dung xử phạt khác
hồn tồn?
Ơng cho biết căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để Thanh tra Sở Văn hóa,

Thể thao và Du lịch có thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 đối với bà Tuyết?
4


-

-

3.
-

IV.

Đồn kiểm tra đã áp dụng những văn bản nào?
Ơng cho biết Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua
dâm, bán dâm quy định tại Điều 25 Mục II Chương 2 Nghị định
167/2013 ngày 12/11/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an tồn xã hội; phịng, chống tệ nạn xã
hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì thẩm
quyền xử phạt thuộc về Thanh tra LĐTB-XH hay Thanh tra VHTTDL?
Theo Quyết định số 23/QĐ-XP, Ông cho biết hành vi của bà Tuyết đã
vi phạm trong lĩnh vực nào?
Ông cho biết thời hạn ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với
trường hợp của bà Tuyết tối đa bao nhiêu ngày?
Như vậy, Quyết định số 23/QĐ-XP ban hành ngày 10/3/2014 đã vượt
quá thời hạn xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết kể từ ngày
lập biên bản xử lý vi phạm là đúng hay sai?
Hỏi người làm chứng (gồm: ông Nguyễn Văn Thường; ông Phan
Văn; bà Nguyễn Thị Lành; bà Nguyễn Thị Thùy)

Ơng Thường cho biết mối quan hệ của ơng với bà Lành là gì? Ơng và
bà Lành có Giấy đăng ký kết hơn khơng?
Khi th phịng ơng Thường có xuất trình đầy đủ giấy tờ gì để bà
Tuyết vào sổ theo dõi khơng?
Ơng Phan Văn cho biết mối quan hệ giữa ơng và bà Nguyễn Thị Thùy
là gì? Ơng và bà Thùy có Giấy đăng ký kết hơn khơng?

Soạn thảo luận cứ bảo vệ:
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát cùng luật sư đồng nghiệp.
Tôi là Luật sư Ngơ Thị Nhật Ánh thuộc Văn phịng Luật sư ABC,
Đồn luật sư TP. Hồ Chí Minh. Tham gia phiên tòa này với vai trò là
người bảo về quyền lợi hợp pháp cho thân chủ của tôi là bà Nguyễn Thị
Tuyết là người khởi kiện trong vụ án hành chính này. Theo đó, bà Tuyết
là người bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 23/QĐ-XP
ngày 10 tháng 3 năm 2014 do Chánh thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G.L ký
quyết định ban hành. Quyết định số 23/QĐ-XP đã ảnh hưởng trực tiếp
đến quyền lợi chính đáng của bà Tuyết, đã xử phạt bà Tuyết lỗi phạt mà
bà Tuyết khơng hề vi phạm, do đó bà Tuyết đề nghị q Tịa tun hủy
tồn bộ Quyết định số 23/QĐ-XP trên đây.
5


Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ các chứng cứ đã được thẩm định
tại phiên tòa và sau khi nghe phần xét hỏi, tơi xin trình bày quan điểm của
mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là bà
Nguyễn Thị Tuyết như sau:
- Thứ nhất, bà Tuyết khơng có hành vi vi phạm hành chính “ thiếu
tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở
kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động

mại dâm” như trong QĐ số 23/QĐ-XP.
Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh 10/2003/PL-UBTVQH11
về phòng chống mại dâm giải thích: “Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau: 1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một
người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác; 2. Mua
dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho
người bán dâm để được giao cấu; 3. Mại dâm là hành vi mua dâm, bán
dâm;….”
Tại Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC khơng thể hiện có
xảy ra hành vi mua dâm giữa khách th phịng là ơng Thường và bà
Lành ở phịng số 11, ơng Văn và bà Thùy ở phịng số 9. Đồng thời, tại
Bản tường trình thì ơng Thường khai rằng ông và bà Lành là vợ chồng và
các khách thuê phịng cũng khơng thể hiện họ thực hiện hành vi mua
dâm, bán dâm. Do đó, khơng có căn cứ cho rằng tại nhà trọ Hoàng Lan
do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ có xảy ra hoạt động mại dâm.
Qua nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án cũng như thu thập các chứng cứ,
khơng có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh tại thời điểm đó, trong nhà
nghỉ Hồng Lan có diễn ra hành vi mua bán dâm. Bằng chứng là cho đến
phiên tịa ngày hơm nay, người bị kiện không cung cấp được thêm bất kỳ
bằng chứng nào khác về vấn đề này. Bên cạnh đó, tại điểm d khoản 1
Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định rằng: “Người
có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính.
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thơng qua người đại
diện hợp pháp chứng minh mình khơng vi phạm hành chính”. Do đó,
Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L phải cung cấp
được các tài liệu chứng minh xảy ra hành vi vi phạm để xử phạt bà Tuyết.
Việc không xác minh tình tiết quan trọng của vụ việc là vi phạm nghiêm
trọng quy định tại điểm a,e khoản 1 và khoản 2 Điều 59 Luật xử lý vi
phạm hành chính năm 2012.
6



Ngồi ra, bà Tuyết khơng có nghĩa vụ u cầu khách th phải xuất
trình Giấy đăng ký kết hơn. Căn cứ Điểm e Khoản 2 Điều 6 TT 33/2010
ngày 05/10/2010 của Bộ Cơng an.
Do đó, khơng thể kết luận bà Tuyết có hành vi thiếu trách nhiệm tạo
điều kiện cho người khác lợi dụng để hoạt động mua dâm, bán dâm theo
Quyết định số 23/QĐ-XP.
- Thứ hai, Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành không đúng
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Theo Quyết định số 23/QĐ-XP, căn cứ pháp lý để xử phạt hành chính
là khoản 1 Điều 25 thuộc Mục 2 Chương II của Nghị định 167/2013/NĐCP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Nhưng, theo quy định tại Điều 69
Nghị định 167/2013/NĐ-CP, Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ
có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi quy định tại Mục 4 Chương
II của Nghị định này ( quy định về Vi phạm hành chính về phịng, chống
bạo lực gia đình).
Do đó, hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 của Nghị định
167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ khơng thuộc thẩm
quyền xử lý của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch mà nội dung
xử phạt của Quyết định 23/QĐ-XP thuộc thẩm quyền ban hành của Thanh
tra Lao động - Thương binh và Xã hội.
Vì thế việc Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
ra Quyết định số 23/QĐ-XP xử lý hành vi vi phạm quy định tại khoản 1
Điều 25 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ
là khơng đúng thẩm quyền.
- Thứ ba, về trình tự thủ tục
+ Căn cứ theo khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012. Biên bản 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 không ghi đủ thông tin,
cụ thể là: không ghi thông tin người chứng kiến, thơng tin về người xử
phạt khơng đầy đủ (khơng có giấy CMND/CCCD, khơng có thơng tin

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh); không ghi cụ thể căn cứ xử phạt
tại điều mấy. Do đó, khơng thể lấy biên bản này để làm căn cứ ra quyết
định xử phạt hành chính đối với bà Tuyết.
+ Thời gian lập biên bản lúc 21h10’ là khơng đúng quy định. Bởi vì
thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau.
+ Vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt. Căn cứ theo quy định pháp
luật khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về thời
7


hạn ra quyết định xử phạt hành chính “ 1. Người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong
thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ
việc có nhiều tình tiết phức tạp mà khơng thuộc trường hợp giải trình
hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2
và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa
là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản...” .
Trong vụ án này, ngày 23/11/2013 lập biên bản mà cho đến ngày
10/3/2014 mới ra quyết định xử phạt là 77 ngày và trường hợp của bà
Tuyết không thuộc trường hợp có tình tiết phức tạp hay cần bổ sung
chứng cứ hay thuộc trường hợp giải trình. Trong hồ sơ vụ án chỉ thể hiện
việc Chánh Thanh tra Sở có báo cáo xin gia hạn. Việc gia hạn thời hạn
cũng không thể hiện rằng đã được phê duyệt bằng văn bản theo quy định
tại khoản 1 Điều 66.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành
chính năm 2012, trường hợp đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt người
có thẩm quyền sẽ khơng được ra quyết định xử phạt. Tuy nhiên, Chánh
Thanh tra Sở vẫn ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP khi đã quá thời hạn
là vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Thứ tư, về nội dung

+ Việc ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP có sự mâu thuẫn trong việc
áp dụng pháp luật và xác định hành vi vi phạm:
 Trong Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC, Đồn
kiểm tra chỉ kết luận “chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh
thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên.” Vậy mà
trong QĐ số 23/QĐ-XP ban hành hơn 2 tháng sau ngày lập
Biên bản số 11/BB-VPHC, Chánh thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh
G.L lại xử phạt bà Tuyết về tội: “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo
điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều
kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” với mức
phạt 15.000.000 đồng căn cứ vào Khoản 1 Điều 25 NĐ
167/2013/NĐ-CP. Như vậy, có thể thấy rằng Quyết định 23/
QĐ-XP này đã xử phạt bà Tuyết một lỗi vi phạm mà bà không
hề thực hiện và Biên bản số 11/BB-VPHC xử lý vi phạm ngày
23/12/2013 không hề đề cập đến.

8


Trong Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC, Đồn
kiểm tra xác định bà Tuyết vi phạm quy định tại Nghị định
158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2012 của Chính Phủ nhưng lại
khơng chỉ ra cụ thể hành vi vi phạm đó được quy định tại điều
khoản nào của Nghị Định. Nhưng đến khi ra quyết định xử
phạt, Chánh thanh tra Sở VHTT-DL tỉnh G.L lại xác định bà
Tuyết vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định
167/2013/NĐ-CP.
 Đoàn kiểm tra đã lập biên bản làm số 11/BB-VPHC ngày
23/12/2013 Biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động văn
hóa, thể thao và du lịch. Trong biên bản này đã căn cứ vào Nghị

định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa – thơng tin.
Đây là một văn bản chưa có hiệu lực. Cụ thể Nghị định
158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 có hiệu lực từ ngày
01/01/2014. Do vậy việc Đoàn kiểm tra áp dụng căn cứ pháp
luật này là hoàn toàn sai.
+ Quyết định số 23/QĐ-XP có nội dung khơng đầy đủ và khơng phù
hợp với quy định pháp luật.
Quyết định số 23/QĐ-XP không xác định ngày có hiệu lực thi hành.
Hơn nữa theo Điều 3 của Quyết định này là “trong thời hạn 3 ngày”
nhưng không nêu rõ là 3 ngày kể từ ngày nào. Nếu hiểu 3 ngày kể từ ngày
ra quyết định thì quy định như vậy trái với quy định tại Điều 70 Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012: “Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có
thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử
phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi
hành.” Vì thế, nội dung trên không phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Quyết định 23/QĐ-XP ban hành dựa trên Biên bản 11/BB-VPHC
nhưng Biên bản 11/BB-VPHC lại căn cứ vào Nghị định 158/2013 quy
định xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và
quảng cáo, hồn tồn khơng quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực kinh doanh ngành nghề có điều kiện. Việc áp dụng Nghị
định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 là không đúng đối tượng và
phạm vị điều chỉnh của văn bản. Bởi lẽ Nghị định này quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;


9



phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phịng, chống bạo
lực gia đình. Việc đồn kiểm tra nêu sai tên văn bản là một vi phạm
nghiêm trong việc ban hành quyết định.
Tóm lại, Quyết định 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L là hồn tồn khơng có căn cứ
pháp lý và cơ sở thực tế.
Bà Tuyết đề nghị được nộp phạt khung thấp nhất vì bà Tuyết thừa
nhận mình sai trong việc khơng ghi tên bà Nguyễn Thị Lành vào sổ quản
lý như quy định, nên chấp nhận chịu xử phạt đúng với lỗi vi phạm và xin
xử phạt ở mức thấp nhất và bà Tuyết không hề thừa nhận mình có hành vi
thiếu trách nhiệm để người khác lợi dụng thực hiện mua bán dâm như QĐ
23/QĐ-XP đã khẳng định. Tuy nhiên, Quyết định 23/QĐ-XP đã căn cứ
vào hành vi mà bà Tuyết không hề thực hiện để xử phạt, qua đó gây ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết. Đồng thời,
Quyết định 23/QĐ-XP đã được ban hành là trái thẩm quyền, vượt quá
thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại của người khởi kiện với số tiền
70.000.000 đồng, xét thấy các thiệt hại xảy ra đối với cơ sở kinh doanh
của bà Tuyết là các thiệt hại thực tế do Quyết định số 23/QĐ-XP ngày
10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch gây ra.
Quyết định 23/QĐ-XP trên là nguyên nhân trực tiếp làm cơ sở kinh doanh
của bà Tuyết mất đi uy tín và giảm sút doanh thu một cách đáng kể. Việc
thiệt hại về uy tín của nhà nghỉ Hồng Lan là hồn tồn có thực và phù
hợp với quy định tại Điều 7, Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Từ các lý lẽ trên, căn cứ vào điểm b, điểm g khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng
hành chính năm 2015, tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định,
tuyên bố hủy bỏ các quyết định hành chính sau: Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐXP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, thể thao, du lịch của tỉnh
G.L và yêu cầu Chánh thanh tra bồi thường thiệt hại cho người khởi kiện theo
đúng quy định của pháp luật.

Vừa rồi là toàn bộ quan điểm bảo vệ để bảo vệ thân chủ của tơi, kính mong
Hội đồng xét xử xem xét, tồn diện đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án cũng như quy định của pháp luật để ra bản án phù hợp nhất với khách
quan sự việc.
10


Tơi tin tưởng rằng bằng sự cơng minh, chính trực của mình HĐXX sẽ có
một phán quyết cơng minh, chính xác.
Xin trân trọng cám ơn.

V. Phần nhận xét tại buổi diễn án

Câu hỏi NX1: Anh(chị) hãy nêu 03 ưu điểm, 03 hạn chế về buổi diễn án

Câu hỏi NX2: Anh (chị) xác định đối tượng chứng minh trong vụ án và
đưa ra nhận xét về kỹ năng hỏi, kỹ năng tranh luận của hai bên luật sư.
-

Xác định đối tượng chứng minh trong vụ án:
Trình tự thủ tục, thẩm quyền, thời hạn, nội dung ban hành Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
và quảng cáo số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở
Văn hóa, thể thao, du lịch của tỉnh G.L.

-

Nhận xét về kỹ năng hỏi, kỹ năng tranh luận của hai bên luật sư.

11




×