BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
==================
HỒ MINH TUẤN
LẬP TRƢỜNG, CHÍNH SÁCH
CỦA CHÍNH PHỦ ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI
CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Mã số : 60.22.03.11
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LẾ THẾ CƢỜNG
Vinh, 2015
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài
“Lập trường và chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh
Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” được hồn thành nhờ sự hướng dẫn
tận tình, chu đáo của TS Lê Thế Cường, Phó chủ nhiệm khoa Lịch sử Trường
Đại học Vinh.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Lịch sử, các Thầy,
Cô giáo Tổ Lịch sử thế giới, cán bộ và nhân viên Thư viện Quốc gia, Thư
viện Học viện ngoại giao, Thư viện Quân đội, Thư viện Trường Đại học Vinh
đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến tập thể Ban Giám hiệu, các
đồng nghiệp ở Trường THPT Quỳnh Lưu 3 đã động viên, giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hồn thành luận
văn tốt nghiệp này.
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bản
thân cho nên luận văn này sẽ khơng tránh khỏi những khiếm khuyết cần được
góp ý sửa chữa.
Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và bạn
đọc để luận văn này được hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 10 năm 2015
Học viên
Hồ Minh Tuấn
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài:........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: ........................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn ............................................... 7
4.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn: ............................................................. 8
5. Nguồn tài liệu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ................... 8
6. Đóng góp của đề tài: ..................................................................................... 9
7. Bố cục của đề tài: ........................................................................................ 10
B. NỘI DUNG ................................................................................................ 11
Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH LẬP TRƢỜNG, CHÍNH SÁCH CỦA
CHÍNH PHỦ ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM . TỪ
NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975 ......................................................................... 11
1.1. Bối cảnh quốc tế, khu vực ............................................................................... 11
1.1.1. Bối cảnh quốc tế .................................................................................... 11
1.1.2.Tình hình khu vực châu Á....................................................................... 14
1.2. Tình hình kinh tế, chính trị và chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 1954 đến
1975 ......................................................................................................................... 15
1.2.1. Khái quát tình hình kinh tế - chính trị Ấn Độ từ 1954 đến 1975 .......... 15
1.2.2. Chính sách đối ngoại của Chính phủ Ấn Độ từ 1954 đến 1975 ........... 17
1.3. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trước 1954 ......................................................... 19
1.3.1. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trước 1945 ................................................ 19
1.3.2. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam từ 1945 đến 1954 ...................................... 21
1.4. Thái độ của các nước lớn đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến
1975 ......................................................................................................................... 23
1.4.1. Lập trường và thái độ của các nước lớn về hội nghị Genève và Hiệp
định Genève năm 1954 .................................................................................... 24
1.4.2. Mĩ và cuộc chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) .................................. 27
1.4.3 Thái độ của Liên Xô và Trung Quốc đối với cuộc chiến tranh Việt Nam
(1954 – 1975). ................................................................................................. 31
Tiểu kết chƣơng 1: ......................................................................................... 36
Chƣơng 2: NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ LẬP TRƢỜNG VÀ CHÍNH SÁCH
CỦA CHÍNH PHỦ ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT
NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975 ........................................................ 38
2.1. Lập trường và chính sách của Chính phủ Ấn Độ trong vai trị Chủ tịch Ủy
ban quốc tế kiểm sốt và giám sát ở Việt Nam ..................................................... 38
2.1.1. Ấn Độ với Hội nghị Genève về Đông Dương và sự ra đời Ủy ban kiểm
soát và giám sát quốc tế .................................................................................. 38
2.1.2. Hoạt động của Ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế (ICSC) ở Việt
Nam. ................................................................................................................ 47
2.1.3.1. Lên án chính quyền miền Nam Việt Nam vi phạm Hiệp định Genève. 48
2.1.3.2. Phản đối việc chính quyền miền Nam Việt Nam ngăn cản Ủy ban kiểm
soát và giám sát quốc tế ở Việt Nam thi hành nhiệm vụ ...................................... 53
1.2.3.3.Tố cáo việc Mĩ can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam................... 56
2.2. Thái độ của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam trong
Phong trào Không liên kết. ..................................................................................... 60
2.3. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1954 – 1975) ............... 69
2.3.1. Quan hệ chính trị, ngoại giao ............................................................... 69
2.3.2. Quan hệ kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật ........................................ 75
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 79
Chƣơng 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ THÁI ĐỘ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA
CHÍNH PHỦ ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM
1954-1975........................................................................................................ 80
3.1. Sự thay đổi trong lập trường và chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với
cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) ............................................................... 80
3.1.1. Quan điểm của Chính phủ Ấn Độ về vấn đề Việt Nam từ sau hiệp định
Genève 1954 đến 1960. ................................................................................... 80
3.1.2. Quan điểm của Chính phủ Ấn Độ về vấn đề Việt Nam trong những năm
1960 đến 1965. ................................................................................................ 83
3.1.3.Ấn Độ với cuộc dấu tranh hướng tới một hiệp định chính trị mới về
chiến tranh Việt nam từ 1965 đến 1973. ......................................................... 85
3.2. Những nhân tố khách quan tác động làm thay đổi lập trƣờng và chính
sách của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975. 92
3.2.1. Tác động từ quan hệ Ấn Độ - Liên Xô. ................................................. 93
3.2.2. Tác động từ quan hệ Ấn Độ - Mĩ .......................................................... 97
3.2.3. Tác động từ quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc ......................................... 100
3.2.4. Tác động từ sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc 101
3.3. Những nét đặc trƣng trong lập trƣờng và chính sách của Chính phủ Ấn
Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975)....................................... 103
C. KẾT LUẬN ............................................................................................. 111
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 115
E. PHỤ LỤC ................................................................................................ 121
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Hội nghị Genève (1954) về việc chấm dứt chiến tranh khôi phục lại nền
hịa bình ở Đơng Dương được ký kết nhưng khơng đem lại nền độc lập thực sự
cho Việt Nam, Lào và Cămpuchia. Vấn đề Đơng Dương trở thành điểm nóng ở
châu Á, thu hút sự quan tâm của nhiều nước lớn. Quan điểm, thái độ cũng như
đường lối chiến lược đối ngoại của các bên liên quan đều có ảnh hưởng lớn tới
diễn biến của cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1954 năm 1975.
Giữ vai trò là Chủ tịch Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế việc thi hành
Hiệp định Genève ở Đông Dương (1954-1973), Ấn Độ đã góp một tiếng nói
quan trọng trong quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á và cũng là một nhân tố
chính thúc đẩy các bên đối lập cùng hướng tới phương án đàm phán chính trị
để giải quyết các vấn đề xung đột quân sự. Nói cách khác, tiến trình đấu tranh
vì hịa bình ở Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ghi dấu ấn đậm nét vai trị
của Ấn Độ. Việc tìm hiểu thái độ, lập trường của Chính phủ Ấn Độ đối với
cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong những năm 1954 - 1975 góp phần khẳng
định vai trò của Ấn Độ trong quan hệ quốc tế trong suốt hơn 20 năm này.
Ấn Độ là nơi khơi nguồn của tư tưởng Không liên kết và là một trong
những quốc gia đi đầu trong việc áp dụng, vận động thành lập và lãnh đạo
Phong trào Không liên kết. Từ 1961 đến 1975, các hội nghị cấp cao của
Phong trào Không liên kết là một diễn đàn quan trọng trong cuộc đấu tranh
chống CNTD nói chung và vấn đề Đơng Dương nói riêng. Ấn Độ với tư cách
là nhà sáng lập và có uy tín trong thế giới thứ ba đã có nhiều chuyển biến
trong lập trường và quan điểm về vấn đề Đông Dương. Nghiên cứu thái độ
của Chính phủ Ấn Độ đối với vấn đề Đông Dương trong Phong trào Không
liên kết tiếp tục làm sáng rõ chính sách đối ngoại của Chính phủ Ấn Độ trong
giai đoạn này.
Mặt khác tìm hiểu thái độ, lập trường của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc
chiến tranh Việt Nam 1954 - 1975 nhằm làm sáng tỏ những chuyển biến về
chính sách của một nước lớn đối với Việt Nam. Qua đó góp phần củng cố mối
quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai nước, bước đầu gợi mở một số suy nghĩ
1
về vai trị, tiếng nói của các nước lớn trên diễn đàn quốc tế trong việc giải
quyết các điểm nóng, xung đột liên quan đến chủ quyền của nước ta hiện nay.
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, tơi đã mạnh dạn
chọn vấn đề: ―Lập trường, chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc
chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Tiếp cận với các nguồn tài liệu, chúng tôi nhận thấy vấn đề này đã được
giới sử học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
2.1. Ở nước ngoài, lập trường của Ấn Độ với cuộc chiến tranh Việt Nam
(1954-1975) đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác
nhau. Với trình độ cịn hạn chế, chúng tơi thấy nổi bật là một số cơng trình:
Cuốn sách ―Indian Foreign Policy in Cambodia, Laos and Vietnam 19471964‖ của học giả DR. Sar Desai, xuất bản ở Ấn Độ năm 1968 đã đề cập đến
những nội dung chính như: vai trị của Ấn Độ đối với cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc ở Đơng Dương, thái độ của Ấn Độ đối với việc chia cắt Việt
Nam năm 1954, quan hệ Ấn Độ với Việt Nam.... Đây là cơng trình có cách
tiếp cận tương đối gần với hướng nghiên cứu của luận văn.
Reports on Indochina là cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều nhà hoạt
động xã hội nổi tiếng của Ấn Độ, được xuất bản năm 1983 bằng tiếng Anh.
Các tác giả cho rằng sự căng thẳng ở khu vực Đơng Nam Á nói chung, Đơng
Dương nói riêng là do sự can thiệp của những thế lực nước ngoài. Các tác giả
đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị lâu đời giữa Ấn Độ với các nước Đơng
Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, đồng thời khẳng định tiềm năng to
lớn trong quan hệ Ấn Độ với Việt Nam.
Cơng trình của học giả Ramesh Thakur, ―Peackeping in Vietnam:
Canada, India, Balan and the International Commission‖, The University of
Alberta Press, Canada trình bày sự ra đời, hoạt động của Ủy ban kiểm soát và
giám sát quốc tế về Đông Dương từ năm 1954 đến 1973; thái độ của Ấn Độ,
Canada và Ba Lan trong quá trình hoạt động của ủy ban này. Đây là cơng
trình quan trọng cung cấp nhiều tư liệu và định hướng cho chúng tơi trong q
trình thực hiện luận văn này.
2
Cơng trình ―Chính sách đối ngoại của Ấn Độ‖ của V.P.Dutt, người Ấn
Độ, xuất bản năm 1988 tại Moscow bằng tiếng Nga. Trong phần,―Ấn Độ Việt Nam quan hệ không ngừng củng cố và phát triển‖ và Ấn Độ Việt Nam và
ASEAN‖, tác giả đã điểm qua lịch sử quan hệ Việt Nam và Ấn Độ.
Học giả T.G.Giaxôp trong công trình ―Cuộc đấu tranh của Ấn Độ vì tự do
và độc lập của các nước Đông Dương‖ xuất bản bằng tiếng Nga năm 1991 tại
Taskent (Uzbekistan) đã trình bày khá cụ thể về sự ủng hộ của Ấn Độ đối với
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, làm rõ quan điểm
của các đảng phái chính trị Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ
ở Việt Nam và nêu bật cuộc đấu tranh của các lực lượng tiến bộ Ấn Độ trong
việc phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mĩ ở Việt Nam.
Một số sách chuyên khảo của các tác giả nước ngoài đã được dịch ra
tiếng Việt: ―Lời phán quyết Việt Nam‖, NXB Quân đội nhân dân, 1985 của
Giôdep.A.Amtơ; ―Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông
Dương lần thứ nhất – Genève – 1954‖, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981
của Frăng xoa Gio... có đề cập ngắn gọn về hoạt động của Ấn Độ trong vai
trò là Chủ tịch Ủy ban Kiểm soát và giám sát quốc tế về Đông Dương; thái độ
của Phong trào Không Liên kết về cuộc chiến tranh ở Đơng Dương.
Ngồi ra cịn có một số cơng trình, bài viết, tài liệu đề cập đến vấn đề này
như: ―Foreign policy of Indian – Text of documant 1947-1958‖ (New Delhi,
1958) của Ban Thư ký Nghị viện Ấn Độ; ―Panch sheela and after‖ (Asia
Pulli shing House, Bombay 1960) của Gain Girilali; ―Le sud Asie et le sud Est
Asie‖ (Paris 1970) của Philippe Devilers; ―Ho Chi Minh, le Vietnam L’Asie‖
(Seuil, Paris 1971) của Paul Mus; ―Indo – US, relation 1947 – 1976‖ (Rodian
Publishers New Delhi, 1977); ―India’s Foreign policy studies in contimty and
change‖(Vikas, Publising House, New Delhi 1979) của Bimal Prasad; ―India,
China and Indochina‖ (Allied, New Delhi, 1980) của Triloti Nath Kaul;
―Why Vietnam‖ (Los Angeles 1980) của L.A. Patti . …. Đây là những cơng
trình cung cấp nguồn tư liệu quan trọng cho quá trình nghiên cứu.
2.2. Ở Việt Nam, lịch sử và chính sách đối ngoại của Ấn Độ đã được
nghiên cứu trên nhiều góc độ. Qua tiếp xúc các nguồn tư liệu và tìm hiểu lịch
sử vấn đề chúng tôi thấy nổi lên các cơng trình, bài viết sau:
3
Cơng trình Lịch sử Ấn Độ (1995) do GS. Vũ Dương Ninh chủ biên là
cơng trình có giá trị, tồn diện nhất về lịch sử Ấn Độ cho đến nay, trong đó
chính sách đối ngoại của Ấn Độ và quan hệ Ấn Độ - Việt Nam được đề cập
tương đối khái qt.
Cơng trình Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ thời kỳ 1945-1975, luận án Phó
tiến sỹ Sử học của Đinh Trung Kiên, Hà Nội, 1993. Đây là một trong những
cơng trình chun khảo về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ. Nội dung luận án trình
bày mối quan hệ Việt - Ấn trong 30 năm từ 1945 - 1975.
Bài viết Lập trường của các đảng phái chính trị Ấn Độ đối với cuộc
chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam của GS. Đỗ Thanh Bình, đăng trong
Thơng báo khoa học các trường đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, số 1-1993.
Loạt bài viết của PGS.TS. Nguyễn Cảnh Huệ: Tìm hiểu tư tưởng hồ
bình trong chính sách đối ngoại của nước Cộng hoà Ấn Độ, Nghiên cứu Lịch
sử, số 3, 1998; Một vài nhận xét về quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ 1945 đến
nay. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 6-2001; Vài nét về quan hệ Việt
Nam- Ấn Độ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3-2001... đã đề cập đến chính
sách đối ngoại của Ấn Độ và quan hệ Việt Nam - Ấn Độ qua các thời kỳ lịch
sử từ 1945 đến nay.
PGS.TS Nguyễn Công Khanh với Luận án Tiến sĩ Quan hệ chính trị,
kinh tế, văn hố, khoa học - kỹ thuật giữa CHXHCN Việt Nam và Cộng hoà
Ấn Độ (1976 - 1988), tháng 2/1990, Tashkent, Uzbekistan, Liên Xô; Những
trang sử quan hệ Việt - Ấn, Thông báo Khoa học trường Đại học Sư phạm
Vinh 1993. J. Nehru và chủ nghĩa xã hội, Thông báo khoa học các ngành
KHXH, số 4, 1992.
Công trình Phong trào Khơng Liên kết của tác giả Võ Anh Tuấn đề cập
đến hoạt động của Phong trào Không Liên kết qua các giai đoạn lịch sử, trong
đó có đề cập đến thái độ của Ấn Độ đối với vấn đề Đông Dương trong các hội
nghị của Phong trào. Đây là nguồn tư liệu bổ ích đối với quá trình nghiên cứu
đề tài.
Tuy nhiên, nghiên cứu về chính sách của Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh
Việt Nam (1954 – 1975) được đề cập phân tán trong các công trình nghiên
cứu về Ấn Độ như cơng trình của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ (1987), Ấn Độ qua
4
các thời đại; Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (1987), Ấn Độ xưa và nay; Đinh
Trung Kiên (1995), Ấn Độ hôm qua và hôm nay; Trần Thị Lý chủ biên
(2002), Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hồ Ấn Độ từ 1991 đến 2000;….
Vấn đề này cũng được đề cập đến trong các bài viết trên các tạp chí
chuyên ngành như của tác giả Vũ Dương Ninh: Việt Nam - Ấn Độ trong cuộc
đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số
5+6 – 1987; Đỗ Đức Định: Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, từ hữu nghị gắn bó
hướng tới hợp tác tồn diện đối tác chiến lược. Tạp chí: Nghiên cứu Ấn Độ
và châu Á, số 2 – 2012; Trần Thị Thanh Vân: Vai trò của Ấn Độ trong cuộc
đấu tranh vì hịa bình ở Việt Nam từ Hiệp định Genève (1954) đến hiệp định
Paris (1973). Tạp chí nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, số 6-2013; Nguyễn Văn
Dương: Vai trị của Ấn Độ trong Phong trào Khơng liên kết. Tạp chí nghiên
cứu Ấn Độ và châu Á, số 4-2014; Ngô Minh Oanh, Tư tưởng Không liên kết
từ J. Nehru đến I. Gandhi, Nghiên cứu Lịch sử, số 2, 2005; Nguyễn Thu
Hương, Về vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế (1947 – 1997), Nghiên cứu
Đông Nam Á, số 6, 2001;...
Đáng chú ý là hai đề tài khoa học cấp bộ của Vụ châu Á 2, Bộ Ngoại giao
đó là : ―Quan hệ ngoại giao của Ấn Độ với các nước nam Á từ 1945 đến
2003‖ và ―Vị trí và vai trị quốc tế của Ấn Độ ở châu Á – Thái Bình Dương
trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI‖. Gần đây nhất 12-2013 Viện nghiên cứu
Ấn Độ và Tây Nam Á thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Viện Nam đã tổ
cho xuất bản kỷ yếu hội thảo quốc tế: ―Việt Nam - Ấn Độ và Tây Nam Á
những mối liên hệ trong lịch sử và hiện tại‖, tập hợp nhiều bài viết của các
nhà nghiên cứu trong và ngồi nước ít nhiều đề cập đến các chính sách đối
ngoại của Ấn Độ đối với Việt Nam... Đây là những tài liệu cung cấp góc nhìn
đa diện về chính sách đối ngoại của Ấn Độ và là nguồn tài liệu quan trọng đối
với vấn đề nghiên cứu.
Từ Thông tấn xã Việt Nam, nguồn tài liệu gốc và tài liệu tham khảo cũng
một số lượng khá phong phú đề cập đến vấn đề thực hiện Hiệp định Genève ở
Việt Nam và một số thông tin về chính sách của Ấn Độ với vấn đề thi hành
Hiệp định Genève ở Việt Nam.
5
Trước hết về tài liệu gốc gồm có: Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam và
các văn kiện có liên quan đến Hiệp định Genève; Các tuyên bố của Chính phủ
Ấn Độ về Hội nghị Genève và việc thi hành Hiệp định Genève ở Việt Nam.
Các bản báo cáo của Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát ở Việt Nam; Các
bản tuyên bố của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời kỳ
1954-1975; Các bức thư và điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp –Tổng tư
lệnh quân đội Quân đội nhân dân Việt Nam gửi Ủy ban quốc tế giám sát và
kiểm soát ở Việt Nam; Các bản tuyên bố chung của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hịa với Chính phủ Cộng hịa Ấn Độ; Các bài phát biểu của các lãnh tụ
Ấn Độ trong thời kỳ 1954 -1975; Các báo cáo của chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa gửi ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát ở Việt Nam....
Hầu hết các cơng trình nghiên cứu ở Việt Nam nêu trên đã đề cập đến
chính sách của Ấn Độ hoặc là trong một giai đoạn cụ thể, hoặc là về quan hệ
giữa hai nước, hoặc là thông tin tư liệu về Phong trào Không liên kết về Việt
Nam. Nghiên cứu tổng thể chính sách của Ấn Độ đối với Việt Nam dưới góc
nhìn chính sách đối ngoại chung của Ấn Độ đối với một trường hợp cụ thể là
điều có ý nghĩa khoa học.
2.3. Điểm lại các cơng trình nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả
tập hợp, hệ thống được, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, ở Việt Nam, các cơng trình nghiên cứu chun sâu về lập
trường, quan điểm của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam
(1954 – 1975) còn phân tán. Việc hệ thống và tái hiện lại chính sách của
Chính phủ Ấn Độ đối với Việt Nam một cách tồn diện trở nên cần thiết và
bổ ích.
Thứ hai, đối với các nhà sử học nước ngồi, đã có nhiều cơng trình, bài
viết nghiên cứu về quan hệ Ấn Độ - Việt Nam nhưng chủ yếu nhìn nhận vấn
đề này từ góc độ quan điểm hịa bình trung lập của Chính phủ Ấn Độ đối với
vấn đề Đơng Dương, mà chưa thấy được sự vận động khách quan của mối
quan hệ này là xuất phát từ lợi ích chiến lược của chính Ấn Độ. Việc đánh giá
lập trường, thái độ của Ấn Độ đối với chiến tranh Việt Nam từ 1954-1975
dưới góc độ chính sách đối ngoại của Ấn Độ, kiến giải thái độ của Ấn Độ đối
với từng giai đoạn, từng diễn đàn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
6
Thứ ba, nhiều cơng trình nghiên cứu, nhấn mạnh vai trị của Ấn Độ trong
Phong trào Khơng liên kết, nhưng chưa làm rõ được vai trò của Ấn Độ là Chủ
tịch Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế về Đơng Dương.
Chính vì những lý do nêu trên, nên việc chọn đề tài “Lập trường, chính
sách của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1954
đến 1975” nhằm đánh giá về vấn đề này là điều hết sức cần thiết.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu: ―Lập trường và chính sách của Chính phủ
Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975‖, trong
đó thái độ, lập trường, chính sách của Chính phủ Ấn Độ là chủ thể nghiên
cứu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là khách thể tác động.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian, luận văn nghiên cứu các chính sách đối ngoại của Chính
phủ Ấn Độ đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi Hiệp định
Genève được ký kết ngày 21 - 7 - 1954 cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến
chống Mĩ ở Việt Nam ngày 30 - 4 - 1975.
Về nội dung, luận văn nghiên cứu thái độ của Chính phủ Ấn Độ đối với
cuộc chiến tranh ở Việt Nam qua các nội dung chính:
- Thái độ, lập trường của Chính phủ Ấn Độ đối với Hội nghị Genève và Hiệp
định Genève 1954 về Đơng Dương;
- Lập trường, chính sách của Chính phủ Ấn Độ trong vai trò là Chủ tịch Ủy
ban quốc tế kiểm sốt và giám sát về Đơng Dương;
- Lập trường, chính sách của Chính phủ Ấn Độ trong Phong trào Khơng liên
kết và tác động của nó đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
- Lập trường, chính sách của Chính phủ Ấn Độ trong quan hệ với Việt Nam
Dân chủ Cộng hịa (1954 - 1975)
Đề tài chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu thái độ, lập trường và chính
sách của Ấn Độ trong chiến tranh Việt Nam với các khách thể khác như Việt
Nam Cộng hòa, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc... mà chỉ đề cập đến các khách thể
này phục vụ cho việc nghiên cứu đối tượng nghiên cứu đã xác đinh trên.
Ngoài đối tượng nghiên cứu, giới hạn và nội dung nêu trên, những vấn
đề khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
7
4.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Mục đích của luận văn là nghiên cứu có hệ thống về lập trường và
chính sách của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1954
đến 1975 từ góc độ của nhà nghiên cứu Việt Nam, góp phần lý giải chính sách
đối ngoại của Ấn Độ, đồng thời thúc đẩy thêm quan hệ hữu nghị, đoàn kết
giữa hai nước.
Luận văn xác định nhiệm vụ:
- Trình bày những nhân tố tác động đến quan hệ Ấn Độ - Việt Nam
trước những năm 1954; bối cảnh quốc tế và khu vực, sự phát triển nội tại và
mục tiêu phát triển quan hệ giữa hai quốc gia. Từ đó, luận văn xác định vị trí
của từng nhân tố tạo cơ sở hình thành lập trường và thái độ của Ấn Độ đối với
cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975.
- Phục dựng lại những hoạt động của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám
sát ở Việt Nam mà trong đó Ấn Độ giữ vai trị là chủ tịch, lập trường của Ấn
Độ trong Phong trào Không liên kết về vấn đề Đơng Dương.
-Trình bày tồn diện và có hệ thống về quan điểm, lập trường của
Chính phủ Ấn Độ đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1954 đến 1975.
- Bước đầu nêu lên một số nhận xét về các quan điểm, lập trường, thái
độ và vai trò của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam cũng
như tác động của nó đối với sự phát triển của mỗi nước; với quốc tế và khu
vực, với phong trào Không liên kết.
5. Nguồn tài liệu, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu:
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên cơ sở các nguồn tài liệu tin cậy đã được
công bố trong và ngoài nước:
- Các diễn văn, bài phát biểu, văn kiện ký kết nhân các chuyến thăm của
lãnh đạo cấp cao hai nước; các tài liệu hồi ký của lãnh đạo cấp cao hai nước.
- Các văn kiện, tuyên bố về đường lối đối ngoại của Ấn Độ, Việt Nam;
Liên hợp quốc và một số quốc gia.
- Các cơng trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đã công
bố thành sách chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành ở Việt
Nam như: Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Quốc
8
tế; Tài liệu tham khảo tại Thông tấn xã Việt Nam; các luận văn thạc sĩ, luận
án Tiến sĩ...
5.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đường lối
đối ngoại.
Luận văn sử dụng các phương pháp chuyên ngành, chủ yếu sử dụng
phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic và các phương pháp bộ
môn nhằm tái hiện một cách khách quan, khoa học về thái độ và lập trường
của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1954 đến 1975.
Luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế nhằm
xem xét chính sách của Ấn Độ với vấn đề chiến tranh ở Việt Nam dưới góc
độ tổng quan tương tác lợi ích địa chiến lược và địa chính trị trong khu vực.
Bên cạnh đó, các phương pháp liên ngành khác như: tổng hợp, thống kê, phân
tích, đối chiếu, so sánh và suy luận… cũng được sử dụng để giải quyết những
vấn đề khoa học đặt ra.
6. Đóng góp của đề tài:
Với năng lực cịn hạn chế, tác giả mong muốn luận văn hướng tới
những kết quả sau:
- Luận văn bước đầu hệ thống các tài liệu tham khảo trong và ngoài
nước về Thái độ của Chính phủ Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam
(1954-1975) nhằm cung cấp lượng thông tin cần thiết cho những ai đi sâu
nghiên cứu về quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh, đồng thời phục vụ
công tác nghiên cứu và giảng dạy về vấn đề này.
- Luận văn là cơng trình nghiên cứu có hệ thống về lập trường, quan
điểm của Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) từ góc độ
của nhà nghiên cứu Việt Nam, phục dựng bức tranh toàn cảnh về các chính
sách của nước lớn trong bối cảnh phức tạp của quan hệ quốc tế thời kỳ Chiến
tranh lạnh.
- Trên cơ sở những cứ liệu lịch sử, luận văn góp phần lý giải những đặc
trưng, vai trò và tác động của mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam đối với sự phát
9
triển của mỗi nước, với quốc tế và khu vực, đối với phong trào không liên kết
trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
-Việc xem xét một cách toàn diện với cách tiếp cận tổng thể về quan hệ
hai nước, luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về chính sách khơng
liên kết, về vị trí của lợi ích dân tộc nước lớn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
7. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở hình thành lập trường và chính sách của Chính phủ Ấn Độ
đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
- Chương 2: Những biểu hiện về lập trường và chính sách của Chính phủ Ấn
Độ đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
- Chương 3: Một số nhận xét về lập trường và chính sách của Chính phủ Ấn
Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến 1975
10
B. NỘI DUNG
Chƣơng 1:
CƠ SỞ HÌNH THÀNH LẬP TRƢỜNG, CHÍNH SÁCH CỦA
CHÍNH PHỦ ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975
1.1. Bối cảnh quốc tế, khu vực
1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cục diện thế giới hình thành nên
Trật tự hai cực đối lập nhau quyết liệt, đặt nhân loại đứng trước nguy cơ của
một cuộc chiến tranh thế giới mới.
Ngay trước khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các cường quốc
Đồng minh đã có nhiều cuộc gặp giữa ba vị nguyên thủ quốc gia Mỹ, Anh và
Liên Xô ở Têhêran (Iran 1943), Ianta (Liên Xô 2.1945), Pôtxđam (Đức
7.1945). Nội dung thảo luận nhằm vào 2 vấn đề chủ yếu là tiêu diệt tận gốc
chủ nghĩa phát xít và giải quyết các vấn đề thời hậu chiến. Về các vấn đề sau
chiến tranh, ngoài việc đề ra biện pháp xử lý các nước bại trận và tổ chức
Liên hiệp quốc thì thực chất của mối quan tâm là sự phân chia khu vực ảnh
hưởng giữa các nước lớn, thực chất là giữa hai khối TBCN và XHCN. Việc
phân chia bản đồ thế giới phụ thuộc vào sự dàn xếp giữa các thế lực quốc tế,
tạo nên những vùng lãnh thổ được hoạch định theo một trật tự thế giới mới
đang hình thành, thường được gọi là Trật tự Ianta.
Theo đó, châu Âu bị chia thành hai mảng: Tây Âu do Mỹ, Anh, Pháp
chiếm đóng, Đơng Âu do Liên Xô quản lý. Nước Đức cũng bị chia thành hai
miền tương tự - Tây Đức và Đông Đức. Và ngay thành phố thủ đô Beclin
cũng bị phân đôi – Tây Beclin và Đơng Beclin. Chính vì thế mà nơi đây được
coi như một điểm nóng rất gay cấn, rất dễ biến thành ngòi nổ cho một cuộc
chiến tranh mới.
Trong bối cảnh như vậy thì mối quan tâm của Nhà nước Xô viết sau
chiến tranh là tập trung khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề ở trong nước
và viện trợ xây dựng các quốc gia phía Đơng châu Âu vừa được Hồng qn
giải phóng. Đơng Âu là địa bàn chiến lược có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh
11
và chủ quyền của Liên Xô, đồng thời là khu vực làm cho CNXH bước đầu trở
thành một hệ thống, điều mà trước đây chưa từng có.
Sau chiến tranh, Mỹ trở thành quốc gia giàu mạnh nhất, chiếm ưu thế
tuyệt đối trong hàng ngũ TBCN về kinh tế tài chính, khoa học kỹ thuật và
quân sự. Sản lượng công nghiệp Mỹ chiếm 56,4% sản lượng công nghiệp thế
giới, dự trữ vàng chiếm 3/4 lượng vàng thế giới. Về quân sự, Mỹ đứng đầu
thế giới về hải quân, không quân và là nước duy nhất có vũ khí hạt nhân
[63;288, 289]. Với thế mạnh ấy, Mỹ tìm cách chi phối chính sách đối nội và
đối ngoại của các nước Tây Âu, Nhật Bản, vạch ra chiến lược toàn cầu, tham
vọng bá chủ thế giới.
Từ bài diễn văn của nguyên Thủ tướng Anh W. Churchil ở Fulton
(3/1946) đến bài phát biểu trước Quốc hội của Tổng thống H. Truman
(3/1947) kêu gọi viện trợ 400 triệu USD cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ thực
tế đã khởi đầu quá trình ―ủng hộ các dân tộc tự do‖ chống lại phong trào cách
mạng mang tính chất cộng sản và chống sự can thiệp của Liên Xô [62;34, 35].
Với Kế hoạch Marshall ồ ạt đổ tiền vào châu Âu (6/1947), thành lập Tổ chức
Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO, 4/1949), đưa ra ―Kế hoạch 4 điểm‖
viện trợ các nước chậm tiến, dựng chính quyền tay sai ở Triều Tiên…, Mỹ đã
gây ra bầu khơng khí ngột ngạt và căng thẳng trong quan hệ quốc tế. Liên Xơ
cũng tìm cách củng cố vị thế quốc tế của mình bằng việc ký hàng loạt các
hiệp ước hữu nghị, hợp tác, liên minh và tương trợ song phương với các nước
Đông Âu, thành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV;1/1949), Tổ chức
Warsawa (5/1955)…. Sự thay đổi về tương quan lực lượng, sự khác nhau về
lợi ích và ý thức hệ giữa một bên là Liên Xô và các nước DCND, với một bên
là Mỹ và các nước TBCN phương Tây đã đưa nhân loại bước vào thời kỳ
Chiến tranh lạnh căng thẳng kéo dài hơn 40 năm.
Đối với Mỹ, Ấn Độ là quốc gia có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng
trong chiến lược tồn cầu của Mỹ. Sự thất bại khơng thể tránh khỏi của
Tưởng Giới Thạch đặt nước Mỹ trước những thử thách mới. Ấn Độ trở thành
một trong những mục tiêu quan trọng, quốc gia với diện tích 3.287.263 km2,
nằm ở phía Nam Liên Xơ, có đường biên giới chung với Trung Quốc cộng
12
sản này sẽ là ―con đê lớn nhất ngăn chặn làn sóng đỏ‖ lan tràn ra khắp châu
Á.
Về phía Ấn Độ, sau khi giành quyền tự trị, J. Nehru xác định phải thiết
lập quan hệ với Mỹ nhằm tăng cường vị thế, khôi phục, phát triển đất nước và
làm yếu vị thế của Anh. Tuy nhiên, ông cũng nhận thức được sự phức tạp của
quan hệ quốc tế sau chiến tranh và chiến lược tồn cầu của Mỹ. Chính sách
hịa bình, chống CNTD và khơng liên kết của J. Nehru đồng nghĩa với việc
khơng muốn có ràng buộc nào về chính trị hoặc quân sự với Mỹ [15; 17]..
Và như vậy, với những mục đích khác nhau, hai nước đã xúc tiến các hoạt
động đối ngoại để thắt chặt quan hệ. Nhận lời mời của Tổng thống H. Truman,
từ ngày 11/10/1949 đến 7/11/1949, J. Nehru sang thăm chính thức Hoa Kỳ.
Mục đích chuyến thăm là ―bày tỏ tình hữu nghị Ấn – Mỹ, cảm ơn tình cảm của
Mỹ đối với cuộc đấu tranh vì độc lập, hiểu biết hơn về Mỹ và buộc Mỹ nhận
thức tốt hơn rằng Ấn Độ là một nhân tố của nền chính trị thế giới‖ [15; 17].
Với thái độ kiên quyết chống CNTD và không chấp nhận những điều kiện
chính trị quân sự do Mỹ mặc cả, chuyến đi không đạt kết quả như mong muốn.
Bằng chứng của điều này là một loạt các sự kiện diễn ra sau đó trong quan hệ
Ấn – Mỹ như: Mỹ phản đối Ấn Độ ở Liên hợp quốc khi nước này lên án Nam
Phi thi hành chính sách phân biệt chủng tộc đối với người Ấn; Ấn Độ lên án
Mỹ ủng hộ Pakistan xâm lược Kashmir; lôi kéo các nước tham gia các khối
quân sự... Đặc biệt, Mỹ chuyển hướng sang ủng hộ Pakistan, ký Hiệp ước quân
sự Mỹ - Pakistan (1954), lôi kéo nước này gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông
Nam Á (SEATO, 9/1954), áp sát biên giới Liên Xơ và Trung Quốc, cản trở tiến
trình hịa bình ở Nam Á[15; 18].. Chính sách của Mỹ bị J. Nehru lên án gay gắt
và là trở lực chính trong quan hệ Ấn – Mỹ. Sự đóng băng trong quan hệ Ấn Mỹ là nhân tố tác động làm thay đổi quan điểm và lập trường trong chính sách
đối ngoại của Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam.
Bối cảnh quốc tế ấy đã biến thế giới thứ ba trở thành đối tượng trực tiếp
của cuộc chạy đua giữa hai cường quốc Xô - Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh
lạnh nhằm lôi kéo các nước này về phía mình. Do vậy, các nước này buộc
phải đứng trước sự lựa chọn mang tính sống cịn trên con đường phát triển:
hoặc là ngả hẳn về khối các nước TBCN, hoặc là đi theo con đường XHCN,
13
hoặc là tìm kiếm một hướng đi thích hợp mới. Ấn Độ là một quốc gia rộng
lớn, mới giành được giành độc lập, nên không thể không chịu tác động của
ván bài nêu trên.
1.1.2.Tình hình khu vực châu Á.
Sự phức tạp trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai làm
cho những điểm nóng trong khu vực châu Á phát triển mạnh mẽ, trở thành
những nhân tố chính vừa thúc đẩy, vừa chi phối chính sách đối ngoại của Ấn
Độ.
Trước hết là nhân tố Trung Quốc đã có tác động rất lớn đến quan điểm
của Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh Việt Nam. Đây là mối quan hệ giữa hai
nước láng giềng lớn trên bàn cờ châu Á và thế giới. Sự thăng trầm trong quan
hệ Trung - Ấn, tác động trực tiếp đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Những
bất đồng với Trung Quốc về vấn đề Tây Tạng nảy sinh ngay từ khi Ấn Độ và
Trung Quốc vừa giành được độc lập. Tuy nhiên, với những động thái tích cực
của Ấn Độ như thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đại lục, kêu gọi
Liên hợp quốc kết nạp Trung Quốc, ủng hộ vấn đề Triều Tiên… làm cho quan
hệ hai nước ấm dần lên với đỉnh cao là sự ra đời Năm ngun tắc chung sống
hịa bình năm 1954.
Quan hệ Ấn – Trung bắt đầu xấu đi từ nửa cuối những năm 50 thế kỷ
XX, mà đỉnh cao là cuộc chiến tranh biên giới năm 1962. Sự xấu đi trong
quan hệ của Ấn Độ đối với Trung Quốc, trong bối cảnh của cuộc đối đầu Xơ
– Mỹ và chính sách khơng mấy mặn mà của Ấn Độ đối với Mỹ, là nhân tố
chính dẫn tới những thay đổi trong thái độ và lập trường của Ấn Độ đối với
cuộc chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam từ 1954-1975.
Về phía mình, nhằm đối phó với sự thắt chặt của quan hệ Ấn - Xô, Trung
Quốc thiết lập quan hệ chặt chẽ với Pakistan – một đối thủ trực tiếp và thường
xuyên của Ấn Độ. Những toan tính của các bên liên quan đã làm hình thành nên
hai lực lượng đối lập ở Nam Á: Ấn Độ được Liên Xô hậu thuẫn; Pakistan được
Trung Quốc và các nước phương Tây hậu thuẫn. Quan hệ Ấn - Trung trở thành
yếu tố tác động liên tục, xuyên suốt và sâu sắc đến chính sách đối ngoại của Ấn
Độ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh.
14
Nhân tố Pakistan cũng tác động lớn đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ.
Là nước Hồi giáo ra đời sau Kế hoạch Mountbatten năm 1947, Pakistan có
chung đường biên giới với Ấn Độ. Sau năm 1947, quan hệ Ấn Độ - Pakistan
ln trong tình trạng căng thẳng, đặc biệt là xung quanh vấn đề Kashmir. Mâu
thuẫn Ấn Độ - Pakistan kéo dài từ năm 1947 đến nay, trải qua 4 cuộc chiến
tranh lớn (1949, 1965, 1972, 1999) và hàng trăm cuộc đụng độ lớn nhỏ. Đối
với Ấn Độ, chính sách của các nước lớn đối với Pakistan được xem là một
trong những cơ sở quan trọng để nước này hoạch định quan hệ đối ngoại. Sự
gia nhập SEATO (9/1954) của Pakistan đã đưa Ấn Độ và Việt Nam đến gần
nhau hơn. Bên cạnh đó, sự thắt chặt quan hệ Trung Quốc – Pakistan từ sau
chiến tranh Trung - Ấn 1962 đặt ra cho Ấn Độ và Việt Nam những thách thức
lớn trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do và chủ tiến bộ xã hội. Với sự chằng
chéo trong quan hệ ở châu Á, Pakistan trở thành nhân tố quan trọng, chi phối
chính sách đối ngoại của Ấn Độ và tác động lớn đến thái độ và lập trường của
Ấn Độ đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954-1975.
Bên cạnh ba yếu tố kể trên, nhiều nhân tố ở khu vực Đông Nam Á,
Nam Á và Cận Đông, như vấn đề Afghanistan, vấn đề Palestin, Chiến tranh
Triều Tiên.... cũng có ảnh hưởng đến thái độ của Ấn Độ đối với cuộc chiến
tranh ở Việt Nam. Những chuyển biến địa chiến lược và địa chính trị trên bàn
cờ thế giới sau chiến tranh đặt Ấn Độ đứng trước những thách thức to lớn về
tìm kiếm và khẳng định địa vị nước lớn của mình. Lập trường và quan điểm
của Ấn Độ về cuộc chiến tranh Việt Nam là hệ quả của sự phức tạp trong quan
hệ quốc tế ở khu vực châu Á và thế giới.
1.2. Tình hình kinh tế, chính trị và chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ
1954 đến 1975
1.2.1. Khái quát tình hình kinh tế - chính trị Ấn Độ từ 1954 đến 1975
Từ 1954-1975 là thời kỳ Ấn Độ phải vật lộn để thoát khỏi sự lệ thuộc
vào các cường quốc tư bản phương Tây, xây dựng một nền kinh tế, chính trị,
xã hội độc lập, tự chủ và ổn định.
Ngày 15/8/1947, kế hoạch Mountbatten được Nghị viện Anh và Quốc
hội Ấn Độ thông qua, đánh dấu sự ra đời nước Cộng hoà Ấn Độ tự trị. Từ
1947 đến 1950, Ấn Độ tiếp tục cuộc đấu tranh từ tự trị đến độc lập hoàn toàn.
15
Sau một q trình đấu tranh, Ấn Độ đã hồn thành q trình Ấn Độ hố bộ
máy hành chính, lực lượng vũ trang và bộ máy ngoại giao, thống nhất lãnh
thổ, tạo nên những điều kiện cần thiết của một quốc gia độc lập. Sau nhiều
cuộc đàm phán, Anh buộc phải ký Tuyên ngôn London ngày 27/4/1949 thừa
nhận Ấn Độ là nước Cộng hịa có chủ quyền, độc lập về chính trị với Vương
Quốc Anh, vẫn ở trong khối Liên hiệp và công nhận ngôi vua Anh như là biểu
tượng của khối Liên hiệp mà Ấn Độ là thành viên. Ngày 26/11/1949, Quốc
hội lập pháp thông qua Hiến pháp mới, bắt đầu có hiệu lực từ 26/1/1950 đánh
dấu sự ra đời của nước Cộng hoà Ấn Độ độc lập.
Từ 1950 đến 1964, Ấn Độ bước vào giai đoạn phát triển mới với vai trò
to lớn của Thủ tướng J. Nehru, người kiến tạo và lãnh đạo Ấn Độ đi theo con
đường không liên kết. Ấn Độ xây dựng nền kinh tế TBCN có sự hồ trộn các
yếu tố của mơ hình XHCN, tư bản nhà nước nắm vai trị chủ đạo, áp dụng mơ
hình kế hoạch hố. Mục tiêu của Ấn Độ là xây dựng nền kinh tế dân tộc, từng
bước thốt khỏi sự lệ thuộc vào bên ngồi. Từ năm 1950 đến 1965, Ấn Độ
thực hiện 3 kế hoạch 5 năm đạt được những thành tựu đáng kể. Nếu như trong
10 năm 1937 - 1947, công nghiệp Ấn Độ chỉ tăng 0,6%/năm thì kế hoạch 5
năm lần 1 (1951 – 1956) với mục tiêu cải tạo nền công nghiệp đã tăng
6,5%/năm; lần II (1956 - 1961) với mục tiêu điện khí hố, cơng nghiệp đã
tăng 7,3% /năm và lần III (1961 - 1966) dù ảnh hưởng chiến tranh Trung –
Ấn, nền công nghiệp vẫn tăng 4,7%/năm. Trong nông nghiệp, chính sách cải
cách ruộng đất, mở rộng canh tác theo hình thức quảng canh đã nâng cao sản
lượng lương thực. Tuy nhiên, do tỉ lệ tăng dân số cao, Ấn Độ phải nhập khẩu
lương thực với số lượng lớn từ 4,7 triệu tấn năm 1951 tăng lên 6,2 triệu tấn
năm 1964, nền kinh tế nhìn chung vẫn cịn nhiều khó khăn [55; 146].
Sau khi J. Nehru mất (27/5/1964), L. B. Shastri lên làm Thủ tướng trong
bối cảnh Ấn Độ lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc. Ngày 19/1/1966, Indira
Gandhi - con gái của J. Nehru được bầu làm Thủ tướng Ấn Độ khi Shastri
mất. Chính phủ I. Gandhi thực hiện nhiều chính sách nhằm khơi phục và phát
triển kinh tế, tăng vốn cho kinh tế nhà nước, phá giá đồng Rupee (Rs), cứu trợ
lương thực…. Với biện pháp táo bạo, Ấn Độ đạt được bước tiến đáng kể về
kinh tế và xã hội [55; 155].
16
Nhìn chung trong thời kỳ xây dựng đất nước từ 1954 đến 1975, Ấn Độ
đạt được nhiều thành tựu về nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt là công
nghiệp nặng, chế tạo máy xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại. Nhờ tiến hành
cuộc ―cách mạng xanh‖ trong nông nghiệp, đến giữa những năm 70 Ấn Độ đã
tự túc được lương thực. Cũng trong những năm 70 Ấn Độ đã sử dụng năng
lượng hạt nhân trong sản xuất điện. Trong các lĩnh vực khoa học – kỹ thuật,
văn hóa giáo dục, Ấn Độ đã có những bước tiến nhanh chóng, năm 1974 Ấn
Độ thử thành công bom nguyên tử, 1975 phóng thành cơng vệ tinh nhân tạo
lên quĩ đạo trái đất bằng tên lửa của mình. Cuộc ―cách mạng chất xám‖ đã
đưa Ấn Độ trở thành một trong những cường quốc sản xuất phần mềm lớn
nhất thế giới.
Có thể nói, sau khi giành được độc lập, Ấn Độ đã đạt được một số thành
tựu đáng kể về kinh tế, chính trị và khẳng định được vị thế nước lớn trên
trường quốc tế. Tuy nhiên, những khó khăn thách thức về kinh tế - xã hội, sự
bất ổn trong quan hệ với các nước láng giềng Pakistan và Trung Quốc, những
tính toán địa - chiến lược, nhu cầu xác định địa vị nước lớn trong khu vực và
thế giới đòi hỏi Ấn Độ phải có những bước đi thích hợp cả về kinh tế lẫn
chính trị.
1.2.2. Chính sách đối ngoại của Chính phủ Ấn Độ từ 1954 đến 1975
Về đối ngoại, Ấn Độ vẫn giữ vững lập trường độc lập, không liên kết,
hợp tác hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới, gắn bó, ủng hộ và giúp đỡ
tích cực phong trào giải phóng dân tộc. Từ 6/1954, Ấn Độ và Trung Quốc đưa
ra ―Năm nguyên tắc chung sống hồ bình‖ nổi tiếng, khơng chỉ đặt cơ sở cho
quan hệ Ấn – Trung mà còn phát triển thành ―Mười nguyên tắc Băng Đung‖
tạo cơ sở cho sự ra đời Phong trào Không liên kết (1961), trở thành những
nguyên tắc căn bản trong quan hệ quốc tế hiện đại. Trên cơ sở đó, Thủ tướng
J. Nehru đã cùng với Tổng thống Indonesia Sukarno, Tổng thống Nam Tư J.
Tito, Tổng thống Ai Cập G. Naser, Tổng thống Ghana K. Nkrumah đã vận
động thành lập Phong trào Không liên kết – tổ chức đại diện cho tiếng nói của
thế giới thứ ba trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Với nhiều hoạt động đối ngoại
tích cực, Ấn Độ trở thành quốc gia có vai trị và vị trí quan trọng bậc nhất
trong thế giới thứ ba và Phong trào Không liên kết.
17
Từ sau ngày giành được độc lập, nước Cộng hòa Ấn Độ luôn ủng hộ và
giúp đỡ các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cuộc kháng chiến
chống Pháp, chống Mĩ của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia được Ấn
Độ đồng tình và ủng hộ. Ấn Độ cũng ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân
Angiêri giành độc lập dân tộc và hàng loạt cuộc đấu tranh của nhân dân các
dân tộc thuộc địa trên thê giới giành độc lập dân tộc trong các thập kỷ 50, 60
của thế kỷ XX. Nhân dân các thuộc địa của Bồ Đào Nha giành độc lập trong
những năm 70 cũng được Ấn Độ đồng tình ủng hộ. Cuộc đấu tranh kiên trì và
gian khổ giành được quyền có nhà nước riêng của nhân dân Palestin được Ấn
Độ tích cực ủng hộ…
Dựa trên ngun tắc hịa bình, độc lập, trung lập và hợp tác, Ấn Độ chủ
trương quan hệ với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc này.
Trong thời kỳ này, Liên Xô từng là bạn hàng lớn của Ấn Độ. Sự hợp
tác giữa Liên Xô và Ấn Độ chủ yếu thuộc các lĩnh vực luyện kim, cơ khí, hóa
dầu, được phẩm, điện năng và nhiều lĩnh vực khác. Lĩnh vực nghiên cứu hạt
nhân và vũ trụ của Ấn Độ cũng có sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô. Đất nước
Xô Viết đã giúp đỡ Ấn Độ trong việc đào tạo hàng chục vạn cán bộ, công
nhân kỹ thuật.
Với các nước tư bản chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa, Ấn Độ cũng chủ
trương tăng cường các quan hệ hịa bình, hữu nghị và hợp tác quốc tế. Ấn Độ
đã ký kết hàng nghìn hiệp định, nghị định thư thỏa thuận với các nước này
nhằm tranh thủ vay vốn, chuyển nhượng kỹ thuật, trao đổi bằng sáng chế,
nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị. Với quan hệ hợp tác rộng lớn
này, Ấn Độ đã tăng cường phát triển kinh tế đối ngoại, củng cố vị trí trong các
ngân hàng quốc tế và bảo vệ kiều dân Ấn Độ ở nước ngoài.
Ấn Độ và Mĩ có quan hệ hợp tác từ khá sớm sau khi Ấn Độ giành độc
lập. Mĩ viện trợ vốn và kỹ thuật cho Ấn Độ chủ yếu trong các lĩnh vực nông
nghiệp, hải dương, đánh bắt hải sản và một số ngành công nghiệp khác. Hàng
năm Mĩ đã bán cho Ấn Độ một khối lượng đáng kể lương thực, thực phẩm,
hàng dân dụng và cả những viện trợ khơng hồn lại cho Ấn Độ. Trong nhiều
năm, Ấn Độ luôn giữ chính sách quan hệ ―cân bằng‖ giữa Liên Xơ và Mĩ
nhằm giữ vững độc lập, tự chủ và những điều kiện thuận lợi cho việc xây
18
dựng nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm rằng, chính
sách ―giữ cân bằng‖ này khơng phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả tích cực
cho Ấn Độ và những đối tác của Ấn Độ.
Những thay đổi trong lập trường, quan điểm của Ấn Độ đối với cuộc
chiến tranh ở Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 là một trong những minh
chứng cho điều đó.
1.3. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trƣớc 1954
1.3.1. Quan hệ Ấn Độ - Việt Nam trước 1945
Là một trong những nền văn minh lớn và cổ xưa nhất thế giới, ngay từ
buổi đầu của lịch sử, văn minh Ấn Độ đã để lại nhiều dấu tích đậm nét trong
nền văn hóa của nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam.
Theo các nhà nghiên cứu, mặc dầu ít ỏi nhưng những hiện vật có nguồn
gốc Ấn Độ đã phát hiện được trong một số di chỉ thuộc văn hóa Sa Huỳnh,
Đơng Sơn, Ĩc Eo, chứng tỏ mối liên hệ rất sớm giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Những hiện vật trên kết hợp vơí các truyền thuyết dân gian đã chứng minh
rằng vào những thế kỷ đầu công nguyên đã có nhiều người Ấn Độ sang bn
bán và định cư lâu dài ở đồng bằng sông Cửu Long. Những lớp cư dân này đã
mang theo đời sống văn hóa của họ và ảnh hưởng đến đời sống của cư dân
bản địa. Một trong những kết quả rõ nét nhất của ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ
đối với Việt Nam là sự truyền bá đạo Phật vào Việt Nam và sự hình thành các
tư tưởng phật giáo Việt Nam. Có thể nói rằng, ngay ở những thế kỷ đầu cơng
ngun, trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam đã diễn ra sự giao lưu
tiếp xúc văn hóa Ấn Độ. Do được xâm nhập một cách hịa bình và có nhiều
điểm tương đồng về phong tục, tập quán, tín ngưỡng cư dân Việt Nam, văn
hóa Ấn Độ đã bén rễ ở vùng đất mới này, hịa quyện vào văn hóa Việt, trở
thành một bộ phận khó tách rời và góp phần làm phong phú văn hóa Việt
Nam. Mối liên hệ lâu đời và bền chặt này là cơ sở vững chắc cho quan hệ hai
nước sau này.
Bước sang thời kỳ cận đại, Việt Nam và Ấn Độ đều trở thành mục tiêu
xâm lược của các nước thực dân phương Tây, trong quá trình tranh giành
thuộc địa, cả hai nước đều trở thành thuộc địa chủ nghĩa thực dân và do đó
cùng tiến hành cuộc đấu tranh gian khổ giành độc lập tự do. Do cùng cảnh
19
ngộ nhân dân hai nước Ấn Độ, Việt Nam dễ dàng thơng cảm và xích lại gần
nhau. Đầu thế kỷ XX các sĩ phu yêu nước của Việt Nam đã chủ trương tổ
chức Đông Á đồng minh nhằm liên kết các chí sĩ yêu nước trong châu lục
đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu đã viết bài giới
thiệu thân thế, sự nghiệp M. Gandhi, ca ngợi cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn
Độ, lấy đó làm gương khích lệ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt
Nam [21; 17].
Cuộc đấu tranh của nhân dân Ấn Độ đầu thế kỷ XX, đặc biệt là phong
trào giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của M.Gandhi đã thu hút sự chú ý
của người thanh niên Việt Nam yêu nước – Nguyễn Ái Quốc trong những
năm bôn ba tìm đường cứu nước, trong nhiều bài báo viết trong những năm
20 của thế kỷ XX Nguyễn Ái Quốc đã miêu tả lại cuộc đấu tranh dưới nhiều
hình thức của nhân dân Ấn Độ, ca ngợi ý chí kiên cường và lịng quyết tâm vì
độc lập, vì tự do của các tầng lớp nhân dân Ấn Độ. Trong bài báo ―Phong
trào cách mạng Ấn Độ‖ đăng trên Tạp chí Cộng sản (La Revue Communiste)
số 18, 19 tháng 8, 9 năm 1921 Nguyễn Ái Quốc viết: ―Thảm họa của đất
nước đã xóa bỏ sự phân biệt đẳng cấp và tơn giáo, người giàu và người
nghèo, q tộc và nơng dân, Hồi giáo và Phật giáo, đều hợp sức đoàn kết‖
[21; 18].
Đầu năm 1927 tại Brussels (Bỉ) đã diễn ra ―Đại hội các dân tộc bị áp
bức‖ được tổ chức theo sáng kiến của Hội liên hiệp thuộc địa mà Nguyễn Ái
Quốc là một người tham gia sáng lập, J.Nehru đã tham gia với tư cách là đại
diện chính thức của Đảng Quốc đại. Từ đại hội này đã khẳng định mối quan
hệ hữu nghị và đoàn kết quốc tế giữa Nguyễn Ái Quốc và J.Nehru trong cuộc
đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và giải phóng dân tộc. Trong cuộc gặp
không hẹn trước của những người đấu tranh chống áp bức, bóc lột tại Brucxen (Bỉ) năm 1927, Nguyễn Ái Quốc cũng đã gặp cha của J.Nehru là Pandi
Mootilan Nehru, chiến sĩ lão thành và cũng là một biểu tượng của chủ nghĩa
yêu nước và tinh thần độc lập của Ấn Độ. Cuộc gặp gỡ lịch sử đó đã khơi
nguồn mối quan hệ tình bạn đẹp đẽ giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và
gia đình J.Nehru. Sau cuộc gặp gỡ đó, Nguyễn Ái Quốc càng có cảm tình sâu
sắc với đất nước Ấn Độ. Liên tiếp trong các tháng 3, 4, 5 năm 1928 Nguyễn
20