TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC
MÁC – LÊNIN VỀ
BẢN CHẤT- HIỆN TƯỢNG;
KHẢ NĂNG – HIỆN THỰC
Tiểu luận cuối kỳ
Môn học: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin
BUỔI: CHIỀU THỨ 2 TIẾT: 1-5
NHÓM THỰC HIỆN: 06
HỌC KỲ: 1 – NĂM HỌC: 2017-2018
GVHD: ThS. Trần Ngọc Chung
TP.HỒ CHÍ MINH – 12/2017
HỌ VÀ TÊN NHỮNG SINH VIÊN THỰC HIỆN
1.Hoàng Bảo Quốc.
MSSV: 17142148
STT: 78
2.Nguyễn Quốc Việt.
MSSV: 17142197
STT: 104
3.Nguyễn Trịnh Quốc Khánh. MSSV: 17142104
STT: 43
4.Nguyễn Quốc Đăng.
MSSV: 17142081
STT: 24
5.Nguyễn Tấn Thành.
MSSV: 17142158
STT: 80
6.Trần Tuấn Kiệt.
MSSV: 17142110
STT: 48
7.Trương Quốc Huy
MSSV: 17142098
STT: 37
8.Phan Trương Tiến Phát
MSSV: 17142135
STT: 68
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Trần Ngọc Chung
ĐIỂM:
NHẬN XÉT CỦA GV:
GV Ký tên
NỘI DUNG
1. LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................4
2. NỘI DUNG.....................................................................................5
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ BẢN CHẤT – HIỆN TƯỢNG;
KHẢ NĂNG – HIỆN THỰC THEO TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN.
............................................................................................................. 5
1.1 Bản chất – Hiện tượng theo triết học Mác – Lênin...................5
1.1.1 Khái niệm.................................................................................5
1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa Bản chất và hiện tượng............5
1.1.3 Ý nghĩa phương pháp luận.......................................................7
1.2 Khả năng và Hiện thực theo triết học Mác – Lênin...................8
1.2.1 Khái niệm về Khả năng và Hiện thực......................................8
1.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa Khả năng và Hiện thực............9
1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận.....................................................10
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN.............................................10
2.1 Liên hệ thực tiễn đối với cặp phạm trù triết học Bản chất và
hiện tượng......................................................................................... 10
2.1.1 Những ví dụ điển hình đã xảy ra............................................10
2.1.2 Liên hệ bản chất và hiện tượng bên ngoài cuộc sống............11
2.2 Liên hệ thực tiễn đối với cặp phạm trù triết học Khả năng và
Hiện thực..........................................................................................12
2.2.1 Ví dụ điển hình cho thực tế đã xảy ra....................................12
2.2.2 Liên hệ khả năng và hiện thực bên ngoài cuộc sống hiện tại.
........................................................................................................... 13
1. LỜI MỞ ĐẦU
- Triết học Mác – Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu của nhân loại, sáng tạo ra
chủ nghĩa duy vật biện chứng có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và tư duy
con người. Trong triết học Mác – Lênin, thế giới quan và phương pháp luận ảnh hưởng
với nhau và cùng nhau làm cho triết học Mác trở thành chủ nghĩa duy vật trở thành “một
công cụ nhận thức vĩ đại”.
- Trong xã hội ngày này, khơng khó để chúng ta có thể nhìn thấy những vấn đề liên quan
đến triết học trong cuộc sống. Bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực là một trong
số những vấn đề đó. Những vấn đề này hầu hết liên quan mật thiết đến cuộc sống của
chúng ta, trong các mối tương quan của xã hội, tự nhiên, trong quan hệ con người với con
người. Như trong cặp phàm trù triết học bản chất và hiện tượng thì chỉ ra bản chất của sự
vật hiện tượng và những hiện tượng do bản chất đó tạo ra. Hay cặp phạm trù khả năng và
hiện thực chỉ ra rằng hiện thực là những gì xã hội đang có, thay vào đó là khả năng nói
đến những thứ chưa tồn tại, chưa xuất hiện, nhưng sẽ tồn tại thật sự khi có các điều kiện
tương ứng. Tất cả đều chỉ ra rõ bản chất của sự vật hiện tượng, xã hội, tự nhiên, con
người.
- Nhận thấy được tầm quan trọng của các cặp phạm trù triết học, nhóm chúng tơi đã quyết
định làm bài tiểu luận về vấn đề “Quan điểm của triết học Mác – Lênin và Quan điểm của
Chủ nghĩa duy vật biện chứng về Bản chất – Hiện tượng, Khả năng – Hiện thực” nhằm
giúp cho bạn đọc hiểu rõ hơn về khái niệm của những cặp phàm trù ấy cũng như tầm quan
trọng của những cặp phàm trù ấy trong cuộc sống. Từ đó hiểu rõ bản chất của chúng hơn.
2. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ BẢN CHẤT – HIỆN TƯỢNG; KHẢ
NĂNG – HIỆN THỰC THEO TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN.
1.1 Bản chất – Hiện tượng theo triết học Mác – Lênin.
1.1.1 Khái niệm.
- Theo triết học Mác – Lênin, Bản chất và hiện tượng là một trong những cặp phạm trù cơ
bản của phép biện chứng duy vật.
- Bản chất là cặp phạm trù triết học dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối
liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong quy luật sự vận động và phát triển của sự
vật, hiện tượng đó.
- Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự biểu hiện của những mặt, những mối
liên hệ đó trong những điều kiện xác định.
- Hiện tượng là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.
1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa Bản chất và hiện tượng.
- Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập
trong mỗi sự vật.
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng biểu hiện ở chỗ:
Bản chất bao giờ cũng biểu hiện ra thành những thành những hiện tượng nhất định.
Còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định.
Khơng có bản chất tách rời hiện tượng cũng như khơng có hiện tượng lại không
biểu hiện ra một bản chất nào đó.
Bản chất quyết định hiện tượng.
Bản chất như thế nào thì hiện tượng như thế ấy.
Bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo.
- Khơng có bản chất nào thuần túy nằm ở một nơi nào đó bên ngồi sự vật, bản chất cũng
khơng phải là cái gì thần bí bên trong sự vật. Bản chất nhất thiết phải bộc lộ qua hiện
tượng. Hiện tượng có tính bản chất, nghĩa là bất cứ biểu hiện nào cũng là biểu hiện của
bản chất, hoặc biểu hiện một mặt nào đó của bản chất. Bản chất như thế nào thì hiện
tượng như thế ấy. Khi bản chất bị tiêu diệt thì sớm hay muộn hiện tượng do nó sinh ra
cũng biến mất theo. Bản chất mới ra đời thì các hiện tượng mới phù hợp với nó cũng sẽ
dần xuất hiện.
- Chính vì sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng mà con người mới có thể thơng qua
những hiện tượng để nhận thức bản chất, phát hiện ra những quy luật phát triển của sự
vật.
- Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng biểu hiện ở chỗ:
Bản chất là cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng là cái riêng biệt, phong phú và đa
dạng.
Bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài.
Bản chất là cái tương đối ổn định, hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi.
Hiện tượng phong phú hơn bản chất cịn bản chất thì sâu sắc hơn hiện tượng.
- Bản chất phản ánh cái chung sâu xa, cái bên trong của sự vật. Hiện tượng phản ánh cái
riêng, cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất. Tất cả các hiện tượng biểu hiện bản chất
theo nhiều cách khác nhau: có hiện tượng biểu hiện một phần bản chất, có hiện tượng
biểu hiện bản chất tương đối đầy đủ, đúng đắn, nhưng đôi khi ngược lại, hiện tượng biểu
hiện bản chất khơng hồn tồn đúng đắn, thậm chí cịn sai lệch bản chất bởi vì nếu hiện
tượng nào cũng bộc lộ ngay tức khắc và hoàn toàn đầy đủ bản chất thì con người chỉ cần
dùng giác quan và nhận thức sự vật, chứ không cần dùng đến các ngành khoa học kỹ thuật
hiện đại.
- Bản chất của sự vật tồn tại trong suốt q trình phát triển của nó, chỉ khi nào sự vật mất
đi thì bản chất của nó mới thay đổi hẳn. Chính vì thế bản chất có tính tương đối ổn định.
Nhưng trong q trình phát triển của sự vật thì bản chất của nó được biểu hiện bằng
những hiện tượng khác nhau và luôn thay đổi tùy vào những điều kiện khách quan bên
ngoài. Điều đó chứng tỏ hiện tượng thường xuyên biến đổi.
- Hiện tượng phong phú hơn bản chất vì ngồi bản chất chung mà các hiện tượng đều có
ra nó còn chứa đựng những nhân tố cá biệt mà chỉ riêng nó có vì trong hiện tượng có sự
thống nhất giữa cái bản chất và những cái không bản chất vì bản chất là cái tương đối ổn
định ở trong cịn hiện tượng là cái biểu ra bên ngồi. Ngược lại, bản chất sâu sắc hơn hiện
tượng vì nó là những mối liên hệ tất nhiên bên trong, là những quy luật quyết định sự tồn
tại và phát triển của sự vật, nó được lặp đi lặp lại trong những hiện tượng khác nhau, biểu
hiện quy luật phát triển chung của hiện tượng đó.
1.1.3 Ý nghĩa phương pháp luận.
- Con người nhận thức được sự vật là đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp 1 đến
bản chất cấp 2… để nhận thức ngày càng sâu hơn, chính xác hơn.
- Con người muốn làm chủ được sự vật phải nắm được bản chất của nó nhưng khơng thể
nắm bản chất trực tiếp được mà phải thông qua hiện tượng. Nhưng trong hiện tượng lại có
những loại khác nhau, vì thế phải biết thu thập, phân tích nhiều hiện tượng để rút ra bản
chất, và từ bản chất soi sáng, kiểm tra lại hiện tượng và tiếp tục nắm sâu hơn bản chất.
- Trong nhận thức, không được dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm ra bản chất của
sự vật, hiện tượng. Phải thông qua nhiều hiện tượng khác nhau mới nhận thức đúng được
bản chất.
- Bản chất phản ánh tính tất yếu, tính quy luật nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải
căn cứ vào bản chất chứ không căn cứ vào hiện tượng mới có thể đánh giá đầy đủ, chính
xác về sự vật, hiện tượng.
- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối
lập. Vì vậy trong nhận thức khoa học chúng ta phân tích chặt chẽ và loại bỏ những giả
tưởng.
1.2 Khả năng và Hiện thực theo triết học Mác – Lênin.
1.2.1 Khái niệm về Khả năng và Hiện thực.
- Thế giới vật chất vận động và phát triển không ngừng chuyển từ dạng này sang dạng
khác, cái mới thay thế cái cũ. Lúc đầu cái mới chỉ xuất hiện dưới dạng khả năng, sau đó
lớn lên và chiến thắng cái cũ, khi đó nó trở thành hiện thực. Cho nên khi nhìn vào sự vật
hay hiện tượng chúng ta sẽ thấy có 2 mặt là Khả năng và Hiện thực.
- Theo triết học Mác – Lênin, Khả năng và Hiện thực là một trong những cặp phạm trù cơ
bản của phép biện chứng duy vật.
- Khả năng là phạm trù triết học dùng để chỉ là cái chưa có, chưa tới, nhưng sẽ có, sẽ tới
trong điều kiện nhất định.
- Hiện thực là phạm trù triết học dùng để chỉ cái đang tồn tại trong thực tế.
- Như vậy, khả năng là cái “chưa có”, nhưng khơng phải bất kì cái chưa có nào mà phải
hiểu là cái chưa có ở thời điểm đang xét, là cái sẽ có trong tương lai khi có điều kiện thích
hợp. Theo nghĩa đó, khả năng là tiền đề của cái mới.
- Tuy khả năng là cái chưa có nhưng điều đó khơng có nghĩa nó khơng tồn tại. Các sự vật
mà khả năng đó biểu hiện chưa tồn tại như một hiện thực nhưng bản thân khả năng thì tồn
tại. Vì vậy, khả năng cũng là một trạng thái đặc biệt của hiện thực, trạng thái mà hiện thực
mới tồn tại trước khi trở thành chính bản thân mình.
- Phân loại khả năng:
Mọi khả năng đều là Khả năng thực tế (đều tồn tại thật sự, do hiện thực sinh ra).
Khả năng tất nhiên là hình thành một cách tất nhiên do quy luật vận động nội tại
của sự vật. Gồm có hai loại:
o Khả năng gần (đã có đủ hoặc gần đủ những điều kiện cần thiết để hình
thành hiện thực).
o Khả năng xa (còn phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển quá độ mới đủ
điều kiện biến thành hiện thực).
Khả năng ngẫu nhiên là khả năng được hình thành một cách ngẫu nhiên.
1.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa Khả năng và Hiện thực.
- Khả năng và hiện thực tồn tại trong một mối quan hệ thống nhất, không tách rời, luôn
chuyển hóa lẫn nhau. Vì hiện thực được chuẩn bị bởi khả năng, có khả năng sẽ biến thành
hiện thực. Đó là một q trình vơ tận, do đó, sẽ mắc sai lầm nếu tách cái nọ khỏi cái kia.
Kết quả là trong hoạt động thực tiễn sẽ khơng nhìn thấy khả năng tiềm tang trong sự vật,
do đó khơng xác định được tương lại phát triển của nó, hoặc khơng tạo ra những điều kiện
cần thiết để thúc đẩy sự chuyển biến tích cực và khơng ngăn chặn kịp thời những chuyển
biến tiêu cực.
- Cũng trong những điều kiện nhất định ở cùng một sự vật có thể tồn tại một số khả năng
vốn đã có ở sự vật, nhưng trong những điều kiện nhất định, khi có thêm điều kiện mới bổ
sung thì ở sự vật sẽ xuất hiện thêm khả năng mới. Ngay trong bản thân mỗi khả năng
cũng khơng phải là khơng thay đổi, nó có thể tăng lên hay giảm đi là tùy thuộc vào sự
biến đổi của sự vật trong điều kiện cụ thể.
- Quá trình khả năng biến thành hiện thực diễn ra trong tự nhiên không giống như trong
xã hội. Ở trong tự nhiên là một quá trình khách quan, diễn ra tự phát. Trong xã hội, sự
chuyển hóa đó phải thơng qua hoạt động ý thức của con người.
- Trong những điều kiện nhất định, có khả năng tất yếu trở thành hiện thực, nhưng cũng
có khả năng có thể khơng trở thành hiện thực.
- Khả năng trong những điều kiện nhất định thì biến thành hiện thực. Hiện thực mới lại
mở ra khả năng mới và trong những điều kiện nhất định lại chuyển hóa thành hiện thực.
- Với cùng một điều kiện nhất định có thể tồn tại một hoặc nhiều khả năng: Khả năng
thực tế, khả năng ngẫu nhiên, khả năng tất nhiên, khả năng gần, khả năng xa.
- Khả năng biến thành hiện thực cần phải có những điều kiện khách quan và các nhân tố
chủ quan. Nhân tố chủ quan có tính tích cực xã hội của ý thức chủ thể con người để
chuyển hóa khả năng thành hiện thực. Điều kiện khách quan là sự tổng hợp các mối quan
hệ về hồn cảnh, khơng gian, thời gian để tạo nên sự chuyển hóa đó.
1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận.
- Khả năng và hiện thực không tách rời nhau, nên trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
cần dựa vào hiện thực để nhận thức và hành động. Cần phân biệt khả năng với cái không
khả năng; khả năng với hiện thực để tránh rơi vào ảo tưởng.
- Trong đời sống xã hội, để khả năng biến thành hiện thực cần phải phát huy tối đa tính
năng động chủ quan của con người trong việc nhận thức và thực tiễn để biến khả năng
thành hiện thực theo mục đích của mình.
- Trong hoạt động thực tiễn phải căn cứ vào hiện thực để đánh giá tình hình và phải phán
đốn đúng tính chất và xu hướng của khả năng để phát huy tối đa tính năng động chủ
quan, ứng xử kịp thời, tránh tư tưởng chờ đợi thụ động.
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN.
2.1 Liên hệ thực tiễn đối với cặp phạm trù triết học Bản chất và hiện tượng.
- Nhật Bản, một cái tên khơng cịn q xa lạ đối với tất cả mọi người trên thế giới. Một
quốc gia bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, và hình như mẹ thiên nhiên khơng ưu ái gì
quốc gia này khi đây là một trong những quốc gia nghèo nàn về tài nguyên chỉ ngoại trừ
gỗ và hải sản. Khơng những thế cịn bị tàn phá nặng nề bởi thiên tai với 1500 trận động
đất lớn nhỏ mỗi năm cùng với đó là sự đe dọa đến từ sóng thần sau những trận động đất
lớn. Thế nhưng, với những chính sách phù hợp, cộng với ý thức của từng cá nhân con
người Nhật Bản – điều mà khơng phải bất kì một quốc gia nào cũng có thể làm được và
đó cũng là một trong những điều khiến cho mọi người trên thế giới phải ngưỡng mộ, họ
đã làm cho kinh tế của người dân phục hồi nhanh chóng (1945 – 1954) và phát triển cao
độ (1955 – 1973) và điều đó đã làm cho thế giới king ngạc, đến mức người ta phải đặt tên
cho thời kì đó là “Thần kì Nhật Bản”. Tuy đến nay việc phát triển khơng cịn nhanh như
trước, nhưng kinh tế Nhật vẫn là một trong những quốc gia phát triển trên thế giới với nên
kinh tế đứng thứ 3 thế giới (đứng sau Mỹ và Trung Quốc sau khi bị vượt mặt vào năm
2010). Cán cân thương mai dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn
vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn
nhất thế giới, có nhiều tập đồn tài chính và ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Tất cả đã
nói lên được sức mạnh của Nhật Bản. Và qua đó, khơng khó để chúng ta có thể thấy mọi
người ca tụng đất nước này như thế nào qua những gì mà họ đạt được. Thật sự không thể
kể hết những lời nói mĩ miều cho quốc gia này. Vốn để có được nền kinh tế như hiện nay,
nhiều người vẫn cho rằng nhân tố quan trọng nhất là con người Nhật Bản. Quả thật như
vậy, người Nhật Bản được xem là những công nhân chăm chỉ nhất thế giới, tỉ lệ phạm tội
ít nhất thế giới, ý thức về trách nhiệm, sự đoàn kết và lối của người dân được đẩy lên mức
đỉnh cao,… Tất cả tạo nên bản chất của con người và quốc gia Nhật Bản. Từ đó ta có thể
thấy được những gì mà quốc gia này có thể đạt được như trên. Thế nhưng ở một góc nhìn
khác, mọi thứ khơng thật sự hồn hảo đến như thế, bởi vì đằng sau đó là một cuộc sống
lặng lẽ đến ngột ngạt, một xã hội thiếu tiếng cười. Có những điều chúng ta chưa thể thấy
nếu như chúng ta chưa tận mắt chứng kiến, và quả thực cịn rất nhiều thứ ở Nhật Bản mà
trong tâm trí chúng ta nó hồn hảo nhưng thật ra khơng phải như vậy. Như trong tàu điện
ngầm, nụ cười là một thứ hàng xa xỉ, nhưng khn mặt phờ phạc vì làm việc 10 – 16h
trong một ngày, họ khơng nói chuyện, khơng cười đùa. Có lẽ vì thế, trên mỗi khuôn mặt là
một thế giới lặng lẽ, cô đơn và nhiều khi là cả sự nhàm chán đối với họ vì ngày nào cũng
như vậy. Cịn khi đi làm về, thì cả người già hay người trẻ đều mang trên mình nhưng đơi
mắt của sự thiếu ngủ, cố gắng lết những bước chân của mình lên tàu để về cho kịp nhà.
Ngoài ra, với lối sống tự lập từ bé đã đẩy họ vào một thế giới hoàn toàn khác. Cuộc sống
tự lập đã đẩy họ vào một thế giới của riêng mình mà ở đó họ khơng thể kể lể, chia sẻ với
người khác cho dù ckhaó là người thân hay bạn bè, tính tự ái, tự tơn của họ quá cao để có
thể làm những việc đó, và khi họ rơi vào bế tắc, khơng có lối thốt, họ sẽ chọn con đường
rời bỏ cuộc sống. Từ đó làm nên quốc nạn của quốc gia này, đó là tự tử. Ở Nhật, mức
lương trung bình của người Việt ở đây lên tới 3000 – 4000 USD, có lẽ “món ăn” vật chất
khơng phải là thứ gì đó q quan trọng đối với người dân ở đây, nhưng “món ăn” tinh
thần lại là một thứ thiếu thốn trong xã hội này. Họ chẳng quan tâm gì ngoại trừ cơng việc,
thậm chí người chồng được về sớm thì cũng bị người vợ nhắc rằng đi đâu đó chứ đừng về
nhà vì sợ bị người khác để ý. Và những điều đó tạo nên một thế giới cơ đơn đến đáng sợ.
Hậu quả của nó là một quốc gia thiếu tiếng cười và có thể nói đó là tình cảm, chính vì
những lí do đó mà ở quốc gia được ca tụng này, những thứ tưởng như là hồn hảo lại
khơng được hồn hảo thật sự. Và có lẽ vì vậy mà nền kinh tế khơng cịn phát triển nhanh
như trước, phải chăng tất cả mọi thứ đã đạt đến giới hạn ? Người Nhật đã quá nhàm chán
với công việc hiện tại, họ khơng cịn động lực để phát triển thêm nữa ? Và cũng chính vì
thế nên nền kinh tế của Nhật Bản đã bị Trung Quốc vượt mặt ? Quay trở lại với lý luận về
cặp phạm trù triết học Bản chất – Hiện tượng, qua ví dụ chúng ta có thể thấy được rằng,
bản chất của con người Nhật Bản – đó là siêng năng, cần cù, chịu khó và đồn kết với
nhau trong lúc khó khăn, với những bản chất đó đã tạo nên những hiện tượng mà chúng ta
có thể thẩy rõ như giúp cho người Nhật Bản và đất nước Nhật Bản trở thành một trong
những quốc gia phát triển trên thế giới, khiến cho nhiều nước trên thế giới phải học tập và
noi theo. Bản chất của người Nhật Bản là thế, nhưng vấn đề ở đây là chuyện gì cũng có
mặt trái của nó, như hai mặt của đồng tiền. Với những bản chất đó con người Nhật Bản đã
có đạt được những thành tựu nhất định đó, thế nhưng ở phía sau những bản chất đó là một
xã hội khơng có tiếng cười, sự ngột ngạt đến đáng sợ trong lối sống, sự thiếu thốn tình
cảm ở mọi mối quan hệ trong xã hội đã đưa mỗi cá thể con người Nhật Bản vào trong một
thế giới riêng của chính họ, khơng thể chia sẻ với ai vì cái bản chất sống tự lập, khơng
được dựa dẫm và nói lên những mệt mỏi, những suy nghĩ của mình một cách rõ ràng, từ
đó chúng ta có thể thấy được những hiện tượng cụ thể đã xảy ra. Tự tử được xem là quốc
nạn của quốc gia này, nền kinh tế đã hụt hơi so với Trung Quốc trong thời gian gần đây,…
Từ đó ta thấy được rằng, bản chất phản ánh rõ hiện tượng ra bên ngồi, những hiện tượng
khơng thể nào thể hiện cụ thể bản chất.
- Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế- xã hội của loài người, xuất hiện lần đầu tiên
tại Châu Âu và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến Châu Âu và chính thức được
xác lập như một hình thái xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỉ thứ XVII. Sau cách mạng
Pháp cuối thế kỉ XVIII, hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa được dần dần
chiếm ưu thế hoàn toàn tại Châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước chế độ phong kiến,
quý tộc. Cùng với bản chất vốn có là một chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, cùng với đó là
sự bóc lột về sức lao động đối với giai cấp vô sản từ giai cấp tư sản, lịch sử đã cho thấy
rằng chế độ này vốn không tốt như chúng ta vẫn nghĩ, mà theo C.Mác nói thì đây là “chủ
nghĩa đầy máu và bùn dơ, không giống như một câu chuyện tình ca, nó được viết lại bằng
những trang đẫm máu và lửa không bao giờ phai”.
Thực chất quá trình tích lũy để tạo nên chủ nghĩa tư bản là q trình tích lũy tiền tệ
nhờ vào biện pháp ăn cướp, tước đoạt đối với những người sản xuất hàng hóa nhỏ
và nơng dân tự do; nhờ vào hoạt động mua bán, trao đổi khơng ngang giá qua đó
mà thực hiện sự bóc lột, nơ dịch đối với những nước lạc hậu.
Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản đó là quan hệ bóc lột của
giai cấp tư bản đối với cơng dân làm th. Tuy rằng hình thức bóc lột đã từng tồn
tại trong lịch sử nhưng theo C.Mác và Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản cịn
tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc lột cịn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã
hội vẫn là điều không thể tránh khỏi.
Các cuộc chiến tranh thường xuyên xảy ra với mục đích tranh giành thị trường,
thuộc địa và khu vực để lại cho nhân loại những hậu quả vơ cùng nặng nề.
Việc hình thành nên sự phân chia nước giàu nước nghèo được thể hiện rõ nét hơn
bao giờ hết và chính chủ nghĩa tư bản là người chịu trách nhiệm cho việc này.
- Thế nhưng ở một góc nhìn khác, bản chất của chủ nghĩa tư bản lại đem lại cho con
người những lợi ích to lớn. Chủ nghĩa tư bản không đồng nhất với chủ nghĩa tự do dù nền
tảng là kinh tế tư hữu, nói cách khác chủ nghĩa tư bản là một trong những hình thái kinh
tế của sản xuất tư hữu, và đối lập với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng sở hữu cơng cộng.
Chính vì tính chất đó mà chủ nghĩa tư bản có những mặt tốt nhất định như:
Nhìn nhận quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do sản xuất và kinh doanh được xã
hội bảo vệ về mặt pháp luật và được coi như là một quyền thiêng liêng bất khả xâm
phạm của con người. Chính vì thế như những việc sao chép, ăn cắp ý tưởng hay
bất cứ vấn đề liên quan sẽ bị pháp luật trừng trị thích đáng.
Tạo nhiều việc làm cho người dân và tư đó cải thiện được ít nhiều cuộc sống của
họ.
Chế độ tư bản chủ nghĩa đã đưa một số nước đã và đang trên đà phát triển vượt bậc
như Mỹ, Nhật,…
- Ở nhiều góc độ khác nhau, chúng ta có thể thấy được những bộ mặt khác nhau của chủ
nghĩa tư bản. Với mỗi bản chất trong mỗi góc nhìn, nó lại cho chúng ta thấy được những
hiện tượng khác nhau dựa trên những bản chất đó.
2.2 Liên hệ thực tiễn đối với cặp phạm trù triết học Khả năng và Hiện thực.
- Ở các nước đế quốc hiện nay, các mâu thuẫn bên trong giữa giai cấp chủ nghĩa mâu
thuẫn giai cấp tư sản cực đoan, người lao động mâu thuẫn giai cấp tư sản, lực lượng sản
xuất (tính chất xã hội hóa) mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa,
những mâu thuẫn này đều khơng thể điều hịa được và có khả năng sẽ diễn ra một cuộc
chiến tranh cục bộ của một nước đế quốc hiện nay. (Khả năng tất nhiên)
- Vào những năm 86, 87, 88, 89 là những năm nhân dân ta gặp rất nhiều khó khăn về cuộc
sống sinh hoạt (tiền mất giá, giá hàng tăng…). Sau đó, Đại hội Đảng lần thứ VI trước hiện
thực như vậy đã khắc phục những khó khăn, Đảng ta đã đặt ra nhiều biện pháp, gồm có
các biện pháp như đổi mới tư duy, dần dần từng bước đổi mới toàn diện, thay đổi tình
trạng kinh tế của xã hội: bảo đảm trật tự an ninh xã hội, nâng cao, ổn định đời sống,
chúng ta nhận thấy được khả năng ở đây. Vậy để khả năng này thành hiện thực Đảng ta đã
đề ra một số những chính sách: thay đổi tiền lương, tăng phụ cấp, mở cửa đối với các
nước, xây dựng cơ chế mở. Và hiện thực mới, kinh tế phát triển ổn định, dân số ổn định,
chính trị, trật tự an tồn xã hội, giảm lạm phát, hàng hóa dồi dào. Và từ đó tạo ra khả năng
mới là mở rộng ra thành nền kinh tế nhiều thành phần, giao lưu, buôn bán giữa các nước,
củng cố địa vị đất nước ta. Mở rộng quan hệ ngoại giao, bắt tay hữu hảo với các nước lớn
có nền kinh tế mạnh. Hiện thực mới để có điều kiện xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh.
- Trong lịch sử của các quốc gia trên thế giới, nếu hỏi hãy cho một cái tên mà lịch sử của
họ đau thương nhất, nhưng hào hùng và hoành tráng nhất thì có lẽ mọi người sẽ nghĩ ngay
đến Việt Nam. Một quốc gia từ ngàn xưa đã không biết bao nhiêu lần bị xâm lược và bị
đẩy vào các cuộc chiến đẫm máu và tàn khốc. Chúng ta đã bị Trung Quốc đô hộ trong
1000 năm, bị các kẻ thủ mà hiện tại là các quốc gia mạnh mẽ nhất trên thế giới xâm lược,
nhưng vẫn chúng ta vẫn giữ được khí phách mạnh mẽ, tinh thần đồn kết, ý chí chiến đấu
kiên cường không chịu khuất phục trước ai, và chúng ta vẫn giữ được chủ quyền và thành
công trong công việc giữ nước và xây dựng đất nước. Và khi nói đến đây thì khơng phải
ai cũng có thể mường tượng ra được một quốc gia với nền lịch sử đô hộ như vậy lại có
tiềm năng kinh tế và phát triển như bây giờ. Một quốc gia đang trên đà phát triển và cũng
là một đối tượng có tiềm năng phát triển được nhắm đến bởi nhiều nước. Khả năng phát
triển của Việt Nam là một điều không thể bàn cãi khi chúng ta có quá nhiều những thành
tựu mà bản thân đã đạt được. Qua nhiều năm sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất
đất nước thì Việt Nam chúng ta đã có nhiều thành tựu trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước. Từ một quốc gia lạc hậu với 90% dân số làm nơng nghiệp thì hiện
tại đất nước chúng ta đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội
từng bước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, tạo ra mơi trường thuận lợi
thu hút được vốn đầu tư nước ngoài làm động lực cho sự phát triển. Diện mạo đất nước có
nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, tiềm lực và quy mô nền kinh tế
tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình); đời sống nhân dân từng bước được cải thiện;
đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Ngồi ra cịn phải nói thêm về bản chất của con người Việt Nam, đó chính là tính cần
cù, chịu thương chịu khó, tất cả đã tạo nên sự phát triển của một Việt Nam như bây giờ.
Thế nhưng có một câu hỏi ln được đặt ra trong bao nhiêu lâu nay đó là “Liệu chúng ta
có thể trở thành một quốc gia phát triển như Mỹ hay Nhật Bản được hay không ?”. Với tất
cả những ý mà chúng ta đã nêu trên, với những hiện thực mà chúng ta đang có, chúng ta
sẽ trở thành một nước phát triển trong những nước phát triển trong tương lai gần, hay theo
triết học Mác – Lênin được gọi là khả năng gần. Thế nhưng, để có thể đạt được trình độ
của các quốc gia mà nền kinh tế hiện tại được xem là “ông vua” của thế giới như Mỹ hay
Nhật Bản thì điều đó thật sự là một câu chuyện hoàn toàn khác. Bởi vì để có thể trở nên
như Mỹ hay Nhật, điều đó địi hỏi rất nhiều thứ: từ những vấn đề liên quan đến nhà nước
và các chính sách trong tất cả mọi mặt từ kinh tế hay giáo dục, sự phát triển của nền kinh
tế cần phải đạt được ngưỡng cao gấp nhiều lần so với hiện tại để có thể trở nên như các
nước nêu trên… Và nếu như chúng ta chưa đáp ứng đủ những u cầu cần thiết đó, thì
cũng sẽ chẳng bao giờ chúng ta có thể bằng các quốc gia lớn mạnh trên thế giới tại thời
điểm hiện tại khi mà khoảng cách của họ với chúng ta là quá lớn. Hay như theo triết học
Mác – Lênin thì Khả năng và hiện thực tồn tại trong một mối quan hệ thống nhất và
không tách rời, nếu như không có cái này thì sẽ khơng có cái kia và ngược lại. Thế nhưng,
điều đó khơng có nghĩa là chúng ta khơng thể nào đạt được điều đó. Với tình trạng phát
triển kinh tế như hiện nay, tuy cần phải cịn cả một thời gian rất dài để có thể đuổi kịp các
quốc gia phát triển trên thế giới nhưng đó lại là trong tương lai xa. Với việc phát triển
kinh tế như hiện nay, để có thể vươn bằng với các quốc gia phát triển bậc nhất thế giới
không phải là điều không thể, trong tương lai xa (khả năng xa) chúng ta chắc chắn sẽ đạt
được những điều đó. Cuối cùng là những vấn đề ngẫu nhiên xảy ra, nếu như trong tương
lai, những người Việt trẻ được sinh ra và lớn lên và sau này hầu hết đều trở thành những
nguồn lao động trình độ cao, chúng ta sẽ phát triển một cách khơng ngờ, từ đó các quốc
gia phát triển trên thế giới sẽ tìm đến và đầu tư, giúp cho chúng ta phát triển hơn. Đó là
một trong những khả năng ngẫu nhiên có thể xảy ra.