Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

skkn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (231.61 KB, 19 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 4 DẠNG BÀI “TÌM 2 SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA 2 SỐ ĐÓ”. A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trong của nhân cách con người Việt Nam. Các kiến thức kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động và cũng rất cần thiết cho các em học các môn học khác. Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống. Môn Toán ở lớp 4 hình thành cho học sinh các kiến thức cơ bản, sơ giản nhưng có nhiều ứng dụng trong đời sống về số học các số tự nhiên, các đơn vị đo lường, nhận dạng và biết tính chu vi, diện tích của một số hình . . . Đặc biệt là biết cách giải và trình bày lời giải những bài toán có lời văn. Nắm chắc và thực hiện đúng quy trình bài toán. Dạy giải toán có lời văn có vị trí đặc biệt quan trọng và chiếm khoảng thời gian tương đối lớn trong nhiếu tiết học cũng như toàn bộ chương trình môn toán. Mỗi bài toán có lời văn thường là một tình huống có vấn đề của thực tiễn. Điều quan trọng của dạy giải toán có lời văn là giúp học sinh biết cách giải quyết các vấn đề thường gặp trong đới sống, các vấn đề này được nêu dưới dạng các bài toán có lời văn. Đây là sự vận dụng có tính chất tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, phương pháp, . . học được ở môn Toán trong Tiểu học. Tuy nhiên việc dạy giải toán ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Các em thường không xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán, không tìm ra được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán. Mặt khác các em chưa biết vận dụng những kiến thức đã học vào trong việc giải toán. Chính vì vậy mà khi làm toán giải các em thường hay bị sai do không tìm ra được phép tính và lời giải đúng cho câu hỏi của bài toán. Một điều cũng không kém phần lan giải, khiến giáo viên phải trăn trở, suy nghĩ nhiều đó là.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> học sinh thường nhầm lẫn cách giải bài toán ở các dạng toán điển hình như : Tìm số trung bình cộng, tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó, tim hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó, . . .Đặc biệt là hai dạng toán có tựa đề gần giống nhau , đó là “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”và “ Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó”. Vậy làm cách nào để học sinh không bị nhầm lẫn giữa các dạng toán và biết cách xác lập mối quan hệ giữa các dữ liêu của bài toán, tìm ra cách giải, phép tính và lời giải đúng cho bài toán, đó là điều mà tôi thường trăn trở, suy nghĩ. Vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số kinh nghiệm dạy giải toán có lời văn lớp 4 – dạng bài: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” để làm sáng kiến kinh nghiệm cho mình, mong tìm ra được phương pháp giảng dạy thích hợp đối với lĩnh vực giải toán có lời văn, giúp học sinh học tốt môn Toán và cũng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1. Đối tượng nghiên cứu : Học sinh lớp 4 2. Phạm vi nghiên cứu: Dạy giải toán có lời văn lớp 4, dạng bài “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó ”. B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng. Việc học giải toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học. Học giải toán mang nhiều tính trừu tượng, khái quát và liên tưởng trong đó có tính thực tiễn. Học sinh không thể cảm thụ bằng giác quan của các sự vật hiện tượng (như nặng, nhẹ, cứng, mềm, màu sắc, . . ) mà phải đưa chúng vào các hình dạng không gian và quan hệ số lượng. Để có thể nắm chắc kiến thức, kĩ.

<span class='text_page_counter'>(3)</span> năng giải toán học sinh phải chủ động, tích cực và tự giác học tập. Muốn vậy giáo viên phải định hướng giúp học sinh phát hiện vấn đề và tích cực giải quyết vấn đề. (Trích giáo trính phương pháp dạy học môn toán ở Tiểu học – Tác giả :Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan,Vũ Dương Thụy, Vũ Quốc Trung – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm) Nhưng trong thực tế, mỗi bài toán lại có phép tính, lời giải và cách làm khác nhau. Muốn giải được bài toán dạng “Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó”, học sinh phải xác định được bài toán đó thuộc dạng toán nào đã học ? Toán đơn hay toán hợp ? Dạng toán đó được giải như thế nào ? Học sinh phải hiểu và xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu của đề bài. Có như vậy học sinh mới giải đúng bài toán. Để giúp học sinh giải toán, giáo viên cần phải nghiên cứu bài, có hệ thống câu hỏi gợi ý dễ hiểu và có sự lô gíc chặt chẽ nhằm giúp học sinh hiểu kĩ nội dung bài toán.. Đây là một đặc trưng quan trọng của dạy giải toán mà khi dạy giáo viên cần chú ý. Ngoài việc hiểu kĩ nội dung bài toán, học sinh còn phải biết tóm tắt bài toán bằng sơ đồ hình vẽ hay bằng lời một cách ngắn gọn, dễ hiểu. Nhìn vào tóm tắt các em có thể giải được bài toán. Để giúp học sinh tóm tắt bài toán, giáo viên định hướng cho học sinh về các đại lượng trong bài toán, mối quan hệ giữa số đo và đại lương. Từ đó các em sẽ có cơ sở tóm tắt minh họa bài toán được đầy đủ, rõ ràng hơn. Tuy nhiên, trong những giai đoạn khác nhau, giáo viên cần linh hoạt trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi gợi ý khác nhau. Chẳng hạn, đối với bài đầu, học sinh mới được làm quen với dạng toán, hệ thống câu hỏi gợi ý cần kĩ hơn, sâu hơn. Còn đối với những tiết luyện tập sau, giáo viên chỉ cần gợi ý sâu kĩ đối với những bài toán hợp liên quan tới một dạng toán khác nữa. Một điều giáo viên cần lưu ý là không được quá lạm dụng câu hỏi gợi ý đối với những bài toán thông thường làm mất đi tính tư duy sáng tạo, ham tìm tòi học hỏi của học sinh. II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG: 1. Thuận lợi: - Nhà trường:.

<span class='text_page_counter'>(4)</span> + Nhà trường thường mở các chuyên đề để giáo viên dự giờ, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau trong đó có môn Toán. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, trường đều tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi tháo gỡ những vướng mắc trong chuyên môn. Trong các buổi sinh hoạt khối giáo viên cũng có điều kiện trình bày những khó khăn, vướng mắc trong công tác giảng dạy để mọi người cùng nhau tháo gỡ. + Giáo viên ham học hỏi, nhiệt tình đóng góp ý kiến giúp đỡ lẫn nhau, sẵn sàng chia sẻ những hiểu biết về chuyên môn để cùng nhau tiến bộ. + Ban giám hiệu năng động nhiệt tình, luôn tư vấn cho giáo viên những phương pháp dạy học tích cực. - Học sinh: + Các em học sinh có đủ SGK, vở bài tập, đồ dùng học tập phục vụ cho môn học. + Đa số học sinh ham học hỏi, ham tìm tòi khám phá cái mới. + Phần lớn phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình. 2. Khó khăn: - Giáo viên : + Môn toán là môn học khô khan và trừu tượng nên giáo viên gặp nhiều khó khăn khi lựa chọn các hình thức dạy học phù hợp với từng bài và phù hợp với trình độ nhận thức của các em. + Giáo viên đôi khi vận dụng chưa nhịp nhàng, linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học nên chưa gây hứng thú cho học sinh tích cực học tập. + Giáo viên cũng còn hạn chế và ít có điều kiện để tiếp xúc với công nghệ thông tin để tìm tòi thêm tư liệu giảng dạy. - Học sinh: + Học sinh lớp 4 kĩ năng tìm hiểu bài và xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện đề bài toán còn nhiều hạn chế. + Tư duy của các em chủ yếu dựa vào đặc điểm trực quan. Thế nhưng, ở môn toán, nhất là toán có lời văn lại cần nhiều đến tư duy trừu tượng, nên học sinh lúng túng, gặp nhiều khó khăn, thậm chí không làm được các dạng toán điển hình. + Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học nên chưa hiểu bài dẫn đến không làm được bài..

<span class='text_page_counter'>(5)</span> 1. Bảng thống kê điểm kiểm tra trước tác động ( Trước khi thực hiện đề tàiHọc kì I) Số Lớp. HS. Điểm/ Số học sinh đạt điểm 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. Tổng Đểm 10. số điểm. Lớp 4A. 27. 1. 2. 3. 2. 7. 6. 3. 2. 1. 2. 2. 2. 3. 6. 4. 4. 3. 2. 0. trung bình. 148. 5.48. 148. 5.28. (lớpthực nghiệm) Lớp 4B. 28. ( lớp đối chứng) III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: Điều chủ yếu của việc dạy học giải toán lớp 4 là giúp học sinh tự mình tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán mà thiết lập được các phép tính số học tương ứng, phù hợp với yêu cầu của đề bài đã cho. Nhưng không phải bài tập nào cũng vận dụng các bước tiến hành như nhau. Vì vậy, tôi đã nghiên cứu và vận dụng một số kinh nghiệm để hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, dạng bài “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó “ qua các bước như sau: 1.Tìm hiểu nội dung bài Việc tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán ) thường thông qua việc đọc bài toán (dù bài toán cho dưới dạng bài văn hoàn chỉnh, hoặc bằng dạng tóm tắt, sơ đồ)..Đây là bướcđầu tiên không thể thiếu. Bởi vì, học sinh cần phài đọc kĩ, hiểu rõ đề toán, tìm hiểu xem bài toán cho biết cái gì, hay cho biết điều kiện gì, bài toán hỏi gì ? Khi đọc bài toán phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ quan trọng được biểu đạt theo ngôn ngữ thông thường. Nếu trong bài toán có thuật ngữ nào học sinh chưa hiểu rõ, giáo viên cần hướng dẫn để học sinh hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ đó. Ví dụ 1 : Bài 1 (sgk toán 4 trang 47) - Gọi một em đọc bài toán ( nếu em đó đọc chưa rõ ràng thì gọi một em khác đọc lại một lần nữa).

<span class='text_page_counter'>(6)</span> - Hỏi học sinh : Bài toán cho biết gì ? (tuổi bố và tuổi con cộng lại được 58 tuổi. Bố hơn con 38 tuổi ) Bài toán hỏi gì ? (Bố bao nhiêu tuổi? Con bao nhiêu tuổi ?) Ví dụ 2 : Bài 4 ( sgk toán 4 trang 56 ) - Gọi 2 em đọc bài toán ( đọc 2 lượt ) - Hỏi học sinh : Bài toán cho biết gì ? (Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 16 cm, chiều dài hơn chiều rộng 4 cm ) Bài toán hỏi gì ?(Tính diện tích của hình chữ nhật đó ) Ví dụ 3 : Bài 4 đề 1 (luyện tập sgk toán 4 trang 17) - Cho học sinh đọc bài toán - Hỏi học sinh : Bài toán cho biết gì ?(Cô Vân và cô Hòa mua chung một mành vải giá 90 000 đồng, cô Vân phải trả cho cửa hàng nhiều hơn cô Hòa 15 000 đồng ) Bài toán hỏi gì ?(Mỗi người phải trả cho cửa hàng bao nhiêu tiền ? ) Cho học sinh giải nghĩa từ “mua chung” là chung tiền vào cùng nhau mua chung một mảnh vải.(từ việc giải nghĩa từ, học sinh sẽ hiểu được 90 000 đồng là tổng số tiền hai cô phải trả cho cửa hàng ) 2. Tóm tắt và tìm cách giải Hoạt động tóm tắt và tìm cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ kiện, điều kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác lập mối liên hệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp. Đây là bước quan trọng nhất, quyết định dến hiệu quả làm bài của học sinh. Bởi vì, thông qua bước này, học sinh sẽ nắm được mối liên hệ giữa các dữ kiện số liệu mà đề bài đã cho với cái cần tìm để trả lời cho câu hỏi của bài toán. Nếu bước này học sinh phân tích không kĩ càng, không khai thác hết các dữ kiện của đề toán thì có thể các em sẽ hiểu sai và dẫn đến đi sai hướng, làm sai bài toán. Hoạt động này thường diễn ra theo trình tự sau - Dùng sơ đồ hình vẽ hoặc lời văn để tóm tắt minh họa bài toán. - Lập kế họach giải toán nhằm xác định trình tự giải quyết, thực hiện các phép tính số học (đi từ dữ kiện đến câu hỏi của bài toán hoặc có thể đi từ câu hỏi đến dữ kiện của bài toán ) Ví dụ 1 : : Bài 2 (SGK toán 4 trang 148) + Tóm tắt bài toán.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> Tuổi bố. }. Tuổi con. 58 tuổi. + Lập kế hoạch và trình tự giải bài toán : Đối với dạng bài này, giáo viên dùng phương pháp gợi mở - vấn đáp, đi từ dữ kiện đến câu hỏi của bài toán để học sinh xác lập mối liên hệ giữa các dữ kiện từ đó tìm được các phép tính cho bài toán. : - Bài toán thuộc dạng toán nào ? (Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó ) - Bài toán cho ta biết tổng sô tuổi của hai bố con là bao nhiêu ?(58 tuổi) - Hiêu số tuổi bố và tuổi con là bao nhiêu ? ( 38 tuổi) - Dạng toán này có mấy cách làm ? (2 cách làm ) - Nếu tính tuổi của bố trước thì làm như thế nào ? (Tuổi của bố là số lớn nên lấy tổng số tuổi của hai bố con cộng với hiệu số tuổi bố và tuổi con, đươc bao nhiêu chia cho 2 ) - Khi tính được tuổi của bố rồi, muốn tính tuổi của con thì làm thế nào ? ( Lấy tổng số tuổi của hai bố con trừ đi số tuổi của bố hoặc lấy tuổi của bố trừ đi hiệu ) - Vậy 2 số cần tìm đã tìm được chưa ? (đã tìm được rồi) Ví dụ 2 : Bài 4 (sgk toán 4 trang 56 ) + Tóm tắt bài toán : Nửa chu vi. : 16 cm. Chiều dài hon chiều rộng : 4 cm Diện tích của hình chữ nhật . . . cm2 ? + Lập kế hoạch và trình tự giải bài toán : Đối với dạng bài này, giáo viên dùng phương pháp gợi mở - vấn đáp, nhưng không đi theo trình tự như ví dụ 1, mà đi từ câu hỏi đến dữ kiện của bài toán để học sinh xác lập mối liên hệ giữa các dữ kiện, từ đó tìm được các phép tính cho bài toán. - Bài toán hỏi gì ? (Tính diện tích của hình chữ nhật đó .) - Muốn tính được diện tích của hình chữ nhật đó ta phải biết gì? (phải biết chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật).

<span class='text_page_counter'>(8)</span> - Vậy chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật đã có chưa ? (chưa có ) - Điều đầu tiên phải làm trong bài toán này là gì ? (là tính chiếu dài , chiều rộng của hình chữ nhật ) - Vậy muốn tính chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật ta dựa vào đâu để tìm ? (Dựa vào cách tính của dạng toán :’Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” để tìm ) - Vậy tổng của chiều dài và chiều rộng đã có chưa ? Nếu có rồi thì là bao nhiêu ? (Đã có rồi, là nửa chu vi hình chữ nhật ) - Bước tiếp theo ta làm thế nào ? (vận dụng các bước làm để tính chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật ) - Sau khi tính được chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật ta phải làm gì tiếp theo ? (Tính diện tích hình chữ nhật bằng cách lấy chiều dài nhân với chiều rộng ) - Vậy câu hỏi của bài toán đã được trả lời chưa ? (trả lời rồi ) * Tóm lại : Tùy theo từng bài cụ thể, giáo viên gợi ý cho học sinh nên lập kế hoạch và trình tự giải theo hướng nào để các em dễ hiểu, dễ giải bài toán nhất. 3. Thực hiện giải bài toán Mục đích cuối cùng của việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh là học sinh phải biết cách làm và trình bày bài giải theo một trình tự thể hiện đúng cách làm của dạng bài đó Ở bước này, giáo viên sẽ biết được học sinh có hiểu bài, nắm được cách làm giải được bài toán hay không? Đây là bước đánh giá sự hiểu bài của học sinh. Theo chương trình hiện hành ở Tiểu học thì giải toán có lời văn thì mỗi phép tính, mỗi biểu thức đều phải kém theo câu lời giải và cuối cùng phải ghi rõ đáp số. Ví dụ : Bài 4 (SGK toán 4 trang 56) Bài giải Chiều dài của hình chữ nhật là : (16 + 4 ) : 2 = 10 ( cm ) Chiều rộng của hình chữ nhật là : 10 – 4 = 6 ( cm ) Diện tích của hình chữ nhật ta là : 10 x 6 = 60 ( cm2 ).

<span class='text_page_counter'>(9)</span> Đáp số : 60 cm 2 4 Kiểm tra cách giải Sau khi giải xong bài toán, việc kiểm tra cách giải nhẳm phân tích cách giải đúng hay sai. Nếu sai thì sai ở chỗ nào để sửa chữa. Nếu cách giải đúng thì học sinh yên tâm ghi đáp số, còn nếu sai thì các em phải kiểm tra lại cách làm xem sai ở đâu. Bước này hầu như học sinh thường bỏ qua, nên nhiều làm sai mà không biết. Vì vậy giáo viên cần rèn cho học sinh thói quen kiểm tra lại cách giải sau khi làm. Có các hình thức kiểm tra cách giải bài toán như sau : - Thiết lập tương ứng các phép tính bài toán. giữa các số tìm được trong quá trình giải. .. Ví dụ : Lấy chiều dài (10 cm ) cộng với chiều rộng (6 cm ) bằng nửa chu vi (16 cm ) và lấy chiều dài (10 cm ) trừ chiều rộng (6 cm) bằng hiệu (4 cm ) thì kết quả của bài toán là đúng . - Giải bài toán bằng cách khác Ví dụ : Giải bài 4 (SGK toán 4 trang 56) bằng cách khác Chiều rộng của hình chữ nhật là : (16 - 4 ) : 2 = 6 ( cm ) Chiều dài của hình chữ nhật là : 16 – 6 = 10 (cm ) Diện tích của hình chữ nhật ta là : 10 x 6 = 60 ( cm2 ) Đáp số : 60 cm 2 Như vây giải bằng cách khác mà kết quả của bài toán vẫn không thay đổi chứng tỏ bài toán đã làm đúng. - Xét tính hợp lí của đáp số . Nhiều em do lời giải sai nên số lớn lại có kết quả nhỏ hơn số bé, như vậy là không hợp lí. Hoặc có những em do cách làm sai nên kết quả của hai số cần tìm lại lớn hơn tổng, nên khi nhìn vào kết quả phải nhận ra được đó là bài làm sai. IV. HIỆU QUẢ ĐỀ TÀI.

<span class='text_page_counter'>(10)</span> Với một số kinh nghiệm nhỏ về việc dạy giải toán có lời văn ở lớp 4 dạng bài “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” tôi nhận thấy học sinh lớp tôi phụ trách đã có sự tiến bộ rõ rệt, cụ thể như sau : - Học sinh tóm tắt bài toán tương đối chính xác. - Các em bước đầu đã biết xác lập mối liên hệ giữa các dữ liệu của bài toán, giữa cái đã cho với cái phải tìm một cách lô gic, hợp lý. -Các em đã ít nhầm lẫn lời giải hơn trước, giải BT cũng nhanh và chính xác hơn. - Kết quả bài làm của các em cao hơn trước nhiều, nhất là điểm khá giỏi. Đây mới chỉ là kết quả bước đầu hết sức khiêm tốn, chưa được coi là một bước đột phá. Nhưng tôi cũng cảm thấy vui vì mình đã vận dụng giải pháp có hiệu quả..Điều này chứng tỏ giải pháp mà tôi đưa ra đã góp một phần không nhỏ giúp các em học tốt môn toán và các môn học khác. Đặc biệt, các em yêu thích và hứng thú hơn với giờ học. Điều này sẽ tạo cho các em niềm tin, ý chí vươn lên trong học tập. 2. Bảng thống kê điểm kiểm tra sau 2 tháng tác động ( sau khi thực hiện đề tài – Giữa học kì 1) Số Lớp. Điểm/ Số học sinh đạt điểm. HS. Tổng. Đểm. số. trung. điểm 1 Lớp 4A. 2. 27. bình. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 1. 3. 2. 4. 3. 7. 4. 3. 226. 7, 1. 2. 3. 6. 5. 4. 4. 2. 1. 192. 6, 0. (lớp thực nghiệm) Lớp 4B. 28. 1. ( lớp đối chứng). 3. Bảng so sánh điểm trung bình của bài kiểm tra sau tác động: Số học sinh. Giá trị trung bình. Lớp thực nghiệm(4A). 27. 7, 1. Lớp đối chứng(4B). 28. 6, 0. Lớp. Chênh lệch V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:. 1,1.

<span class='text_page_counter'>(11)</span> Trong thực tế giảng dạy và trong quá trình nghiên cứu làm đề tài tôi rút ra những bài học kinh nghiệm, đó là: Trước hết, người thầy giáo phải luôn có lòng yêu nghề, có ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến, không ngừng học hỏi và mạnh dạn áp dụng những cái mới vào trong thực tiễn giảng dạy. Khi dạy Toán, giáo viên cần nắm vững tính chất nhiệm vụ của môn Toán, tính chất nổi bật của nó là luyện tập, thực hành. Chúng ta cần rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh thông qua việc rèn luyện kĩ năng giải các dạng toán điển hình, những bài toán hợp. Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của từng lĩnh vực kiến thức khác nhau, để từ đó có thể lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp với trình độ của học sinh, phù hợp với nội dung mà giáo viên đã chọn để rèn kĩ năng cho học sinh. Khi gợi ý, hướng dẫn cách giải cho học sinh, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi dễ hiểu, sát thực và lô gic để làm giảm độ khó của bài tập cho học sinh. Nhất là người giáo viên luôn phải kiên nhẫn, khắc phục những chỗ hổng kiến thức cho học sinh trong mọi trường hợp. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần phải đăc biệt lưu ý tới học sinh yếu để phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc hoặc những chỗ mà học sinh không tìm ra cách giải để giúp đỡ các em kịp thời. Ngoài ra, chúng ta phải rèn cho học sinh có ý thức tự sửa chữa, tự rèn luyện để các em có tinh thần cầu tiến Giáo viên phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu nghiên cứu để không ngừng nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ. Có kiến thức giáo viên mới có thể giúp học sinh một cách có hiệu quả . VI. KẾT LUẬN: Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi đã tích lũy được trong quá trình dạy Toán lớp 4. Vì điều kiện và năng lực của bạn thân có hạn, nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự quan tâm giúp đỡ và góp ý của Ban giám khảo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. VII. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> Qua việc đọc tài liệu, nghiên cứu làm đề tài, nhiều chỗ vướng mắc muốn tìm tài liệu để tham khảo thêm nhưng không có. Vì vậy tôi mạnh dạn đề xuất, kiến nghị như sau: - Nhà trường, chuyên môn nên bổ sung thêm một số sách tham khảo về phương pháp giảng dạy các môn học. -. Xin chân thành cảm ơn !.

<span class='text_page_counter'>(13)</span> TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Sách giáo khoa Toán 4- Đỗ Đình Hoan ( chủ biên) Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam- Bộ Giáo dục và Đào tạo 2. Sách giáo viên Tiếng Toán 4 – Đỗ Đình Hoan ( chủ biên) Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo 3. Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học – Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan -. Nhà. xuất bản Đại học Sư phạm 4 Phương pháp dạy học các môn ở Tiểu học- Nguyễn Hữu Châu- Nhà xuất bản Giáo dục- Bộ Giáo dục và Đào tạo. 5. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học – Nhà xuất bản Giáo dục( tập 33, 35).

<span class='text_page_counter'>(14)</span> PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO H¬ng S¬n. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 4 DẠNG BÀI “ TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA HAI SỐ ĐÓ ”. -. I. PHỤ LỤC ĐỀ KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG: N¨m häc 2012 - 2013 Họ và tên:…………………………Lớp:…………………………..

<span class='text_page_counter'>(15)</span> Bài 1: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng lần lượt là: a/ 24 và 6. b/ 60 và 12. Bài 2 : Đánh dấu x dè lên chữ cái trước kết quả đúng. Tuổi chị và tuổi em cộng lại được 24 tuổi. em kém chị 6 tuổi. Hỏi chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? a/ Chị 16 tuổi, em 10 tuổi b/ Chị 15 tuổi, em 9 tuổi c/ Chị 14 tuổi, em 10 tuổi Bài 3 : Một hình chữ nhật có nửa chu vi bằng 32 cm, chiều dài hơn chiều rộng 8 cm. Tính diện tích của hình chữ nhật đó.. ĐỀ KIỂM TRA SAU ĐỘNG: Họ và tên:…………………………Lớp:………………………….. Bài 1 : Đánh dấu x dè lên chữ cái trước kết quả đúng. Tổng của hai số là 75, hiệu của hai số là 15. Hai số cần tìm là: a/ 90 và 45. b/ 45 và 30. c/ 90 và 60.

<span class='text_page_counter'>(16)</span> Bài 2 : Hai lớp 4A và 4B quyên góp được tất cà là 2 tạ 30 kg giấy vụn. Lớp 4B quyên góp nhiều hơn lớp 4A là 22 kg. Hỏi mỗi lớp quyên góp được bao nhiêu kg giấy vụn ? Bài 3 : Một thửa ruộng hình chữ nhật có nửa chu vi bằng 65 m, chiều rộng kém chiều dài 15 m. Bác An trồng lúa và cứ 1 m 2 thu hoạch đươc 500g thóc. Hỏi thửa ruộng đó bác An thu hoạch được bao nhiêu kg thóc? II.BẢNG ĐIỂM: 1. Lớp thực nghiệm: STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17. Họ và tên. Điểm KT trước tác động. Điểm KT sau tác động. Bùi Đức Anh Lê Nguyễn Lan Anh Nguyễn Phước Công Đinh Phạm Hoàng Đạt Lê Minh Đức Vũ Đức Hải Phạm Quang Hậu Nguyễn Trung Hậu Nguyễn Xuân Hiệp Nguyễn Thị Hiền Vũ Thị Thùy Hồng Đinh Lê Hoàng Pay Nhật Huy Đỗ Thị Thu Hương Nguyễn Minh Khánh Hồ Vương Linh Nguyễn Thị Ngọc Liên. 5. 8 9. 5. 7. 6. 8. 6 5 2 6. 7 6 3 8. 7. 9. 3 7. 5 9. 5 3 9. 6 4 10. 3. 4. 6 5. 8 6.

<span class='text_page_counter'>(17)</span> 18. Nguyễn Văn Minh Trần Thị Kiều My Hoàng Kim Nam Nguyễn Hữu Nghĩa Nguyễn Thị Yến Nhi Phạm Thị Yến Nhi Phạm Hoàng Pháp Lý A Phòng Trần Phan Đình Phú Nguyễn Kim Quân Lý Thị Thanh Thảo Nguyễn Thị Thanh Thảo Nguyễn Ngọc Thảo Phạm Thị Thanh Thu Lê Thị Tiên. 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32. 1. 3. 7 6 5. 10 8 7. 6. 8. 4. 5. 9. 10. 4 8. 6 9. 7. 8. 5. 7. 2. 4. 8. 10. 7. 8. 5. 6. 2. Lớp đối chứng: STT 1 2 3 4 5 6 7 8. Họ và tên Bùi Văn Bảo Nguyễn Thị Bích Trần Nguyễn Thùy Duyên Nguyễn Thị Cẩm Duyên Trần Đức Doanh Phạm Thị Ngọc Hà Trần Đức Hải Bùi Văn Hậu. Điểm KT trước tác động. Điểm KT sau tác động. 8 6 8 5 6 2 6 1. 9 7 9 5 6 4 6 4.

<span class='text_page_counter'>(18)</span> 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32. Nguyễn Văn Hòa Hồ Quốc Huy Nguyễn Khánh Hoà Nguyễn Thị Hồng Hoa Nguyễn Thị Ngân Nguyễn Phạm Hải Ly Lê Thị Hương Lan Vũ Thị Mai Lan Lê Thị Kim Liên Nguyễn Thị Ánh Linh Nguyễn Thị Diễm My Nguyễn Hải Minh Vũ Tuấn Nam Nguyễn Thị Quỳnh Nhi Nguyễn Văn Quân Lê Vũ Bá Thông Hoàng Thị Thu Đỗ Văn Thức Trần Quang Trường Mai Đức Tuyến Nguyễn Thị Thanh Thảo Nguyễn Hoàng Thành Lý Trần Sang Nguyễn Văn Sỹ. PHÒNG GD&ĐT CẨM MỸ TRƯỜNG TH NGUYỄN BÁ NGỌC. 8 7 2 5 5 6 1 9 5 4 4 7 3 6 7 5 6 7 9 5 7 4 3 5. 10 8 4 5 8 6 2 8 5 4 5 7 8 6 7 5 6 3 7 7 8 5 3 6. CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Xuân Đông., ngày. tháng. năm. PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2012-2013.

<span class='text_page_counter'>(19)</span> Tên sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm dạy giải toán có lời văn lớp 4 –. dạng bài: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” Họ và tên tác giả: Phạm Thị Lan Phương. Chức vụ: Giáo viên. Đơn vị: Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc-Xuân Đông-Cẩm Mỹ-Đồng Nai Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác) - Quản lý giáo dục  - Phương pháp dạy học môn: Toán. . - Phương pháp giáo dục. .. . - Lĩnh vực khác: ... Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong Ngành . 1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây) -. Có giải pháp hoàn toàn mới. -. Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có.  . 2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây) -. Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao . - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao  - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao  Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả  3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây) - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: Tốt  Khá  Đạt  - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt  Khá  Đạt  - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt  Khá  Đạt  Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên xác nhận của người có thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm. XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ (Ký tên và ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu).

<span class='text_page_counter'>(20)</span>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×