Tải bản đầy đủ (.pdf) (60 trang)

TAI LIEU BDTX GDCD 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 60 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM GIA LAI. TỔ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ------. Chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên Hè 2014. GIÁO DỤC CÔNG DÂN THCS. GIA LAI, THÁNG 06 NĂM 2014.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TỔ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ. -----ThS. NGUYỄN THỊ HẰNG ThS. PHẠM THỊ THANH HÀ ThS. LƯU THỊ XUÂN HƯƠNG. TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN HÈ 2014. MÔN: GIÁO DỤC CÔNG DÂN THCS Chuyên đề VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC HÀNH ĐỘNG KHÁM PHÁ CỦA JEROME BRUNER VÀO KHAI THÁC MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO TINH THẦN ĐỔI MỚI. GIA LAI – HÈ 2014.

<span class='text_page_counter'>(3)</span> MỤC LỤC Trang. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN........................................................................... 5 I. Mô hình dạy học khám phá của Jerome Bruner và phương pháp dạy học khám phá ........................................................................................................ 5 II. Vài nét về môn Giáo dục công dân ......................................................... 10 Chương 2. VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC HÀNH ĐỘNG KHÁM PHÁ CỦA JEROME BRUNER VÀO KHAI THÁC MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO TINH THẦN ĐỔI MỚI. .................................................. 13 I. Phương pháp vấn đáp và sử dụng sơ đồ trong dạy học GDCD................ 13 1. Phương pháp vấn đáp và vận dụng ...................................................... 13 2. Sử dụng sơ đồ trong dạy học GDCD và vận dụng ............................... 20 II. Phương pháp trò chơi và phương pháp tổ chức diễn đàn thanh niên...... 27 1. Cơ sở lý luận phương pháp trò chơi và vận dụng................................. 27 2. Phương pháp tổ chức diễn đàn thanh niên và vận dụng ....................... 38 III. Phương pháp thảo luận nhóm và Phương pháp trực quan ..................... 44 1. Khái niệm về phương pháp thảo luận nhóm và vận dụng .................... 44 2. Phương pháp trực quan và vận dụng .................................................... 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 58. 1.

<span class='text_page_counter'>(4)</span> DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT. Giáo dục công dân. GDCD. Trung học cơ sở. THCS. Học sinh. HS. Giáo viên. GV. Xây dựng. Xd. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. CNH, HĐH. Sách giáo khoa. SGK. Lớp trưởng, nhóm trưởng. LT, NT. 2.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> DANH SÁCH TÁC GIẢ BIÊN SOẠN. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Nguyễn Thị Hằng Chương 2. VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC HÀNH ĐỘNG KHÁM PHÁ CỦA JEROME BRUNER VÀO KHAI THÁC MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO TINH THẦN ĐỔI MỚI.. I.. Phương pháp vấn đáp và sử dụng sơ đồ trong dạy học GDCD Nguyễn Thị Hằng. II.. Phương pháp trò chơi và phương pháp diễn đàn Phạm Thị Thanh Hà. III. Phương pháp thảo luận nhóm và Phương pháp trực quan Lưu Thị Xuân Hương. 3.

<span class='text_page_counter'>(6)</span> Lời giới thiệu Căn cứ chủ trương của Đảng về định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong các Nghị quyết TW 4 khoá VII (1-1993), Nghị quyết TW 2 khoá VIII (12-1996) và được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (12-1998), cụ thể như: Điều 24.2 Luật Giáo dục ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”. Căn cứ các chỉ thị, quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị 15 (4-1999). Công văn số 117/TB-BGDĐT ngày 26 tháng 02 năm 2010 về Kết luận của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tại Hội thảo “Chỉ đạo, quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông”. Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD-ĐT, ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông. Căn cứ Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05-12-2011 của Bộ Chính trị về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xoá mù chữ cho người lớn; tăng cường dạy và học ngoại ngữ, tin học trong hệ thống giáo dục quốc dân; chuẩn bị đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015. Căn cứ công văn số 260/CĐSP-ĐT ngày 10-6 -2014 về việc viết tài liệu và triển khai bồi dưỡng thường xuyên năm học 2013-2014 Bộ môn Lý luận chính trị trường CĐSP Gia Lai biên soạn tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên môn Giáo dục công dân ở trường THCS, chuyên đề sau: Vận dụng mô hình dạy học hành động học tập khám phá của Jerome Bruner khai thác các phương pháp dạy học GDCD cấp THCS theo tinh thần đổi mới. Trong quá trình thực hiện chuyên đề, nhóm biên soạn đã tiếp thu những ý kiến đóng góp và tham khảo nhiều tài liệu về phương pháp dạy và học...Tuy nhiên, do những hạn chế khách quan và chủ quan nên vẫn còn những hạn chế, thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được nhiều sự đóng góp của quý thầy, cô giáo đề tài liệu được hoàn thiện hơn.. 4.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN I. Mô hình dạy học khám phá của Jerome Bruner và phương pháp dạy học khám phá 1. Mô hình dạy học khám phá của Jerome Bruner Vào những thập niên 1960 và 1970, Jerome Bruner đã liên kết với nhiều quốc gia về dự án phát triển chương trình giảng dạy, tư tưởng của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ về phương pháp học tập nghiên cứu. Jerome Bruner cho rằng học sinh học tốt nhất bằng cách khám phá và người học là người giải quyết vấn đề, người tương tác với môi trường, kiểm nghiệm các giả thiết và phát triển bản thân. Bruner thấy rằng mục tiêu của giáo dục là phát triển trí tuệ, do đó các chương trình dạy cấn phải thúc đẩy việc phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua các cuộc điều tra và khám phá. Bruner nói rằng hiểu biết là một quá trình chứ không phải là tích lũy sự khôn ngoan của khoa học được trình bày trong sách giáo khoa. Để tìm hiểu các khái niệm khoa học và giải quyết vấn đề, học sinh cần phải được tiếp xúc với các tình huống, được hướng dẫn bởi các động lực nội tại của người học trong tình huống này để tìm ra giải pháp hay hiểu đơn giản là cung cấp một mô hình cho việc tạo ra hoạt động học tập khám phá. Mô hình dạy học khám phá của Jerome Bruner có bốn thành phần cơ bản sau: Thứ nhất: Sự tò mò không chắc chắn (Curiosity and Uncertanty) Jerome Bruner cảm thấy kinh nghiệm và cách tổ chức của giáo viên sẽ giúp học sinh sẵn sàng và có khả năng học hỏi. Ông gọi điều này là khuynh hướng hướng về học tập. Bruner cho rằng mong muốn học hỏi và tiến hành giải quyết vấn đề có thể được kích thích bằng cách đặt ra các hoạt động về vấn đề trong đó học sinh sẽ tìm hiểu giải pháp thay thế. Các điều kiện chính cho việc tìm kiếm, lựa chọn, thay thế là sự hiện diện của một số cấp độ tối ưu của sự không chắc chắn. Điều này liên quan trực tiếp đến sự tò mò của học sinh để giải quyết sự không chắc chắn và mơ hồ. Theo ý tưởng này, các giáo viên sẽ thiết kế các hoạt động với các sự kiện khác nhau mà có thể kích thích sự tò mò của học sinh Thứ hai: Cấu trúc của kiến thức (Structure oj knowledge) Bruner cho rằng nhà thiết kế chương trình giảng dạy và giáo viên phải xây dựng hệ thống kiến thức như thế nào để người học có thể dễ dàng nắm bắt nhất. Ý tưởng này đã trở thành một trong những khái niệm quan trọng được gắn liền với mô hình dạy học của Bruner. Ông giải thích theo cách như sau: “ Bất cứ ý tưởng hoặc vấn đề hoặc bộ phận nào của kiến thức cũng có thể được trình bày dưới dạng một cách đơn giản, đủ để cho bất kỳ người học nào cũng có thể hiểu được nó và nhận ra hình thức của nó” 5.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> Thứ ba: Trình tự ( Sequencing) Trình tự giảng dạy là yếu tố quan trọng nhất cần được xác định. Theo Bruner, trong quá trình hướng dẫn nên dẫn người học thông qua các nội dung để tăng khả năng nắm bắt của học sinh, biến đổi và chuyển giao những gì được học. Nói chung trình tự nên chuyển từ thực hành, cụ thể, biểu tượng sang mô tả bằng lời hoặc ký hiệu toán học. Tuy nhiên, trình tự này sẽ phụ thuộc vào hệ thống biểu tượng và phong cách học tập của học sinh. Như chúng ta biết, nguyên tắc trình tự này phổ biến trong các lý thuyết phát triển của Piaget, cũng như trong tâm lý học nhận thức khác Thứ tư: Động lực ( Motivation) Cuối cùng trong mô hình này là bản chất và nhịp độ thưởng, phạt được quy định. Bruner cho thấy tác động từ bên ngoài phần thưởng như lời khen của giáo viên, đối với phần thưởng nội tại, cố hữu trong việc giải quyết các vấn đề hay sự hiểu biết các khái niệm là mong muốn. Thông tin phản hồi cho học sinh là rất quan trọng cho sự phát triển của tri thức. Các giáo viên cần tạo một liên kết với người học để người học có những phản hồi ban đầu cũng như giúp người học phát triển kỹ thuật cho việc thu thập thông tin phản hồi về mình hoặc của chính mình. 2. Dạy học khám phá a. Vài nét về phương pháp dạy học Phương pháp dạy học truyền thống: dạy học lấy hoạt động của người thầy là trung tâm.Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể. Giáo án dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống. Nên nội dung bài dạy theo phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính logic cao. Song do quá đề cao người dạy nên nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của người học; do đó kỹ năng vận dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế. Phương pháp dạy học hiện đại (dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh - là phương pháp dạy học tích cực): ở đó, giáo viên là người giữ vài trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm. Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy. Phương pháp dạy học này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học. Giáo viên là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh; từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững. 6.

<span class='text_page_counter'>(9)</span> Giáo án dạy học theo phương pháp tích cực được thiết kế kiểu chiều ngang theo hai hướng song hành giữa hoạt động dạy của thầy và học của trò. Ưu điểm của phương pháp dạy học tích cực là chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học. Phương pháp dạy học khám phá. Đặc điểm của phương pháp này là giảm bớt thuyết trình, diễn giải; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức nhằm phát huy năng lực tư duy, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh nhằm khám phá ra tri thức mới một cách chủ động. Đây là một trong những phương pháp dạy học tích cực. b. Phương pháp dạy học khám phá *Khái niệm dạy học khám phá Dạy học khám phá là cách dạy học theo hướng tổ chức cho học sinh tìm tòi, phát hiện ra tri thức mới, cách thức hành động mới nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh. Qua đó, học sinh học, kĩ năng, và thái độ học tập tích cực. Trong đó, người học đóng vai trò là người phát hiện còn người dạy đóng vai trò là chuyên gia tổ chức. * Bản chất cuả quá trình dạy học khám phá -Trong dạy học khám phá đòi hỏi người giáo viên gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của học sinh. Hoạt động của người thầy bao gồm : + Định hướng phát triển tư duy cho học sinh + Lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với học sinh; + Tổ chức học sinh trao đổi theo nhóm trên lớp… -Trong dạy học khám phá, học sinh tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức: từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; Giáo viên nhận xét ý kiến của học sinh và kết luận ý chính để học sinh làm cơ sở tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân tiếp cận tri thức khoa học của nhân loại. Hoạt động khám phá tri thức mới là một quá trình nhận thức độc đáo của người học, họ có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học. Ðó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học. Vậy, bản chất của quá trình dạy học khám phá là: sự tìm kiếm, khám phá tri thức khoa học và chuẩn mực xã hội *Đặc trưng cơ bản của dạy học khám phá. - Ðặc trưng của dạy học khám phá là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ và hoạt động tích cực hợp tác của lớp, nhóm, để giải quyết vấn đề.. 7.

<span class='text_page_counter'>(10)</span> - Dạy học khám phá có nhiều khả năng vận dụng vào nội dung của các bài. Khác với dạy học nêu vấn đề chỉ áp dụng vào một số bài có nội dung là một vấn đề lớn, có mối liên quan logic với nội dung kiến thức cũ. - Dạy học khám phá hình thành năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho học sinh, chưa hình thành hoàn chỉnh khả năng tư duy lôgic trong nghiên cứu khoa học như trong cấu trúc dạy học nêu vấn đề. - Tổ chức dạy học khám phá thường xuyên trong quá trình dạy học là tiền đề thuận lợi cho việc vận dụng dạy học nêu vấn đề. - Dạy học khám phá có thể thực hiện lồng ghép trong khâu giải quyết vấn đề của kiểu dạy học nêu vấn đề. *Ưu điểm của dạy học khám phá - Phát huy được nội lực của học sinh, tư duy tích cực - độc lập - sáng tạo trong quá trình học tập. - Giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp lòng ham mê học tập của học sinh. Ðó chính là động lực của quá trình dạy học. - Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân là cơ sở hình thành phương pháp tự học. Ðó chính là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong cuộc sống. - Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của học sinh được tổ chức thường xuyên trong quá trình học tập, là phương thức để học sinh tiếp cận với kiểu dạy học hình thành và giải quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn. - Ðối thoại Trò-Trò, Trò-Thầy đã tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi, tích cực và góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng xã hội. * Nhược điểm của dạy học khám phá - Học sinh thực hiện các hoạt động khám phá đòi hỏi nhiều thới gian nên phá vỡ kế hoạch của tiết học - Học sinh yếu chán nản vì phải dựa vào học sinh khá. *Cấu trúc của dạy học khám phá Giáo viên nêu vấn đề học tập Dạy học khám phá Học sinh hợp tác giải quyết vấn đề Thực chất dạy học khám phá là một phương pháp hoạt động thống nhất giữa thầy với trò đã giải quyết vấn đề học tập phát sinh trong nội dung của tiết học. 8.

<span class='text_page_counter'>(11)</span> *Phương pháp tổ chức hoạt động dạy học khám phá Hoạt động của giáo viên Xác định mục tiêu: - Hình thành kiến thức, kỹ năng mới - Xây dựng giá trị, thái độ, niềm tin - Rèn luyện tư duy, năng lực xử lý… Về nội dung : + Xác định nội dung kiến thức mới là gì? + Tại sao lựa chọn vấn đề này mà không lựa chọn vấn đề khác có trong bài giảng. + Vấn đề lựa chọn liệu khả năng học sinh có thể tự khám phá được không. - Về phát triển tư duy: Giáo viên định hướng các hoạt động tư duy đặc trưng cần thiết ở học sinh là gì trong quá trình giải quyết vấn đề; hoạt động phân tích, tổng hợp hoặc là so sánh hoặc là trừu tượng khái quát hoặc là phán đoán… Lựa chọn vấn đề học tập - Trong nội dung của bài giảng có chứa đựng nhiều vấn đề học tập, trong đó vấn đề trọng tâm là cơ sở để nhận thức các vấn đề khác. Dạy học khám phá thường được vận dụng để học sinh giải quyết các vấn đề nhỏ, vì vậy lựa chọn vấn đề là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của PPDH này. - Lựa chọn vấn đề học tập cần chú ý một số điều kiện sau đây: + Vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới + Vấn đề thường đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ + Vấn đề học tập phải vừa sức của học sinh và tương ứng với thời gian làm việc Nếu nội dung giáo viên yêu cầu học sinh làm việc không chứa đựng thông tin mới thì chỉ là hình thức thảo luận trong dạy học mà chúng ta thường áp dụng. Hoạt động của học sinh Tùy vào cách thiết kế các hoạt động khám phá của giáo viên mà mà học sinh có những hoạt động tương ứng: - Học sinh phải chủ động chuẩn bị bài cẩn thận, - Tích cực trong các hoạt động của nhóm và tham gia thảo luận, hợp tác với giáo viên và các bạn trong lớp 9.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> Những vấn đề lưu ý khi sử dụng phương pháp dạy học khám phá Giáo viên + Phải lựa chọn và xác được nội dung kiến thức mới trong từng phần, từng bài + Vấn đề lựa chọn học sinh phải tự khám phá được + Phải định hướng phát triển tư duy của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề (thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập, tranh ảnh, biểu bảng…) + Phải xác định phương pháp dạy cho từng loại bài và từng đơn vị kiến thức Không có phương pháp nào là tối ưu trong hoạt động dạy học, vì vậy khi vận dụng đòi hỏi mỗi giáo viên phải vận dụng linh hoạt, phối hợp nhiều phương pháp, kỹ thuật để bài giảng đạt hiệu quả cao. II. Vài nét về môn Giáo dục công dân 1. Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân ở trường THCS Môn GDCD có vị trí quan trọng trong nhà trường THCS. Môn học này cung cấp cho học sinh (HS) một hệ thống chuẩn mực đạo đức và pháp luật phù hợp với yêu cầu của xã hội ở mức độ phù hợp với lứa tuổi. Qua đó, giúp HS biết sống hoà nhập với cuộc sống hiện tại với tư cách là một công dân tích cực và năng động; góp phần quan trọng để hình thành những phẩm chất cần thiết của nhân cách con người Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước và tăng cường khả năng hội nhập trong xu thế phát triển và tiến bộ của thời đại. Mặt khác, dạy học môn GDCD phải nhằm tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và hành vi. Môn GDCD cần phải đảm bảo cung cấp cho HS những phương thức ứng xử về đạo đức, pháp luật, văn hoá trong cuộc sống, hình thành ở mỗi HS sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, hướng HS vào việc thực hành trong cuộc sống hằng ngày các chuẩn mực và mẫu hành vi tích cực mà bài học đặt ra; khơi dậy trong HS ý chí thể hiện sự thống nhất đó. Như vậy, môn GDCD có vị trí, vai trò quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách, góp phần xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân cho HS, cụ thể là: - Cung cấp cho HS hệ thống các giá trị đạo đức, pháp luật cơ bản, các chuẩn mực lối sống phù hợp với yêu cầu của xã hội, giúp HS biết sống một cách tích cực, năng động và sáng tạo. - Góp phần quan trọng hình thành những năng lực cơ bản của con người thời kỳ CNH, HĐH đất nước như: + Năng lực tự hoàn thiện;. 10.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> + Năng lực nắm bắt thông tin và giao tiếp ứng xử; + Năng lực thích ứng; + Năng lực làm việc có hiệu quả trong hoạt động nhóm cộng đồng; + Năng lực tổ chức quản lý; + Năng lực hoạt động xã hội phân tích và giải quyết vấn đề có tình huống; + Năng lực phòng vệ sự sống và gia tăng sức khoẻ; + Năng lực tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ… 2. Mục tiêu của GDCD: Cùng với những môn học khác, môn GDCD góp phần đào tạo những người công dân mới vừa có tri thức khoa học vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Từ đó, các em thấy rõ trách nhiệm của mình: Luôn luôn có ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, biết tự rèn luyện bản thân để trở thành người công dân hữu ích cho quê hương, đất nước. Tóm lại: Mục tiêu của môn GDCD hiện hành là không chỉ truyền đạt tri thức để giúp cho HS có nhận thức đúng, mà còn hình thành ở HS thái độ đúng đắn đối với các vấn đề, các sự kiện đạo đức, pháp luật, từ đó biến thành hành động biết yêu cái đúng, cái thiện, ghét cái sai, cái xấu; có tình cảm trong sáng, lành mạnh; có niềm tin và hành động đúng theo các chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Việc rèn luyện kỹ năng trong dạy học môn GDCD không chỉ dừng lại ở chỗ hình thành ở HS khả năng tự đánh giá và đánh giá hành vi của người khác và đánh giá tính chất của sự việc mà còn hình thành ở HS nhu cầu hành động thể hiện những điều đã học vào cuộc sống hằng ngày, thực hiện phương châm thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và hành vi. Ba mục tiêu trên của môn GDCD có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, xúc cảm, tình cảm đạo đức là cái nền, là môi trường giáo dục thuận lợi, một mặt nó có tác động trở lại nhận thức, giúp HS tiếp nhận các giá trị một cách hứng thú, tự giác; mặt khác nó có tác dụng kích thích tạo ra nguồn động lực khiến HS tích cực, hăng say hành động trong thực tế cuộc sống. Những vấn đề lưu ý khi vận dụng mô hình dạy học khám phá của Jerome Bruner và sử dụng phương pháp dạy học khám phá trong dạy học môn GDCD: - GDCD là một khoa học xã hội, nó khác với khoa học tự nhiên khám phá ở đây không phải là học sinh làm thí nghiệm, tìm ra cái mới…gây sự tò mò, thích thú cho các em. Mà khám phá ở đây chính là sự tìm lại, khắc sâu những chân lý hiển nhiên trong cuộc sống hàng ngày mà các em đã tiếp xúc về đạo đức và pháp luật mà nhiều khi các em nhận thức không đúng hoặc 11.

<span class='text_page_counter'>(14)</span> chưa đầy đủ hoặc sai lệch…Đây là một thuận lợi và cũng là khó khăn khi vận dụng mô hình dạy học khám phá của Jerome Bruner trong môn GDCD - Từ những điều các em nhận thức được góp phần hình thành thái độ và hành động đúng đắn của các em trong mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội. - Trong bản thân các nhóm phương pháp dạy học: Vấn đáp, sơ đồ hóa, thảo luận, tổ chức trò chơi... đã chứa đựng trong nó yếu tố khám phá, gây mò mò, hứng thú.... cho người học. Ở đây, nhóm tác giả chỉ mong muốn làm rõ, khắc sâu hơn trong mỗi phương pháp khi vận dụng là quan tâm đến những yếu tố của mô hình khám phá của Bruner: Tạo sự tò mò; cấu trúc kiến thức logic, đơn giản .... tạo cho học sinh dễ nhớ, nhớ lâu...; trình tự giảng dạy tuân thủ những quy trình chặt chẽ (điều này được phản ánh trong cơ sở lý luận từng phương pháp); trong quá trình thực hiện người hướng dẫn luôn tạo động lực để kích thích người học thông qua sự thưởng, phạt công bằng, khách quan... Câu hỏi thảo luận: Làm rõ mô hình dạy học khám phá của Jerome Bruner. Theo anh (chị), mô hình này khi vận dụng vào môn GDCD sẽ có những thuận lợi và khó khăn gì?. 12.

<span class='text_page_counter'>(15)</span> Chương 2. VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC HÀNH ĐỘNG KHÁM PHÁ CỦA JEROME BRUNER VÀO KHAI THÁC MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO TINH THẦN ĐỔI MỚI. I. Phương pháp vấn đáp và sử dụng sơ đồ trong dạy học GDCD 1. Phương pháp vấn đáp và vận dụng a. Vấn đáp (đàm thoại) Là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Hiệu quả của phương pháp vấn đáp trước hết phụ thuộc vào chất lượng câu hỏi. Một câu hỏi tốt thông thường phải bảo đảm các yêu cầu sau: + Có mục đích rứt khoát, rõ ràng, nhằm đúng vào vấn đề cần hỏi + Bám sát các kiến thức cơ bản, trọng tâm + Sát trình độ người học + Gây sự tò mò hoặc kích thích trả lời sôi nổi, tạo ra sự thảo luận sâu hơn. Tránh đặt câu hỏi đòi hỏi chỉ trả lời có/không; hoặc câu hỏi mơ hồ chung chung, câu hỏi đe dọa tính cách cá nhân người học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp: Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức cũ với kiến thức vừa mới học. Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn. Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy. Trong nội dung tài liệu bồi dưỡng, chúng ta tìm hiểu sâu hơn về vấn đáp tìm tòi Vấn đáp tìm tòi (hay đàm thoại phát hiện, đàm thoại ơrixtic, đàm thoại gợi mở). 13.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> Định nghĩa là phương pháp trao đổi giữa giáo viên và học sinh, trong đó giáo viên nêu ra hệ thống câu hỏi “dẫn dắt” gắn bó logic với nhau để học sinh suy lí, phán đoán, quan sát, tự đi đến kết luận và qua đó mà lĩnh hội kiến thức. Đặc điểm - Thầy tổ chức sự trao đổi giữa giáo viên và cả lớp, có khi giữa trò với nhau, qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức. - Trong phương pháp đàm thoại phát hiện có yếu tố tìm tòi, nghiên cứu của học sinh. Giáo viên giống như người tổ chức, còn trò có vẻ như người phát hiện. Khi kết thúc đàm thoại, học sinh có vẻ như người tự lực tìm ra chân lí. - Hệ thống câu hỏi- lời đáp mang tính chất nêu vấn đề để tạo nên nội dung trí dục chủ yếu của bài học là nguồn kiến thức và là mẫu mực của cách giải quyết một vấn đề nhận thức. Thông qua phương pháp này, học sinh không những lĩnh hội được nội dung trí dục mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng lời nói. Những yêu cầu sư phạm Trên cơ sở nghiên cứu nhiều giờ học tiến hành theo phương pháp vấn đáp tìm tòi, có thể nêu ra những yêu cầu sư phạm đối với phương pháp này: - Học sinh phải có ý thức về mục đích của toàn bộ hay một phần lớn cuộc đàm thoại. - Hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trò chỉ đạo có tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp. Hệ thống câu hỏi đó hướng tư duy của học sinh đi theo một logic hợp lí, kích thích - Hệ thống câu hỏi- vấn đề phải được lựa chọn và sắp xếp hợp lí. Câu hỏi được phân chia thành câu phức tạp và đơn giản. Câu phức tạp lại được chia ra thành những vấn đề nhỏ hơn cho phù hợp với trình độ học sinh, nhưng không nên chia ra quá nhỏ và rời rạc. Câu hỏi phải rõ và chính xác. - Số lượng và tính phức tạp của câu hỏi cũng như mức độ phân chia câu hỏi đó thành những câu hỏi nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào: + Tính chất phức tạp của vấn đề (đối tượng) nghiên cứu; + Trình độ phát triển của học sinh, kĩ năng và kĩ xảo câu hỏi tham gia các bài học vấn đáp. - Khi giải quyết xong mỗi câu hỏi - vấn đề, giáo viên cần tổng kết lại kết quả việc giải quyết vấn đề nêu ra. Giáo viên cần khéo léo kết luận vấn đề dựa vào ngôn ngữ, ý kiến và nhận xét của chính học sinh, có thêm những kiến thức chính xác và kết cấu lại kết luận cho chặt chẽ, hợp lí và súc tích. Làm như vậy học sinh càng hứng thú và tự tin. - Phải lưu ý đến việc điều khiển quản lí cả lớp trong lúc đàm thoại. Cần thực hiện hai nguyên tắc sau đây: 14.

<span class='text_page_counter'>(17)</span> + Đàm thoại không phải với từng học sinh riêng rẽ mà với toàn lớp. Phải đặt câu hỏi cho cả lớp và để cho học sinh đủ thì giờ suy nghĩ, sau đó chỉ định một học sinh trả lời và yêu cầu các học sinh khác chú ý theo dõi để sau đó có thể bổ sung. + Giáo viên phải luôn chủ động dắt dẫn lớp theo mình mà không bị động “theo đuôi” lớp. Phải chủ động, sáng tạo, bám sát kế hoạch đã vạch ra từ trước. b. Vận dụng Vận dụng mô hình dạy học khám phá khai thác phương pháp vấn đáp trong dạy GDCD cần lưu ý: - Hệ thống câu hỏi có tính sáng tạo, gây sự tò mò, hứng thú cho học sinh - Sau đó giáo viên khái quát kiến thức bằng sơ đồ, ngắn gọn, cô đọng, dễ hiểu - Trong quá trình vấn đáp để học sinh khám phá: giáo viên cần có những lời động viên, khen ngợi, khích lệ các em khi trả lời đúng. Và cũng không nên chê bai, so sánh với bạn khác khi trả lời sai.. Minh họa: Bài 13: Phòng chống tệ nạn xã hội (GDCD lớp 8) Hoạt động của Thầy. Hoạt động của trò. Tên hoạt động: Tìm hiểu tệ nạn xã hội Mục tiêu: Nhận thức đúng về tệ nạn xã hội và tác hại của nó Từ đó rút ra cho bản thân và tuyên truyền cho mọi người cách phòng, tránh Chuẩn bị: Giáo viên xd hệ thống câu hỏi Sơ đồ, hình ảnh Tiến hành: - Giáo viên cho HS xem một đoạn phim về tệ nạn XH... Đặt câu hỏi trước cả lớp hoặc trước nhóm... - Tệ nạn xã hội là gì?. 15.

<span class='text_page_counter'>(18)</span> - Là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối với đời sống xã hội. - Kể một số hành vi liên quan đến tệ - Cờ bạc; tiêm chích ma túy; Mại dâm ;Đua nạn xã hội? xe; Trộm cắp, cướp giật; Mê tín dị đoan v.v… - Theo em những nguyên nhân nào khiến con người sa vào tệ nạn xã hội? Phân loại đâu là nguyên nhân chủ quan và khách quan.. Nguyên nhân khách Nguyên quan quan. nhân. chủ. Gia đình bố mẹ bất Không làm chủ bản hòa, ly dị, ly thân thân Bị lừa, bị khống chế. Tò mò, ưa cảm giác lạ, thiếu hiểu biết. Gia đình nuông chiều, Lười nhác, ham chơi, quản lý chưa tốt thích ăn ngon mặc đẹp Chính sách mở cửa của nền kinh tế thị trường Ảnh hưởng xấu của văn hóa phẩm đồi trụy Bạn bè rủ rê lôi kéo. -Đây là ý kiến sai. Nguyên nhân chủ quan - Có ý kiến cho rằng chính nguyên là chính, vì không hiểu biết, không làm chủ nhân chủ quan là yếu tố quyết định được bản thân thì con người dễ bị sa ngã, khiến con người sa vào tệ nạn xã hội. sa vào các tệ nạn xã hội Em có đồng ý với ý kiến đó không? Vì Các nguyên nhân khác giáo viên sao? cùng học sinh cần làm rõ nó chỉ là nhân tố tác động chứ không phải là nguyên nhân chính... - Để phòng tránh tệ nạn xh cần sự kết hợp - Cần làm gì để phòng tránh tệ của nhiều yếu tố: nạn xã hội? + Bản thân cần học tập, rèn luyện để thành công dân tốt + Khắc phục hoàn cảnh khó khăn; chơi với bạn tốt... + Gia đình cần quan tâm giáo dục con em mình tránh xa các tệ nạn xã hội; xã 16.

<span class='text_page_counter'>(19)</span> hội cần tuyên truyền để phòng chống tệ nạn xã hội và có những chế tài nghiêm khắc đối với những vi phạm pháp luật... - Tác hại của tệ nạn xã hội đối với bản thân? gia đình? xã hội?. Bản thân + Ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần, đạo đức cá nhân + Lười lao động. + Vi phạm pháp luật. Gia đình + Kinh tế cạn kiệt, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần + Gia đình tan vỡ. Xã hội + Mất trật tự an toàn xã hội như:trộm cắp, cướp của, giết người.... Qua đó giáo viên phác thảo kiến thức cơ bản: Là gì? Vì sao? Như thế nào? Qua sơ đồ sau:. Tệ nạn xã hội. Cờ bạc; tiêm chích ma túy; Mại dâm; Đua xe; Trộm cắp, cướp giật…. + Suy thoái giống nòi, dân tộc.. Bản thân. chủ quan Hậu quả. khách quan. Gia đình. Xã hội. Như vậy, qua hệ thống câu hỏi học sinh khám phá được nguyên nhân của tệ nạn xã hội chính là từ nguyên nhân chủ quan. Từ đó có ý thức học tập, nỗ lực vượt qua những khó khăn trong cuộc sống...để phòng, tránh tệ nạn xã hội.. 17.

<span class='text_page_counter'>(20)</span> Ví dụ 2: Lao động tự giác và sáng tạo (bài 11- GDCD lớp 8) Hoạt động của Thầy. Hoạt động của trò. Tên hoạt động: Tìm hiểu về lao động tự giác và sáng tạo Mục tiêu: Hiểu thế nào là lao động tự giác và sáng tạo Từ đó rút ra cho bản thân biết hiểu về ý nghĩa, tác dụng của lao động tự giác và sáng tạo Chuẩn bị: Giáo viên xd hệ thống câu hỏi Sơ đồ, hình ảnh Tiến hành: Đặt câu hỏi trước cả lớp - Lao động là gì?. - Lao động là hoạt động có mục đích của con người tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội loài người.. - Thế nào là lao động tự giác và Lao động tự giác: là chủ động khi làm sáng tạo? mọi việc, không đợi ai nhắc nhở, không cần phải có áp lực từ bên ngoài Lao động sáng tạo:luôn suy nghĩ,cải tiến về mọi mặt như cải tiến kỹ thuật, điều kiện… để tiết kiệm công sức, tiền bạc…để nâng cao chất lượng hiệu quả công việc. - Trong thời đại chúng ta đang sống là - Tại sao phải lao động tự giác thời đại khoa học kỹ thuật phát triển: và sáng tạo? + Nếu không tự giác sáng tạo thì không tiếp cận được với sự tiến bộ của nhân loại. + Học sinh chúng ta không tự giác, sáng tạo sẽ không xứng đáng là lực lượng lao động mới của đất nước. + Không hoàn thiện được nhân cách trong học tập. 18.

<span class='text_page_counter'>(21)</span> Nếu không tự giác sáng tạo sẽ không đạt được kết quả cao sinh ra chán nản do vậy dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xh ảnh hưởng đến bản thân gia đình và xã hội. Lao động tự giác: Tạo cho cá nhân vui - Lao động tự giác và sáng tạo có vẻ, tự tin, và làm việc có hiệu quả lợi ích gì? Lao động sáng tạo: Tìm tòi, phát hiện cái mới từ đó tạo sự say mê, thúc đẩy tinh thần vượt khó trong học tập và lao động. - Lao động tự giác và lao động sáng - Mối quan hệ: Tự giác là điều kiện của tạo có mối quan hệ với nhau như sáng tạo và sáng tạo là động lực của tự thế nào? giác Lao động tự giác - Có ý kiến cho rằng nhiệm vụ của chúng ta là học tập chứ không phải lao động. Điều đó đúng hay sai? Vì sao?. Lao động sáng tạo. Đây là quan điểm sai vì học tập cũng là một loại hình lao động (lao động trí óc). Đây là một loại hình lao động trí tuệ đặc biệt.. - Thế nào là học tập tự giác? Học Học tập tự giác: Chủ động, không đợi tập sáng tạo? ai nhắc nhở, không do áp lực bên ngoài. Học tập tự giác biểu hiện: + Tự giác học bài, làm bài. + Đi học và về đúng giờ quy định. + Thực hiện đúng nội quy của trường lớp… Học tập sáng tạo: Luôn suy nghĩ, cải tiến, tìm tòi cái mới, tìm ra cách giải quyết tối ưu đạt chất lượng hiệu quả cao. - Em đã học tập tự giác và sáng tạo Ví dụ: chưa? + Tìm cách giải mới cho một bài toán. + Cải tiến phương pháp học tập…để có kết quả cao. 19.

<span class='text_page_counter'>(22)</span> - Học tập tự giác và sáng tạo giúp Tự giác và sáng rất cần thiết cho con người. Tự giác và sáng tạo giúp em có em điều gì? trách nhiệm hơn trong học tập, rút ngắn thời gian, công sức, để đạt mục đích một cách xuất sắc. Học tập tự giác và sáng tạo em sẽ được mọi người yêu quý, nể phục 2. Sử dụng sơ đồ trong dạy học GDCD và vận dụng a. Lý luận chung Phương pháp dạy học theo mô hình, sơ đồ thuộc nhóm phương pháp dạy học trực quan. Sử dụng phương pháp này phối hợp với phương pháp thuyết trình hoặc vấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có hiệu quả. Sơ đồ hóa kiến thức là một trong những hình thức trực quan của quá trình dạy học. Sơ đồ, mô hình là những hình ảnh có tính biểu tượng được xây dựng trên các sự vật, các yếu tố trong cấu trúc sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố đó dưới dạng trực quan cảm tính (quan sát được, cảm nhận được). Sơ đồ tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và logic bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ thể. Nhằm giúp cho người học nắm vững một cách trực tiếp, khái quát những nội dung cơ bản, đồng thời qua đó phát triển năng lực nhận thức cho người học Sử dụng sơ đồ kiến thức là hướng đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp với môn học GDCD. Ưu điểm của nhóm phương pháp dạy học trực quan: giúp cho người học có thể huy động sự tham gia của nhiều giác quan vào quá trình nhận thức; Tạo điều kiện để người học dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu; Làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò mò khoa học. * Đặc điểm của sơ đồ hóa kiến thức Một là, khối lượng kiến thức quyết định nội dung khách quan của sơ đồ. Hình thức chủ quan của sơ đồ phụ thuộc người lập sơ đồ. Vì vậy, cùng một khối lượng kiến thức nhưng có thể có nhiều cách sáng tạo, thiết kế sơ đồ khác nhau. Hai là, sơ đồ là những biểu tượng trực quan phản ánh một cách trừu tượng, khái quát các khái niệm, phạm trù, quy luật. Vì vậy, đòi hỏi sơ đồ phải phản ánh trung thành với khối lượng kiến thức mà nó mô tả. Ba là, sơ đồ nhằm giúp người học lĩnh hội kiến thức dễ dàng hơn. Vì vậy, phải có tính thẩm mỹ, không rập khuôn, khuyến khích người học tự thiết kế sơ đồ trên cơ sở kiến thức đã lĩnh hội.. 20.

<span class='text_page_counter'>(23)</span> Bốn là, sơ đồ hình thành trên cơ sở xác định các yếu tố nội dung trong các chương, các mục, mối liên hệ biện chứng giữa các đơn vị kiến thức…Khi giảng dạy cần vận dụng các thao tác so sánh, phân tích tổng hợp, trừu tượng, khái quát… So sánh với những quan điểm đối lập, bổ sung mở rộng vấn đề, phát triển tư duy logic. * Phương pháp dạy học theo sơ đồ là gì? Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học. Phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của người dạy và người học nhằm giúp người học hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng liên quan đến nội dung, nhiệm vụ dạy học dựa vào mô hình, sơ đồ của chúng. * Ưu điểm của phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức - Dễ phát huy tính tích cực của người học. Huy động tối đa các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức, lĩnh hội kiến thức. - Kiến thức được biểu diễn dưới dạng sơ đồ, ngắn gọn dễ nhớ. Học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi lĩnh hội và xây dựng kiến thức mới. Dùng sơ đồ minh họa tạo hiệu quả: trong một thời gian rất ngắn có thể khái quát được một khối lượng kiến thức lớn, vừa làm rõ bài giảng, vừa xâu chuỗi kiến thức và các mối liên hệ giữa chúng. - Tác động vào "kênh hình" của người học. Sẽ tạo ra sự hứng thú trong giờ học, bài giảng, tiết học trở nên sôi động. Phát triển óc quan sát, kích thích tư duy của người học, củng cố kiến thức bài giảng, hào hứng tìm tòi, đón nhận tri thức mới, có lòng yêu thích môn học. - Người học khám phá tri thức mới theo trình tự logic, giúp người học hiểu được bản chất quy luật. Thuận lợi cho quá tình tái hiện tri thức khi cần thiết. * Hạn chế của phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức - Do kiến thức được mô hình hóa nên rất ngắn gọn, không thể chi tiết, mở rộng, nếu người học không hiểu được bản chất sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình diễn giải. - Không nên sử dụng mô hình trực quan cho mảng kiến thức quá lớn nếu không người học sẽ không biết bắt đầu từ đâu để ghi nhớ và liên tưởng các phần kiến thức với nhau. Nếu sử dụng sơ đồ không đúng lúc, đúng chỗ hoặc quá lạm dụng phương pháp sơ đồ hóa thì sẽ làm cho người học bị mất phương hướng, không hứng thú cho việc tiếp thu kiến thức bài giảng. - Giáo viên cần hết sức lưu ý cho người học tính chất ước lệ của sơ đồ. Sự nhận thức biểu tượng trực quan đó chưa phải là sự nhận thức đầy đủ về lý. 21.

<span class='text_page_counter'>(24)</span> luận, mà mới chỉ là công cụ để xây dựng lý luận, để khẳng định và cụ thể hóa các kết luận có tính chất lý luận. Phải có sự mở rộng, liên hệ để tránh xa rời thực tiễn, gắn với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. *Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức - Giáo viên cần có trình độ chuyên môn vững vàng. - Người học cần có tài liệu đầy đủ. - Thích hợp với người học có tư duy sáng tạo, nhanh nhạy và tính cách hướng ngoại. - Nên tách các phần kiến thức, nội dung, các chủ đề bằng một vấn đề quan trọng nào đó. Sau đó liên hệ các kiến thức đó với nhau bằng nhiều mô hình sơ đồ. - Bên cạnh những sơ đồ khái quát các các bài, nếu cần có thể bổ sung những sơ đồ mở rộng bao hàm trí thức của các môn khoa học khác; hoặc những vấn đề của thực tiễn cuộc sống để có thể tăng sức thuyết phục đối với người học. * Một số dạng sơ đồ hóa kiến thức: - Sơ đồ nhánh: Quyền được bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự, chỗ ở, thư tín Quyền công dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Quyền khiếu nại, tố cáo, tự do ngôn luận…. - Sơ đồ vòng: Ví dụ sơ đồ sau, phản ánh mối liên hệ gắn bó giữa các đức tính để hình thành nên con người sống chủ động, sáng tạo.. Tự lập. Tự tin Sống chủ động, sáng tạo. Năng động, sáng tạo. Tự giác học, hoạt động xã hội. 22.

<span class='text_page_counter'>(25)</span> - Sơ đồ dưới dạng biểu bảng: Ví dụ về sự khác nhau giữa đạo đức và pháp luật Nội dung. Đạo đức. Pháp luật. Cơ sở hình thành. Đúc kết từ thực tế cuộc Do nhà nước ban hành sống và nguyện vọng của nhân dân qua nhiều đời. Hình thức thể hiện. Các câu ca dao, tục Các văn bản pháp luật, ngữ, các câu châm luật…trong đó quy ngôn… định các quyền, nghĩa vụ của công dân, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, cán bộ, công chức…. Biện pháp bảo đảm thực Tự giác, thông qua tác hiện động của dư luận xh lên án, khuyến khích, khen chê…. Bằng sự tác động của nhà nước thông qua tuyên truyền, giáo dục hoặc răn đe, cưỡng chế, xử lý hành vi vi phạm.. * Một số cách sử dụng phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa kiến thức Sử dụng sơ đồ trước khi lên lớp - Giáo viên yêu cầu học sinh tự đọc sách giáo khoa. Giao nhiệm vụ, thể hiện kiến thức đã lĩnh hội dưới dạng sơ đồ đối với từng chương, mục, phần. - Sử dụng sơ đồ giúp học sinh tự học. Giáo viên đưa ra sơ đồ kết hợp với việc giao nhiệm vụ để học sinh tự nghiên cứu hoàn thành bài giảng – học sinh tự giải thích sơ đồ trước khi lên lớp. - Học sinh tiếp tục hoàn thiện sơ đồ do giáo viên đưa ra. Hoặc yêu cầu học sinh phát triển, mở rộng sơ đồ, sáng tạo sơ đồ theo cách khác nhưng vẫn phù hợp kiến thức. Có thể giáo viên dựng sẵn khung, học sinh điền nội dung vào những chỗ trống. - Giáo viên yêu cầu học sinh phát hiện những lỗi sai trong sơ đồ giáo viên đưa ra. Sử dụng sơ đồ trong khi lên lớp Để tiến hành theo cách này, giáo viên cần có sự chuẩn bị trước, để sơ đồ khi thiết kế đảm bảo có tính khoa học và thẩm mỹ. Có sự chuẩn bị về bố cục. 23.

<span class='text_page_counter'>(26)</span> trên bảng (chia bảng làm hai nửa, một bên ghi các tên bài, mục, nội dung bài; bên kia từng bước dựng sơ đồ) - Giáo viên đưa ra sơ đồ để học sinh giải thích sơ đồ (trên cơ sở đã cho học sinh tự đọc trước ở nhà). - Trong khi diễn giảng, thuyết trình kết hợp với các phương pháp khác. Giáo viên từng bước xây dựng sơ đồ theo logic kiến thức. Giáo viên đưa ra sơ đồ cho học sinh quan sát, tổng hợp các mối liên hệ. Trong quá trình thuyết giảng cần kết hợp với các câu hỏi và cuối cùng là khái quát lại. - Giáo viên từng bước dùng sơ đồ để minh họa, khái quát tóm tắt nội dung hoặc tổng kết bài giảng. Sử dụng sơ đồ sau khi lên lớp Sử dụng sơ đồ trong quá trình ôn tập Có tác dụng hệ thống hóa kiến thức, tái hiện, củng cố bài – có thể tiến hành theo những cách tương tự như sử dụng sơ đồ trước khi lên lớp Trên đây là những cách cơ bản trong việc sử dụng phương pháp dạy học theo sơ đồ. Thực tế, khi sử dụng còn phụ thuộc vào các yếu tố khác. Hiệu quả của quá trình giảng dạy đòi hỏi sự sáng tạo, lựa chọn, kết hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. b. Vận dụng Ví dụ 2 : Khi dạy bài 16 “Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác” ( GDCD lớp 8) Sau khi tìm hiểu xong về quyền sở hữu, giáo viên có thể giới thiệu sơ đồ nhánh sau: Trực tiếp nắm Chiếm hữu. Quyền sở hữu. Sử dụng. Định đoạt. giữ, quản lý t/s. Khai thác giá trị sử dụng của t/s và hoa lợi từ giá trị của t/s. Quyền quyết định đối với t/s. Bán, tặng, cho. Để thừa kế Phá hủy, vứt bỏ…. 24.

<span class='text_page_counter'>(27)</span> Ở đây giáo viên đã vận dụng mô hình khám phá của Bruner ở góc độ: thiết kế cấu trúc kiến thức đơn giản, để học sinh dễ nhớ, dễ nắm bắt nhất. Sau hoạt động: tìm hiểu về nghĩa vụ tôn trọng sở hữu của người khác, giáo viên có thể giới thiêu bằng sơ đồ dạng vòng như sau:. Không được xâm phạm tài sản của người khác Gây thiệt hại về tài sản phải bồi thường theo quy định của PL. Nhặt được của rơi phải trả lại cho người sở hữu. Tôn trọng sở hữu của người khác. Khi mượn phải giữ gìn cẩn thận, làm hỏng phải bồi thường, sửa. Khi vay, nợ phải trả đầy đủ, đúng hạn. Khi dạy xong bài 15 “Bảo vệ di sản văn hóa” (GDCD 7): Giáo viên có thể khái quát kiến thức của bài qua sơ đồ sau, yêu cầu học sinh giải thích về các mối liên hệ giữa di sản văn hóa và quy định của pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa Xác định được logic của bài học: di sản văn hóa là gì? Cách phân loại? Ý nghĩa của bảo vệ di sản văn hóa? Ngững quy định của Nhà nước về bảo vệ di sản văn hóa. Từ đó, các em có ý thức trách nhiệm đối với việc: - Bảo vệ di sản văn hóa của đất nước. - Đưa hình ảnh văn hóa Việt Nam ra thế giới…. 25.

<span class='text_page_counter'>(28)</span> Di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa Di sản văn hóa vật thể. Ý nghĩa bảo vệ di sản văn hóa. Là sản phẩm tinh thần có giá trị ls-vh, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác… Di tích lịch sử-văn hóa: công trình xd, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.. Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị ls-vh. Bảo vệ cảnh đẹp đất nước; tài sản dân tộc; nói lên truyền thống dân tộc; thể hiện công đức của các thế hệ tổ tiên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ TQ; thể hiện kinh nghiệm của các dân tộc trên các lĩnh vực Di sản, di tích và cảnh đẹp đó cần được giữ gìn, phát huy trong sự nghiệp xd, phát triển nền vh tiên tiến, đậm đà bản sắc dt; đóng góp vào di sản vh thế giới Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản vh. Pháp luật quy định về Bảo vệ di sản văn hóa. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản vh Chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hóa Hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa Nghiêm cấm các hành vi. Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xd trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích ls-vh, danh lam thắng cảnh Mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di sản, cổ vật, bảo vật quốc gia… Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản vh để thực hiện những hành vi trái pháp luật.. Qua phương pháp sơ đồ hóa kiến thức, giáo viên giúp HS xác định được đâu là kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài. Từ đó, khuyến khích các em học bài, soạn bài theo hướng sơ đồ hóa kiến thức để nhớ lâu hơn tri thức đã được học.. 26.

<span class='text_page_counter'>(29)</span> Câu hỏi thảo luận: Anh (chị) hãy: - Vận dụng mô hình dạy học hành động khám phá của Bruner khai thác phương pháp đàm thoại theo tinh thần đổi mới qua một số hoạt động trong một bài cụ thể môn GDCD ở trường THCS. - Vận dụng mô hình dạy học hành động khám phá của Bruner khai thác phương pháp dạy học sơ đồ hóa kiến thức qua một số hoạt động trong một bài cụ thể môn GDCD ở trường THCS. II. Phương pháp trò chơi và phương pháp tổ chức diễn đàn thanh niên 1. Cơ sở lý luận phương pháp trò chơi và vận dụng a. Phương pháp trò chơi Trò chơi là một phương pháp rất có hiệu quả để thu hút sự tham gia của HS. Trong cuộc chơi, mọi người đều bình đẳng và đều cố gắng thể hiện hết mình. Vì vậy, tổ chức trò chơi chẳng những là biện pháp để tăng cường hứng thú trong học tập, nâng cao sự chú ý, thay đổi các trạng thái tâm lý mệt mỏi trong quá trình nhận thức mà còn là biện pháp rèn luyện các kỹ năng ứng xử, giao tiếp củng cố và phát triển khả năng tự tin của các em trong học tập và trong hoạt động xã hội Theo giáo trình Tâm lý học đại cương, khái niệm Trò chơi học tập là “Trò chơi có luật và những nội dung cho trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính xác hoá, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi” Ở nghĩa khác, tổ chức trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hiện những thao tác, hành động phù hợp với bài học Giáo dục công dân thông qua trò chơi nào đó *Bản chất của phương pháp trò chơi Bản chất của phương pháp trò chơi là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạt động bằng cách tự chơi, trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và tự đánh giá * Tác dụng: - Tăng cường khả năng chú ý của HS. - Nâng cao hứng thú cho người học, góp phần làm giảm mệt mỏi, căng thẳng trong học tập của HS. - Tăng cường khả năng giao tiếp giữa GV với HS và giữa HS với HS.. 27.

<span class='text_page_counter'>(30)</span> Sử dụng trò chơi trong học tập giúp hình thành kiến thức, kĩ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kĩ năng đã học. Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập nhằm xây dựng, củng cố, kiến thức, kĩ năng ở một nội dung nào đó của chương trình môn học. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kĩ năng mới là rất cần thiết để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. * Thành phần cơ bản của trò chơi học tập Nhận thức Thành phần cơ bản của trò chơi học tập là nội dung nhận thức của học sinh do giáo viên xác định dựa vào mục đích dạy học theo nội dung chương trình giáo dục, theo đặc điểm nhận thức của học sinh và phản ánh hoạt động dạy học của giáo viên. Luật chơi: ( Quy tắc chơi) - Luật chơi rất đa dạng: - Quy định hành động chơi và trình tự các hành động chơi (thường gồm các hành động khác nhau tạo thành một chuỗi, thường đi kèm với lời nói). - Điều khiển quan hệ giữa các bạn chơi. - Giới hạn hoặc cấm một số biểu hiện hành động hoặc nêu các hình thức phạt khi vi phạm luật chơi. Hành động chơi: Là hành động của học sinh thực hiện trong lúc chơi. Chủ yếu là những hành động nhận thức thông qua luật chơi để giải quyết nhiệm vụ nhận thức. Kết quả: Trò chơi học tập luôn có một kết quả nhất định. Tức là khi kết thúc học sinh hoàn thành một nhiệm vụ nhận thức nào đó. Nhờ đó mà người học tích cực tham gia vào những trò chơi tiếp theo. * Phân loại trò chơi học tập Có nhiều cách phân loại trò chơi học tập: - Phân loại theo mục tiêu dạy học thì có: Trò chơi hình thành kiến thức, trò chơi hình thành thái độ, trò chơi hình thành hành vi, thói quen… - Phân loại theo tiến trình bài học thì có: Trò chơi khởi động, trò chơi hình thành kiến thức và rèn kĩ năng, trò chơi ôn tập củng cố. - Phân loại theo hình thức tổ chức thì có: Trò chơi tập thể, trò chơi cá nhân, trò chơi trong lớp, trò chơi ngoài lớp…. 28.

<span class='text_page_counter'>(31)</span> * Quy trình xây dựng, thiết kế trò chơi: Thông thường khi xây dựng, thiết kế trò chơi học tập gồm có 4 bước như sau: - Bước 1: Chuẩn bị trò chơi - Bước 2: Lựa chọn các trò chơi - Bước 3: Xây dựng và thiết kế trò chơi - Bước 4: Cách tiến hành trò chơi Về chuẩn bị trò chơi - Nghiên cứu tài liệu + Chương trình sách giáo khoa + Hệ thống sách tham khảo: Trò chơi học tập cấp trung học cơ sở; sách báo, tạp chí giáo dục… - Nghiên cứu thực tế lớp học: + Nghiên cứu tình hình lớp học: có học sinh khuyết tật không, nhu cầu, sở thích, hoàn cảnh … + Tìm hiểu xem học sinh lớp yếu ở mạch kiến thức nào, để lựa chọn trò chơi cho phù hợp, giúp các em củng cố kiến thức để hiểu bài một cách chắc chắn. Về lựa chọn các trò chơi - Việc lựa chọn các trò chơi học tập phải đáp ứng những yêu cầu của mục đích dạy học. Các trò chơi phải đặt ra cho học sinh các nhiệm vụ học tập tương ứng với nội dung dạy học. Mỗi trò chơi cần có một vị trí đóng góp cụ thể trong tiến trình thực hiện mục đích dạy học. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu dạy học bộ môn hệ thống các trò chơi phải được lựa chọn sao cho đa dạng về chủ đề, phong phú về cách chơi. Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt (thay số bằng chữ, sắm vai, hái hoa dân chủ, …) từ sự thay thế linh hoạt tạo cho giáo viên có cơ hội tổ chức trò chơi phù hợp với đối tượng học sinh của mình…Để từ đó các em cảm thấy : “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Lựa chọn trò chơi phải đảm bảo các yếu tố: lứa tuổi, vừa sức; áp dụng vào khi nào trong tiến trình bài dạy và trong chương trình, thông thường là: + Sau khi hoàn thành một bài học. Cách này có ưu điểm là kích thích được sự hứng thú học tập của học sinh, giờ học tránh được không khí suy nghĩ căng thẳng + Sau khi hoàn thành một chương. Với cách này sẽ giúp cho học sinh hệ thống lại kiến thức một cách sinh động và hiệu quả. 29.

<span class='text_page_counter'>(32)</span> + Ngoài ra cũng có thể sử dụng trò chơi phù hợp để khởi động gây hứng thú khám phá bài học mới - Khi xây dựng và thiết kế trò chơi thường tuân thủ các nguyên tắc sau: + Phải dựa vào nội dung bài học; điều kiện về thời gian trong mỗi tiết học. +Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục; phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học; phải phù hợp với tâm lý học sinh, phù hợp với khả năng người hướng dẫn và cơ sở vật chất của nhà trường; phải tạo được hứng thú đối với học sinh. - Thiết kế trò chơi học tập thường qua các bước như sau: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm khởi động, ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào; đồ dùng đồ chơi; nêu luật chơi; số người tham gia; nêu cách chơi Về cách tiến hành trò chơi Giới thiệu trò chơi. - Nêu tên trò chơi. - Hướng dẫn cách chơi bằng cách vừa mô tả vừa thực hành, nêu rõ quy định chơi. Chơi thử ( không nhất thiết sử dụng cho tất cả các trò chơi) Thông qua chơi thử để nhấn mạnh luật chơi. Chơi thật (xé nháp) Nhận xét kết quả chơi, thái độ: - Giáo viên hoặc trọng tài là học sinh nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm. - Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội thắng (nếu có). - Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện. **Một số trò chơi thường sử dụng xen kẽ trong tiết dạy GDCD : Trò chơi “tiếp sức” Đây là trò chơi học sinh tự tìm hiểu thêm về các biểu hiện của sự chuẩn mực đạo đức, phân biệt từ cùng nghĩa, trái nghĩa với các chuẩn mực đạo đức hay hành vi thực hiện theo pháp luật. Cách thực hiện: - Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên ghi 1 biểu hiện, sau đó chạy về chỗ để bạn khác tiếp tục. Mỗi bạn thực hiện ghi 1 biểu hiện, không được ghi 2 lần. 30.

<span class='text_page_counter'>(33)</span> - Chia lớp thành 2 nhóm, các nhóm thảo luận tìm ra những biểu hiện hay các từ cần ghi - Giáo viên đưa ra hiệu lệnh; 2 nhóm thực hiện trò chơi. 1 em lên ghi 1 biểu hiện hoặc từ đã thảo luận. Khi 1 em ghi xong chạy về chỗ, em khác chạy lên ghi tiếp. Cứ thế cho đến hết giờ Lưu ý: Mỗi em chỉ được ghi một lần, 1 biểu hiện, nhóm nào ghi được nhiều biểu hiện thì nhóm đó thắng. Tương tự cũng có thể GV ghi sẵn các từ, các biểu hiện ra giấy yêu cầu học sinh chọn đúng và dán vào bảng phụ - Thời gian nhiều nhất một phút. Hết thời gian chơi, GV yêu cầu học sinh nhận xét. GV tuyên dương nhóm nào thực hiện được nhiều nhất. Ưu điểm: - Thời gian cho trò chơi ít; Lớp học sôi nổi sinh động; Nhiều em được tham gia; khắc sâu thêm kiến thức cho học sinh Nhược điểm: -. Lớp có thể sẽ ồn, có thể làm ảnh hưởng tới lớp khác. Trò chơi “sắm vai” Là trò chơi tổ chức cho học sinh thực hành làm thử 1 số cách ứng xử, xử lý tình huống giả định. Đây là phương pháp giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa quan sát được Cách thực hiện: - GV nêu chủ đề, chia nhóm, giao tình huống và yêu cầu cho từng nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai - Các nhóm thảo luận nhận xét cách ứng xử và cảm xúc của vai, ý nghĩa của cách ứng xử - GV nhận xét dịnh hướng cho học sinh về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho. Ưu điểm: - Học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và cách xử lý tình huống - Gây chú ý, hứng thú cho học sinh - Tạo điều kiện phát huy tính sáng tạo (GV nêu tình huống, học sinh viết kịch bản ) - Có thể thấy ngay tác động hiệu quả qua lời nói, cách ứng xử vai diễn. 31.

<span class='text_page_counter'>(34)</span> Hạn chế: - Có thể mất nhiều thời gian - Một số học sinh nhút nhát có thể không tham gia đóng vai. Hoặc có tham gia nhưng còn rụt rè, e thẹn chưa thể hiện tốt vai diễn - Sự lặp lại tình huống giữa các nhóm có thể gây nhàm chán đối với học sinh Lưu ý: - Tình huống phải phù hợp với nội dung, lứa tuổi, với trình độ học sinh - Tình huống không nên quá dài, quá phức tạp, vượt quá thời gian cho phép trong cấu trúc của tiết dạy Trò chơi “thử làm nhà báo” Đây là trò chơi để củng cố thêm những kiến thức, hay học sinh bày tỏ những ước mơ, những tương lai nguyện vọng của các em… Qua đó giúp các em mạnh dạn hơn trước đám đông. Giúp GV biết cách điều chỉnh những hành vi, suy nghĩ sai lệch. Hướng các em đến những khát khao tích cực Cách thực hiện: - Học sinh thay nhau làm nhà báo phỏng vấn các bạn - GV gợi ý cho học sinh tự đặt ra câu hỏi khi phỏng vấn. - Học sinh được phỏng vấn đứng dậy trả lời những câu hỏi mà nhà báo phỏng vấn Ưu điểm: - Tạo không khí sôi nổi trong lớp học - Học sinh mạnh dạn hơn, tự tin hơn trước đám đông giúp các em nhớ sâu hơn kiến thức đã học. - Giúp các em biết trình bày tâm tư và nguyện vọng của mình liên quan đến nội dung chủ đề - Tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh Nhược điểm: - Trong một thời gian ngắn chỉ được 1 số ít học sinh tham gia - Một số bạn rụt rè, e thẹn có thể làm ảnh hưởng và gián đoạn trò chơi Lưu ý: - Khi tổ chức trò chơi này, giáo viên yêu cầu học sinh phải nghiêm túc khi phỏng vấn hoặc khi trả lời, tránh cười cợt, nói đùa…. khi tham gia chơi - Luôn thay đổi phóng viên, phỏng vấn nhiều người - Câu hỏi phỏng vấn phải đúng trọng tâm bài học 32.

<span class='text_page_counter'>(35)</span> Trò chơi “ Nhanh tay nhanh mắt” Trò chơi này dùng cho học sinh thi đua nhau bằng cách nhanh tay nhanh mắt (nghe - nhìn). Câu hỏi đặt ra sau khi có hiệu lệnh là nhanh tay có tín hiệu trả lời. Nó dùng để thi đua giữa các tổ, nhóm, cá nhân nhằm khắc sâu nội dung bài học. Cách thực hiện : GV lần lượt đưa từng câu hỏi. Các nhóm nhanh tay có tín hiệu trả lời Nhóm nào có tín hiệu trước, nhóm đó được trả lời. Nếu trả lời không đúng sẽ mất quyền trả lời và quyền ấy được chuyển cho nhóm khác Ưu điểm: - Lớp học sôi nổi hơn, học sinh chú ý hơn khi học bài - Giúp các em khắc sâu hơn kiến thức đã học - Có sự thi đua giữa nhóm này với nhóm khác Nhược điểm: - Lớp sôi nổi quá dễ ảnh hưởng ồn ào tới lớp khác - Những em chậm chạp, nhút nhát khó có cơ hội tham gia tốt trò chơi này Trò chơi “ Hái hoa dân chủ” Đây là trò chơi được tổ chức trong các tiết ôn tập, ngoại khoá, thực hành nhằm kiểm tra vốn kiến thức mà các em đã học. Những hành vi thái độ, cách ứng xử của các em được ghi trong các câu hỏi ở mỗi bông hoa nhằm thay đổi hình thức ôn tập Cách thực hiện: - GV đưa ra một loạt câu hỏi đã ghi sẵn ra giấy gắn vào hoa trang trí trên cây hoa đẹp mắt, tạo sự hứng thú cho học sinh. Mỗi học sinh lần lượt lên hái một bông hoa- câu hỏi. Học sinh đọc to câu hỏi cho cả lớp nghe và trả lời. GV nhận xét cho điểm Ưu điểm - Trò chơi này em nào cũng có thể tham gia; học sinh hệ thống lại được kiến thức đã học; lớp trật tự bởi học sinh phải chú ý nghe bạn trả lời; rèn luyện thêm tính tự tin cho các em rụt rè nhút nhát Nhược điểm: - Tốn nhiều thời gian nên không thường xuyên tổ chức nhiều ở các tiết học - Gv mất nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị trò chơi - Hình thức trò chơi lặp đi lặp lại dễ dẫn đến sự nhàm chán. 33.

<span class='text_page_counter'>(36)</span> Lưu ý: - GV phải chuẩn bị câu hỏi trước khi tổ chức trò chơi; chuẩn bị cây hoa, trang trí cho thật hấp dẫn; nhắc nhở học sinh chuẩn bị bài; bố trí không gian. Nên tổ chức xen kẽ với một số hoạt động khác Thi hát dân ca - đọc ca dao tục ngữ: Trò chơi này giúp các em tìm hiểu thêm một số bài dân ca, bài hát về các chủ đề liên quan đến bài học Cách thực hiện : - Tuỳ theo nội dung bài học mà giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị - Chia nhóm: Có thể chia từ 2,3 đến 4 nhóm. (Thường thì 2 nhóm dễ chơi hơn) - Đại diện nhóm lên bốc thăm xem nhóm nào hát (đọc ca dao tục ngữ) trước. - Cử nhóm này thực hiện sau một bài hát (1 câu ca dao-tục ngữ) rồi đến nhóm khác tiếp tục. Cứ thế cho đến hết thời gian. Nhóm nào hát được nhiều bài hát. Đọc được nhiều ca dao tục ngữ hơn thì nhóm đó thắng - Gv tuyên dương nhắc nhở dặn dò học sinh khi kết thúc trò chơi. Ưu điểm : - Học sinh được thể hiện mình trước đông người, qua đó các em tự tin hơn; khắc sâu thêm nội dung bài học. Nhược điểm: - Nếu không tính toán tốt về thời gian thì trò chơi sẽ ảnh hưởng đến thời gian các hoạt động khác - Có thể chỉ có một số em mạnh dạn, tự tin, hát hay tham gia. Những em rụt rè, e thẹn thiếu tự tin không dám tham gia Trò chơi ô chữ Trò chơi gồm các câu hỏi và câu trả lời ẩn sau những ô chữ. Đây là hoạt động giúp các em củng cố bài học đồng thời phát huy khả năng tư duy, phán đoán logic, liên kết, có thể tổ chức trong các tiết học, ôn tập…. Cách thực hiện: - Gv chuẩn bị phần câu hỏi - câu trả lời cùng với bảng ô chữ - Ô chữ gồm hàng ngang là những câu trả lời cho những câu hỏi nhỏ và hàng dọc là từ khoá lớn liên quan đến bài học - Chia nhóm: Thường chia thành 2 nhóm, hoặc tổ chức theo hình thức trả lời cá nhân. 34.

<span class='text_page_counter'>(37)</span> - Đại diện mỗi nhóm chọn bất kỳ 1 hàng ngang và trả lời câu hỏi tương ứng. Trả lời đúng, ô chữ hàng ngang đó sẽ hiện lên, trả lời sai sẽ bị mất quyền và nhường cơ hội trả lời cho nhóm còn lại. - Cứ tiếp tục trả lời xoay vòng 2 đội để lần lượt mở từng hàng ngang gợi ý, từ đó tìm ra từ khoá - Mỗi hàng trả lời đúng được 5 điểm, tìm được từ khoá lớn được 15 điểm (cách thức tính điểm có thể thay đổi tuỳ vào giáo viên) Sau khi từ khoá lớn được tìm ra, đội nào nhiều điểm hơn sẽ thắng. Kết thúc trò chơi Ưu điểm: - Tạo hứng thú cho các em học sinh - Củng cố khắc sâu kiến thức bài học - Rèn luyện óc tư duy nhanh nhạy và sự phán đoán tức thời - Hình thức thi đua giữa các nhóm khiến tiết học không bị nhàm chán Nhược điểm: - Gv mất nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị - Một số em kém tự tin, rụt rè không dám đứng lên đại diện trả lời - Khả năng trả lời thiên về các em nhanh nhạy, làm cho một số em khác có xu hướng ỷ lại không tham gia trò chơi Lưu ý: - Gv phải chuẩn bị theo nội dung chủ đề bài học - Có thể thay đổi hình thức trả lời linh động (ví dụ: Để nhóm 2 chọn người đại diện trả lời của nhóm 1 và ngược lại) để tạo sự công bằng và đòi hỏi tất cả các học sinh trong từng nhóm phải suy nghĩ để sẵn sàng trả lời nếu mình được chọn là người đại diện - Cần tính toán thời gian để tránh ảnh hưởng đến các hoạt động học tập khác. b. Vận dụng phương pháp trò chơi thiết kế một số hoạt động dạy học nhằm khám phá một số điểm kiến thức trong bài học GDCD Để tạo cho học sinh sự tò mò, mong muốn tìm hiểu kiến thức cần biết, giáo viên có thể đưa ra trò chơi phù hợp với kiến thức bài học. Chẳng hạn khi dạy BÀI 13: QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM VIỆT NAM (LỚP 7), giáo viên có thể kích thích sự tò mò của các em qua trò chơi sắm vai tạo tình huống liên quan đến bài học (xem phần minh hoạ ở bên dưới) từ đó tạo cho người học có nhu cầu giải quyết sự tò mò ấy. Đây là điểm thuận lợi cho giáo viên truyền thụ kiến thức bài học một cách tốt nhất…hay cũng có thể sử dụng một trò chơi cho phần 35.

<span class='text_page_counter'>(38)</span> củng cố bài học (trò chơi “nhanh tay nhanh mắt”) ta có thể sử dụng hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm a,b,c,d theo trình tự cấu trúc kiến thức bài học…Sự trả lời đúng, sai của học sinh đều được tôn trọng. Sau mỗi kiến thức giáo viên cần có kết luận qua đáp án…cứ thế cho đến câu hỏi cho kiến thức cuối cùng của bài được đưa ra và giải quyết...Nội dung của bài học được kết luận sau khi giải quyết hệ thống các câu hỏi mà giáo viên đưa ra thông qua. Các cấu trúc của kiến thức, trình tự cũng sẽ được thể hiện rõ trong trò chơi ấy. Kết thúc trò chơi ngoài phần thưởng (nếu có) hoặc lời khen... của giáo viên, thông tin phản hồi từ học sinh sẽ được thể hiện rõ qua hoạt động ấy…chúng ta sử dụng trò chơi này cho một hoạt động củng cố khi dạy bài 14: THỰC HIỆN TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ( Lớp 6 )… GV: Để thực hiện tốt trật tự an toàn giao thông, mời các em tham gia trò chơi trả lời nhanh các câu hỏi sau đây (Giáo viên có thể chia nhóm: Thường chia thành 2 nhóm, hoặc tổ chức theo hình thức trả lời cá nhân…) Câu1: Hàng năm ở Việt Nam có khoảng bao nhiêu người chết vì tai nạn giao thông? A. Khoảng 9000 người. C. Khoảng 11.000 người. B. Khoảng 10.000 người. D. Khoảng 12.000 người. Đại diện nhóm trả lời…sau mỗi kiến thức giáo viên cần có kết luận qua đáp án …các câu tiếp theo cũng tiến hành tương tự … Câu 2: Yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến tai nạn giao thông? A. Phương tiện. C. Con người. B. Cơ sở hạ tầng. D. Môi trường. Đáp án:……... Câu 3: Xem hình ảnh và cho biết vụ tai nạn giao thông trên xảy ra tại địa điểm nào của thành phố Pleiku?. A. Đường Phan Đình Phùng. C. Đường Hùng Vương. B. Đường Lê Lợi. D. Đường Phạm Văn Đồng Đáp án:…. Câu 4: Ở những nơi không có vỉa hè người đi bộ phải đi như thế nào là đúng? A. Đi bên trái đường B. Đi bên phải đường 36.

<span class='text_page_counter'>(39)</span> C. Đi sát mép đường về phía bên phải D. Đi sát mép đường về phía bên phải. Đáp án:…. Câu 5: Xem hình ảnh cho biết biển báo sau đây là nhóm biển báo gì?. A. Nhóm biển chỉ dẫn. B. Nhóm biển báo cấm. C. Nhóm biển báo nguy hiểm. D. Nhóm biển hiệu lệnh. Đáp án:. Câu 6: Xem hình ảnh cho biết có bao nhiêu nhóm biển báo hiệu giao thông đường bộ?. 4. 3. 2. 1. 6. 5. A. 4. C. 3. B. 5. D. 6. 6. Đáp án:…. Câu 7: Biển báo sau đây nói lên ý nghĩa gì? A. Biển chỉ dẫn người đi xe đạp B. Biển báo đi xe đạp nguy hiểm. C. Biển báo được đi xe đạp D. Biển báo cấm đi xe đạp. Đáp án:…. 37.

<span class='text_page_counter'>(40)</span> Câu 8: Biển báo sau đây nói lên ý nghĩa gì? A. Đường dành cho người đi bộ B. Cấm người đi bộ. C. Người đi bộ qua đường D. Chổ đi bộ nguy hiểm. Đáp án:…. Câu 9: Trẻ em dưới bao nhiêu tuổi không được đi xe đạp người lớn? A. Dưới 11 tuổi. B. Dưới 12 tuổi. C. Dưới 13 tuổi. D. Dưới 14 tuổi. Đáp án:…. Câu 10: Trẻ em bao nhiêu tuổi được đi xe máy có dung tích xi lanh dưới 50cm3? A. Đủ 15 tuổi đến dưới 17 tuổi B. Đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi C. Đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi D. Đủ 17 tuổi trở lên. Đáp án:…. Câu 1: Hành động nào sau đây là không đúng quy định về an toàn đường sắt? A. Chăn thả trâu bò và chơi đùa trên đường sắt B. Thò đầu chân tay ra ngoài khi tàu đang chạy C. Ném đất đá vật nguy hiểm lên tàu và từ trên tàu xuống D. Tất cả các đáp án trên. Đáp án:…. Như vậy sau khi trò chơi kết thúc, sự tò mò đã được giải quyết và đây cũng chính là thiết kế trong kế hoạch của giáo viên. Nội dung cơ bản bài học được kết luận…và giáo viên qua hoạt động này cũng đã nhận được thông tin phản hồi từ người học để giáo viên có thể nắm được các em nhận thức bài học đến đâu 2. Phương pháp tổ chức diễn đàn thanh niên và vận dụng a.Phương pháp tổ chức diễn đàn thanh niên *Đặc điểm: Diễn đàn là hình thức tổ chức cho thanh niên được bày tỏ quan điểm, ý kiến về một vấn đề nào đó (văn hóa, chính trị xã hội) vừa có tính thời sự vừa có tính lý luận, được chuẩn bị trước. Trong khi trình bày, diễn giả có thể nêu lên các băn khoăn, thắc mắc mà bản thân chưa giải đáp được. Người dự có thể hỏi, có thể chất vấn diễn giả về những điều chưa rõ, chưa đồng tình… và mọi người cùng trao đổi tìm ra ý kiến chung, tiếng nói chung về vấn đề cần trao đổi. Song cần nhớ không nhất thiết phải áp đặt một quan điểm nào đó là hoàn toàn đúng, mọi ý kiến đều được trân trọng, bảo lưu. Việc lựa chọn đúng, sai nên hay không nên làm là tùy nhận thức của mỗi người dự. 38.

<span class='text_page_counter'>(41)</span> Cần nhớ khi vận dụng hình thức diễn đàn vào dạy học giáo dục công dân thì không thể bỏ lửng những vấn đề tranh cãi đúng, sai của học sinh. Khi tổng kết diễn đàn, giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp hoặc người dự có uy tín (chủ trì diễn đàn) cần bày tỏ ý kiến có lí, có tình, cảm hóa được người nghe, thể hiện sự ủng hộ quan điểm đúng, không phê phán gắt gao quan điểm sai hay chưa đúng của học sinh. Nhất thiết phải định hướng được dư luận theo hướng tích cực. *Tác dụng của hình thức diễn đàn Học sinh được chuẩn bị trước, hình thức này rèn cho học sinh biết suy nghĩ, biết cách lập luận (bằng cơ sở khoa học, tìm ví dụ minh họa), biết xây dựng đề cương cho một vấn đề cần trình bày, kiến thức sẽ sâu sắc hơn Giáo dục các em có ý thức trách nhiệm về bản thân trước tập thể, trước diễn đàn. Rèn luyện được rất nhiều kỹ năng như: Kỹ năng nắm bắt ý kiến của người khác, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng tổ chức, tự quản v.v… *Lưu ý khi sử dụng hình thức diễn đàn: Không phải bài nào cũng tổ chức theo hình thức diễn đàn được. Trong chương trình lớp 9 có một số bài nên tổ chức diễn đàn theo gợi ý Tổ chức diễn đàn theo lớp, theo khối lớp. Học sinh cần chuẩn bị trước, quán triệt sâu sắc mục tiêu, yêu cầu, nội dung, cách thức tổ chức. Khi mỗi học sinh chuẩn bị đề cương trao đổi, giáo viên cần gợi ý, giúp cho học sinh có suy nghĩ sắc sảo, gợi ý nguồn tư liệu và người có thể giúp các em… để các em biết cách tiếp cận thông tin, thu thập dữ kiện. Chủ trì diễn đàn nhất thiết phải có giáo viên, chủ tọa diễn đàn nên có vài ba người (có thầy cô giáo, học sinh, đại biểu dự) và có thư ký. Cần lưu ý: không khí diễn đàn phải sôi nổi, có ý kiến tranh luận, bổ sung, thể hiện quan điểm suy nghĩ độc lập của học sinh. Tránh không khí căng thẳng, đồng thời cũng tránh không khí trầm lắng. Có thể có tiết mục văn nghệ xen kẽ cho sinh động và đỡ mệt mỏi. Khi trao đổi không nhất thiết chỉ có ý kiến của trò. Khi cần, khi quá trầm lặng hoặc khi căng thẳng nên có ý kiến thầy cô, đại biểu tham dự. b. Vận dụng phương pháp diễn đàn. Tuỳ từng bài có thể chọn phương pháp này xen kẽ cùng các hoạt động khác. Trong phạm vi và thời gian giới hạn, chúng tôi tập trung tìm hiểu một vài hoạt động cơ bản trong BÀI 13: QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM VIỆT NAM ( LỚP 7) để vận dụng mô hình khám phá Bruner qua phương pháp diễn đàn. 39.

<span class='text_page_counter'>(42)</span> I. Mục tiêu bài học: 1. Về kiến thức: - Hiểu được một số quyền cơ bản và bổ phận của trẻ em Việt Nam, hiểu được vì sao phải thực hiện tốt các quyền và bổ phận đó 2. Về kĩ năng: - Giáo dục học sinh tự rèn luyện bản thân, biết tự bảo vệ quyền và thực hiện tốt các bổn phận; biết nhắc nhở mọi người cùng thực hiện 3. Về thái độ : - Giáo dục học sinh biết ơn sự quan tâm chăm sóc của xã hội và gia đình; phê phán đấu tranh với các hành vi vi phạm quyền trẻ em và không thực hiện đúng bổn phận của mình II. Các kĩ năng sống được giáo dục trong bài : - Kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng. - Kĩ năng tư duy phê phán - Kĩ năng giải quyết vấn đề (xử lí tình huống) III. Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng : - Phương pháp diễn đàn ( trọng tâm ) - Phương pháp thảo luận nhóm - Phương pháp giải quyết vấn đề (xử lí tình huống) - Phương pháp đàm thoại -Trò chơi “ Sắm vai” IV.Tài liệu và Phương tiện dạy học : - Sách giáo khoa, sách giáo viên, Hiến pháp 1992,Bộ luật dân sự, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em - Bút dạ, giấy - Máy tính, đèn chiếu, đầu video... V. Tiến trình dạy học : 1. Ổn định tổ chức: 2. Khám phá (Tạo ra sự tò mò không chắc chắn từ phía người học) Giúp HS tìm hiểu nội dung mới của bài học thông qua một trò chơi sắm vai. Nội dung trò chơi như sau:Trên đường đến trường, ba em học sinh (Sơn, Phương, Thu) bỗng thấy một cậu bé bị bố lôi xềnh xệch trên đường. Vừa lôi ông ấy vừa mắng chửi cậu bé. Chưa thoả, ông ta chốc chốc lại đá vào mông cậu ấy…. 40.

<span class='text_page_counter'>(43)</span> Thấy vậy Sơn bực mình phản đối: “Ông ấy đã vi phạm quyền chăm sóc và bảo vệ trẻ em” - Vi phạm? là sao? Phương lên tiếng… Tớ nghĩ bố thì có quyền đánh con chứ? Ông ấy chả là bố của cậu ấy còn gì? Lúc nảy tớ nghe cậu ấy vừa khóc vừa gọi bố!... bố! đấy thôi! - Ừ!...Tớ cũng nghĩ như Phương, Sơn ạ!Thu nói! Chắc cậu ấy hư nên bị phạt đó… Ba người bạn tranh luận không phân thắng bại đến cửa lớp lúc nào không hay…cô giáo Giáo dục công dân đi sau lưng nhóm bạn và đã nghe được tất cả…Cô bước vào lớp nhìn ba cu cậu nhoẻn miệng cười và nói: để hiểu được sự đúng sai trong hành động của hai bố con kia, mời chúng ta cùng tìm hiểu bài học 13: QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM VIỆT NAM (Lớp 7) Hoạt động của GV- HS. Nội dung học sinh ghi. *Hoạt động 1 : GV cho HS làm việc theo cặp, quan sát tranh trong SGK, xem băng hình ...về các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ em. I. Giới thiệu các quyền và bổn phận. (đã giao cho học sinh chuẩn bị trước), đề nghị học sinh nêu các quyền và bổn phận của trẻ em được thể hiện trong băng, tranh ảnh.... Cho học sinh liên hệ với các quyền của trẻ em trong công ước liên hiệp Quốc đã học ở bài 12 năm lớp 6. a. Quyền của trẻ em Việt Nam : - Quyền được khai sinh và có quốc tịch... - Quyền được sống chung với cha mẹ và được hưởng sự chăm sóc của các thành viên trong gia đình. - Các cặp ngồi gần nhau trao đổi suy nghĩ của mình về vấn - Quyền được học tập vui chơi, giải trí, được tham gia hoạt động văn hoá thể đề giáo viên đề nghị .... thao... Thời gian thảo luận 5phút - Quyền được bảo vệ tính mạng , thân thể, danh dự và nhân phẩm... b. Bổn phận của trẻ em Việt Nam : - Trong gia đình : + Yêu quí, kính trọng, hiếu thảo, vâng lời, giúp đỡ ông bà, cha, mẹ, + Yêu thương đùm bọc, chăm sóc giúp. 41.

<span class='text_page_counter'>(44)</span> - Cho học sinh bày tỏ ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến các nội dung trên.... đỡ anh chị em - Trong xã hội : + Yêu quê hương đất nước, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc + Tôn trọng pháp luật.... *Hoạt động 2 :. + Tôn trọng lễ phép với người lớn, - Cho Học sinh đọc truyện một thương yêu em nhỏ... tuổi thơ bất hạnh Chăm chỉ học tập và rèn luyện đạo đức. Tổ chức diễn đàn cho HS bày tỏ ý kiến của mình theo chủ đề : Theo em vì sao cần thực hiện tốt các quyền và bổn phận ?. Cần thực hiện tốt các quyền và bổn phận là vì.... Cho biết những nguyên nhân nào đưa Thái đến con đường phạm tội ? Nhận xét về những quyền cơ bản của trẻ em mà Thái không được hưởng và nó đã ảnh hưởng đến Thái như thế nào ? Bản thân em và các anh chị em trong gia đình đã được hưởng những quyền nào, quyền nào chưa được hưởng ? Vì sao? Những bạn ở hoàn cảnh Thái cần làm gì để trở thành người công dân có ích cho xã hội ? - HS thảo luận nhóm: cử đại diện trình bày ý kiến của nhóm mình. - Các nhóm thi đua trình bày ý kiến, sau đó cho HS nhận xét, đánh giá - GV: Bổ sung, kết luận, củng cố nội dung cần truyền thụ Hoạt động 3 : -Vai trò, trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, xã hội trong 42.

<span class='text_page_counter'>(45)</span> việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em ? Sử dụng hình thức học độc lập, cho học sinh tự tìm hiểu nội dung c trong sách giáo khoa - GV đề nghị học sinh kể những việc làm thể hiện trách nhiệm và sự quan tâm chăm sóc giáo dục trẻ em của gia đình. II. Vai trò, trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc, giaó dục trẻ em : + Cha mẹ hoặc người đỡ đầu là người trước tiên chịu trách nhiệm chăm sóc nuôi dạy trẻ, tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ + Nhà nước và xã hội tạo điều kiện tốt nhất để bảo vệ quyền lợi trẻ em, có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục bồi dưỡng trẻ em thành người công dân tốt. V. Củng cố : 1. Cho Hs đọc tư liệu tham khảo, nếu có nội dung nào HS chưa hiểu thì yêu cầu Gv giải đáp. 2. Hướng dẫn HS làm phần bài tập trong sgk trang 41,42 VI. Dặn dò : - Học sinh làm tiếp bài tập trong sgk nếu còn; HS đọc trước bài mới, chuẩn bị cho tiết học sau... Như vậy với việc sử dụng phương pháp diễn đàn xen kẽ trong tiết học hoặc trong một buổi ngoại khóa, giáo viên đã đưa ra các vấn đề cần tranh luận liên quan đến điểm kiến thức trong nội dung bài học. Sự tò mò muốn khám phá kiến thức ở các câu hỏi đặt ra sẽ là điều kiện để thầy và trò cùng thực hiện nhiệm vụ truyền thụ và tiếp thu bài học nhanh hơn qua cấu trúc về hệ thống kiến thức mà giáo viên đã chủ động thiết kế… Diễn đàn kết thúc với những kết luận chuẩn nhất cũng là kiến thức mà mục tiêu bài học đã đặt ra. Và giáo viên qua hoạt động này cũng đã nhận được thông tin phản hồi từ người học để có thể nắm bắt sự nhận thức của họ về nội dung bài học đến đâu. Câu hỏi thảo luận - Anh (chị) hãy vận dụng mô hình dạy học hành động khám phá của Bruner khai thác phương pháp phương pháp trò chơi và phương pháp diễn đàn theo tinh thần đổi mới qua một số hoạt động trong một bài cụ thể môn GDCD ở trường THCS. - Thực trạng dạy, học môn GDCD ở trường THCS nơi anh (chị) công tác. Chỉ ra giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân 43.

<span class='text_page_counter'>(46)</span> III. Phương pháp thảo luận nhóm và Phương pháp trực quan 1. Khái niệm về phương pháp thảo luận nhóm và vận dụng a. Phương pháp thảo luận nhóm *Khái niệm: Thảo luận nhóm được xem như một loại bài tập tự học bắt buộc, là khâu thực hành đầu tiên trong đó học sinh tập dượt và tự nghiên cứu các vấn đề được giáo viên giao phó. Đây cũng là một trong những hình thức dạy học giúp phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức. Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học sẽ giúp cho học sinh tham gia tích cực vào hoạt động học, giúp các em lắng nghe và học cách suy nghĩ về những ý kiến, quan điểm khác nhau của mọi người, chia sẻ kinh nghiệm, quan điểm của người khác và của chính mình, đánh giá tính lôgic của các vấn đề ấy, đưa ra ý kiến cùng nhau giải quyết vấn đề chung. Nếu sự học tập của học sinh phụ thuộc vào mức độ xử lý kiến thức thì trong quá trình thảo luận, giải thích, tóm tắt, đặt câu hỏi…sẽ làm cho các em học tập có hiệu quả hơn, những tri thức tiếp thu được sẽ sâu bền trong trí nhớ và khi cần sẽ vận dụng thành công trong hoạt động thực tiễn. Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học đòi hỏi cao độ tính tích cực của học sinh.Vì vậy nó trở thành cách dạy chủ yếu trong dạy học tích cực, đòi hỏi mỗi giáo viên phải biết sử dụng tốt trong quá trình dạy học * Chức năng cơ bản phương pháp: Chức năng nhận thức: giúp học sinh mở rộng đào sâu tri thức, biết cách giải quyết thắc mắc khoa học có liên quan. Chức năng giáo dục: Giúp học sinh tự bồi dưỡng cho mình niềm tin khoa học, thói quen làm việc khoa học, khắc phục hạn chế cá nhân (nhút nhát, lười suy nghĩ…) Chức năng kiểm tra, tự kiểm tra: Qua thảo luận nhóm giáo viên là người trực tiếp điều khiển sẽ có điều kiện để thu được những thông tin ngược về tình trạng nắm bắt tri thức của học sinh, sinh viên…Từ đó uốn nắn, điều chỉnh kịp thời cho các em đồng thời tự điều chỉnh hoạt động giảng dạy của bản thân cho phù hợp. *Tiến hành thảo luận nhóm: Chuẩn bị: * Đối với người dạy: - Lập kế hoạch thảo luận nhóm về nội dung và tổ chức. - Giao vấn đề chuẩn bị thảo luận nhóm để học sinh nghiên cứu, chuẩn bị trước. * Đối với người học: 44.

<span class='text_page_counter'>(47)</span> - Lựa chọn và đăng ký vấn đề sẽ thảo luận - Sưu tầm tài liệu tham khảo, trang thiết bị cần thiết - Dự kiến thời gian đọc tài liệu, viết báo cáo, làm thí nghiệm - Những học sinh sẽ không báo cáo cũng phải đọc tài liệu tham khảo và phải chuẩn bị đề cương phát biểu ý kiến và nêu câu hỏi về vấn đề cần tìm hiểu hoặc bình luận về tài liệu tham khảo. - Tất cả học sinh của tổ (nhóm) phải có bản đề cương phát biểu ý kiến, không phải chỉ riêng những học sinh có tham luận mới có đề cương. Để mọi người có thể thực hiện việc này một cách nghiêm túc thì giáo viên có thể thu đề cương sau khi thảo luận xong. Trình tự một buổi học thảo luân nhóm: Về cơ bản chúng ta nên tiến hành theo 7 bước sau: Bước 1 Người điều khiển (LT,NT). 2. 3. Người điều Người khiển điều khiển ( LT,NT) (LT,NT). 4. 5. 6. 7. Người Gv điều khiển. Người điều Gv khiển. ( LT, NT). ( LT,NT). - hỗ trợ - tóm tắt - nhận Công - Kiểm tra - công bố Chỉ định -Điều báo cáo và xét, việc sự chuẩn tiến trình, người báo khiển thảo cho bị. danh sách cáo và luận, tranh luận - nhắc lại thứ tự các nhận xét báo cáo mục đích, định hướng. người tranh luận điều khiển (nêu câu hỏi làm trọng tài). đánh giá. -nêu một số vấn đề mới cần suy nghĩ. Để thực hiện phương pháp làm việc và thảo luận của nhóm thành công, giáo viên cần làm tốt các việc sau: - Phân chia lớp học thành các nhóm, tạo điều kiện cho nhóm làm việc thuận lợi. Có nhiều cách phân nhóm:Trước khi giao nhiệm vụ, nhóm có thể phân theo ngẫu nhiên, cũng có thể phân nhóm theo một số nguyên tắc cụ thể. - Mỗi nhóm cử trưởng nhóm và thư kí (nên cử luân phiên) để điều hành và ghi chép về quá trình thực hiện nhiệm vụ của nhóm - Nhóm trưởng cần dẫn dắt buổi thảo luận, khuyến khích mọi thành viên trong nhóm cùng tham gia, tránh các cuộc tranh cãi tay đôi giữa cá nhân và điều khiển cuộc thảo luận đi đúng hướng. - Tạo điều kiện cho mỗi thành viên đều phát biểu tất cả các ý kiến và suy nghĩ của mình một cách tự do và bình đẳng. 45.

<span class='text_page_counter'>(48)</span> - Giáo viên cần chuẩn bị và gợi ý cho chương trình làm việc và thảo luận của nhóm thật sinh động và có hiệu quả; tạo bầu không khí chân thành, cởi mở trong thảo luận. Giáo viên cần để cho học sinh tự thảo luận độc lập với nhau, chỉ can thiệp khi thấy thật sự cần thiết. - Cần khẳng định những kết quả về việc làm của học sinh, chỉ ra những vấn đề cần phải suy nghĩ và làm rõ thêm. - Các nhóm hoạt động theo nội dung đã được phân công. Trong lúc thảo luận, giáo viên đi lại quan sát, giải thích nhiệm vụ và trao đổi với học sinh nếu thấy cần thiết. - Thư kí ghi lại toàn bộ các diễn biến của cuộc thảo luận cả các ý kiến đã thống nhất, các ý kiến chưa được thống nhất cần được làm rõ. - Khi hết thời gian thảo luận, các nhóm cử đại diện lên trình bày kết quả hoạt động nhóm của mình. Các nhóm khác chú ý nghe, cho ý kiến bổ sung, hoặc yêu cầu làm rõ hơn những nội dung mà mình quan tâm. Nếu hai nhóm cùng làm một nội dung, để tiết kiệm thời gian, giảng viên có thể yêu cầu một nhóm lên báo cáo, nhóm kia nêu lên ý kiến bổ sung, hoặc chỉ trình bày những ý kiến khác với nhóm đã trình bày. Kết quả làm việc của mỗi nhóm có thể trình bày lên máy chiếu, cũng có thể trình bày trên các giấy khổ rộng, treo xung quanh lớp học, tạo điều kiện cho các thành viên của nhóm khác quan sát, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Thực tế cho thấy, thành công của thảo luận nhóm phụ thuộc vào nhiệm vụ được giao; sự hiểu biết của nhóm đối với việc thực thi nhiệm vụ; môi trường và bầu không khí diễn ra hoạt động nhóm; vai trò và hoạt động của nhóm trưởng, thư ký và người báo cáo. Vì thế, muốn thực hiện tốt phương pháp này cần lưu ý một số điều sau: * Nhiệm vụ của nhóm, chủ đề đưa ra thảo luận cần rõ ràng. Giáo viên cần làm cho các thành viên trong nhóm hiểu rõ được mục đích và nhiệm vụ của mình trong thảo luận. Sẽ có hiệu quả hơn nếu giáo viên chuẩn bị sẵn câu hỏi, tình huống in sẵn ra các phiếu học tập phát cho mỗi sinh viên. * Các đề tài dùng để làm việc theo nhóm rất phong phú và đa dạng. Có thể đọc và tóm tắt một bài báo; Phân tích nội dung của một mục trong giáo trình; cho giải pháp về một vấn đề do lý luận và thực tiễn đề ra; bình luận về một ý kiến, quan điểm, đánh giá một nhận định… Các yêu cầu khi tổ chức thảo luận nhóm: Đối với người dạy: * Phải có đủ trình độ lý thuyết và thực tiễn trong lĩnh vực khoa học của mình. 46.

<span class='text_page_counter'>(49)</span> * Phải chuẩn bị chu đáo: Lập kế hoạch về nôi dung và tổ chức; Nội dung bản kế hoạch bao gồm các mục: Tên đề tài, mục đích, thời gian, phân công người điều khiển và thư ký. Đối với người học: * Đối với người báo cáo: - Trình bày trong khoảng 5-10 phút - Nhìn chung, nội dung báo cáo theo yêu cầu câu hỏi, cần thể hiện được ba yêu cầu: Có lý luận, có thực tiễn, có đề xuất được ý kiến mới. - Trình bày rõ ràng, mạch lạc, ngắn gọn, có minh hoạ - Trình bày vấn đề bằng cách nêu các câu hỏi rồi sau đó tự giải đáp, chú ý lật ngược vấn đề để nhìn thấy nhiều khía cạnh - Nêu ra trước tập thể những điều chưa hiểu rõ hoặc chưa hiểu - Đối với những thắc mắc của người nghe, cố gắng suy nghĩ nhanh và sâu để có thể giải đáp hoặc phải ghi nhận sẽ tìm hiểu thêm để giải đáp. * Đối với người tham gia phát biểu ý kiến: - Chú ý lắng nghe người báo cáo, ghi lại những điểm cơ bản mình đồng ý, không đồng ý, hay còn thắc mắc - Phát biểu ý kiến ngắn gọn, súc tích, tránh lặp lại nhiều lần, dài dòng - Muốn vậy, phải chuẩn bị từ trước, phải có sự chín muồi trong suy nghĩ và đòi hỏi mỗi người phải có quan điểm riêng - Khi tranh luận, phải biết bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình, phải tự tin, dũng cảm nhưng cũng phải bình tĩnh, không được nóng nảy, phải biết sửa chữa sai sót. Một số chú ý để tăng hiệu quả thảo luận nhóm : Đối với học sinh: Một số sai lầm thường gặp làm giảm hiệu quả trong thảo luận nhóm: - Có thói quen bị động - Không hiểu được giá trị của thảo luận - Sợ chỉ trích và sợ người khác cho là ngu dốt khi phát biểu sai - Cố gắng làm cho người khác đồng ý trước khi giải quyết các quan điểm cần được xem xét Cảm thấy rằng nhiệm vụ là tìm câu trả lời mà giáo viên mong muốn quan trong hơn việc khảo sát và đánh giá các khả năng xảy ra. Đối với giáo viên:. 47.

<span class='text_page_counter'>(50)</span> - Có xu hướng nói cho học sinh biết câu trả lời trước khi tự mình trình bày câu trả lời và giải thích ý nghĩa - Áp đảo học sinh bằng những lời chỉ trích khi có ý kiến đối lập... Vì vậy, hiệu quả lớn nhất của phương pháp dạy học bằng thảo luận trong môn GDCD là giúp cho học sinh trở thành những thành viên tích cực, năng động, cởi mở, sẵn sàng hợp tác với bạn bè để thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra. Vì thế giáo viên nên tăng cường các hoạt động thảo luận nhóm trong học tập. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng tiến hành thảo luận cũng có hiệu quả và như vậy giáo viên cần chú ý khắc phục những trở ngại nảy sinh trong quá trình thảo luận như đã nêu trên để buổi thảo luận thành công như nhà sư phạm mong đợi. b. Thiết kế hoạt động minh hoạ: BÀI 12: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN TRONG HÔN NHÂN (Lớp 9) I. Mục tiêu bài học: 1. Về kiến thức: - Hiểu được khái niệm hôn nhân, cơ sở của hôn nhân là tình yêu chân chính. - Những quy định của pháp luật nước ta về hôn nhân 2. Về kĩ năng: Phân biệt được giữa tình bạn, tình yêu và những xúc cảm thông thường nảy sinh ở tuổi mới lớn. 3. Về thái độ : - Biết lên án, phê phán những quan niệm sai lệch trong tình yêu và hôn nhân. - Nghiêm túc chấp hành những quy định của pháp luật về hôn nhân . II. Các kĩ năng sống được giáo dục trong bài : - Kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng. - Kĩ năng tư duy phê phán - Kĩ năng giải quyết vấn đề ( xử lí tình huống) III.Phương tiện dạy học : - Sách giáo khoa, sách giáo viên -Bút dạ, giấy - Tập thơ, bài hát - Máy tính, đèn chiếu... 48.

<span class='text_page_counter'>(51)</span> IV. Tiến trình dạy học : 1. Ổn định tổ chức: 2. Nội dung : Giúp HS tìm hiểu nội dung mới của bài học thông qua phương pháp thảo luân nhóm. Nội dung như sau : Bắt đầu khơi dậy sự tò mò của học sinh với chủ đề sau: “Phong và Mai cưới nhau đã 2 năm. Nhưng Phong vốn là người hay nhậu nhẹt., say xỉn tối ngày. Với lý do chồng bảo thì vợ phải nghe Phong chửi vợ, có khi Phong còn đánh đập và đuổi vợ ra khỏi nhà. Nhiều lần Phong còn đe dọa giết vợ”. Giáo viên cho học sinh thảo luận về tình huống trên. Chúng ta sẽ giao nhiệm vụ cho 2 nhóm thảo luận các vấn đề trên theo trình tự đã được học, có thư ký viết biên bản và người thuyết trình. Sau đó chúng ta cho lớp thảo luận, đặt câu hỏi chéo để phản biện, tranh luận lẫn nhau để cùng đi đến 1 quyết định chung mà chủ đề đặt ra. Trong lúc tranh luận giáo viên phải chú ý điều khiển lớp đi đúng hướng, từng bước giải quyết để tiến gần sát đến chủ đề cần giải quyết. Cuối cùng giáo viên tổng kết: kết luận lại những kiến thức cần nắm trong ngày buổi thảo luận này: Đây là những hành vi trái với quy định của pháp luật về quyền được pháp luật bảo hộ và tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 đã ghi rõ và quy định thành nguyên tắc trong bộ luật hình sự nước ta. Quyền này có nghĩa là: Công dân có quyền được pháp luật bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm mà không ai được xâm phạm tới. + Không ai được đánh người, đặc biệt nghiêm cấm những hành vi hung hãn, côn đồ, đánh người gây thương tích, làm tổn hại đến sức khỏe của người khác… + Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác như giết người, đe dọa giết người, làm chết người. + Không ai ,dù ở bất cứ cương vị nào có quyền xâm phạm tới danh dự và nhân phẩm của người khác.Trong xã hội ta, danh dự và nhân phẩm của cá nhân được tôn trọng và bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm tới sức khỏe, tính mạng, danh dự, và nhân phẩm của công dân đều vừa trái với đạo đức xã hội,vừa vi phạm pháp luật, phải bị xử lí theo pháp luật. Để động viên khuyến khích các em, giáo viên nên có hình thức khen thưởng đối với nhóm thực hiên tốt hơn. Món quà khen thưởng tinh thần hoặc hiện vật (1gói kẹo, bánh…), hoặc cộng điểm… Trong GDCD lớp 9, có bài “Lí tưởng sống của thanh niên”.. 49.

<span class='text_page_counter'>(52)</span> I.Mục tiêu bài học: 1.Kiến thức: HS hiểu được: -Khái niệm: Lí tưởng, mục đích sống của mỗi người. Điều đó phải phù hợp với lợi ích của dân tộc, của cộng đồng và năng lực của từng cá nhân… 2.Kĩ năng: Biết xác định được lí tưởng sống của cá nhân phù hợp với yêu cầu xã hội 3.Thái độ: Có thái độ đúng đắn trước những biểu hiện sống có lí tưởng, phê phán, lên án những hiện tượng sinh hoạt thiếu lành mạnh, sống gấp, sống thiếu lí tưởng của bản thân và những người xung quanh. II. Các kĩ năng sống được giáo dục trong bài : - Kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng. - Kĩ năng tư duy phê phán - Kĩ năng giải quyết vấn đề ( xử lí tình huống) III.Phương tiện dạy học : - Sách giáo khoa, sách giáo viên - Bút dạ, giấy - Máy tính, đèn chiếu... IV. Tiến trình dạy học : 1. Ổn định tổ chức: 2. Nội dung:. Cách tiến hành: Giáo viên hoặc học sinh có thể đưa ra chủ đề thảo luận về quan niệm: “Học không chơi phí đời tuổi trẻ Chơi không học phí cả tương lai” Với chủ đề này, học sinh sẽ nảy sinh suy nghĩ : vậy quan niệm nào mới đúng đây: học hay chơi ?…hay là kết hợp cả hai?...mà kết hợp thì phải kết hợp như thế nào…? Để tìm ra câu trả lời giáo viên cần chia các em thành 2 nhóm, cho các em thảo luận với đầy đủ các bước theo trình tự trên, giáo viên khuyến khích các em đưa ra tất cả các suy nghĩ, quan điểm của mình, khi trình bày về cơ bản sẽ có 2 luồng ý kiến khác nhau như : Nhóm 1: Thanh niên học sinh phải nỗ lực học tập, rèn luyện, chuẩn bị hành trang để lập thân, lập nghiệp, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thanh niên phải “Sống sao cho đến khi nhắm mắt xuôi tay không phải ân hận về những năm tháng đã sống hoài, sống phí”.(lời Pa-ven trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy). Đây là quan điểm đúng đắn vì :. 50.

<span class='text_page_counter'>(53)</span> - Cá nhân thanh niên học sinh đó đã xác định ngay từ đầu cho bản thân đó là sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội, đó chính là lý tưởng - Người có lý tưởng sống sẽ luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện bản thân mình, giúp đỡ mọi người, xây dựng xã hội, xây dựng đất nước tươi đẹp hơn. Lý tưởng sống sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, can đảm chấp nhận mọi gian khổ, thách thức. Nhóm 2: Học sinh THCS đang ở tuổi ăn, tuổi chơi thì nên biết tranh thủ ăn chơi, hưởng thụ. Còn việc học hành, làm việc, cống hiến là việc làm suốt đời. Đây là quan điểm: Nghe qua thì hợp lý vì: đã phản ánh được đúng tâm, sinh lý của tuổi học trò là đang ở tuổi “ ăn chưa no, nghĩ chưa tới” thì lý tưởng là cái xa vời. Và việc học hành, làm việc, cống hiến là việc làm suốt đời đúng là như vậy, bởi không thể làm trong ngày một, ngày hai…Tuy nhiên, đây là quan điểm ngụy biện vì: Cá nhân đó đã không quan tâm tu dưỡng ngay từ đầu khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà đã bị tâm lý hưởng thụ, buông xuôi, ỷ lại…chế ngự (Đây là biểu hiện của sống không có lý tưởng). Thử hỏi sau này anh có gì để làm việc, cống hiến…chỉ đơn giản là để phục vụ cho bản thân chứ chưa nói đến cống hiến cho xã hội. Sau khi nghe ý kiến của các em, giáo viên có thể kết luận: Để vững tin khi bước vào cuộc sống, các em phải chuẩn bị cho bản thân hành trang đó là đạo đức và tri thức ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để sau này trở thành người có ích cho xã hội. Ai cũng có quyền mơ ước, nhưng ước mơ đó phải có cơ sở thực tế: sở trường, năng lực bản thân, điều kiện gia đình…Sau khi xác định được mơ ước, lý tưởng phải có kế hoạch học tập rèn luyện kỹ năng, sức khỏe tư tưởng để thực hiện ước mơ đó. Trong quá trình thảo luận, giáo viên chú ý động viên khuyến khích các em với chế độ khen thưởng phù hợp. 2. Phương pháp trực quan và vận dụng a. Phương pháp trực quan: là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng các phương tiên dạy học tác động trực tiếp đến cơ quan cảm giác của học sinh nhằm đạt được hiệu quả giáo dục cao. Chức năng của phương pháp trực quan: - Áp dụng phương pháp trực quan vào dạy học hành động khám phá nhằm kích thích sự tò mò của các em, giúp các em tự chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện phương pháp tự học. - kích thích sự đam mê tăng cường sự hợp tác, giao tiếp chia sẻ kinh nghiệm đồng thời tạo ra môi trường học tập thoải mái cho học sinh… Kết hợp sự đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò. - Dạy hoc hành động khám phá các chủ đề đạo đức, pháp luật cũng như tất cả các môn học khác là phải sử dụng các kỹ thuật dạy học và đồ dùng trực quan để minh hoạ cho nội dung bài giảng. Trong các tiết dạy đạo đức, 51.

<span class='text_page_counter'>(54)</span> pháp luật hiện nay rất đa dạng và phong phú trong giai đoạn hiện nay khi khoa học công nghệ đang phát triển, mạng Intenet dang được sử dụng ngày càng rộng rãi. Vì vậy, trong một tiết dạy giáo viên có thể sử dụng nhiều kỹ thuật và đồ dùng trực quan khác nhau vào những mục đích khác nhau nhằm làm cho bài giảng thêm hấp dẫn, đạt hiệu quả cao. Tiến hành sử dụng phương pháp trực quan - Người giáo viên phải nắm vững nội dung bài giảng từ đó lựa chọn công cụ trực quan. Muốn sử dụng các kỹ thuật dạy học và đồ dùng trực quan đạt hiệu quả cao trong mỗi bài dạy đạo đức, pháp luật, người giáo viên dạy GDCD phải chuẩn bị rất kỹ. Do những đồ dùng trực quan sử dụng trong các tiết dạy đạo đức, pháp luật ít có sẵn nên việc chuẩn bị đồ dùng cho một tiết dạy khá công phu đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư về mặt thời gian, công sức, trí tuệ và lòng nhiệt tình. - Trước hết người giáo viên phải xác định xem trong tiết dạy này cần sử dụng các kỷ thuật nào? loại đồ dùng gì? Bảng, phấn, giấy, bút, thước; tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ; phiếu học tập, bảng phụ…hay các loại phương tiện kỹ thuật nghe nhìn như máy băng đĩa ghi âm, máy chiếu các bản in, máy băng đĩa hình, các phương tiện đa chức năng như máy tính, máy chiếu, các phần mềm dạy học trên máy vi tính… Khi đã xác định được bài dạy này cần sử dụng những loại nào thì người giáo viên sẽ bắt tay vào công việc chuẩn bị và tiến hành thực hiện -Xác định chính xác thời điểm sử dụng để kích thích sự tò mò của người học. - Phải làm chủ được quá trình thu nhận kiến thức của học sinh. Giúp học sinh phân tích các sự kiện, hiện tượng và rút ra các kết luân cần thiết. - Kết hợp đúng lúc với các phương pháp dạy học khác như thuyết trình, kể chuyện, giảng giải… - Đảm bảo sự quan sát đầy đủ và sự tiếp thu đến mức cao nhất ở học sinh. Hạn chế các tác động xấu của đồ dung trực quan: gây cảm giác về tính chất máy móc, siêu hình hay phóng đại sự việc… b. Một số hoạt động minh họa sử dụng phương pháp trực quan: Với mục tiêu là dạy học hành động khám phá, phương pháp này chủ yếu kích thích tính tò mò của học sinh, từ đó dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề, tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình. Hình thành ý thức cho học sinh, hoàn thiện kỹ năng thành thạo giúp học sinh năng động sáng tạo hơn trong học tập. Mỗi cách thức tổ chức đều có mặt tích cực và hạn chế riêng, phù hợp với từng đối tượng học sinh và đòi hỏi những điều kiện thực hiện riêng. Vì vậy cần lựa chọn và sử dụng kết hợp các cách thức tổ chức phù hợp với nội dung của tiết học, trình độ nhận thức của học sinh, năng lực, sở trường của giáo viên, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của lớp, của trường 52.

<span class='text_page_counter'>(55)</span> *Kích thích động não với tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ: Những đồ dùng trực quan này sẽ có tác dụng gây ấn tượng sâu sắc trong ký ức mỗi học sinh. Nếu người giáo viên sử dụng tốt các phương tiện đó sẽ giúp cho học sinh phát triển được kỹ năng quan sát, trí tò mò, óc tưởng tượng, khả năng tư duy liên hệ thực tế. Nó còn giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những điều thu nhận được. Ví du 1: khi dạy bài 4: Bảo vệ hòa bình (GDCD 9) chúng ta có thể giới thiệu đến học sinh những bức tranh. Khi xem những bức ảnh này trong đầu học sinh sẽ xuất hiện những suy nghĩ tò mò và học sinh sẽ hình dung được: - Chiến tranh là gì? Vì sao lại có chiến tranh? -Hậu quả to lớn của chiến tranh.. -Vì sao ngày nay chiến tranh vẫn xảy ra nhiều nơi trên thế giới -Trách nhiệm của cộng đồng thế giới, mỗi quốc gia, mỗi con người phải làm gì để ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình.. Mỹ ném bom nguyên tử Nhật bản. Hậu quả của chiến tranh. *Sử dụng đặt câu hỏi với bảng thống kê, số liệu: Bảng thống kê, số liệu ấy sẽ là những minh chứng có sức thuyết phục nhất, sinh động nhất về thực tiễn cuộc sống. Giúp học sinh có cái nhìn thực tế, thiết thực so với lý thuyết chung chung, Từ đó các em nắm bài vững, hiểu bài sâu hơn. Ví dụ 1: Khi dạy bài ngoại khóa: “An toàn giao thông” giáo viên có thể đưa ra “Bảng thống kê tình hình tai nạn giao thông” . Khi xem xong chắc chắn trong đầu các em sẽ xuất hiện những câu hỏi như sau: -Vì sao lại xảy ra tai nan giao thông ? -Tai nan giao thông gây ra hậu quả thật khủng khiếp ? -Tình hình tai nạn giao thông ngày càng nhiều và nghiêm trọng như thế nào?. 53.

<span class='text_page_counter'>(56)</span> - Cần phải làm gì để chính mình, gia đình mình và xã hôi không bị tai nạn giao thông? Tỉ lệ tăng, giảm so Tai nạn giao thông Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 với năm trước ( Toàn quốc) Số vụ. 11.522. 12.492. 11.449 Giảm 4,4%. Số người chết. 10.397. 11.516. 10.633 Giảm 4,0%. 7413. 7914. Số người bị thương. 6723. Giảm 8,1%. Tỉ lệ tăng, giảm so Tai nạn giaothông Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 với năm trước ( TP Đà Nẵng) Số vụ. 158. 114. 213. Tăng 30,3%. Số người chết. 115. 105. 149. Tăng 17,3%. 24. 68. 163. Tăng 41,12%. Số người bị thương. Bảng thống kê tình hình tai nạn giao thông của cả nước và TP Đà Nẵng. (Tổ cơ sở dữ liệu và chính sách An toàn giao thông 2013). *Tranh luận ủng hộ - phản đối với phim tư liêu, clip tình huống: Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc tìm những thước phim tư liệu, phóng sự điều tra, Video clip tình huống không còn qua khó khăn đối với người giáo viên, những tư liệu này có rất nhiều trên Iternet. Điều quan trọng là người giáo viên phải biết lựa chọn cho phù hợp với từng bài học, vừa mang tính giáo dục cao. Trong quá trình giảng dạy của mình, chú ý sưu tầm, sắp xếp các loại tư liệu này thành những chuyên mục, các đoạn phim có thể sử dụng dạy nhiều lớp khác nhau với cùng một chủ đề sau đó trình chiếu cho học sinh xem , học sinh tranh luận nêu quan điểm ủng hộ hay phản đối.. Ví dụ 1: Khi dạy bài “Lý tưởng sống của thanh niên” (GDCD 9) học sinh xem đoạn Video clip hình ảnh về Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Video clip về “Thanh niên tình nguyện” đi đến vùng sâu, vùng xa, Video clip về thanh thiếu niên ăn chơi hư hỏng, đánh bạc đua xe…nhằm giúp học sinh: - So sánh hai lối sống đối lập nhau và hậu quả của việc ăn chơi hư hỏng. - Thấy được trách nhiệm to lớn của chính mình- tri thức tương lai - Có ý thức phấn đấu rèn luyện của bản thân, có nhu cầu cống hiến vì sự nghiệp chung.. 54.

<span class='text_page_counter'>(57)</span> Ví dụ 2: Khi dạy bài 12: “Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân” (GDCD 9) tôi sẽ cho học sinh xem đoạn Video clip về “Bạo lực gia đình”, nhằm giúp học sinh thấy được đó là hành vi vi phạm pháp luật cần lên án, qua đó giúp các em liên hệ đến gia đình mình, nơi em ở từ đó giáo dục ý thức trách nhiệm của mình đối với gia đình. *Sử dụng nêu gương người tốt với những câu chuyện có thật trong cuộc sống, qua báo chí. Những câu chuyện ấy sẽ là phương tiện minh hoạ chân thực nhất, sống động nhất góp phần làm cho bài giảng thêm hấp dẫn, tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của học sinh. Thông qua những câu chuyện thực tế giáo viên bồi dưỡng cho học sinh những quan điểm đúng đắn, các em biết yêu ghét rõ ràng; biết bênh vực những việc làm, hành động đúng; biết đấu tranh với những hành động, việc làm sai trái, vi phạm nội qui trường lớp, vi phạm pháp luật. Ví dụ: Khi dạy bài 8 “Năng động sáng tạo” (GDCD 9) chúng ta nên kể cho học sinh nghe câu chuyện về “Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký” dù phải viết bằng chân nhưng đã vượt qua khó khăn, vượt qua số phận để trở thành “Nhà giáo ưu tú”, câu chuyện về “Thần đèn Nguyễn Cẩm Lũy” chỉ học hết lớp 4 học nhưng có “biệt tài” di dời các công trình. Từ đó sẽ khơi dậy tính tò mò của các em, các em sẽ chủ động tìm hiểu về họ và tự suy nghĩ về bản than mình . Từ đó giúp các em có ý thức vươn lên trong cuộc sống, biết vượt qua khó khăn, năng động, sáng tạo trong công việc vươn tới thành công, có đóng góp cho xã hội.. Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký Như vậy, sau khi sử dụng phương pháp trực quan để khơi dậy sự tò mò của học sinh, giáo viên cần kích thích các em chiếm lĩnh tri thức. Ở khâu này ta có thể linh hoạt sử dụng nhiều phương pháp khác nhau sao cho phù hợp với từng nội dung cũng như khả năng tiếp thu của từng lớp. Tuy nhiên trong quá trình khai thác để tìm lời giải đáp cho những thắc mắc ban đầu giáo viên cần 55.

<span class='text_page_counter'>(58)</span> tôn trọng cũng như khuyến khích tính tích cực chủ động của các em. Đồng thời có biện pháp khen thưởng thích hợp đối với các nhân và nhóm hoạt động sôi nổi tích cực *Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp trực quan vào hoạt động khám phá tri thức: Đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả giờ dạy, nếu dựa vào ý thích chủ quan của bản thân thì rất dễ bị sai lầm. Nếu sử dụng tuỳ tiện sẽ lạc chủ đề và phản tác dụng giáo dục, hiệu quả giờ dạy sẽ thấp. Khi chuẩn bị bài lên lớp, giáo viên cần hiểu được: giảng bài này cần sử dụng kỹ thuật, phương tiện, đồ dùng trực quan gì? Và sử dụng khi nào? Vào mục đích gì? Để phù hợp với nội dung bài giảng, vừa sát hợp với thực tiễn cuộc sống vừa có tính giáo dục cao. - Phải xác định nội dung cơ bản của bài trên cơ sở chuẩn kiến thức sách giáo khoa về mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ từ đó lựa chọn phương tiện, đồ dùng phù hợp. -Tìm hiểu kĩ yêu cầu từng bài về kỹ thuật, phương tiện, đồ dùng dạy học: Đây chính là một trong những cơ sở để giáo viên lựa chọn đồ dùng trực quan nhằm đảm bảo tính chính xác, phù hợp với yêu cầu bài giảng, đảm bảo tính khoa học của bộ môn. Giáo viên có thể bổ sung thêm hình ảnh, băng hình, mẫu chuyện có liên quan đến bài học để tăng thêm tính thời sự của bài dạy. - Luôn theo dõi tình hình thực tế, thời sự, báo, đài: Đây là kinh nghiệm rất bổ ích giúp người giáo viên có vốn kiến thức, hiểu biết sâu rộng mà để khai thác, sử dụng đồ dùng trực quan, làm cho việc sử dụng các phương tiện, đồ dùng này hay hơn, hấp dẫn hơn và đạt hiệu quả cao. Tìm đọc tài liệu tham khảo và tìm hiểu tình hình thực tế để giáo viên có thêm cơ sở lựa chọn các hình ảnh, phương tiện minh hoạ cho bài giảng điển hình nhất, mới nhất, sát hợp với thực tiễn và có tính giáo dục cao. Để bài giảng của mình thêm hay, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, để có những số liệu thống kê, tranh ảnh minh hoạ cho bài giảng chúng ta nên tìm hiểu tình hình thực tế ở địa phương, tìm đọc báo chí, đọc và tìm hiểu những qui định của pháp luật về phòng ngừa tệ nạn xã hội, tìm đọc các tư liệu trên mạng Internet…Qua đọc những tài liệu đó, ta đã có những số liệu cụ thể nhất, sống động nhất để minh hoạ cho bài giảng. Thông qua những số liệu, hình ảnh đó học sinh trực tiếp hiểu rõ tính chất nguy hiểm của tệ nạn xã hội, từ đó các em cũng thấy rõ các biện pháp phòng chống của nhà nước và địa phương, liên hệ được trách nhiệm của bản thân. - Chọn kỹ thuật, đồ dùng dạy học phù hợp để sử dụng cho từng hoạt động khác nhau: Cùng với việc lựa chọn, tìm hiểu các phương tiện, đồ dùng trực quan người giáo viên cần tìm ra cách thức sử dụng kỹ thuật đồ dùng trực quan cho phù hợp và đem lại hiệu quả cao.Vì sử dụng tuỳ tiện, không đúng mục đích sẽ không đem lại kết quả mà còn ảnh hưởng không tốt đến chất 56.

<span class='text_page_counter'>(59)</span> lượng, hiệu quả dạy và học. Tùy từng đặc điểm của hoạt động mà giáo viên có lựa chọn kỹ thuật, đồ dùng, phương tiện cho phù hợp. Câu hỏi thảo luận: - Anh (chị) vận dụng mô hình hành động khám của Bruner vào khai thác phương pháp thảo luận nhóm qua một hoạt động cụ thể trong bài GDCD lớp 8. - Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp đồ dùng trực quan và thảo luận nhóm ở trường THCS nơi anh (chị) đang công tác. Biện pháp khắc phục.. 57.

<span class='text_page_counter'>(60)</span> TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS. NXB Giáo dục. Hà Nội 2002. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Phương pháp Giáo dục công dân ở trường THCS, Nxb Giáo dục. Hà Nội 1998. 3. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án Việt – Bỉ: Dạy và học tích cực một số phương pháp và kỹ thuật dạy học. Nxb, Đại học sư phạm. Hà Nội 2010. 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004): Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên chu kì III (2004-2007), Môn Giáo dục công dân (Tài liệu lưu hành nội bộ). 5. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo dục công dân 6,7,8,9. Nxb Giáo dục. Hà Nội 2010. 6. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo dục công dân 6,7,8,9 ( Sách giáo viên). Nxb Giáo dục. Hà Nội 2010. 7. Lê Đức Quang (1998): Phương pháp và tư liệu giảng dạy Giáo dục công dân Nxb. Giáo dục.. 58.

<span class='text_page_counter'>(61)</span>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×