Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (339.33 KB, 45 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>PHÒNG GD&ĐT PHÚ LỘC TRƯỜNG THCS LÂM MỘNG QUANG. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. Độc lập -Tự do - Hạnh phúc. BÁO CÁO KẾT QUẢ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN NĂM HỌC 2013 - 2014 Họ và tên giáo viên : NGUYỄN DŨNG Tổ chuyên môn : Khoa học Xã hội Chức vụ chuyên môn : Giáo viên, Tổ trưởng Tổ KHXH PHẦN I. KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ Năm học: 2013-2014 Căn cứ Thông tư số 26/2012/TT- BGDĐT ngày 10/7/2012 Của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn thực hiện quy chế chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; Căn cứ Thông tư số 31/2011/TT- BGDĐT ngày 08/8/2011 Của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS; Căn cứ Kế hoạch số 224/KH- PGD&ĐT ngày 10/7/2013 của Phòng Giáo dục – Đào tạo Phú Lộcc về Hướng dẫn thực hiện công tác Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên năm học 2013-2014; Căn cứ tình hình thực tế đơn vị trường THCS Lâm Mộng Quang, bản thân tôi báo cáo kết quả bồi dưỡng thường xuyên (BDTX) năm học 2013 – 2014 như sau: I. MỤC ĐÍCH 1. Giáo viên học tập bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp. 2. Phát triển năng lực dạy học, năng lực giáo dục và những năng lực khác theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên, yêu cầu nhiệm vụ năm học, cấp học, yêu cầu phát triển giáo dục của tỉnh, yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục trong toàn ngành. 3. Phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên; năng lực tự đánh giá hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên; năng lực tổ chức, quản lí hoạt động tự học, tự bồi dưỡng giáo viên của nhà trường, của Phòng Giáo dục và Đào tạo. II. ĐỐI TƯỢNG BỒI DƯỠNG Họ và tên giáo viên: NGUYỄN DŨNG Ngày tháng năm sinh: 01.08.1964 Tổ chuyên môn: Khoa học Xã hội Năm vào ngành giáo dục: 1985 Nhiệm vụ được giao trong năm học: Giảng dạy bộ môn Ngữ Văn 7/1; 8/2; 8/3 . III. NỘI DUNG -THỜI LƯỢNG BỒI DƯỠNG. 1. Nội dung bồi dưỡng 1: Thời lượng : 30 tiết - Đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn trong dạy học lấy HS làm trung tâm; - Đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn ở trường THCS qua nghiên cứu bài học; - Phương pháp kỷ luật tích cực và quyền trẻ em ở trường THCS; + Bồi dưỡng tập trung: 15 tiết + Tự bồi dưỡng và sinh hoạt theo tổ nhóm: 15 tiết 2. Nội dung bồi dưỡng 2: Thời lượng : 30 tiết - Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra; - Đổi mới phương pháp dạy học ở các bộ môn; - Bồi dưỡng chính trị đầu năm học; + Bồi dưỡng tập trung: 15 tiết + Tự bồi dưỡng và sinh hoạt theo tổ nhóm: 15tiết 3 . Nội dung bồi dưỡng 3: Khối kiến thức tự chọn:.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> Thời lượng : 60 tiết Căn cứ vào Thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08/8/21011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình BDTX giáo viên THCS và hướng dẫn của Phòng GD&ĐT huyện Phú Lộc cũng như của trường THCS Lâm Mộng Quang. Tôi chọn thực hiện bồi dưỡng thường xuyên: 04 mô đun : THCS13, THCS 14, THCS 15, THCS 16. - THCS 13: Nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS trong xây dựng kế hoạch dạy học; - THCS 14: Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích cực; - THCS 15: Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện kế hoạch dạy học; - THCS 16: Hồ sơ dạy học. IV. Hình thức bồi dưỡng thường xuyên - Tự học dựa vào các tài liệu, sách và trao đổi với đồng nghiệp. V. Tài liệu học tập để giáo viên thực hiện chương trình - Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS của BGD; - Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS của BGD; - Các tài liệu phục vụ đổi mới PPDH; - Các tài liệu tập huấn về chuyên môn; VI. TỒ CHỨC THỰC HIỆN - Xây dựng và hoàn thành kế hoạch BDTX đã được phê duyệt, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định về BDTX của tổ CM và nhà trường. - Báo cáo tổ CM và nhà trường kết quả thực hiện kế hoạch BDTX về việc vận dụng kiến thức đã học tập BDTX vào quá trình thực hiện nhiệm vụ. PHẦN II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BDTX NĂM HỌC 2013-2014 I. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 1: Thời lượng : 30 tiết 1. Đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn trong dạy học lấy HS làm trung tâm; I. ĐỔI MỚI SINH HOẠT TỔ, NHÓM CHUYÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LẤY HỌC SINH LÀM TRUNG TÂM. 1.MỤC TIÊU: + Nâng cao năng lực quản lý và năng lực hoạt động chuyên môn cho CBQL và GV trong các nhà trường phổ thông + Đổi mới trong tư duy và sinh hoạt chuyên môn theo xu hướng tiếp cận phương pháp dạy học tích cực + Làm thay đổi căn bản về phương pháp thiết kế giờ dạy; tổ chức hoạt động trong giờ dạy; nội dung và hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn trong trường phổ thông + Phát huy rõ nét tính tích cực của học sinh với vai trò của người học * Giáo viên nhận biết học sinh là đối tác, sự hợp tác sẽ quyết định sự thành công của giờ dạy 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN KHẮC PHỤCTRONG HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG - Áp dụng khuôn mẫu: Hoạt động chuyên môn cá nhân: soạn giáo án, lên lớp..., nặng hình thức biểu diễn, gò ép theo mẫu, mang tính đơn lẻ độc lập của từng cá nhân; Sinh hoạt chuyên môn trong trường tập trung vào bổ sẻ, đánh giá, bình xét về hoạt động của người dạy là chủ yếu; Chú trọng việc đánh giá xếp loại giáo viên, nặng về đánh giá giờ dự, kiểm tra đánh giá giáo án, hồ sơ. - Sinh hoạt, quản lý chuyên môn dưới dạng hành chính mệnh lệnh. - Bệnh thành tích, bao biện, bảo thủ, e ngại nảy sinh..
<span class='text_page_counter'>(3)</span> 3. BIỂU HIỆN CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN HIỆN NAY 3.1. GV có thói quen: quan tâm việc dạy (chỉ chú ý đến kĩ thuật DH) mà chưa chú ý đến việc học của HS. 3.2. Kĩ năng quan sát để hiểu học sinh hạn chế, chưa quan tâm đến việc kết nỗi giữa hoạt động của thầy đối với từng học sinh. 3.3. Các kĩ năng: Giao tiếp, xây dựng mối quan hệ GV-HS, HS-HS, lắng nghe HS, giúp HS vượt qua khó khăn... ở trong giờ học của GV còn yếu và thiếu, đây là bức tường rào rất lớn, là nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến việc áp dụng PPDH lấy HS làm TT. 3.4.Thói quen bắt HS khoang tay, ngồi đẹp, gõ thước mạnh, có những lời nhắc nhở học sinh gay gắt, thiếu thân thiên... Những biểu hiện đó làm cản trở việc áp dụng kĩ thuật dạy học và đổi mới PPDH... 3.5. Thực hiện nhiều hoạt động trong tổ chức một tiết học. 3.6. Cá nhân người dự chủ yếu chú ý hoạt động của thầy để trao đổi, bình xét, đánh giá thầy. Tất cả điều này để GV nhận ra chỉ thông qua các hình ảnh có thật và minh chứng trên các giờ học mà ở đó HS là trung tâm để làm cơ sở phân tích, chứng minh. 4. MỘT SỐ NỘI DUNG ĐỀ CẬP VỀ PHƯƠNG PHÁP SHCM THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC, LẤY HỌC SINH LÀM TRUNG TÂM TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG 4.1. Đảm bảo cơ hội học tập, phát huy tính sáng tạo của học sinh cho tất cả mọi học sinh trong mỗi giờ học 4.2. Đảm bảo cơ hội phát triển năng lực hoạt động chuyên môn cho mỗi giáo viên 4.3. Luôn tạo ra sự kết nối giữa thầy và học sinh trong quá trình hoạt động dạy và học 4.4. Đảm bảo cơ hội cho nhiều phụ huynh học sinh tham gia (đây là mục tiêu rất cần thiết, cao cả). 4.5. Tạo ra sự thân thiện giữa GV – GV, CBQL – GV, GV – HS, GV – gia đình HS 2. Đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn ở trường THCS qua nghiên cứu bài học; II. . ĐỔI MỚI SINH HOẠT TỔ, NHÓM CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THCS QUA NGHIÊN CỨU BÀI HỌC 1. Quan niệm, Mục đích đổi mới chuyên môn theo nghiên cứu bài học 1.1 Quan niệm: Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (NCBH): - Là hoạt động chuyên môn nhưng ở đó GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh). - Không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS. 1.2 Mục đích: - Đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia vào quá trình học tập, GV quan tâm đến khả năng học tập của học sinh đặc biệt là học sinh có khó khăn về học. - Tạo cơ hội cho tất cả GV nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và khả năng sáng tạo trong dạy học. - Nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. - Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường..
<span class='text_page_counter'>(4)</span> 2. Các bước tiến hành NCBH: Chu trình NCBH gồm 4 bước: * Bước 1. Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu Cần xác định mục tiêu kiến thức và kĩ năng mà HS cần đạt được khi tiến hành nghiên cứu. Mục tiêu bài học được nghiên cứu, được đề xuất bởi một thành viên trong tổ CM, sau đó được góp ý, hoàn thiện qua SHCM. Các GV sẽ có một cuộc thảo luận chi tiết, cụ thể bài học tiến hành nghiên cứu như: Đặt câu hỏi xem đây là loại bài học gì? Cách giới thiệu bài học như thế nào? Sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học thế nào cho đạt hiệu quả cao? Nội dung bài học chia ra những đơn vị kiến thức nào? Dự kiến tổ chức hoạt động dạy học nào tương ứng? Dự kiến tích hợp nội dung giáo dục nào là phù hợp? Sau khi kết thúc cuộc họp này, một GV trong nhóm sẽ nhận nhiệm vụ phát triển đề cương đầu tiên của giáo án bài học nghiên cứu. * Bước 2. Tiến hành bài học và dự giờ Sau khi hoàn thành kế hoạch dạy học chi tiết, một GV sẽ dạy minh hoạ bài học nghiên cứu ở một lớp cụ thể. - Các yêu cầu cụ thể của việc dự giờ như sau: + Chuẩn bị lớp dạy minh hoạ, bố trí lớp có đủ chỗ ngồi quan sát thuận lợi cho người dự. + Điều chỉnh số lượng người dự ở mức vừa phải, không quá đông. + Việc dự giờ cần đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học của học sinh, không gây khó khăn cho người dạy minh hoạ. GV cần quan sát học sinh học, cách phản ứng của học sinh trong giờ học, cách làm việc nhóm, những sai lầm học sinh mắc phải. Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được “bỏ rơi” một HS nào. - Từ bỏ thói quen đánh giá giờ dạy của GV, người dự cần học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải quyết. Bước 3. Suy ngẫm, thảo luận về bài học nghiên cứu - Suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến của GV về bài học sau khi dự giờ. Các ý kiến đưa ra nhiều hay ít, tinh tế và sâu sắc hay hời hợt và nông cạn sẽ quyết định hiệu quả học tập, phát triển năng lực của tất cả GV tham gia vào SHCM. - Người dự tập trung quan sát việc học của HS, đưa ra bằng chứng về những gì họ nhìn thấy được về cách học, suy nghĩ, giải quyết vấn đề của HS trên lớp học, để rút kinh nghiệm, bổ sung, đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả. - Mọi người phải lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau khi thảo luận, không nên quan tâm đến các tiêu chuẩn truyền thống của một giờ dạy. - Tuyệt đối không xếp loại giờ dạy minh hoạ trong SHCM. Bởi giờ dạy là sản phẩm chung của mọi người khi tham gia SHCM. * Bước 4. Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày - Sau khi thảo luận về tiết dạy đầu tiên, tất cả cùng suy ngẫm xem có tiếp tục thực hiện NCBH này nữa không? Nếu bài học nghiên cứu vẫn chưa hoàn 3. Phương pháp kỷ luật tích cực và quyền trẻ em ở trường THCS; I. BỐI CẢNH VÀ QUAN ĐIỂM: - Ngày 20/11/1989: Công ước về Quyền trẻ em đã được phiên họp toàn thể của Liên.
<span class='text_page_counter'>(5)</span> Hợp quốc nhất trí thông qua. - Năm 1990: Công ước được công nhận là một Hiệp định quốc tế do đã có 20 nước thông qua. Việt Nam phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990. Công ước có 54 điều trong đó có 41 điều khoản đề ra các quyền của trẻ em. - Bốn nguyên tắc xuyên suốt bao trùm tinh thần của công ước đồng thời là cơ sở để diễn giải các quyền khác, đó là: 1) Tất cả các quyền được áp dụng bình đẳng cho mọi trẻ em; không có sự phân biệt đối xử giàu hay nghèo, dân tộc, tôn giáo, giới tính… 2) Tất cả các hoạt động được thực hiện đều vì lợi ích tốt nhất của trẻ em: Khi xem xét hay giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em cần phải đặt lợi ích của trẻ em lên ưu tiên trên hết. 3) Vì sự sống còn và phát triển của trẻ: Trong bất cứ hoàn cảnh nào, không được để xảy ra các vấn đề nguy hiểm đến tính mạng, sự sống còn và phát triển của trẻ em. 4) Tôn trọng trẻ em: Trẻ em được bày tỏ ý kiến, quan điểm về những vấn đề có tác động đến trẻ, những quan điểm của trẻ phải được tôn trọng một cách thích đáng, phù hợp với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ em. Vì sao phương pháp kỉ luật tích cực được hình thành và phát triển? - Hiện tượng trừng phạt thân thể và xúc phạm tinh thần đối với học sinh đã và đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. - Ở nhiều nơi giáo viên chưa được nâng cao nhận thức và trang bị kỹ năng thực hiện các biện pháp giáo dục hiệu quả. - Trong xã hội ngày càng phát triển nhanh, ngày càng nhiều vấn đề phát sinh và thách thức trong giáo dục học sinh. Nhiều học sinh dễ dàng tiếp cận những luồng văn hóa tiêu cực và trở nên khó giáo dục hơn. II. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP KỈ LUẬT TÍCH CỰC: 1. Phương pháp kỉ luật tích cực là gì? - Phương pháp kỉ luật tích cực là khái niệm phản ánh quan điểm, mô hình và kỹ thuật giáo dục học sinh trong và bằng hoạt động của học sinh. - Phương pháp kỉ luật tích cực giúp tăng cường sự tương tác giữa các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục, theo đó thiết lập và tăng cường sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa cha mẹ và con cái và giữa trẻ em với người lớn nói chung. Các dấu hiệu dễ nhận thấy từ phương pháp kỉ luật tích cực: (i) Thực hiện các tác động giáo dục phù hợp với nhu cầu, trạng thái của học sinh, giúp học sinh khắc phục nhận thức, hành vi chưa đúng của bản thân; (ii) Tạo cho học sinh có cảm giác an toàn, thân thiện và được tôn trọng bằng việc “lắng nghe tích cực” và khích lệ học sinh, giúp các em có khả năng vượt qua các rào cản về tâm lý, giảm bớt căng thẳng trong học tập và cuộc sống cá nhân; (iii) Gia tăng năng lực hoạt động và cơ hội thành công cho học sinh bằng việc giáo dục các kỹ năng sống cơ bản cho các em. 2. Phương pháp kỉ luật tích cực được thực hiện dựa trên những nguyên tắc nào? - Nguyên tắc 1: Vì lợi ích tốt nhất của học sinh Mọi hành động, biện pháp kỉ luật mà giáo viên áp dụng là nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho học sinh để các em có thể phát huy tốt nhất tiềm năng của mình. - Nguyên tắc 2: Không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của học sinh Các biện pháp can thiệp phải tập trung, hướng vào hành vi của học sinh, không phải để phê phán con người, nhân cách của học sinh. - Nguyên tắc 3: Khích lệ và tôn trọng lẫn nhau.
<span class='text_page_counter'>(6)</span> Giáo viên cần bàn bạc, thống nhất với học sinh về những hành vi, việc làm mà học sinh không được vi phạm và hình thức, mức độ kỉ luật nếu họ vi phạm. - Nguyên tắc 4: Phù hợp với đặc điểm sự phát triển của lứa tuổi học sinh Các phương pháp kỉ luật phải phù hợp với đặc điểm sự phát triển của lứa tuổi học sinh. Nếu hiểu thế giới của học sinh thì giáo viên có nhiều khả năng chọn lựa cách phản ứng phù hợp hơn cho hành vi của học sinh. 3. Các biện pháp thực hiện phương pháp kỉ luật tích cực: a) Dùng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic: Khái niệm: - Hệ quả tự nhiên là những gì xảy ra một cách tự nhiên, không có sự can thiệp của người lớn. - Hệ quả logic là những gì xảy ra đòi hỏi phải có sự can thiệp của người lớn hoặc của trẻ khác trong gia đình hoặc lớp học. Mục đích của việc sử dụng hệ quả tự nhiên và logic: - Để dạy cho trẻ có ý thức trách nhiệm về các hành vi của bản thân, đồng thời khích lệ trẻ đưa ra những quyết định có trách nhiệm như làm đầy đủ bài tập về nhà, đi học đúng giờ… - Có thể thay thế cho hình thức trừng phạt, nghĩa là trẻ được tự mình trải nghiệm hậu quả của những hành vi chưa đúng, do vậy trẻ sẽ tự rút kinh nghiệm về hành vi của mình hoặc nếu đó là những hành vi tích cực thì trẻ có xu hướng lặp lại hành vi đó nhiều lần. Qua đó trẻ sẽ học được cách ứng xử tốt nhất mà không cần người lớn phải đánh mắng trẻ. Để việc áp dụng dùng hệ quả tự nhiên không trở thành trừng phạt nên lưu ý: - Không gây nguy hiểm cho trẻ: Hệ quả tự nhiên là cách để trẻ được trực tiếp trải nghiệm bằng thực tế và nhận ra kết quả hành vi của mình một cách tự nhiên, nhưng người lớn phải đảm bảo an toàn cho trẻ. - Không làm ảnh hưởng đến người khác: Chúng ta có thể giáo dục trẻ bằng chính kết quả hành vi mà trẻ gây ra, nhưng có thể hành vi đó gây nguy hiểm đến người khác. Để việc áp dụng dùng hệ quả logic không trở thành trừng phạt nên lưu ý: - Người lớn phải tôn trọng trẻ: Nếu người lớn không thể hiện sự tôn trọng đối với trẻ khi yêu cầu chúng khắc phục lỗi, mà lại mắng chửi, đe dọa… làm cho trẻ xấu hổ, sợ hãi thì sẽ là trừng phạt. - Hệ quả logic phải liên quan tới những hành vi mà trẻ gây ra. - Hợp lý: Là sự hợp lý giữa hệ quả logic với hành vi, hợp lý giữa thái độ của người lớn với những mong muốn thay đổi ở trẻ. b) Hình thành, thiết lập nội quy, nề nếp kỉ luật trong nhà trường và lớp học: - Nội quy, nề nếp kỉ luật là những điều rất cần thiết để giáo dục, nuôi dưỡng và đảm bảo sự phát triển lành mạnh, an toàn cho trẻ. - Nội quy, nề nếp tạo cơ sở cho trẻ hiểu xem những hành vi nào là phù hợp, những hành vi nào là không phù hợp và đâu là giới hạn không được vượt qua. - Có những nội quy bao gồm những quy định nghiêm khắc do người lớn hướng dẫn, trẻ buộc phải tuân thủ và không thể thương lượng được. Nhưng cũng có những nội quy, quy định do trẻ và người lớn cùng thảo luận, thống nhất, đồng thời có thể thay đổi. Khi thiết lập nội quy ở nhà và ở trường cần lưu ý: - Nội quy có dựa trên thực tế hay chỉ là cảm xúc của người lớn. - Nội quy có vì lợi ích của trẻ, giúp trẻ được an toàn, trở nên tốt hơn không. - Nội quy có giúp trẻ tránh được va chạm, xung đột với người khác..
<span class='text_page_counter'>(7)</span> - Nội quy có giúp trẻ học cách suy nghĩ, cân nhắc trước khi hành động. Khi đã thiết lập nội quy, việc duy trì và củng cố để thành thói quen cho trẻ là việc rất quan trọng và thường khó thực hiện hơn cả việc thiết lập nội quy. Cần lưu ý một số vấn đề sau: - Hướng dẫn trẻ phải rõ ràng, cụ thể. - Nhắc nhở trẻ để giúp trẻ suy nghĩ và nhớ lại sau đó quyết định hành động. - Cho trẻ ít nhất 2 khả năng lựa chọn: Hai khả năng này người lớn đều chấp nhận được, mục đích để khuyến khích khả năng suy nghĩ và đưa ra các quyết định của mình. - Cho trẻ biết hệ quả với hành vi lựa chọn: Khi trẻ biết được hệ quả của hành vi lựa chọn trẻ sẽ có xu hướng để tránh gây ra hậu quả như vậy. - Cảnh báo: Là nhắc nhở trẻ suy nghĩ về hậu quả xấu của một hành vi nào đó có thể xảy ra. - Thể hiện mong muốn: Là khích lệ trẻ có một hành vi cụ thể nào đó. c) Dùng thời gian tạm lắng: - Thời gian tạm lắng là thời gian trẻ bị tách ra khỏi hoạt động mà trẻ đang tham gia bởi trẻ có nguy cơ thực hiện hành vi không mong muốn. Trong lúc “tạm lắng” trẻ phải “ngồi” một chỗ, không được chơi, không được trò chuyện hay tham gia hoạt động như những người khác. Việc này diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định, mục đích để trẻ bình tĩnh trở lại, suy nghĩ về hành vi không đúng mực của mình và sau đó tiếp tục tham gia các hoạt động đang diễn ra. - Áp dụng phương pháp thời gian tạm lắng chỉ trong trường hợp trẻ đang có nguy cơ làm tổn thương đến trẻ khác hoặc chính bản thân mình. - Nếu áp dụng đúng cách (thỉnh thoảng sử dụng và sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn) thì sẽ có kết quả tốt, làm cho trẻ bình tĩnh trở lại, kiềm chế bản thân tốt hơn trong những tình huống gây tức giận, ức chế. - Nếu áp dụng không đúng cách (sử dụng thường xuyên) thì sẽ không hiệu quả, thậm chí còn gây tác động tiêu cực tới trẻ, làm trẻ trở nên hung hãn hơn, dễ cáu giận hơn. - Số phút trẻ phải “tạm lắng” tương ứng với số tuổi của trẻ. Cần phải sử dụng thời gian tạm lắng như thế nào để không trở thành trừng phạt? - Không sử dụng cho trẻ quá nhỏ. - Nên sử dụng ngay khi trẻ có hành vi làm tổn thương bạn hoặc bản thân. - Thời gian tạm lắng không được mang tính chất nhục mạ trẻ, làm cho trẻ thấy sợ hãi, xấu hổ. - Thời gian tạm lắng không được dài hơn khoảng thời gian để trẻ bình tâm trở lại. - Không được đe dọa trẻ rằng sẽ dùng hình phạt này nếu trẻ còn tái phạm, bởi như vậy trẻ sẽ tưởng rằng mình đang bị trừng phạt nên sẽ có thái độ thiếu hợp tác. III. VÌ SAO CẦN ĐƯA PHƯƠNG PHÁP KỈ LUẬT TÍCH CỰC VÀO TRƯỜNG PHỔ THÔNG: 1. Thực hiện phương pháp kỉ luật tích cực là phù hợp với công ước quốc tế về quyền học sinh và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục học sinh của Việt Nam. 2. Thực hiện phương pháp kỉ luật tích cực phù hợp với mục tiêu giáo dục của Việt Nam là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp”. 3. Thực hiện phương pháp kỉ luật tích cực mang lại lợi ích cho học sinh vì: (i) Học sinh có nhiều cơ hội chia sẻ, bày tỏ cảm xúc, luôn cảm nhận được sự quan tâm, tôn trọng, lắng nghe ý kiến từ Thầy, cô, bạn bè và mọi người xung quanh; (ii) Học sinh nhận ra được lỗi lầm, hạn chế của họ để khắc phục, sửa chữa, phát triển,.
<span class='text_page_counter'>(8)</span> hoàn thiện bản thân; (iii) Học sinh sẽ tích cực, chủ động hơn trong học tập và rèn luyện bản thân; (iv) Học sinh tự tin trước đám đông, không mặc cảm, tự ti về những khiếm khuyết, hạn chế, lỗi lầm của bản thân; (v) Học sinh phát huy được những tiềm năng, những mặt tích cực, những điểm mạnh của cá nhân trong các hoạt động học tập, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội và trong cuộc sống thực tiễn ở lớp, ở trường, trong gia đình và cộng đồng. 4. Thực hiện phương pháp kỉ luật tích cực mang lại lợi ích cho giáo viên vì: (i) Giáo viên giảm được áp lực quản lý lớp học vì học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỉ luật; (ii) Xây dựng được mối quan hệ thân thiện Thầy – Trò. Trò kính trọng, tin tưởng và yêu quý Thầy, cô. Thầy, cô hiểu trò, cảm thông với khó khăn của trò, yêu thương và hết lòng vì học sinh; (iii) Nâng cao hiệu quả quản lý lớp học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. 5. Thực hiện phương pháp kỉ luật tích cực mang lại lợi ích cho gia đình, nhà trường và xã hội: - Lợi ích đối với nhà trường: Nhà trường thực hiện được mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; tạo ra môi trường học tập thân thiện, an toàn tạo được niềm tin đối với gia đình học sinh và xã hội. - Lợi ích đối với gia đình: Học sinh trở thành những người có đủ phẩm chất và năng lực cho tương lai. Điều này làm cho cha mẹ học sinh yên tâm lao động và công tác, gia đình hòa thuận, hạnh phúc. - Lợi ích đối xã hội: Giảm thiểu được các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo hành, bạo lực; tiết kiệm kinh phí quốc gia trong việc chăm sóc, điều trị và trợ giúp giải quyết các tệ nạn; góp phần nâng cao đời sống cộng đồng, xây dựng xã hội phồn vinh. II. Nội dung bồi dưỡng 2: Thời lượng : 30 tiết. 1. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra; Phần 1. Nhận thức việc tiếp thu chuẩn kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra. I. Nhận thức việc tiếp thu chuẩn kiến thức, kỹ năng Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ của Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học, hoạt động giáo dục (gọi chung là môn học) và các chương trình cấp học. Chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun). Chuẩn kiến thức, kỹ năng của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải và có thể đạt được. Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng. Mỗi yêu cầu về kiến thức, kỹ năng có thể được chi tiết hoá hơn bằng những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cụ thể, tường minh hơn ; được minh chứng bằng những ví dụ thể hiện được cả nội dung kiến thức, kỹ năng và mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng. Chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của các môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập trong cấp học..
<span class='text_page_counter'>(9)</span> Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở chương trình các cấp học đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà học sinh (HS) cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành chương trình giáo dục của từng lớp học và cấp học. Các chuẩn này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cấp học. Việc thể hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng ở cuối chương trình cấp học biểu hiện hình mẫu mong đợi về người học sau mỗi cấp học và cần thiết cho công tác quản lí, chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên (GV). Chương trình cấp học thể hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng không phải đối với từng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập. Trong văn bản về chương trình của các cấp học, các chuẩn kiến thức, kỹ năng được biên soạn theo tinh thần : a) Các chuẩn kiến thức, kỹ năng không những được đưa vào cho từng môn học riêng biệt mà còn cho từng lĩnh vực học tập nhằm thể hiện sự gắn kết giữa các môn học và hoạt động giáo dục trong nhiệm vụ thực hiện mục tiêu của cấp học. b) Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ được thể hiện trong chương trình cấp học là các chuẩn của cấp học, tức là những yêu cầu cụ thể mà HS cần đạt được ở cuối cấp học. Cách thể hiện này tạo một tầm nhìn về sự phát triển của người học sau mỗi cấp học, đối chiếu với những gì mà mục tiêu của cấp học đã đề ra. Các mức độ về kiến thức, kỹ năng Các mức độ về kiến thức, kỹ năng được thể hiện cụ thể trong Chuẩn kiến thức, kỹ năng của CTGDPT. * Về kiến thức : Yêu cầu HS phải hiểu rõ và nắm vững các kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo khoa để từ đó có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn. * Về kỹ năng : Yêu cầu HS phải biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành ; có kỹ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ,... * Kiến thức, kỹ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ HS ở các mức độ, từ đơn giản đến phức tạp, bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức. * Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo các mức độ : nhận biết, thông hiểu, vận dụng (bậc thấp và bậc cao). Hiện nay Bộ GD&ĐT đang chỉ đạo dạy học bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng theo các mức độ: Nhận biết, Thông hiểu và Vận dụng (mức độ thấp và mức độ cao). 1. Nhận biết: Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp. Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức, thể hiện ở chỗ HS có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiện tượng. HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng. Có thể cụ thể hoá mức độ nhận biết bằng các yêu cầu: Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất. Nhận dạng được (không cần giải thích) các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản. Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố, các hiện tượng..
<span class='text_page_counter'>(10)</span> 2. Thông hiểu: Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng ; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng ; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết. Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng). Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu: Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ: từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại). Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, định nghĩa, định lí, định luật. Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó. Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic. 3. Vận dụng ở mức thấp: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Đây là mức độ vận dụng cao hơn mức độ thông hiểu trên, yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn. Có thể cụ thể hoá mức độ vận dụng bằng các yêu cầu: So sánh các phương án giải quyết vấn đề. Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được. Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định lí, định luật, tính chất đã biết. Khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quen thuộc sang tình huống mới, phức tạp hơn. 4. Vận dụng ở mức cao: Là khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác, bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới. Mức độ sáng tạo yêu cầu tạo ra được một hình mẫu mới, một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ phân lớp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi, năng lực sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các cấu trúc và mô hình mới. Có thể cụ thể hoá mức độ sáng tạo bằng các yêu cầu: Mở rộng một mô hình ban đầu thành mô hình mới. Khái quát hoá những vấn đề riêng lẻ, cụ thể thành vấn đề tổng quát mới. Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh mới. Dự đoán, dự báo sự xuất hiện nhân tố mới khi thay đổi các mối quan hệ cũ. II. Kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra.
<span class='text_page_counter'>(11)</span> - Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình giáo dục. Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh nhằm tạo cơ sở cho những điều chỉnh sư phạm của giáo viên, các giải pháp của các cấp quản lí giáo dục và cho bản thân học sinh, để học sinh học tập đạt kết quả tốt hơn. - Đánh giá kết quả học tập của học sinh cần sử dụng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp và hình thức khác nhau. Đề kiểm tra là một trong những công cụ được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của học sinh. - Để biên soạn đề kiểm tra cần thực hiện theo quy trình sau: Bước 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra - Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào mục đích yêu cầu cụ thể của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp. Bước 2. Xác định hình thức đề kiểm tra - Đề kiểm tra (viết) có các hình thức sau: 1. Đề kiểm tra tự luận; 2. Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan; 3. Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan. - Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác hơn. Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra) - Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức, kĩ năng chính cần đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao). - Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi. - Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá, lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức. Bước 4. Biên soạn câu hỏi theo ma trận - Biên soạn đề kiểm tra dựa vào ma trận có thể chỉ sử dụng hình thức TNKQ hoặc TL hay kết hợp cả 2 hình thức. - Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: loại câu hỏi, số câu hỏi và nội dung câu hỏi do ma trận đề quy định, mỗi câu hỏi TNKQ chỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm. Bước 5. Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm - Việc xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm đối với bài kiểm tra cần đảm bảo các yêu cầu: - Nội dung: khoa học và chính xác. Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và dễ hiểu, phù hợp với ma trận đề kiểm tra. - Cần hướng tới xây dựng bản mô tả các mức độ đạt được để học sinh có thể tự đánh giá được bài làm của mình. Bước 6. Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra.
<span class='text_page_counter'>(12)</span> Sau khi biên soạn xong đề kiểm tra cần xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra, gồm các bước sau: 1. Đối chiếu từng câu hỏi với hướng dẫn chấm và thang điểm, phát hiện những sai sót hoặc thiếu chính xác của đề và đáp án. Sửa các từ ngữ, nội dung nếu thấy cần thiết để đảm bảo tính khoa học và chính xác. 2. Đối chiếu từng câu hỏi với ma trận đề, xem xét câu hỏi có phù hợp với chuẩn cần đánh giá không? Có phù hợp với cấp độ nhận thức cần đánh giá không? Số điểm có thích hợp không? Thời gian dự kiến có phù hợp không? 3. Thử đề kiểm tra để tiếp tục điều chỉnh đề cho phù hợp với mục tiêu, chuẩn chương trình và đối tượng học sinh. 4. Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm. Phần 2. Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục I. Xây dựng giáo án dạy môn Ngữ Văn 8 theo chuẩn kiến thức, kỹ năng: Qua quá tình nhận thức ở trên bản thân đã xây dựng các giáo án theo chuẩn kiến thức, kĩ năng ví dụ như tiết dạy sau: Tiết 77:. QUÊ HƯƠNG (Tế Hanh) A. Mục tiêu: 1. Kiến thức: HS cần: - Hiểu được nguồn cảm hứng lớn trong thơ Tế Hanh nói chung và ở bài thơ Quê hương nói riêng là : tình yêu quê hương đằm thắm. - Cảm nhận được hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống và sinh hoạt lao động của con người ; lời thơ bình dị, gợi cảm xúc trong sáng, thiết tha. 2. Thái độ: Giáo dục các em lòng yêu lao động, yêu quê hương, yêu đất nước. 3. Kĩ năng: - Nhận biết được tác phẩm thơ lãng mạn. - Đọc diễn cảm tác phẩm thơ. - Phân tích được những chi tiết miêu tả, biểu cảm đặc sắc trong bài thơ. B. Chuẩn bị: G: bảng phụ, phiếu học tập, tranh ảnh. H: Đọc SGK, soạn bài theo đinh hướng SGK và sự hướng dẫn của GV. C. Tiến trình giờ lên lớp: 1. ÔĐTC: 2. Kiểm tra bài cũ: ? Đọc thuộc lòng khổ thơ em thích trong bài “ Nhớ rừng” của Thế Lữ? Phân tích giá trị nghệ thuật và nội dung của bài thơ? 3. Hoạt động dạy học: * GV giới thiệu bài: Quê hương, mỗi người chỉ một.... Quê hương, nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người! Lời bài ca “Quê hương” làm ta nhớ tới một làng quê ven biển miền Trung Trung Bộ từ hơn nửa thế kỉ nay đã in dấu ấn trong thơ Tế Hanh và trong lòng bạn đọc yêu thơ. HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG * HĐ1: I. Tìm hiểu chung: ? Dựa vào phần tìm hiểu chú thích * / sgk ở nhà em 1. Tác giả : Tế Hanh (1921-2009) hãy trình bày đôi nét về tác giả . H: trình bày, bổ sung cho nhau.
<span class='text_page_counter'>(13)</span> G: Tế Hanh sinh 1921 quê ở Quảng Ngãi. Cái làng chài ven biển có dòng sông bao quanh luôn có mặt trong thơ của ông. Ngay từ những sáng tác đầu tay hồn thơ lãng mạn của ông đã gắn bó với làng quê ( Quê hương ; Lời con đường quê ; Một làng thương nhớ, …) về sau thơ ông có mở rộng đề tài, nhưng nhiều bài vẫn viết về quê hương miền biển thân yêu. Khi đất nước bị chia cắt ( 1954 – 1975 ), mảng thơ thành công nhất của Tế Hanh cũng là mảng viết về quê hương Miền Nam đau thương mà anh dũng. Vì vậy, Tế Hanh được coi là nhà thơ của quê hương mà bài “ Quê hương” là sáng tác mở đầu đầy ý nghĩa . ? Bài thơ thuộc pt thơ nào? xuất xứ? thể thơ ? H: dựa vào việc chuẩn bị bài trả lời G: Không giống phần lớn các tác phẩm đương thời, đây là một trong số ít bài thơ lãng mạn ngân lên những giai điệu thật là tha thiết đối với cuộc sống cần lao . G: hướng dẫn HS cách đọc (Đọc giọng nhẹ nhàng, trong trẻo, chú ý nhịp phổ biến trong bài là 3/2/3 hoặc 3/5), G đọc mẫu 1 đoạn H: 2 em đọc, nhận xét cách đọc của bạn G: KT việc gt từ khó của HS ? Em hãy tìm bố cục của bài thơ ? ( 4 phần : 1- Hai câu đầu: Giới thiệu làng quê của tác giả . 2- Sáu câu tiếp: Cảnh thuyền chài ra khơi đánh cá. 3- Tám câu tiếp: Cảnh thuyền cá trở về bến . 4- Khổ cuối: Nỗi nhớ làng quê của tác giả . * HĐ2: H: đọc 2 câu đầu ? Hai câu thơ đầu cho ta biết làng quê tác giả có đặc điểm gì? ( Vị trí địa lí, đặc điểm nghề nghiệp của làng quê ) H: dựa vào gợi ý, trả lời G: làng quê của tác giả nằm giữa con sông Trà Bồng êm đềm và xanh trong 4 mùa ông từng nói về con sông quê hương mình : “ Trước khi đổ ra biển dòng sông lượn vòng ôm trọn làng biển quê tôi”. ? KHi nói về quê hương tác giả nói về cảnh gì của làng chài trước tiên ? H: đọc 6 câu tiếp theo : ? Cảnh thuyền chài ra khơi đánh cá được miêu tả trong khung cảnh ntn ? ( Ngày đẹp trời ) ? Khung cảnh ấy gợi cho người đọc cảm giác gì ? H: Không gian thoáng mát và rực rỡ ánh bình minh => ngày đẹp trời ? Những hình ảnh nào nổi bật nhất ? Những h/ a ấy được mt ntn? H: đọc chú giải 2, 3 / sgk . ? Em hiểu gì về “ mảnh hồn làng” ? H: Nghĩa là một thứ hồn vía quê hương thân thuộc đến bâng khuâng. ? Miêu tả con thuyền đánh cá ra khơi tác giả đã dụng những biện pháp nghệ thuật gì ?. - Thơ ông thể hiện tình yêu quê hương tha thiết.. 2. Tác phẩm : - Thuộc pt thơ mới. - In trong tập Nghẹn ngào (1939) sau được in trong tập Hoa niên (1945) - Thể thơ 8 chữ, thơ tự do. 3. Hướng dẫn đọc và tìm hiểu từ khó. 4. Bố cục: 4 phần. II. Đọc - hiểu văn bản : 1. Giới thiệu làng quê của tác giả : => Một làng ven biển, dân làng sống bằng nghề chài lưới .. 2. Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi đánh cá : - Khung cảnh: trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng => ngày đẹp trời. - Hình ảnh: Dân trai tráng…. Chiếc thuyền… Cánh buồm...
<span class='text_page_counter'>(14)</span> ? Tác giả sử dụng các biện pháp nghệ thuật đó nhằm mục đích gì ? H: trả lời G: So sánh, ẩn dụ: Thuyền hăng như con tuấn mã -> trạng thái đầy phấn chấn mạnh khoẻ, ẩn đằng sau là hình ảnh và trạng thái người trai tráng khoẻ mạnh ra biển đầy khí thế sôi nổi và hào hứng . Nhân hoá: Cánh buồm …rướn thân trắng -> Cánh buồm như 1 sinh thể biết cử động và hơn thể nữa nó mang hồn quê ra biển. Chỉ với 6 câu thơ mà tác giả miêu tả thật đặc sắc cảnh thuyền chài ra khơi ? Qua đoạn thơ em thấy phong cảnh TN và bức tranh lao động ở đây có đặc điểm gì? H: suy nghĩ, trả lời G: Cảnh đoàn thuyền ra khơi được miêu tả rất tinh tế người đọc vừa nắm bắt được cái hình vừa cảm nhận được cái hồn của sự vật . H: đọc 8 câu thơ tiếp theo : ? Những câu thơ tiếp theo miêu tả cảnh gì ? ? Cảnh đón đoàn thuyền được miêu tả trong những câu thơ nào ? - Ngày hôm sau ồn ào … - …dân làng tấp nập đón ghe về . - Nhờ ơn trời…ghe, - Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. ? Những h/a này cho thấy cảnh đoàn thuyền về bến thể hiện c/s lao động ntn? ? Tìm các chi tiết miêu tả h/a người dân chài? ? Những hình ảnh ấy cho thấy con người ở làng biển có gì đặc biệt ? H: tìm các h/a nước da ngăm nhuộm nắng, nhuộm gió, thân hình vạm vỡ và thấm đậm vị mặm mòi, nồng toả “ vị xa xăm”của biển khơi thể hiện vể đẹp và cuộc sống lao động đầy vất và của người dân làng chài. ? Còn chiếc thuyền được tác giả nhắc đến ntn sau chuyến đi biển đầy gian nan ? ? Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì trong 2 câu thơ này ? H: Nghệ thuật ẩn dụ, nhân hoá. Tác giả không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy “ sự mệt mỏi say sưa” của con thuyền. Cũng như người dân chài, con thuyền LĐ ấy cũng thấm đậm hương vị muối mặm của biển khơi. ? Qua các biện pháp nghệ thuật trên đã bộc lộ tình cảm gì của tác giả đối với làng quê ? H: Gắn bó sâu nặng với làng quê, có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế mới viết nên những câu thơ chân thật và xúc động như thế về làng quê của mình. H: đọc khổ thơ còn lại và nêu nội dung của đoạn: ? Tình cảm của nhà thơ với quê hương thể hiện trong hoàn cảnh nào ? ( Xa quê ) ? Những câu thơ nào cho biết điều đó ? ? Tg sd bp nt gì trong việc diễn đạt t/c của mình? ? Tình cảm chủ yếu ở đây là gì?. - NT miêu tả con thuyền ra khơi: sd nt so sánh, ẩn dụ, nhân hoá .. => Phong cảnh thiên nhiên tươi sáng, bức tranh lao động đầy hứng khởi cùng với sự khoẻ khoắn, dạt dào sức sống của dân miền biển . 3. Cảnh đoàn thuyền về bến :. - Thể hiện cuộc sống lao động vui tươi, hạnh phúc. - H/a người dân chài: đẹp khoẻ khoắn vả và bình dị.. vất. - H/ a chiếc thuyền: được hiện lên thông qua bp ẩn dụ, nhân hoá => Sự mãn nguyện thanh bình sau những ngày lao động. 4. Tình cảm của tác giả đối với quê hương :. -> Điệp ngữ, liệt kê. => Tình yêu, nỗi nhớ quê hương da diết . III. Tổng kết : 1. Nghệ thuật: - Sáng tạo nên những hình ảnh của cuộc sống lao động thơ mộng. - Bp so sánh, ẩn dụ , nhân hoá độc đáo..
<span class='text_page_counter'>(15)</span> ? Những h/ a được nhớ đến là những h/a ntn? H: những h/a ấn tượng đặc trưng của làng chài quê hương * HĐ3: ? Hãy nêu những nét đặc sắc về nghệ thuật làm nên cái hay và sức truyền cảm của bài thơ. - Lời thơ bay bổng, đầy cảm xúc. - Sử dụng thể thơ 8 chữ hiện đại mới mẻ, phóng khoáng.. 2. Ý nghĩa văn bản: - Bài thơ là lời bày tỏ của tác giả về một tình yêu tha thiết đối với quê hương làng biển. ? Qua những nét nghệ thuật đặc sắc đó tác giả muốn * Ghi nhớ: Sgk/ 18. làm nổi bật nội dung gì ? Nêu ý nghĩa văn bản? H: đọc ghi nhớ : sgk/18. ? Với em, khi xa quê của mình em sẽ nhớ đến điều gì trước tiên ? H: Pb ý kiến.... 4. Củng cố: ? Em hãy mô tả lại bức tranh sgk bằng lời văn của mình? ? Bài thơ được viết theo phương thức biểu đạt chính nào ? ( PT BĐ chính là biểu cảm ) ? ở lớp 7 các em đã được học VB nào nói về tình cảm gắn bó sâu nặng đối với quê hương ? ( Tĩnh dạ tứ ; Hồi hương ngẫu thư ). 5. Dặn dò: - Học thuộc lòng bài thơ, nắm được nội dung của bài . - Soạn : Khi con tu hú.. II. Xây dựng đề kiểm tra Ngữ Văn 8 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng: Bản thân đã xây dựng đề kiểm tra theo các bước sau: ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II MÔN NGỮ VĂN 8 (Thời gian 90ph) I. MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA: - Kiểm tra kiến thức của học sinh nhằm đánh giá năng lực của học sinh. - Rèn kĩ năng làm bài cho học sinh II. HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA: - Hình thức đề kiểm tra: Tự luận. - Cách tổ chức kiểm tra: Cho HS làm bài kiểm tra phần tự luận trong 90 phút. III. THIẾT LẬP MA TRẬN: - Liệt kê tất cả các chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình HKII, môn Ngữ Văn lớp 8 theo 3 nội dung Văn học, Tiếng việt, Tập làm văn. - Chọn các nội dung cần đánh giá và thực hiện các bước thiết lập ma trận đề kiểm tra. - Xác định khung ma trận. Mức độ Tên Chủ đề Chủ đề 1 : Các kiểu câu, Hành động nói, Hội thoại. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Thấp Xác định câu trần thuật, kiểu hành động nói, lượt lời trong. cao. Cộng.
<span class='text_page_counter'>(16)</span> Số câu : Số điểm : Tỉ lệ Chủ đề 2 : Văn bản: “Thuế máu” (NAQ). hội thoại. Số câu : 3 Số điểm: 2. Số câu : Số điểm : Tỉ lệ. Số câu:3 2 điểm= 20 % Giá trị nội dung của văn bản. Nhận xét vấn đề. Số câu: 1 Số điểm :1đ. Số câu: 1 Số điểm : 1đ. Chủ đề 3: Văn Nghị luận. Số câu: Số điểm Tổng số câu Tổng số điểm: Tỉ lệ. Số câu:3 Số điểm: 2 20%. Số câu:1 Số điểm:2 20%. Số câu:2 2điểm= 20 %. Văn nghị Trình bày luận chú ý Suy nghĩ, phép lập quan điểm luận đối với vấn đề nghị luận Số câu: 1 Số câu: 1 Số điểm: 6 Số điểm:6 = 60% Số câu:2 Số câu 6 điểm: 6 Số điểm:10 Tỉ lệ: 60 100% %. IV. BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA: Câu 1: (2điểm) Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời câu hỏi: “(1) Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. (2) Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồi. (3) Tôi mời lão hút trước. (4) Nhưng lão không nghe… - (5) Ông giáo hút trước đi. (6) Lão đưa đóm cho tôi… - (7) Tôi xin cụ. (8) Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. (9) Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão. (10) Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. (11) Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo: - (12) Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!” 1.1Tìm các câu trần thuật có trong đoạn trích trên? (1điểm). 1.2: Câu “Ông giáo hút trước đi” thực hiện hành động nói nào? (0.5 điểm). 1.3: Đoạn văn trên có mấy lượt lời? (0.5 điểm). Câu 2: (2 điểm).
<span class='text_page_counter'>(17)</span> 2.1 Nêu vài nét về giá trị nội dung của văn bản “Thuế Máu”? 2.2 Hãy nêu những nhận xét của em về cách đối xử của chính quyền thực dân Pháp đối với người dân thuộc địa sau khi đã bóc lột hết “thuế máu” của họ? Câu 3: (6 điểm) Trong bài “ bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp có nêu ra một số phương pháp học đúng đắn, trong đó có phương pháp “ học đi đôi với hành”. Em hãy trình bày suy nghĩ, quan điểm của em về mối quan hệ giữa “học” và “hành”. V. HƯỚNG DẪN CHẤM, BIỂU ĐIỂM: Câu 1: (2điểm). 1.1 Câu trần thuật có trong đoạn trích: 1,2,3,4,6,7,8,9,11,12. 1.2 Câu 5 thực hiện hành động điều khiển (đề nghị). 1.3 Có 3 lượt lời. Câu 2: (2 điểm). 2/1: Nội dung: Chính quyền thực dân đã biến người dân nghèo khổ ở các xứ thuộc địa thành vật hi sinh để phục vụ cho lợi ích của mình trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. NAQ đã vạch trần sự thực ấy bằng những tư liệu phong phú, xác thực, bằng ngòi bút trào phúng sắc sảo. 2/2: Học sinh nêu nhận xét tùy theo cách diễn đạt của từng em nhưng cần đảm bảo theo các nội dung sau: - Khi chiến tranh chấm dứt thì các lời tuyên bố “tình tứ” của các ngài cầm quyền cũng tự dưng im bặt. Những người từng hi sinh xương máu, từng được tâng bốc trước đây bị đối xử như “giống người hèn hạ”. - Bộ mặt tráo trở, tàn nhẫn của chính quyền thực dân lại được bộc lộ trắng trợn khi tước đoạt hết của cải mà người lính thuộc địa mua sắm được, đánh đập họ vô cớ, đối xử tàn tệ với họ. Người dân thuộc địa trở về với vị trí hèn hạ ban đầu sau khi bị bóc lột trắng trợn hết “thuế máu”. - Bỉ ổi hơn nữa, chính quyền thực dân còn không ngần ngại đầu độc cả một dân tộc khi cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện. 3/. Câu 3: (6điểm) a. Về hình thức: (1đ) - Bài viết có bố cục ba phần rõ ràng. - Viết đúng thể loại văn nghị luận với phép lập luận chủ yếu là giải thích có kết hợp với chứng minh. - Văn viết giàu cảm xúc, diễn đạt trong sáng, mạch lạc, không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. b) Về nội dung: (5đ) - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần nghị luận. Trình bày suy nghĩ, quan điểm của em về mối quan hệ giữa “học” và “hành”. HS trình bày diễn đạt nhiều cách khác nhau, song cần đảm bảo được các ý chính sau: 1. Mở bài: - Từ xưa đến nay có không ít người bàn về cách học , phương pháp học sao cho đạt hiệu quả cao nhất. - Trong bài tấu trình lên vua Quang Trung , Nguyễn Thiếp có bàn về phép học trong đó có đề xuất đến một số phương pháp học rất đúng đắn, rất tiến bộ đó là: “ Học phải đi đôi với hành”. 2. Thân bài.
<span class='text_page_counter'>(18)</span> - Học là gì ? Hành là gì ? Học là nắm chắc lý thuyết ,hành là thực tế , là việc làm cụ thể. Học đi đôi với hành có nghĩa là học lý thuyết phải gắn liền với thực tế , với việc làm ( lấy dẫn chứng). - Học và hành có mối quan hệ chặt chẽ , bổ sung cho nhau: Học giỏi lý thuyết thì làm kim chỉ nam cho thực hành một cách dễ dàng hơn. Thực hành tốt , lý thuyết sẽ nhớ lâu hơn, hiểu sâu sắc hơn. ( lấy dẫn chứng) - Thiếu đi một trong hai yếu tố thì làm việc gì cũng khó… - Học phải kết hợp với hành thì tri thức mới toàn diện và sâu sắc mới góp phần xây dựng quê hương đất nước. 3. Kết bài: - Ý nghĩa, kết quả của phương pháp “ Học đi đôi với hành”trong thực tế cuộc sống. - Bài học cho bản thân về vấn đề học tập. * Biểu điểm: - Mở bài (0.5 đ); Kết bài (0.5 đ); Thân bài (4đ) - Tuỳ vào cách diễn đạt và trình bày về mặt hình thức của học sinh để cho điểm thích hợp. Phần 3. Tự nhận xét và đánh giá Qua quá trình nghiên cứu và vận dụng kiến thức đã được tiếp thu, tôi nhận thấy - Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra là rất quan trọng, do vậy đòi hỏi GV phải đầu tư kỹ càng cả về hình thức lẫn nội dung, thiết lập ma trân, tổ hợp câu hỏi, cách chấm, chữa,… - Bản thân đã xây dựng kế hoạch sát thực tế , đồng thời thường xuyên thực hiện đúng kế hoạch đề ra, kiểm tra và theo dõi kế hoạch để có bổ sung kịp thời . - Bản thân đã cố gắng vận dụng nội dung bồi dưỡng để áp dụng vào soạn giáo án và ra đề kiểm tra định kì đúng theo quy định và nội dung học được. * Tự chấm điểm: Bằng số: 8,5 điểm; Bằng chữ: Tám phẩy năm điểm. 2. Đổi mới phương pháp dạy học ở các bộ môn; Phần 1. Nhận thức việc đổi mới PPDH I. Phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học, phù hợp với nội dung và điều kiện dạy học cụ thể. Đặc điểm của phương pháp dạy học - Phương pháp dạy học định hướng chất lượng dạy học. - Phương pháp dạy học là sự thống nhất của PP dạy và PP học. - Phương pháp dạy học là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học (PTDH). Các yếu tố liên quan đến PPDH - Mục tiêu (định hướng kết quả đầu ra). - Nội dung (liên quan đến đặc thù môn học, bài học). - Điều kiện cụ thể (thời lượng, trình độ HS, phương tiện). - Người dạy. Các phương pháp dạy học.
<span class='text_page_counter'>(19)</span> Thuyết trình; Mô phỏng; Đàm thoại; Thực nghiệm; Thảo luận; Đóng vai; ... Đặc trưng của sử dụng các PPDH tích cực - Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS. - Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học của HS. - Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. - Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. - Giáo viên thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn. Chú ý: Không có một PPDH có hiệu quả vạn năng, cần vận dụng phối hợp các PPDH phù hợp với mục tiêu và nội dung, điều kiện dạy học cụ thể. Yêu cầu nhận thức của GV trong việc đổi mới PPDH? - Hiểu được bản chất của việc đổi mới PPDH trong hoàn cảnh cụ thể. - Sáng tạo trong việc phối hợp các PPDH, có kỹ năng vận dụng các kỹ thuật học tập tích cực hiệu quả, phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện hiện tại. - Kết hợp đổi mới PPDH và đổi mới kiểm tra đánh giá. Yêu cầu về sử dụng TBDH trong đổi mới hoạt động dạy học - Đảm bảo đủ thiết bị dạy học. - GV biết cách sử dụng và khai thác thiết bị phục vụ dạy học hiệu quả, tăng cường cho học sinh thực hành. II. Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, phải đổi mới trước hết ở ý thức: Trong một thời gian dài, người thầy được trang bị phương pháp để truyền thụ tri thức cho học sinh theo quan hệ một chiều: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận. Ở một phương diện nào đó, khi sử dụng phương pháp này thì các em học sinh - một chủ thể của giờ dạy - đã “bị bỏ rơi” giáo viên là người sốt sắng và nỗ lực đi tìm chiếc chìa khoá mở cửa cái kho đựng kiến thức là cái đầu của học sinh, và ông ta đem bất kỳ một điều tốt đẹp nào của khoa học để chất đầy cái kho này theo phạm vi và khả năng của mình. Còn người học sinh là kẻ thụ động, ngoan ngoãn, cố gắng và thiếu tính độc lập. Ngoan ngoãn, bị động, nhớ được nhiều điều thầy đã truyền đạt. Để chiếm được vị trí số một trong lớp, người học sinh phải có được không phải một tính ham hiểu biết khôn cùng của một trí tuệ sắc sảo mà phải có một trí nhớ tốt, phải thật cố gắng để đạt được điểm số cao trong tất cả các môn học. Ngoài ra, phải chăm lo sao cho quan điểm của chính mình phù hợp với quan điểm của thầy cô giáo nữa. Trong phương pháp dạy học truyền thống, khoa sư phạm chú ý đến người giáo viên và ít quan tâm tới học sinh. Học sinh như “cái lọ” mà người thầy phải nhét đầy “lọ” này như thế nào? Tính thụ động của học sinh được bộc lộ rất rõ ràng. Học sinh chỉ phải nhớ những gì người ta đã cung cấp cho nó ở trạng thái hoàn thành. Trong phương pháp dạy học cũ, nguyên tắc thụ động biểu lộ ở hình ảnh người giáo viên đứng riêng biệt trên bục cao trong lớp và cung cấp “cái mẫu”, còn phía dưới là hình ảnh các học sinh ngồi thành hàng trên ghế, cùng làm một công việc giống nhau là sao lại cái mẫu mà thầy đang cung cấp cho họ. Nếu quan niệm nghệ thuật dạy học và nghệ thuật thức tỉnh trong tâm hồn các em thanh thiếu niên tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực, mà tính ham hiểu biết đúng đắn và sinh động chỉ có được trong đầu óc sảng khoái. Nếu nhồi nhét kiến thức một cách cưỡng bức thì hiệu quả giáo dục khó có thể.
<span class='text_page_counter'>(20)</span> như mong muốn, bởi để “Tiêu hoá” được kiến thức thì cần phải “Thưởng thức chung” một cách ngon lành. Để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập thì tất yếu phải đổi mới phương pháp giảng dạy. 1. Tránh suy nghĩ giản đơn hay cực đoan trong sử dụng, đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp giảng dạy không phải là tạo ra một phương pháp khác với cái cũ, để loại trừ cái cũ. Sự phát triển hay một cuộc cách mạng trong khoa học giáo dục thực chất là tạo được một tiền đề để cho những nhân tố tích cực của cái cũ vẫn có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn. Đồng thời tạo ra cái mới tiến bộ hơn, tốt hơn cái đã có. Nói như vậy, không phải chúng ta dung hoà để làm “hơi khác hay tương tự cái đã có”. Mà phải có cái mới thực sự để đáp ứng được đòi hỏi của sự tiến bộ. Nếu phương pháp dạy học cũ có một ưu điểm lớn là phát huy trí nhớ, tập cho học sinh làm theo một điều nào đó, thì phương pháp mới vẫn cần những ưu điểm trên. Song cái khác căn bản ở đây là phương pháp giảng dạy cũ đã phần nhiều “bỏ quên học sinh”. Nên bình thường, học sinh bị động trong tiếp nhận. Còn phương pháp giảng dạy mới phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua hàng loạt các tác động của giáo viên là bản chất của phương pháp giảng dạy mới. Khi nói đến tính tích cực, chúng ta quan niệm là lòng mong muốn hành động được nảy sinh từ phía học sinh, được biểu hiện ra bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động. Nhờ phát huy được tính tích cực mà học sinh không còn bị thụ động. Học sinh trở thành các cá nhân trong một tập thể mang khát vọng được khám phá, hiểu biết. Muốn vậy, điều khó khăn nhất với người giáo viên là: Trong một giờ lên lớp, phải làm sao cho những học sinh tốt nhất cũng được thoả mãn nhu cầu tri thức, thấy tri thức là một chân trời mới. Còn những học sinh học yếu nhất cũng không thấy bị bỏ rơi, họ cũng tham gia được vào quá trình khám phá cái mới. Điều này là đặc biệt cần thiết, vì học sinh sẽ hào hứng để đi tìm tri thức chứ không còn bị động, bị nhồi nhét nữa. Như vậy, nguyện vọng hành động thế này hay thế khác là kết quả của sự mong muốn của chúng ta. Khi đổi mới phương pháp dạy học cần tránh xu hướng giản đơn hay cực đơn. Có thầy, cô thay việc “đọc, chép” bằng việc hỏi quá nhiều mà phần nhiều các câu hỏi ấy lại không tạo được “tình huống có vấn đề”. Có thể họ đã nghĩ sử dụng phương pháp dạy học mới là việc thay đọc chép bằng việc hỏi đáp. hỏi đáp càng nhiều thì càng đổi mới! 2. Để đổi mới phương pháp dạy học được thành công thì phải đổi mới đồng bộ. Vấn đề này rất lớn và phức tạp, song trước mắt lên chú ý đổi mới những vấn đề liên quan trực tiếp tới việc dạy và học: a. Trước hết là chương trình Sách giáo khoa. Chương trình mà sách giáo khoa hiện nay đã đạt được yêu cầu cần thiết chưa? Điều này rất khó xác định, bởi chương trình sách giáo khoa của ta thiên về tính “ Hàn lâm” mà chưa thực sự coi trọng thực hành. Coi trọng từng phần từ phân môn song lại không đồng bộ dẫn đến sự vênh lệch không cần thiết giữa lý thuyết và thực hành (giả dụ như các bài làm văn ở chương trình trung học chưa đồng bộ với giảng văn…).Điều này đã gây cản trở cho đổi mới phương pháp dạy học. b. Cách ra đề thi và yêu cầu thi. Cái đích của người học lệ thuộc vào “con đường thoát thân” của họ. Nếu yêu cầu thì chỉ cần “thuộc, nhớ” hoặc kỹ năng tối thiểu, ít tính sáng tạo thì dẫn đến.
<span class='text_page_counter'>(21)</span> phương pháp học tương ứng. Người thầy có ý thức đổi mới mà vẫn phải dạy theo phương pháp luyện thi “thầy đọc chép, trò nghe chép”. c. Nên đề cao vai trò của nhà trường, của tổ nhóm chuyên môn. Thành bại trong đổi mới Phương pháp dạy học diễn ra ở nhà trường, nên các nhà trường, tổ nhóm chuyên môn phải đầu tư thoả đáng cho đổi mới phương pháp dạy học bằng những hành động cụ thể. d. Đặc biệt coi trọng tài nghệ của người thầy. Để đổi mới phương pháp dạy học được thành công thì tài nghệ của giáo viên, lao động sư phạm của người thầy phải được xã hội đánh giá đúng. Tài nghệ của giáo viên trong công tác giảng dạy cũng cần thiết không kém bất cứ một lĩnh vực sáng tạo nào khác. Công tác này có thể trở thành một hình thức sáng tạo nhất. Nếu người giáo viên khéo léo phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh thì con người đang chịu tác động của giáo dục sẽ trở thành chủ thể của giáo dục, họ sẽ chịu trách nhiệm về sự phát triển của bản thân, xã hội và lịch sử. III. Định hướng chỉ đạo đổi mới PPDH ở trường phổ thông A. Trách nhiệm của giáo viên trong thực hiên đổi mới PPDH - Nắm vững nguyên tắc đổi mới PPDH, cách thức hướng dẫn HS lựa chọn phương pháp học tập, coi trọng tự học và biết xây dựng các tài liệu chuyên môn phục vụ đổi mới PPDH. - Biết tổ chức cho những giáo viên dạy giỏi có PPDH hiệu quả ở địa phương và giáo viên giỏi cùng môn để học hỏi kinh nghiệm ở trong trường và trường bạn. - Nắm chắc điều kiện của trường để có thể khai thác hiệu quả việc đổi mới PPDH (CSVC, phương tiện, TBDH, tài liệu tham khảo...). - Biết và tranh thủ được những ai có thể giúp đỡ mình trong việc đổi mới PPDH (đồng nghiệp, lãnh đạo tổ chuyên môn, lãnh đạo trường có tay nghề cao). - Biết cách tiếp nhận những thông tin phản hồi từ sự đánh giá nhận xét xây dựng của HS về PPDH và GD của mình; kiên trì phát huy mặt tốt, khắc phục mặt yếu, tự tin, không tự ty hoặc chủ quan thỏa mãn. - Hướng dẫn HS về phương pháp học tập và biết cách tự học, tiếp nhận kiến thức và rèn luyện kỹ năng, tự đánh giá kết quả học tập; tự giác, hứng thú học tập. B. Đặc trưng và một số PPDH tích cực thường áp dụng 1. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực - Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Trong phương pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này, giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Nội dung và phương pháp dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng. - Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
<span class='text_page_counter'>(22)</span> Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày nhiều. Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ cấp Tiểu học và càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. - Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh. - Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh.
<span class='text_page_counter'>(23)</span> cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. 2. Một số phương pháp dạy học tích cực thường áp dụng Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền thống. Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc được đào tạo trong các trường sư phạm nước ta từ mấy thập kỉ gần đây cũng đã có nhiều phương pháp tích cực. Các sách lí luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, thì các phương pháp thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời. Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện, nhất là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm. Đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc. Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dưới đây: - Vấn đáp tìm tòi Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Có ba phương pháp (mức độ) vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi. - Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề.
<span class='text_page_counter'>(24)</span> Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh. Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học. - Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là mới với đa số giáo viên. Ở những trường từng tham gia các dự án giáo dục dân số, giáo dục môi trường, phòng chống HIV/AIDS, lạm dụng ma tuý, giáo viên đã được làm quen với phương pháp này do các chuyên gia quốc tế hướng dẫn. Phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng học sinh với sự việc chung của cả lớp. Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới. - Dạy học theo dự án Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế- xã hội, đặc trưng của nó về cơ bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án. Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần được thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra. Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, có thể cần sự tham gia của giáo viên nhiều môn học. Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể,..... - Dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột.
<span class='text_page_counter'>(25)</span> Là dạy học theo phương pháp nêu một tình huống có tính vấn đề từ đó để học sinh tự mình đưa ra các thí nghiệm để giải quyết vấn đề đó; Giáo viên chỉ hướng dẫn và điều khiển để từng nhóm học sinh dần rút ra được kiến thức cần học và ghi nhớ. Phần 2. Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục * Vận dụng phương pháp dạy và học hợp tác trong nhóm vào dạy tiết dạy Ngữ Văn 9 Tiết 16,17: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG (Trích Truyền Kỳ Mạn Lục) - Nguyễn Dữ I. Mục tiêu cần đạt: 1. Kiến thức: - Bước đầu làm quen với thể loại truyền kì. - Cảm nhận được giá trị hiện thực , giá trị nhân đạo và sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Dữ trong tác phẩm. - Cốt truyện , nhân vật, sự kiện trong một tác phẩm truyện truyền kì. - Hiện thực về số phận của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ cũ và vẻ đẹp truyền thống của họ. - Sự thành công của tác giả về nghệ thuật kể chuyện. - Mối liên hệ giữa tác phẩm với vợ chàng Trương. 2. Kĩ năng: - Vận dụng các kiến thức đã học để đọc- hiểu tác phẩm viết theo thể loại truyền kì. - Cảm nhận được những chi tiết nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm tự sự có nguồn gốc dân gian. - Kể lại được truyện. II. Chuẩn bị: - GV : giáo án, tranh ảnh, một số tư liệu về tác giả. - HS: soạn bài theo yêu cầu. III. Tiến trình dạy học: 1. Ổn định lớp 2. Bài cũ: Kể tên những văn bản em đã học. Những văn bản ấy thuộc thể loại gì? 3. Bài mới: Khái quát về văn học trung đại và tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương. HĐ1: Giúp HS nắm được vài nét về tác giả và hồn cảnh ra đời của tác phẩm. ? Hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả Nguyễn Dữ. - Nhận xét và bổ sung về thời đại của tác giả. ? Cho biết xuất xứ của tác phẩm. - GV bổ sung: + Là truyện thứ 16 trong Truyền kì mạn lục. +Nguồn gốc: từ truyện cổ tích Vợ chàng Trương. ? Hãy giải thích tên truyện Truyền kỳ mạn lục. - Nhận xét và bổ sung: +Tác phẩm: là loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ Trung Quốc (thời Đường).. I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả: - Quê ở Hải Dương, sống ở thế kỉ XVI - Người học rộng, tài cao. 2. Tác phẩm - Là một trong 20 truyện của tác phẩm truyền kì, viết bằng chữ Hán. Ghi lại những chuyện kì lạ trong dân gian..
<span class='text_page_counter'>(26)</span> + Đề tài: đả kích chế độ phong kiến, hoặc tình yêu 3. Đọc và hoài bão của những kẻ sĩ trước thời cuộc. HĐ2: Hướng dẫn HS cách đọc và tìm bố cục. - Cách đọc: diễn cảm, phân biệt các đoạn kể và lời 4. Bố cục: Gồm 3 phần đối thoại tâm trạng từng nhân vật. - Yêu cầu 2 - 3 HS đọc và nhận xét. ? Truyện kể về ai, kể về việc gì. ? Truyện được chia làm mấy phần, nêu nội dung từng phần. - Đ1: cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương. - Đ2: sự xa cách vì chiến tranh. - Đ3: phẩm hạnh của Vũ Nương. HĐ3: Giúp HS tìm hiểu chi tiết về văn bản. ? Mở đầu tác phẩm, tác giả giới thiệu về ai. ? Nhân vật Vũ Nương được tác giả giới thiệu qua những chi tiết nào. ? Trong cuộc sống, trước tính hay ghen của chồng, nàng đã xử sự ra sao? ? Em hiểu “ thất tiết” là gì. ? Khi tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn chồng như thế nào?. Những lời đó chứng tỏ tâm trạng gì của ngừơi con gái sắp xa chồng. ? Khi chồng ra trận, điều gì đã xảy ra, nàng đã xử sự như thế nào? - Cho HS đọc lời trăn trối của bà mẹ thể hiện sự ghi nhận công lao của nàng đối với nhà chồng. ? Khi con trai hỏi về cha để con khỏi nhớ cha nàng đã làm gì? ? Khi bị chồng nghi oan, nàng đã làm gì. ? Mấy lần nàng bộc bạch tâm sự của mình, ý nghĩa của những lần đó?. - HS tìm trong lời thoại của 3 lần nàng thanh minh nhằm phân trần, giải thích sự việc chồng nghi oan và khẳng định sự trong trắng của mình. - GV bình tâm trạng của Vũ Nương. ? Qua các tình huống trên giúp em hiểu gì về nhân vật Vũ Nương? ở ngoài đời nếu gặp trường hợp như Vũ nương em sẽ làm gì?( TL nhóm) HS: Thảo luận nhóm và trình bày trong 3 phút. GV: Yêu cầu các nhóm trình bày, giáo viên nhận xét, bổ sung. Tiết 2 Giúp HS tìm hiểu nhân vật Trương Sinh. ? Ở nhân vật Trương Sinh có tính cách gì nổi bật. ? Tính cách ghen tuông ấy bộc lộ khi nào?. II. Đọc - hiểu văn bản 1. Nhân vật Vũ Nương - Tính tình thùy mị, nết na. - Giữ gìn khuôn phép, không lúc nào để vợ chồng thất hòa - Khi chồng đi xa: Hết lòng vì gia đình, hiếu thảo với mẹ chồng, thủy chung với chồng, chu đáo, tận tình và rất mực yêu thương con. - Khi bị chồng nghi oan: Phân trần, thanh minh, khẳng định sự thủy chung trong trắng.. → Là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, hết lòng vun đắp cho gia đình.. 2. Nhân vật Trương Sinh: - Là người đa nghi, luôn phòng ngừa đối với vợ..
<span class='text_page_counter'>(27)</span> ? Khi vợ tìm cách giải bày, phân minh, thái độ của chàng ra sao. ? Em có nhận xét gì về thái độ trên của chàng Trương. ? Ngày nay, còn những người đàn ông tính cách như chàng Trương không (giáo dục HS cách sống). ? Để khắc họa nhân vật chàng Trương, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? ? Sự hồ đồ của chàng Trương mang lại hậu quả gì? * Giúp HS tìm hiểu dụng ý của tác giả qua việc miêu tả cái chết của Vũ Nương. ? Cái chết của Vũ Nương thể hiện điều gì. - GV bình: cái chết của nàng là sự đầu hàng số phận, tố cáo chế độ nam quyền suy tàn. - Giới thiệu ảnh về đền thờ Vũ Nương. ? Để khắc họa tính chân dung và tính cách của hai nhân vật trên, tác giả đã sử dụng nghệ thuật gì. - Phân tích nghệ thuật thắt nút, mở nút. - Giới thiệu sự việc Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ... ? Đến đây, truyện có thể kết thúc được chưa.Việc sáng tạo thêm phần cuối có ý nghĩa gì. - Yêu cầu HS khá trả lời. HS: THảo luận nhóm trong 3 phút và trình bày, lớp nhận xét, bổ sung. - GV giải thích thêm: có thể kết thúc sự việc chàng Trương hiểu ra nỗi oan của vợ, nhưng tác giả đã sáng tác thêm một đoạn (nói về cuộc sống của Vũ Nương trong động rùa ở hải đảo) thể hiện ngòi bút nhân văn của tác giả phần nào bù đắp cho những thiệt thòi của Vũ Nương.... ? Hãy tìm những yếu tố kỳ ảo trong truyện. HS: Thảo luận trong 2 phút và trả lời. ? Việc sắp xếp các yếu tố kỳ ảo và yếu tố thực có ý nghĩa gì. - GV bổ sung: việc đưa những yếu tố kỳ ảo vào một câu chuyện quen thuộc làm hoàn chỉnh nét tính cách nhân vật và tạo một kết thúc có hậu. ? Nhưng, tính bi kịch của truyện có vì thế mà bị giảm đi không. - GV: tính bi kịch vẫn tiềm ẩn vì chàng Trương vẫn phải trả giá cho hành động phũ phàng của mình. ? Nêu ý nghĩa văn bản. HĐ4: Hướng dẫn HS khái quát toàn bộ bài học. ? Qua câu chuyện về cuộc đời Vũ Nương, tác giả. - Chỉ vì lời nói ngây thơ của con → kích động ghen tuông. - Bỏ ngoài tai những lời phân minh của vợ. → Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật → Là người hồ đồ, độc đoán.. 3. Cái chết của Vũ Nương: - Tố cáo xã hội phong kiến. - Thể hiện niềm thương cảm của tác giả đối với số phận người phụ nữ.. 4. Những yếu tố kỳ ảo: - Phan Lang lạc vào động rùa - Vũ Nương hiện về..... → Tạo thế giới lung linh kỳ ảo gần gũi cuộc đời thực → thể hiện ước mơ về sự công bằng. 5. Ý nghĩa văn bản : Truyện phê phán thói ghen tuông mù quán và ngợi ca vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.. IV. Tổng kết:. * Ghi nhớ: SGK/51p..
<span class='text_page_counter'>(28)</span> muốn thể hiện điều gì. ? Tác giả đã vận dụng những nghệ thuật nào đặc sắc. - Nhắc lại cho HS các nghệ thuật: xây dựng truyện, miêu tả tâm lý nhân vật, thắt nút mở nút, kết hợp tự sự với trữ tình. - Gọi HS đọc ghi nhớ SGK. 4. Hướng dẫn tự học - Học bài, đọc bài Đọc thêm SGK. - Soạn bài “Xưng hô trong hội thoại”. + Đọc kỹ các ví dụ và trả lời câu hỏi SGK. + Làm các bài tập phần Luyện tập. * Những ưu điểm của phương pháp: - Sử dụng phương pháp này để dạy học sẽ giúp học sinh chủ động trong việc tự tìm tòi kiến thức. - Nâng cao khả năng tư duy, sáng tạo. - Phát huy khả năng làm việc nhóm của học sinh. - Giúp học sinh phát huy khả năng nói trước đám đông nhằm rèn luyện cho học sinh về sự năng động của một HS. * Những khuyết điểm của phương pháp: - Đối tượng học sinh yếu kém thụ động. * Biện pháp khắc phục các khuyết điểm: - Chỉ áp dụng phương pháp này cho một vài mảng kiến thức cần thiết. - Cần có sự phối hợp nhiều phương pháp trong mỗi tiết dạy. Phần 3. Tự nhận xét và đánh giá Qua quá trình nghiên cứu và vận dụng kiến thức đã được tiếp thu, tôi luôn nhận thức rất sâu sắc về việc đổi mới phương pháp dạy học, đây cũng là chìa khóa góp phần dẫn đến thành công trong giáo dục. Để thực hiện tốt đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức tâm huyết, yêu nghề. Cần phối hợp nhiều phương pháp dạy học để mang lại hiệu quả cao cho tiết dạy. Vì vậy bản thân không ngừng rèn luyện kỉ năng nghề nghiệp, đặc biệt là kỉ năng về phương pháp dạy học. - Bản thân luôn cố gắng đổi mới phương pháp dạy học trong từng bài dạy để làm cho học sinh thêm yêu thích môn Ngữ văn. * Tự chấm điểm: Bằng số: 8,5 điểm; Bằng chữ: Tám phẩy năm điểm. 3.Bồi dưỡng chính trị đầu năm học;. 1. Nội dung bồi dưỡng: Nghiên cứu, học tập, quán triệt các văn bản về công tác dạy và học, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi nghiên cứu học tập, bản thân nắm bắt, tiếp thu được những kiến thức sau: 1.1 Đối với Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam : A - Tình hình và nguyên nhân 1- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc..
<span class='text_page_counter'>(29)</span> Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn. Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo. 2- Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất. - Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp. - Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. 3- Những hạn chế, yếu kém nói trên do các nguyên nhân chủ yếu sau: - Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục-đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. - Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng. Bệnh hình thức, hư danh, chạy theo bằng cấp... chậm được khắc phục, có mặt nghiêm trọng hơn. Tư duy bao cấp còn nặng, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo. - Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ. Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu. B- Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo I- Quan điểm chỉ đạo 1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. 2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. - Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp. 3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. 4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng. 5- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo..
<span class='text_page_counter'>(30)</span> 6- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo. 7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. II- Mục tiêu 1. Mục tiêu tổng quát - Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. - Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. III- Nhiệm vụ, giải pháp 1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo 2- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học 3- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan 4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập 5- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng 6- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo 7- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo 8- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý 9- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo 1.2: Đối với văn bản số 386/GD&ĐT Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2013-2014. A. Nhiệm vụ trọng tâm 1.Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, tạo sự chuyển biến cơ bản về tổ chức hoạt động dạy học. Triển khai đồng bộ các giải pháp tăng cường chất lượng giáo dục đại trà, bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu. Thực hiện tinh giản nội dung dạy học; xây dựng và triển khai dạy học các chủ đề tích hợp. Trong quá trình dạy học, tăng cường các hoạt động nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức môn học và sử dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực tiển. 2.Tiếp tục thực hiện nội dung các cuộc vận động, phong trào thi đua các nghành phát động gán với việc tổ chức kỷ niệm 45 năm ngày Bác Hồ gửi thư cuối cùng Nghành Giáo dục bằng nhũng việc làm thiết thực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện từng đơn vị; tăng cường rèn luyện phẩm chất chính trị , đạo đức lối sống cho cán bộ quản lý, giáo viên, và học sinh tại mỗi cơ quan đon vị. 3.Tăng cường bồi dưỡng đội ngủ giáo viên và cán bộ quản lý về năng lực chuyên môn ; năng lực đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG, công tác chủ nhiệm lớp; quan tâm phát triển đội ngủ tổ trưởng chuyên môn, giáo viên cốt cán;….
<span class='text_page_counter'>(31)</span> 4.Tiếp tục đổi mới nâng cao hiện lực và hiệu quả công tác quản lý theo hướng tăng cường phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động của nhà trường trong công việc thực hiện kế hoạch giáo dục đi đôi với việc nâng cao năng lực quản trị nhà trường của đội ngủ cán bộ quản lý. * Các nhiệm vụ cụ thể. I. Triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trung học. 1. Tổ chức thực hiện chương trình và kế hoạch giáo dục 2. Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. 3. Đổi mới hoạt động chuyên môn. 4. Tăng cường xây dựng điều kiện dạy học. II. Các hoạt động khác 1.Công tác xây xựng trường đạt chuẩn quốc gia. 2.Công tác phổ cập giáo dục. III. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý. 1.Công tác tập huấn, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. 2.Đổi mới công tác quản lý giáo dục. IV. Hưởng ứng và tổ chức các cuộc thi 1. Các cuộc thi do Sở, Phòng tổ chức 2. Các cuộc thi do trường tổ chức V. Công tác thi đua, khen thưởng; kiểm tra, đáng giá 2. Những nội dung bản thân sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục tại đơn vị: (nêu rõ các nội dung vận dung vào thực tế và cách thức vận dụng) - Sau khi nghiên cứu, học tập các nội dung trên, bản thân tôi nhận thức sâu sắc rằng để thực hiên tốt nhiệm vụ giáo dục giáo viên cần nắm vững, kiên định theo quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về định hướng phát triển Giáo dục – đào tạo, hiểu rõ mục tiêu và thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp căn bản, trọng tâm về giáo dục và đào tạo; Giáo viên cần xác định được nhiệm vụ năm học và yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Trên cơ sở có lập trường chính trị rõ ràng, theo đường lối chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bản thân giáo viên trước hết cần phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phẩm chất nhà giáo; nâng cao năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phấn đấu tự học, tự sáng tạo, luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo; nâng cao kiến thức bộ môn, phương pháp giảng dạy hiệu quả, đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá học sinh; bồi dưỡng, giáo dục học sinh phát triển toàn diện; Đầu tư tiết dạy có chất lượng, xây dựng kế hoạch giáo dục và giảng dạy khoa học, hiệu quả; Thực hiện đúng nội quy cơ quan, giữ gìn phẩm chất nhà giáo, luôn có tinh thần học tập, nâng cao năng 3. Tự đánh giá (nêu rõ bản thân sau khi bồi dưỡng đã tiếp thu và vận dụng được vào thực tiễn công tác được bao nhiêu % so với yêu cầu và kế hoạch) Sau khi học tập , bồi dưỡng và bản thân đã vận dụng các nội dung trên vào thực tiễn công tác 100% so với yêu cầu và kế hoạch. III . Nội dung bồi dưỡng 3: Khối kiến thức tự chọn: Thời lượng : 60 tiết. THCS 13: Nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS trong xây dựng kế hoạch dạy học. Phần 1. Nhận thức nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS trong xây dựng kế hoạch dạy học. Quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học. Dạy học có hiệu quả luôn phải bắt đầu từ người học. Nếu người học không có nhu cầu, hoặc không mong muốn học, quá trình học tập trong điều kiện tốt nhất sẽ bị chậm. Và nếu bạn chỉ quan tâm đến khía cạnh nhận thức mà không chú ý đến điều mà người học muốn biết thì cũng giống như việc bạn xếp hàng gạch thứ 5 lên bức tường mà không biết liệu hàng gạch thứ 4 có đúng vị trí hay không..
<span class='text_page_counter'>(32)</span> Vì thế bước đầu tiên trong bất kỳ một chương trình học nào cũng phải tìm hiểu để biết được người học đến từ đâu, họ có nhu cầu gì, cũng như họ đã biết cái gì, họ có sẵn sàng biết hay không. Sau đó quá trình dạy học sẽ tiếp tục xem xét những hiểu biết trước đây của người học và các nhu cầu,động lực học tập để xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp, đảm bảo hiệu quả học tập. Chuyên đề nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS được trình bày với hai nội dung: 1. Nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS. 2. Phương pháp và kỹ thuật xác định nhu cầu học tập của học sinh . A. Nội dung I. Nhu cầu và động lực học tập của HS. 1. Nhu cầu : Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. * Đặc trưng của nhu cầu : - Không ổn định, biến đổi; - Năng động; - Biến đổi theo quy luật; - Không bao giờ thoả mãn cùng một lúc mọi nhu cầu * Các loại nhu cầu : - Nhu cầu vật chất: Ăn uống, đi lại, nhà ở... - Nhu cầu cảm xúc: Yêu thương, tôn trọng... - Nhu cầu xã hội: Giáo dục, tôn giáo ... * Mức độ : - Mức độ 1: Lòng mong muốn; - Mức độ 2 : Tham; - Mức độ 3: Đam mê . * Biểu hiện: - Hứng thú; - Ước mơ; - Lý tưởng …. 2. Động lực học tập của HS THCS: Dạy học là một quá trình phức tạp đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của cả giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, giáo viên gặp rất nhiều khó khăn khi học sinh tỏ ra thiếu hứng thú học bài, thiếu sự hợp tác với thầy cô và cả các bạn. Dẫn đến tình trạng giờ học căng thẳng, rời rạc, giáo viên mất hưng phấn giảng dạy; học sinh ức chế trong quá trình tiếp thu kiến thức...Vì vậy, 8 nguyên tắc đơn giản sau đây giáo viên có thể áp dụng nhằm giúp học sinh lấy lại động cơ trong học tập: 8 nguyên tắc đơn giản giúp giáo viên tạo động lực cho học sinh Nguyên tắc 1: Liên tục nhấn mạnh những khái niệm then chốt. Hãy lặp lại những khái niệm này trong các bài giảng và bài tập về nhà trong suốt khóa học. Qua việc đưa ra các câu hỏi liên quan đến các chủ đề chính này trong mỗi kì thi, giáo viên có thể khuyến khích học sinh học, nhắc lại và có thể ứng dụng những kiến thức đó vào các trường hợp cụ thể khác nhau. Nguyên tắc 2: Sử dụng các phương tiện nghe nhìn khi cần thiết để giúp học sinh hiểu được các khái niệm khó và trừu tượng bởi vì một điều rất đáng chú ý là hiện nay học sinh có xu hướng nghe nhìn rất nhiều.Với những học sinh này thì một giản đồ hoặc sơ đồ sẽ có.
<span class='text_page_counter'>(33)</span> tác dụng hơn hàng ngàn chữ viết hoặc bài giảng bằng lời. Nguyên tắc 3: Sử dụng tư duy logic khi cần thiết. Hãy chỉ rõ cho học sinh thấy rằng thông tin nào là số liệu chính xác cần ghi nhớ máy móc, thông tin nào có thể được suy luận nhờ tư duy logic. Hãy dạy học sinh cách suy luận và cách tiếp nhận kiến thức mới bằng phương pháp tư duy. Một khi học sinh đã sử dụng tư duy trong học tập thì chúng có thể mở rộng kiến thức đến không ngờ. Nguyên tắc 4: Sử dụng các hoạt động trên lớp để củng cố kiến thức mới học. Sau khi dạy học sinh những khái niệm cơ bản, giáo viên nên cho học sinh làm bài tập ngay dựa vào những kiến thức mới. Những bài tập này có thể ngắn nhưng miễn là làm học sinh hiểu rõ hơn những khái niệm mới. Học sinh nên được làm việc theo nhóm, làm bài tập dựa vào bài, có thể hỏi giáo viên khi làm bài. Cách này có tác dụng rất lớn giúp học sinh hiểu thấu đáo bài mới. Ngoài ra nó sẽ giúp việc có mặt của học sinh có tác dụng tích cực và khuyến khích học sinh đi học đều đặn. Nguyên tắc 5: Giúp học sinh tạo đường dẫn giữa kiến thức mới với kiến thức đã học. Nếu học sinh có thể liên hệ những kiến thức cũ thì việc học kiến thức mới sẽ diễn ra dễ dàng và thuận lợi hơn. Nguyên tắc 6: Nhận biết tầm quan trọng của việc học từ vựng. Học sinh thường gặp rất nhiều khó khăn với những bài có nhiều từ mới, đặc biệt là những từ chuyên ngành. Để học sinh dễ tiếp thu những từ chuyên ngành, giáo viên nên làm cho chúng dễ hiểu bằng cách gắn chúng với cuộc sống hàng ngày của học sinh. Một cách hiệu quả là học sinh nên tạo cho mình những quyển ghi chú nhỏ chứa những chú thích của giáo viên về những từ khó. Nguyên tắc 7: Hãy tôn trọng học sinh. Học sinh nên được tôn trọng ngay từ khi vào học. Giáo viên có thể kích thích tinh thần trách nhiệm của học sinh bằng cách trao cho họ một số chức vụ. Đây là cách khá hiệu quả không chỉ với học sinh THCS,THPT mà với cả sinh viên các trường đại học, cao đẳng vì họ sẽ gắng hết sức để khẳng định mình. Nguyên tắc 8: Giữ cho học sinh luôn ở trình độ cao. Nếu học sinh không bị yêu cầu học tập với mức tiêu chuẩn nhất định, thì chỉ có những học sinh có ý thức rất cao mới tự học hành chăm chỉ mà thôi. Mặt khác, yêu cầu cao trong giảng dạy không chỉ tạo động lực cho học sinh mà nó còn tạo ra được những tinh thần phấn khởi cho học sinh khi đạt được những yêu cầu đó. Mỗi nguyên tắc trên đều có những tác dụng rất khác nhau. Tuy nhiên nguyên tắc 7 và 8 là quan trọng hơn cả. Nếu học sinh không được tôn trọng và không được giữ ở trình độ cao thì những nguyên tắc trên sẽ bị giảm tác dụng. II. Phương pháp, kĩ thuật xác định nhu cầu học tập của học sinh THCS 1. Phương pháp quan sát Với phương pháp này, người quan sát phải là người có hiểu biết, kinh nghiệm về dạy học, quy trình và phương pháp thực hiện dạy học. Thông qua việc quan sát, người quan sát sẽ thấy được những thiếu sót trong thực tế học tập của học sinh. Giáo viên có thể căn cứ những thông tin này để xác định nhu cầu của học sinh. Việc quan sát này có thể thực hiện dưới hai hình thức:.
<span class='text_page_counter'>(34)</span> * Quan sát chính thức: là việc người quan sát đến tại nơi ở của học sinh và ghi chép những cái quan sát được: hoàn cảnh gia đình, cách học tập,…. - Ưu điểm: giáo viên và học sinh thực hiện công việc đều có thể trao đổi với nhau về vấn đề của học sinh. - Nhược điểm: người bị quan sát có thể có những hành vi không đúng với thực tế anh ta hay làm hoặc cảm giác bất an khi bị người khác quan sát. *Quan sát phi chính thức: là việc người quan sát sẽ kín đáo quan sát người học. 2. Phương pháp đàm thoại - Ưu điểm: Đây là một cách hữu hiệu để có thể lấy được thông tin cập nhật và chính xác trong quá trình xác định nhu cầu. - Nhược điểm: Khi xác định nhu cầu trên quy mô lớn, việc lùa chọn đúng mẫu tiêu biểu khó và không thể nào đàm thoại được tất cả học sinh mà chỉ với một vài đối tượng. Vì vậy, kết quả thu được không hoàn toàn chính xác, khách quan.Đôi khi việc đàm thoại có thể gây gián đoạn quá trình dạy học. 3. Phương pháp đánh giá, so sánh kết quả học tập của học sinh Dựa vào kết quả điểm học tập của học sinh mà so sánh, đánh giá về mức độ nhận thức, sự tiến bộ của các em học sinh một cách khoa học. Dựa vào kết quả học tập mà giáo viên có thể xác định xem học sinh có nhu cầu học tập ở mức độ nào. Nhu cầu học tập đó đã trở thành động lực thúc đẩy học sinh tiếp thu, tìm tòi tri thức mới chưa . Tóm lại : Nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS phụ thuộc vào nhiều yếu tố ( chủ quan, khách quan, điều kiện vùng miền, đối tượng học sinh, gia đình...). Vì vậy trong kế hoạch dạy học của người giáo viên cần có sự mềm dẻo, linh hoạt. Có thể vận dụng các phương pháp, kỹ thuật khác để xác định nhu cầu và động lực học tập của học sinh phù hợp với từng yếu tố đó. Người dạy từ hiểu được nhu cầu học tập của các em để từ đó giúp các em có động lực học tập đúng đắn,biết vượt qua khó khăn, biết ước mơ và vươn lên trong cuộc sống. Phần 2. Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục Qua tiếp thu nội dung trên và thực tế vận dụng, kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động dạy học, giáo dục. Tôi nhận thấy rằng: +Nhu cầu học tập là sự cần thiết đối với mỗi học sinh nhằm hoàn thiện trang bị những kiến thức chuyên môn, có mối quan hệ chặt chẽ với các nhu cầu khác. Nhu cầu học tập là nhu cầu bậc cao, thuộc về nhu cầu nhận thức, chi phối mạnh mẽ sự hình thành và phát triển nhân cách HS. Cơ chế phát triển nhu cầu học tập, mỗi lần thỏa mãn nhu cầu kiến thức lại nảy sinh nhu cầu mới về kiến thức ở mỗi học sinh. Nhu cầu học tập phát triển phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện và phương thức thỏa mãn nhu cầu ấy, và nhu cầu học tập chỉ có thể thỏa mãn bằng hoạt động học tập. Biết vậy, người giáo viên phải thường xuyên tạo mọi điều kiện để thỏa mãn nhu cầu của Hs về kiến thức. Nhiệm vụ giáo viên là không ngừng nâng cao về kiến thức chuyên môn qua tài liệu tham khảo, bồi dưỡng thường xuyên. Từ việc xác định được nhu cầu của từng lớp học, cá nhân – người giáo viên giúp cho HS trong việc xác định động cơ đúng đắn trong học tập, phải tạo cho HS niềm hưng phấn, hứng thú trong học tập. Người giáo viên phải có phương pháp trong xây dựng kế hoạch dạy học, đánh giá. GV cho HS tự đánh giá năng lực bản thân tổ chức thi đua giữa các cá nhân, khen thưởng, trách phạt đúng nơi, đúng chỗ, tìm hiểu môi trường bên ngoài. Bản thân không ngừng tạo động lực học tập cho học sinh ví dụ như:.
<span class='text_page_counter'>(35)</span> - Tìm những tình huống gần gũi với thực tế có tính vấn đề liên quan đến từng bài học để tạo sự tò mò muốn tìm hiểu kiến thức của học sinh. Phần 3. Tự nhận xét và đánh giá Bản thân luôn cố gắng tìm tòi và thúc đẩy động lực học tập của học sinh để nâng cao hiệu quả trong từng tiết dạy. * Tự chấm điểm: Bằng số: 8 điểm; Bằng chữ: Tám điểm. THCS 14: Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp Phần 1. Nhận thức về xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp Giới thiệu tổng quan: Việc bồi dưỡng và nâng cao năng lực xây dựng kế hoạch theo hướng tích hợp là một mục tiêu quan trọng trong BDTX cho GV THCS đáp ứng chuẩn nghề nghiệp hiện nay. Trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất. Dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các nội dung, hoạt động dạy kiến thức kỹ năng, thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung và họat động dạy học để hình thành và phát triển năng lực thực hiện hoạt động cho người học, tạo ra mối liên kết giữa các môn học 1. Dạy học tích hợp a. Dạy học tích hợp là gì? Là quá trình dạy học sao cho trong đó toàn bộ các hoạt động học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ rang, có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tiếp theo và chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống lao động. Mục tiêu cơ bản của tư tưởng sư phạm tích hợp là nâng cao chất lượng giáo dục HS phù hợp với mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường. b. Đặc trưng của dạy học tích hợp DHTH hướng tới sự và tổ chức các hoạt động học tập, trong đó HS học cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kỹ năng trong những tình huống có ý nghĩa gần với cuộc sống. Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức của HS từ các môn học khác nhau được huy động và phối hợp với nhau tạo thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó. DHTH có đặc trưng chủ yếu sau: Làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa, bằng cách gắn quá trình học tập vào cuộc sống hằng ngày không làm tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt, sử dụng kiến thức của nhiều môn học và không chỉ dừng lại ở nội dung các môn học. DHTH phát triển các năng lực, đặc biệt là trí tưởng tượng khoa học và năng lực duy trì của học sinh vì nó luôn tạo ra các tình huống để học sinh vận dụng kiến thức trong các tình huống gắn với cuộc sống. DHTH cũng giảm sự trùng lặp các nội dung dạy học giữa các môn học góp phần giảm tải nội dung học tập. 2. Kế hoạch dạy học: a. Kế hoạch dạy học là gì? Là chương trình công tác do giáo viên soạn thảo bao gồm toàn bộ công việc của thầy và trò trong suốt năm học trong một học kì, đối với từng chương hoặc một tiết học trên lớp..
<span class='text_page_counter'>(36)</span> b. Cách lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, dự kiến kế hoạch thời gian, liệt kê tài liệu, sách tham khảo, đề xuất vấn đề cần trao đổi, xác định yêu cầu và biện pháp điều tra. c. Cấu trúc kế hoạch bài học: Xác định các kiểu bài: - Bài nghiên cứu kiến thức mới - Bài luyện tập, củng cố kiến thức - Bài thực hành thí nghiệm - Bài ôn tập - Bài kiểm tra đánh giá d. Các buổi xây dựng bài soạn: - Xác định mục tiêu - Nghiên cứu SGK và tài liệu liên quan - Xây dựng khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh - Lựa chọn phương pháp dạy học - Xây dựng KHBH e. Cấu trúc của kế hoạch bài học: * Mục tiêu bài học: - Kiến thức: 6 mức độ: thông hiểu, vận dụng, kiến thức, phân tích, tổng hợp, đánh giá. - Kĩ năng - Thái độ - Chuẩn bị của giáo viên và học sinh: GV: chuẩn bị TBDH, học sinh chuẩn bị bài soạn. 3. Các yêu cầu của kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp: a. Các yêu cầu cơ bản đối với kế hoạch dạy học: - Bao quát tổng thể các phương pháp dạy học. - Nêu được mục tiêu của bài học. - Nêu được kết cấu và tiến trình của tiết học. - Nội dung làm việc của thầy và trò. b. Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp: - Không làm thay đổi đặc trưng của môn học - Khai thác nội dung cần tích hợp một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng. - Đảm bảo tính vừa sức. 4. Mục tiêu, nội dung, phương pháp của kế hoạch dạy học tích hợp: a. Mục tiêu: 4 mục tiêu: - Các môn học phải liên hệ cuộc sống hằng ngày - Phân biệt cái cốt yếu và thứ yếu. - Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống. - Lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học. b. Các quan điểm trong nội dung dạy học tích hợp: - Quan điểm “nội bộ môn học” - Quan điểm “Đa môn” - Quan điểm “Liên môn” - Quan điểm “Xuyên môn” c. Phương pháp dạy học tích hợp: Dạng tích hợp thứ 1: Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học định hướng là “đa môn” và “liên môn”..
<span class='text_page_counter'>(37)</span> Dạng tích hợp thứ 2: Phối hợp các QTHT của nhiều môn học khác nhau d. Một số kĩ thuật dạy học tích cực thường dùng trong DHTH: - Nâng cao năng lực cho giáo viên về kĩ thuật thảo luận nhóm. - Nâng cao nâng cao cho giáo viên cho giáo viên về kĩ thuật các mảnh ghép. Phần 2. Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục - Ở trường THCS, học sinh được học nhiều bộ môn khác nhau, song các môn học trong nhà trường phổ thông đều có chung nhau nhiệm vụ là hiện thực hóa mục tiêu phát triển toàn diện cho học sinh. Do vậy, khi dạy học người giáo viên phải biết tích hợp nội dung này một cách cụ thể, phù hợp với nội dung môn dạy của mình. Ngoài bộ môn giảng dạy của mình, người giáo viên phải không ngừng tìm hiểu về kiến thức các bộ môn khác (có chọn lọc), có liên quan trong chương trình giảng dạy, lựa chọn những vấn đề quan trọng mấu chốt nhất để giảng dạy. Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp tạo điều kiện cho học sinh tự tìm tòi kiến thức, nắm được và mở rộng kiến thức, liên hệ kiến thức cuộc sống một cách sinh động, dễ hiểu, giải thích các hiện tượng , khái niệm rõ ràng hơn. Phần 3. Tự nhận xét và đánh giá Bản thân luôn cố gắng xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp vì luôn nhận thức được xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp đã góp phần phát triển toàn diện cho học sinh cả về kiến thức lẫn nhân cách. Dạy theo hướng này giúp cho học sinh có động cơ học tập tốt, học sinh học được cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng trong những tình huống có ý nghĩa với cuộc sống. Phương pháp này giúp cho kiến thức (kĩ năng, thực hành) của giáo viên không chỉ gói gọn trong phân môn mình đang giảng dạy, nhiều tiết học liên quan đến môn ngữ văn, toán, lý, hóa, sinh, địa lý.. Cố gắng tìm hiểu những vấn đề liên quan trong thực tế. Những giảng dạy có nội dung tích hợp “xuyên môn”, “liên môn” làm học sinh hứng thú, dễ tiếp thu bài. * Tự chấm điểm: Bằng số: 8 điểm; Bằng chữ: Tám điểm. THCS 15: Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện kế hoạch dạy học; Phần 1. Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện kế hoạch dạy học. 1. Cách lập kế hoạch dạy học. a. Nội dung 1. * Hoạt động 1. Cách lập kế hoạch dạy học năm học: - Xác định mục tiêu. - Dự kiến thời gian. - Liệt kê tài liệu, sách tham khảo. - Đề xuất những vấn đề cần trao đổi. - Xác định yêu cầu và biện pháp điều tra. - Nghiên cứu chương trình sẽ dạy. - Nghiên cứu tình hình thiết bị. - Nghiên cứu tình hình HS. - Nghiên cứu bản phân phối chương trình và bài dạy. * Hoạt động 2. Cách lập kế hoạch bài soạn: * Các kiểu bài soạn: - Bài nghiên cứu kiến thức mới. - Bài luyện tập, củng cố kiến thức..
<span class='text_page_counter'>(38)</span> - Bài thực hành, thí nghiệm. - Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức. - Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng. * Các kiểu xây dựng bài soạn: - Xác định mục tiêu bài học. - Nghiên cứu SGK và tài liệu liên quan. - Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức. - Lựa chọn PPDH. * Cấu trúc của kế hoạch bài học: - Xác định mục tiêu: 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá. - Mục tiêu kỹ năng: 2 mức độ: làm được và thành thạo - Mục tiêu về thái độ: hình thành thói quen, tính cách, nhân cách nhằm phát triển con người toàn diện * Chuẩn bị của giáo viên và học sinh - GV: chuẩn bị TBDH, phương tiện dạy học ... - HS: chuẩn bị các nội dung liên quan đến bài học theo sự hướng dẫn của GV như soạn bài, làm bài, chuẩn bị tài liệu, đồ dùng học tập ... * Tổ chức các hoạt động dạy học: Đề ra hoạt động: tên hoạt động, mục tiêu HĐ, cách tiến hành hoạt động, thời gian. - 2 cột: HĐ của GV - HS - 3 cột: HĐ của GV – HS – ghi bảng. b. Nội dung 2. Thực hiện kế hoạch dạy học: Hoạt động 1: Các yêu cầu cơ bản đối với một kế hoạch bài học: - Bao quát tổng thể PPDH. - Nêu được mục tiêu. - Nêu được kết cấu và tiến trình của tiết học. - Nội dung, phương pháp làm việc của thầy và trò. Hoạt động 2: Các khâu cơ bản thực hiện kế hoạch dạy học: - Tổ chức lớp học. - Kiểm tra bài làm ở nhà của HS. - Xây dựng tình huống có vấn đề. - Xây dựng, lĩnh hội kiến thức. - Khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức. - Tự kiểm tra kiến thức. c. Nội dung 3. Các yếu tố liên quan đến đối tượng và môi trường dạy học ảnh hưởng tới thực hiện kế hoạch dạy học. Hoạt động 1: Đối tượng dạy học có ảnh hưởng như thế nào đến thực hiện kế hoạch dạy học. Đối tượng dạy học bao gồm: người học và hoạt động học. - Người học: tự lĩnh hội kiến thức, không phải người được dạy. - Hoạt động học: tuân theo cấu trúc HĐ: tư duy, so sánh… Hình thức HHD: Nắm được vấn đề, sáng tỏ vấn đề. Hoạt động 2: Thế nào là môi trường dạy học? - Môi trường bên trong: Chỉ các mối quan hệ nội tại bên trong của người dạy người học như: tiềm năng trí tuệ, những xúc cảm, những giá trị của cá nhân. - Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu tố bên ngoài người học, người dạy như mô trường, người dạy ảnh hưởng tới người học..
<span class='text_page_counter'>(39)</span> Môi trường bên trong chỉ rõ sức mạnh nội tại của người học và người dạy, tạo sức ép lên quá trình học và phương pháp sư phạm. Hoạt động 3: Môi trường dạy học ảnh hưởng như thế nào đến thực hiện kế hoạch dạy học? Môi trường có thể ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến người dạy và người học và hoạt động của họ, điều đó làm cho người học phải thay đổi và thích nghi với những điều kiện ấy. Quan hệ giữa môi trường và người học là quan hệ ảnh hưởng và thích nghi. Người học và người dạy phải biết sàng lọc những ảnh hưởng có lợi của môi trường hoặc điều chỉnh các ảnh hưởng bất lợi để dễ thích nghi. Nội dung 4: Các yếu tố liên quan đến chương trình tài liệu, phương tiện dạy học ảnh hưởng tới thực hiện kế hoạch dạy học. Ảnh hưởng của chương trình: GV THCS cần nghiên cứu chương trình. * Cấu trúc chương trình dạy học bao gồm: - Mục tiêu, nội dung môn học bao gồm các phần: chương, bài, đề muc. - Phân phối thời gian cho các phần, chương, bài, đề mục, đây cũng là quy định số tiết ôn tập. - Giải thích chương trình và hướng dẫn thực hiện chương trình. - Ý nghĩa của chương trình dạy học. * Ảnh hưởng của tài kiệu đến thực hiện kế hoạch dạy học: Chương trình dạy học chỉ quy định phạm vi tài liệu dạy học của các môn học, còn nhiệm vụ của SGK là: - Phải trình bày những nội dung của từng bộ môn một cách rõ rang, cụ thể, chi tiết và theo cấu trúc của nó, có chức năng chủ yếu là giúp HS lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thu trên lớp, phát triển năng lực trí tuệ và có tác dụng giáo dục. - Giúp GV xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện DH để tổ chức công tác dạy học của mình. *Ảnh hưởng của phương tiện DH đến thực hiện kế hoạch DH. Phương tiện DH là các sự vật, hiện tượng (vật chất hay phi vật chất) được GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học như những điều kiện hay công cụ trung gian vào đối tượng dạy học với chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng thêm sức mạnh của những tác động mà GV và HS thực hiện lên đối tượng dạy học đó. Phần 2. Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục - Để đạt hiệu quả tốt trong một tiết dạy, một chương, một năm học, đòi hỏi GV phải lập kế hoạch cụ thể, rõ ràng (kế hoạch năm, kế hoạch bài dạy). - Ví dụ bản thân đã xây dựng năm học 2013 – 2014 như sau: II) CÁC MỤC TIÊU NĂM HỌC: 1) Thực hiện Chỉ thị 03-BCT của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh : “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” và phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”: a. Thực hiện Chỉ thị 03-BCT của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh : “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”: - Bản thân và gia đình đã chấp hành đầy đủ các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và địa phương nơi cư trú. - Có tinh thần xây dựng khối đoàn kết, tinh thần làm việc hợp tác, tinh thần tương thân tương ái , lắng nghe sự chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp, , trách nhiệm.
<span class='text_page_counter'>(40)</span> đối với học sinh, trường, lớp, thái độ tận tình với phụ huynh học sinh, thân thiện với học sinh. - Đã thực hành việc tiết kiệm chống lãng phí điện, nước trong cơ quan; Chấp hành đúng thời gian hội họp, thời gian giảng dạy… - Luôn cố gắng nâng cao hiệu quả công tác, chất lượng giảng dạy để thực hiện kế hoạch đã đề ra. b. Cuộc vận động : “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” và 5 chuẩn mực đạo đức cán bộ viên chức: - Không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách tác phong, ứng xử trong cơ quan. - Luôn nêu cao tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. 2) Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: - Thường xuyên tích luỹ, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ cho quá trình dạy học. - Luôn có tinh thần học hỏi từ các bạn đồng nghiệp thông qua các tiết dự giờ thăm lớp. - Tự học qua sách báo, phương tiện thông tin đại chúng mà đặc biệt là CNTT như internet. 3) Việc thực hiện chương trình: - Thực hiện theo chương trình của Bộ giáo dục. -Thực hiện chương trình dạy buổi 2. 4) Về soạn bài, chấm chữa bài: - Thực hiện tốt và đầy đủ các quy định của nhà trường và của ngành về việc soạn giáo án. - Ứng dụng dụng CNTT vào việc soạn giảng có hiệu quả. - Luôn thâm nhập kĩ giáo án trước khi lên lớp, soạn giáo án phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện nhà trường nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục. - Thực hiện tốt việc chấm chữa bài kiểm tra các loại đúng thời gian quy định, xuất trình giáo án khi tổ chuyên môn, nhà trường yêu cầu kiểm tra. 5) Nhiệm vụ chủ nhiệm: - Tích cực, thường xuyên theo sát lớp để xây dựng lớp chủ nhiệm xuất sắc về mặt nề nếp, học tập tốt. - Vận động có kết quả học sinh theo học đầy đủ các tiết học thêm trong nhà trường. - Lớp tích cực trong các phong trào ngoài giờ, lao động của Liên đội, Chi Đoàn, của Nhà trường. - Theo sát và uốn nắn những học sinh nhác học và hay vắng học. Có biện pháp để tình hình học tập của lớp đạt kết quả tốt nhất. 6) Các nhiệm vụ khác được giao. - Phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ khác được giao. 7) Đồ dùng dạy học: - Thường xuyên mượn, sử dụng đồ dùng dạy học có liên quan. - Áp dụng CNTT vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học. 8) Về dạy học trên lớp: - Lên lớp đúng thời gian quy định. - Tiến trình dạy học phải phù hợp với đặc trưng bộ môn. - Tăng cường đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, luôn lấy học sinh làm trung tâm. Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Động viên học sinh vươn lên trong học tập..
<span class='text_page_counter'>(41)</span> - Xử lý tốt các tình huống sư phạm xảy ra trong giờ học. - Luôn nhiệt tình trong giảng dạy, thường xuyên sử dụng ĐDDH trong các tiết học. - Ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy, cụ thể giáo án điện tử. 9) Thực hiện chế độ kiểm tra, đánh giá, cho điểm học sinh: - Thực hiện việc đánh giá học sinh theo tinh thần đổi mới của Bộ nhằm nâng cao chất lượng dạy học. - Tiến hành kiểm tra thường xuyên, đầy đủ và kịp thời cập nhật điểm vào sổ điểm chính đúng quy định. - Tiến hành kiểm tra định kỳ theo chương trình đề ra, sớm hoàn thành chấm bài để cập nhật điểm, đánh giá học sinh . - Cho điểm học sinh một cách công bằng, minh bạch, đúng quy định. III) NHIỆM VỤ, CHỈ TIÊU, BIỆN PHÁP: 1) Nhiệm vụ 1: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua của Ngành. - Chỉ tiêu: + Tham gia đầy đủ các hoạt động do nhà trường và nghành phát động. + Huy động 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường. - Biện pháp: + Tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng chính trị. + Tìm hiểu về cuộc đời và thân thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tham gia các buổi sinh hoạt, tọa đàm và sưu tầm về tấm gương đạo đức của Bác đồng thời làm theo lời Bác. Tích cực tham gia phong trào tự học, tự nâng cao kiến thức, viết sáng kiến kinh nghiệm. Thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức Nhà giáo. Cụ thể thực hiện tốt theo các tiêu chí trong chuẩn giáo viên THCS. + Tiếp tục coi phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là giải pháp đột phá và lâu dài để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh. Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với các đoàn thể, xã hội, giữa giáo viên với học sinh và phụ huynh học sinh. + Gắn kết hoạt động cung cấp tri thức với kĩ năng thực hành và vận dụng. Thực hiện tốt mục tiêu giáo dục dạy người thông qua dạy chữ và dạy nghề. 2) Nhiệm vụ 2: Nâng cao chất lượng công tác soạn – giảng: - Chỉ tiêu: + Tiết dạy xếp loại Khá ,Tốt. - Biện pháp: + Thường xuyên cập nhật và trau dồi phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa mọi hoạt động học tập và rèn luyện của học sinh. Xác định rõ yêu cầu, mục tiêu và kĩ năng cần đạt ở từng bài học, hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lí của từng học sinh, cấu trúc chương trình. + Tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên cứu. Tích cực tham gia “Góc học tập và trao đổi kinh nghiệm”. + Giáo dục học sinh ý thức tự học, phương pháp tự học kết hợp với tài liệu phù hợp với chủ đề. Thường xuyên kiểm tra và định hướng kết quả hoạt động tự học. + Tăng cường kĩ năng thực hành và luyện tập của học sinh. Xác định rõ mục tiêu giáo dục và giáo dưỡng của từng bài học. + Thực hiện đúng qui định của nghành, đảm bảo dạy đúng chương trình, chuẩn kĩ năng kiến thức. Không cắt xén chương trình. + Tích cực trong hoạt động viết chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm, dự giờ học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp. Bản thân phải tự tin trong quá trình soạn giáo án,.
<span class='text_page_counter'>(42)</span> quản lí tốt giờ học bằng kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy. Nâng cao hiệu quả tiết thao giảng và tiết dạy tốt. 3) Nhiệm vụ 3: Tăng cường công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; Ứng dụng CNTT trong dạy học: - Chỉ tiêu: + Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. + Dự giờ thăm lớp: 4tiết / tháng. - Biện pháp: + Tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. + Xây dựng và làm phong phú sổ tích lũy Chuyên môn nghiệp vụ. + Xây dựng trang Web của cá nhân trở thành nơi chia sẻ kinh nghiệm dạy học và nâng cao tay nghề. 4) Nhiệm vụ 4: Nâng cao chất lượng giáo dục trong học sinh: a) Chỉ tiêu phấn đấu về chất lượng bộ môn: giảm tỉ lệ yếu kém dưới 5%. b) Chỉ tiêu danh hiệu thi đua: - Danh hiệu thi đua: LĐ tiên tiến. - Biện pháp: + Quán triệt nhiệm vụ của người học sinh, nội qui nhà trường, lớp. Hướng dẫn học sinh thảo luận và đề ra biện pháp thực hiện. + Thường xuyên động viên các em tìm tòi để rút kinh nghiệm trong giảng dạy. + Kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh qua nhiều kênh thông tin khác nhau để giáo dục các em có ý thức học tập và rèn luyện tốt hơn. + Quan tâm tới từng đối tượng học sinh đặc biệt là HS cá biệt và HS có hoàn cảnh khó khăn. + Thiết kế tiến trình tiết dạy phù hợp với nhiều đối tượng học sinh. Cụ thể nhiệm vụ cho học sinh sau giờ học. Giới thiệu kiến thức mới trên cơ sở kiểm tra, ôn tập kiến thức đã học kết hợp với hướng dẫn phương pháp học tập. + Dành nhiều thời gian cho các em thực hành làm bài tập. 5) Nhiệm vụ 5: Thực hiện đúng quy chế chuyên môn, nghiệp vụ, ngày giờ công theo quy định: - Chỉ tiêu: + Tiết dạy có ứng dụng CNTT: 15 tiết / HK; Giáo án ƯDCNTT / 2 bài/ tháng. + Thực hiện đúng, đủ theo PPCT. - Biện pháp: + Thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của nghành, của nhà trường và của tổ chuyên môn. 6) Nhiệm vụ 6: Công tác quản lí hồ sơ: - Chỉ tiêu: + 100% các loại hồ sơ xếp loại từ Khá trở lên. - Biện pháp: + Bám sát sự chỉ đạo của BGH. + Nghiên cứu và vận dụng kịp thời các văn bản chỉ đạo. + Phát huy yếu tố tích cực của các thành viên trong tổ. 7) Nhiệm vụ 7: Công tác viết sáng kiến kinh nghiệm, đăng ký thi đua - khen thưởng (đăng ký danh hiệu thi đua): - Đăng ký viết ý tưởng sáng tạo: “Xây dựng nhóm tự học” - Danh hiệu thi đua năm học 2013 – 2014: Lao động tiên tiến.
<span class='text_page_counter'>(43)</span> - Danh hiệu Công đoàn: Đoàn viên tích cực. III) KẾ HOẠCH CỤ THỂ TRONG TỪNG THÁNG: * Cần xây dựng kế hoạch hoạt đọng tháng; * Cần xây dựng kế hoạch giảng dạy từng tuần; * Qua việc lập kế hoạch dạy học bản thân nhận thấy việc lấp kế hoạch là rất cần thiết nó giúp cho công tác giảng dạy đạt kết quả cao và diễn ra theo đúng tiến độ chương trình. Tuy nhiên kế hoạch cũng có thể bị thay đổi vì các nội dung công việc đột xuất nào đó của Nhà trường nên cần điều chỉnh kế hoạch hợp lí và kịp thời. Phần 3. Tự nhận xét và đánh giá Việc lập và thực hiện kế hoạch dạy học đòi hỏi người GV những kỹ năng như nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình và SGK cấp học, lớp học, môn học, dựa vào đặc điểm đối tượng đã khảo sát để lập ra một kế hoạch phù hợp, khả thi, có thể kiểm soát được. Việc lập kế hoạch là rất cần thiết, vì SGK mỗi năm một thay đổi nên đòi hỏi GV phải cập nhật kịp thời, tình hình HS cũng thay đổi theo mỗi năm học. Tình hình địa phương, trường lớp cũng có thể thay đổi nên tình hình thiết bị của nhà trường cũng bị thay đổi, vì vậy GV phải có kế hoạch dự trù. Trình độ GV mỗi năm có sự thay đổi do học hỏi kinh nghiệm nên KHDH phải thay đổi. Xác định rõ một số yếu tố của môi trường tác động vào (những yếu tố bên trong người học) nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tiêu cực.. Phương tiện dạy học nhiều, phong phú, đa dạng nhưng trong đó phương tiện trực quan ảnh hưởng rất lớn đến HS, vì vậy GV phải đầu tư và áp dụng trong phương pháp dạy học của mình. * Tự chấm điểm: Bằng số: 8 điểm; Bằng chữ: Tám điểm. . THCS 16: Hồ sơ dạy học. Phần 1. Nhận thức về việc hồ sơ dạy học. Chuyên đề HSDH bao gồm 2 nội dung cơ bản: 1. Quá trình xây dựng HSDH ở cấp THCS: a. HSDH của môn học gồm: - HS tổ chuyên môn: HS này do tổ trưởng chuyên môn chủ trì xây dựng. - Thông tin chung: thông tin này do GV bộ môn xây dựng. - Sổ bồi dưỡng chuyên môn cá nhân: sổ này do GV ghi chép trong quá trình công tác nhiều năm. - Sổ dự giờ: do GV xây dựng và ghi chép khi dự giờ, thăm lớp đồng nghiệp. - Sổ điểm cá nhân: Do GV bộ môn xây dựng và ghi chép thường xuyên. - Sổ thiết bị dạy học: do nhà trường xây dựng, quản lý. - Sổ báo giảng: do GV bộ môn xây dựng trước ít nhất 1 tuần trước khi thực hiện. - Kế hoạch bài dạy (giáo án). 2. Quy trình xây dựng HSDH bao gồm các bước: Bước 1: Tổ chuyên môn thảo luận trao đổi về các văn bản chỉ đạo của các cấp, xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn bao gồm: chương trình SGK, khung phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình, khung ma trận đề kiểm tra, những vấn đề sử dụng phương tiện, TBDH, những vấn đề về PPDH, các kỹ thuật dạy học tích cực..
<span class='text_page_counter'>(44)</span> Bước 2: Hoàn thiện các thông tin chung. Bước 3: Tìm hiểu và cập nhật thường xuyên sổ bồi dưỡng chuyên môn cá nhân, khung phân phối chương trình, các chuẩn kiến thức kỹ năng, sử dụng TBDH, sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực. Bước 4: Tìm hiểu và cập nhật sổ dự giờ, sổ mượn TBDH, xây dựng sổ điểm cá nhân. Bước 5: Xây dựng kế hoạch bài dạy, dựa vào TKB để xây dựng sổ báo giảng. 3. Cách sử dụng, bảo quản và bổ sung hồ sơ dạy học: a. Sử dụng: - Giáo án được GV xây dựng, cập nhật thường xuyên và sử dụng trong quá trình dạy học, được nhà trường kiểm tra thường xuyên theo quy định. - Sổ báo giảng được cập nhật ít nhất 1 tuần khi dạy, GV và viên chức TBDH căn cứ để chuẩn bị các điều kiện bài dạy. - Sổ mượn TBDH cũng được cập nhật ít nhất trước 1 tuần khi dạy, GV và viên chức TBDH căn cứ để chuẩn bị các điều kiện bài dạy. - Sổ dự giờ được GV sử dụng và cập nhật thường xuyên theo quy định. - Sổ bồi dưỡng chuyên môn được GV ghi chép và cập nhật thường xuyên. * Tất cả các sổ sách, kế hoạch trong HSDH được nhà trường kiểm tra thường xuyên và đột xuất. b. Bảo quản: - GV có trách nhiệm cập nhật và bảo quản giá an, sổ báo giảng, sổ dự giờ, sổ bồi dưỡng chuyên môn. - Tổ trưởng chuyên môn bảo quản sổ kế hoạch của tổ chuyên môn. - GV và viên chức TBDH cập nhật và bảo quản sổ thiết bị dạy học. * Tất cả các sổ sách, kế hoạch trong HSDH được GV và nhà trường bảo quản theo quy định. c. Bổ sung: Tất cả các sổ sách, kế hoạch trong HSDH được GV và nhà trường bổ sung theo quy định. 4. Các năng lực cần thiết ở người GV THCS trong xây dựng và phát triển HSDH. - GV phải biết tìm kiếm, nghiên cứu thông tin mới, tài liệu tham khảo, các tình huống ứng dụng trong thực tiễn để rèn luyện cho HS. - GV phải được bồi dưỡng, nâng cao năng lực tổ chức thực hành ngoại khoá, sử dụng các TBDH. - GV phải có kỹ năng, kỹ thuật dạy học phù hợp với yêu cầu đổi mới PPDH. Phần 2. Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục - Qua phần nhận thức trên đây, người GV phải có nhiệm vụ là phải chuẩn bị đầy đủ các loại HSDH theo yêu cầu. - Thường xuyên cập nhật thông tin đúng thời gian quy định. - Bảo quản tốt HSDH. - Tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, tìm kiếm nguồn tư liệu mới làm phong phú nội dung HSDH. - Ứng dụng CNTT trong xây dựng và sử dụng HSDH để nâng cao năng lực ứng dụng CNTT. - Bản thân đã xây dựng hồ sơ cá nhân của mình dựa theo các bước sau: Bước 1: Tổ chuyên môn thảo luận trao đổi về các văn bản chỉ đạo của các cấp, xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn bao gồm: chương trình SGK, khung phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình, khung ma trận đề kiểm tra,.
<span class='text_page_counter'>(45)</span> các loại hồ sơ cần có như: sổ dự giờ, sổ kế hoạch cá nhân, lịch báo giảng, sổ chủ nhiệm, sổ điểm cá nhân, sổ điểm lớn, giáo án các loại, sổ tích lũy kích nghiệm, sổ bồi dưỡng thường xuyên, sổ mượn đồ dùng dạy học. Bước 2: Hoàn thiện các thông tin chung. Bước 3: Cập nhật thường xuyên sổ bồi dưỡng chuyên môn cá nhân, khung phân phối chương trình, các chuẩn kiến thức kỹ năng, sử dụng TBDH và các loại sổ sách nói trên. Bước 4: Cập nhật kịp thời sổ dự giờ, sổ mượn TBDH, xây dựng sổ điểm cá nhân, sổ điểm lớn, cập nhật điểm lên cổng CNTT. Bước 5: Xây dựng kế hoạch bài dạy, dựa vào TKB để xây dựng sổ báo giảng và hoàn thành sổ kế hoạch cá nhân. - Bản thân luôn cố gắng xây dựng HSDH có sử dụng CNTT như lên lịch báo giảng trên trang web của trường; nhập điểm kịp thời lên cổng CNTT. Phần 3. Tự nhận xét và đánh giá - Kiểm tra đánh giá HS qua bài kiểm tra là rất quan trọng, do vậy việc ra đề đòi hỏi GV phải đầu tư kỹ càng cả về hình thức lẫn nội dung, thiết lập ma trân, tổ hợp câu hỏi, cách chấm, chữa,… - Việc xây dựng và bảo quản, bổ sung HSDH ở trường THCS hiện nay là rất cần thiết, công việc này cần tiến hành thường xuyền, kể cả bộ phận quản lý và giáo viên trong suốt quá trình để kế hoạch dạy học có hiệu quả hơn. - Bản thân luôn cố gắng hoàn thành tốt các loại hồ sơ dạy học. * Tự chấm điểm: Bằng số: 8 điểm; Bằng chữ: Tám điểm. Tự chấm điểm trung bình của nội dung bồi dưỡng 3. Bằng số: 8 điểm; Bằng chữ: Tám điểm. * Tự đánh giá (nêu rõ bản thân sau khi bồi dưỡng đã tiếp thu và vận dụng được vào thực tiễn công tác được bao nhiêu % so với yêu cầu và kế hoạch) Sau khi học tập , bồi dưỡng và bản thân đã vận dụng các nội dung trên vào thực tiễn công tác 90% so với yêu cầu và kế hoạch. Phần III: Kết quả đánh giá, xếp loại BDTX của giáo viên cuối năm học: Cả năm KQ đánh giá Kết quả tự đánh giá của cá nhân. ND1. ND2. ND3. TỔNG. ĐTB. XL. 10. 9.5. 9.0. 28.5. 9.5. Giỏi. Kết quả đánh giá của Tổ chuyên môn Kết quả xếp loại của nhà trường. Giáo viên ký tên. HIỆU TRƯỞNG.
<span class='text_page_counter'>(46)</span>