Tải bản đầy đủ (.docx) (28 trang)

Triết học Mac Lê nin

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (140.53 KB, 28 trang )

TỔNG LIÊN ĐỒN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƠN ĐỨC THẮNG

TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC

VẬN DUNG LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ
BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC,
PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ MỐI QUAN
HỆ NÀY ĐỂ PHÊ PHÁN, KHẮC PHỤC SAI LẦM
“CHỦ QUAN DUY Ý CHÍ”, “BẢO THỦ TRÌ TRỆ"
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN CƠNG HƯNG
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 10
BÙI NGUYỄN TRƯỜNG GIANG 91800147
TRẦN VĂN NGHĨA
91800229
BÙI LÊ QUANG HUY
91800152
Hệ: SAU ĐẠI HỌC
Nhóm:

09

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2020

1


TỔNG LIÊN ĐỒN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƠN ĐỨC THẮNG


TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC

VẬN DUNG LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ
BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC,
PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ MỐI QUAN
HỆ NÀY ĐỂ PHÊ PHÁN, KHẮC PHỤC SAI LẦM
“CHỦ QUAN DUY Ý CHÍ”, “BẢO THỦ TRÌ TRỆ"
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN CƠNG HƯNG
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 10
BÙI NGUYỄN TRƯỜNG GIANG 91800147
TRẦN VĂN NGHĨA
91800229
BÙI LÊ QUANG HUY
91800152
Hệ: SAU ĐẠI HỌC
Nhóm:

09

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2020

2


MỤC LỤC

MỤC LỤC...................................................................................................................... 1
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................................3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT MỐI LIÊN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC............................................................................................................................. 3
1.1

Vật chất.............................................................................................................3

1.1.1

Khái niệm vật chất......................................................................................3

1.1.2

Các đặc tính của vật chất............................................................................4

1.2

Ý thức...............................................................................................................7

1.2.1

Khái niệm ý thức........................................................................................7

1.2.2

Các đặc tính của ý thức...............................................................................8

1.2.3

Bản chất của ý thức....................................................................................9


1.3

Vật chất và ý thức có mối liên hệ như thế nào? Ý nghĩa phương pháp luận

được thể hiện ra sao?................................................................................................10
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ MỐI QUAN HỆ
GIỮ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐỂ PHÊ PHÁN KHẮC PHỤC SAI LẦM “CHỦ
QUAN DUY Ý CHÍ” VÀ “BẢO THỦ TRÌ TRỆ”.......................................................15
2.1

Chủ quan duy ý chí.........................................................................................15

2.1.1

Nội dung và biểu hiện...............................................................................15

2.1.2

Hướng khắc phục......................................................................................15

2.2

Bảo thủ trì trệ..................................................................................................16

2.2.1

Nội dung và biểu hiện:.............................................................................16

2.2.2


Biện pháp khắc phục:...............................................................................17

2.3

Bài học rút ra từ phương pháp luận.................................................................17

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.....................17
PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................................21
1


TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................22

LỜI MỞ ĐẦU
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới của nước ta trong thời gian qua đã tạo
ra thế và lực mới, cả bên trong và bên ngoài để chúng ta bước vào một thời kỳ
phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã
được tạo ra. Quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới mở rộng hơn bao giờ
hết. Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng
thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhanh với trình độ ngay càng
cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Các nước
đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc
các nước phát triển, khiến cho những nước chậm phát triển và đang phát triển
đứng trước những thử thách to lớn. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nước trong khu vực vẫn là thử thách to lớn và gay gắt do điểm xuất phát
của chúng ta quá thấp, lại đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt.
Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước ta
cần liên tục tiến hành và đẩy mạnh cơng cuộc đổi mới tồn diện đất nước, trong
đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt và chủ đạo. Đồng thời đổi mới về chính

trị cũng mang tính cấp bách bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau khơng thể tách rời. Chính vì vậy, tìm hiểu mối quan hệ
giữ vật chất và ý thức sẽ cho phép ta vận dụng nó vào mối quan hệ giữ kinh tế và
chính trị của đất nước, giúp cho công cuộc xây dựng nền kinh tế nước ta ngày
càng giàu mạnh.
Với ý nghĩa đó sau một thời gian nghiên cứu và học tập, cùng với sự hướng dẫn
nhiệt tình của các thầy, nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài: “Vận dung ly
luận về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và y thức, phương pháp luận

2


rút ra từ mối quan hệ này để phê phán, khắc phục sai lầm “chủ quan duy y
chí”, “bảo thủ trì trệ"”.

3


CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT MỐI LIÊN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT
CHẤT VÀ Ý THỨC
1.1 Vật chất
1.1.1

Khái niệm vật chất

Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có rất nhiều quan niệm khác nhau về vật
chất đứng trên các giác độ khác nhau.
Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất, không thể làm theo cách thông thường
là quy một khái niệm cần định nghĩa sang một khái niệm khác rộng hơn vì khái
niệm vật chất là một khái niệm rộng nhất. Để định nghĩa vật chất, Lênin đó đối

lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, vất chất tồn tại độc lập đối với cảm giác, với ý thức, còn
cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh vật chất.
Theo định nghĩa vật chất của Lenin: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để
chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm
giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại khơng phụ thuộc vào
cảm giác. Do đó vật chất là tồn tại khách quan bên ngồi ý thức, khơng phụ
thuộc vào ý thức, bất kể là sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa
nhận thức được. Như vậy, Lenin đã khẳng định, thừa nhận vật chất là tính thứ
nhất và ý thức là tính thứ hai.
Khi định nghĩa:” Vật chất là một phạm trù triết học”, Lênin một mặt muốn chỉ rõ
vật chất là một khái niệm rộng nhất, rộng vô hạn, muốn phân biệt vật chất với tư
cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái quát và trừu tượng, với
những dạng vật chất cụ thể, với những “hạt nhỏ” cảm tính. Vật chất với tư cách
là phạm trù triết học khơng có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được. Định
nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ
nghĩa duy vật cũ, đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

4


Khác với quan niệm:” Ý niệm tuyệt đối”. của chủ nghĩa duy tâm khách quan”
Thượng đế” của tôn giáo. “Vật tự nó khơng thể nắm được” của thuyết khơng thể
biết, vật chất không phải là lực lượng siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó. Trái
lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát các sự vật, hiện tượng có thật,
hiện thực, và do đó các đối tượng vật chất có thật, hiện thực đó có khả năng tác
động vào giác quan để gây ra cảm giác và nhờ đó mà ta có thể biết được, nắm
bắt được đối tượng này. Định nghĩa vật chất của Lênin đó khẳng định được câu
trả lời của chủ nghĩa duy vật về cả hai mặt cơ bản của triờt học, phân biệt về chủ
nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng như thuyết

không thể biết.
Hơn thế nữa Lênin cũn khẳng định, cảm giác chép lai chụp lại phản ánh vật chất,
nhưng vật chất tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Khẳng định như vậy một
mặt Lênin muốn nhất mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trị quyết định của nó
với ý thức, và mặt khác khẳng định phương pháp và khả năng nhận thức thế giới
khách quan của con người. Điều này không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy vật, với
chủ nghĩa duy tâm, với thuyết khơng thể biết mà cịn phân biệt chủ nghĩa duy vật
với nhị nguyên luận.
Như vậy, chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là một định nghĩa
tồn diện và triệt để nó giải đáp được cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên
lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân biệt về nguyên tắc với chủ
nghĩa duy tâm, bất khả trị luận, nhị nguyên luận. Đồng thời nó cũn khắc phục
thiếu sót, siêu hình, hẹp hịi trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật
cũ.
Định nghĩa vật chất của Lênin cũn giúp chúng ta nhân tố vật chất trong đời sống
xã hội, đó là tồn tại xã hội, và nó cũn có ý nghĩa trực tiếp định hướng trong
nghiên cứu khoa học tự nhiên, giúp khoa học tự nhiên ngày càng đi sâu vào
nghiên cứu dạng cụ thể của vật chất trong giới vĩ mơ. Nó cũn giỳp chúng ta có
5


thái độ khách quan và đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan
trong suy nghĩ và hành động.
1.1.2

Các đặc tính của vật chất

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật
chất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vận động là mọi sự biến đổi

nói chung chứ khơng phải là sự chuyển dịnh vị trí trong không gian, Anghen cho
rằng vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của
vật chất nó bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,
kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
Vận động có nhiều hình thức trong đó có 5 hình thức vận động cơ bản:
- Vận động cơ học (Di chuyển vị trí của các vật thể trong khơng gian);
- Vận động vật lí (Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện
tử, các q trình điện nhiệt…);
- Vận động hố học (vận động của các ngun tử, các q trình hố hợp và
phân giải các chất);
- Vận động sinh học (trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường;
- Vận động xã hội (Sự biến đổi thay thế của các hình thái kinh tế xã hội).
Các hình thức vận động đều quan hệ chặt chẽ với nhau. Một hình thức vận động
nào đó được thực hiện là do sự tác động qua lại với các hình thức vận động khác
trong đó những hình thức vận động cao bao giờ cũng bao hàm những hình thức
vận động thấp hơn, nhưng cũng khơng thể coi hình thức vận động cao là tổng số
đơn giản các hình thức vận động thấp. Mỗi sự vật, hiện tượng có thể gắn với
nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình
thức vận động cơ bản.
Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong q trình vận động khơng ngừng. Khơng
thể có vật chất không vận động, tức là vật chất tồn tại bằng cách vận động và
thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Hay nói cách khác vận
động là phương thức tồn tại của vật chất. Anghen nhận định rằng và các rạng
6


khác nhau của vật chất chỉ có thể tồn tại thơng qua vận động chỉ thơng qua vận
động mới có thể thấy được thuộc tính của vật thể.
Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản đến thế giới vi mô đến các hệ thống
hành tinh khổng lồ trong thế giới vĩ mô từ vô cơ đến hữu cơ, đến xã hội lồi

người, tất cả ln ở trạng thái vận động. Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là
một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những nhân tố, những bộ phận,
những xu hướng khác nhau, cùng tồn tại, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Sự tác
động qua lại đó gây ra biến đổi. Nguồn gốc của vận động là do những nguyên
nhân bên trong, vận động của vật chất là tự thân vận động.
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, khơng thể có vận động bên ngồi vật
chất, vận động khơng do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó vận
động được bảo tồn cả về số lượng lẫn chất lượng. Khoa học đã chứng minh
rằng nếu một hình thức vận động nao đó của sự vật nhất định mất đi thì tất yếu
nó nảy sinh ra một hình thức vận động khác thay thế nó. Cỏc hình thức vận động
chuyển hố lẫn nhau, cịn vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn tồn tai
với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất.
Mặc dù vật chất ln ở trong q trình vận động khơng ngừng nhưng điều đó
khơng loại trừ mà cịn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối khơng có hiện
tượng đứng im tương đối thì khơng có sự phõn hoỏ thế giới vật chất thành các sự
vật và hiện tượng phong phú và đa dạng. Anghen khẳng định rằng khả năng
đứng im tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều
kiện chủ yếu của sự phõn hoỏ vật chất.
Nếu vận động là sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng thì sự đứng im là sự ổn
định, là sự bảo tồn tính qui định của các sự vật hiện tượng. Đứng Im chỉ biểu
hiện của một trạng thái vận động, vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định
tương đối. Trạng thái đứng im cịn được biểu hiện như là một q trình vận động
trong phạm vi của sự ổn định, chưa biến đổi. Đứng im chỉ là tạm thời vỡ nó chỉ
7


xảy ra trong một thời gian nhất định. Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển
thành cân bằng nhưng vận động toàn thể lại phân loại sự cân bằng riêng biệt
thành các sự vật, hiện tượng luôn thay đổi chuyển hố cho nhau.
Khơng gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất. Không gian

phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có hình hình thức kết
cấu, có độ dài, ngắn, cao, thấp. Không gian biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt
của các sự vật với nhau, biểu hiện khoảng tính của chúng, trật tự phân bố chúng.
Cịn thời gian phản ánh thuộc tính của các q trình vật chất diễn ra nhanh hay
chậm, kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định. Thời gian biểu hiện tốc độ và trình
tự diễn biến của các q trình vật chất, tính cách biệt giữa các giai đoạn khác
nhau của các quá trình đó, sự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiên tượng.
Khơng gian và thời gian là hình cơ bản của vật chất đang vận động. Lênin đó chỉ
ra trong thế giới, khơng có gì ngồi vật chất đang vận động, và vật chất đang vận
động không thể vận động ở đâu ngồi khơng gian và thời gian. Khơng gian và
thời gian là tồn tại khách quan. Nó khơng phải là hình thức chủ quan để xếp chặt
các cảm giác mà ta thu nhận một cách lộn xộn như chủ nghĩa duy tâm quan
niệm, cũng như nó khơng thể đứng ngồi vật chất. Khơng có khơng gian trống
rỗng. Không gian và thời gian không phải là bất biến, tuyệt đối, mà trái lại khơng
gian và thời gian có sự biến đổi phụ thuộc vật chất vận động.
 Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tinh thần có trước, quyết định vật chất, do đó cũng
cho rằng thế giới thống nhất ở tinh thần. Còn chủ nghĩa duy vật biện chứng lại
khẳng định rằng, tính thống nhất chân chính của thế giới là ở tính vật chất của
nó. Triết học Mac- Lênin khẳng định chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật
chất, khơng có thế giới tinh thần.
Đồng thời còn khẳng định rằng các bộ phận thế giới đều là những dạng cụ thể
của vật chất, có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ
8


chức, liên hệ về lịch sử phát triển và đều phải luôn tuân thủ theo những qui luật
khách quan của thế giới vật chất. Do đó thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô
hạn, vô tận không do ai sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó khơng có
cái gì khác ngồi những q trình vật chất đang biến đổi và chuyển hoá lẫn nhau,

là nguyên nhân và là kết quả của nhau.
1.2 Ý thức
1.2.1 Khái niệm y thức
Cũng như vật chất có rất nhiều các quan niệm về ý thức theo các trường phái
khác nhau. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật ở đây khẳng định rằng ý thức
là đặc tính là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan
vào bộ óc của con người thơng qua lao động và ngôn ngữ. Mác nhấn mạnh rằng
tinh thần, ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc của con
người và được cải biến ở trong đó.
Ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưng nó khơng phải của một dạng vật
chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao – chính là bộ
óc con người. Ý thức phụ thuộc vào hoạt đọng của bộ óc, bộ óc của con người
cùng với thế giới bên ngồi tác động lên bộ óc chính là nguồn gốc tự nhiên của ý
thức. Con người là sản phẩn cao nhất cảu quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp của vật chất vận động và trong q trình đó con người đã
thơng qua q trình lao động và sáng tạo, ngôn ngữ và những mối quan hệ xã hội
đã hình thành nên ý thức – đây chính là nguồn gốc xã hội của ý thức, là nguồn
gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phất triển của ý thức.
Như vậy, ý thức là biểu hiện của xã hội.
Bản chất của ý thức: Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của
con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh tính tích
cực, chủ động và sáng tạo. tính năng động của ý thức thể hiện

9


- Một là: ý thức là sự phản ánh khái quát, trù tượng, gián tiếp, được thể hiện
thông qua cái “vỏ vật chất” của nó là hệ thống ngơn ngữ (tiếng nói, chữ
viết)
- Hai là: sự phản ánh của ý thức không phải là sự sao chép, liệt kê những

hiện tượng, những mối liên hệ bên ngồi, mang tính ngẫu nhiên của đối
tượng mà là q trình con người khơng ngừng tìm kiếm, tích lũy những
hiểu biết mới ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về mặt bản chất, quy luật
vận động và phát triển của sự vật.
- Ba là: sự phản ánh sáng tạo cảu ý thức gắn liền với nhu cầu của cuộc sống
vào hoạt động thực tiễn của con người ý thức có thể dự báo những cái sẽ
xảy ra trong tương lai, nhờ đó con người có thể chủ dộng và tự giác hơn
trong hành động
- Bốn là: tính sáng tạo của của ý thức cịn được thể hiện ở chỗ thơng qua
hoạt động thức tiễn của con người ý thức tác động làm biến đổi thế giới,
tạo ra những đối tượng chưa có sẵn trong tự nhiên
1.2.2 Các đặc tính của y thức
 Nguồn gốc tự nhiên:
Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi
xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới
vất chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện
con người, rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh
lí thần kinh của của bộ não con người. Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não
và ý thức là chức năng của bộ não, bộ não là khí quan của ý thức. Sự phụ thuộc
của ý thức vào sự hoạt động của bộ não thể hiện ở chỗ khi bộ não bị tổn thương
thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên, không thể qui một cách đơn giản ý
thức về các quá trình sinh lí bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh. Ý thức là sự phản
ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người. Sự xuất hiện của ý thức gắn liền
với sự phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với sự phát
10


triển của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của con người và xã hội lồi người đưa
lại hình thức của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ý thức.
 Nguồn gốc xã hội:

Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc con
người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.
Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo
tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích của bản thân con người. Chính
nhờ lao động, con người và xã hội mới hình thành và phát triển. Lao động là
phương thức tồn tại đầu tiên của con người, lao động đồng thời ngay từ đầu đã
liên kết những con người với nhau trong những quan hệ khách quan, tất yếu, mối
quan hệ này đến lượt nó lại làm nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ
chức lao động, nhu cầu” Cần phải có với nhau một cái gì”. Và kết quả là ngôn
ngữ ra đời. Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy. Với sự xuất hiện
ngơn ngữ, tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực
tiếp, trở thành tính hiệu vật chất tác động đến giác quan con người và gây ra cảm
giác. Nhờ có ngơn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm lẫn
nhau truyền đạt kinh nghiệm cho nhau. Thơng qua đó mà ý thức cá nhân trở
thành ý thức xã hội và ngược lai,ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân.
Ngôn ngữ đã trở thành một phương tiện vật chất khơng thể thiếu được của sự
trừu tượng hố, tức là quá trình hình thành, thực hiện ý thức và chính nhờ trừu
tượng hố và khái qt hố mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật,
hiện tượng, đồng thời tổng kết được hoạt động của mình trong tồn bộ q trình
phát triển lịch sử.
1.2.3 Bản chất của y thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản
ánh, sáng tạo và bản tính xã hội.

11


Bản tính phản ánh thể hiện thơng tin về thế giới bên ngoài là biểu thị nội dung
nhân được từ vật gây ra tác động và được truyền đi trong q trình phản ánh.
Bản tính của phản ánh qui định mặt khách quan của ý thức, tức là ý thức phải lấy

cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan qui định và có nội dung phản ánh
là thế giới khách quan.
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền lao động, với hoạt động sáng tạo cải biến và
thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt khơng thể thiếu được của
hoạt động đú. Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó khơng chụp lại một
cách thụ động sự vật mà phản ánh gắn liền với cải biến, q trình thu thập thơng
tin gắn liền với xử lí thơng tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng
gián tiếp khái quát thế giới khách quan, ở quá trình chủ động tác động vào thế
giới để phản ánh thế giới đó.
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau khơng thể tách rời. Khơng có
phản ánh thì khơng có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở sáng tạo.
Ngược lại khơng có sự sáng tạo thì khơng phải là phản ánh ý thức. Đó là mối
quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhập và xử lí thơng tin, là sự thống
nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức.
Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con
người. Hoạt động đó khơng phải là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. Do
ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội. Ý thức trước hết là tri thức của
con người về xã hội và hoàn cảnh, về những gì đang diễn ra ở thế giới khách
quan, về mối liên hệ giưa người và người trong xã hội. Do đó ý thức xã hội hình
thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội cựng cỏc qui luật tồn tại của xã hội đú…
Và ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng của ý thức xã hội. Bản thống nhất nó
thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở mối quan hệ giữa nhân tố vật
chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tao thế giới của con người.

12


1.3 Vật chất và y thức có mối liên hệ như thế nào? Ý nghĩa phương pháp
luận được thể hiện ra sao?
Lênin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có nghĩa tuyệt đối trong

phạm vi hết sức hạn chế: Trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận
thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì có sau. Ngồi giới hạn đú
thỡ khơng cịn nghi ngờ gì nữa sự đối lập đó chỉ là tương đối.
Như vậy, để phân ranh giới chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, để xác định
bản tính và thống nhất của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý
thức trong khi trả lời câu hỏi cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định
cái nào. Không như vậy sẽ lẫn lộn hai đường lối cơ bản trong triết học, lẫn lộn
vật chất với ý thức và cuối cùng sẽ xa dời quan điểm duy vật. Song sự đối lập
giữa vật chất và ý thức chỉ là tương đối nếu như chúng ta xột chỳng như là
những nguyên tố, những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con
người, đặc biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người. Bởi vì, ý
thức tự nó khơng thể cải biến được sự vật, khơng có khả năng tự biến thành hiện
thực.
Qua định nghĩa ta thấy: vật chất quyết định ý thức: Vật chất là cơ sở, là nguồn
cội của ý thức, nó sản sinh ra ý thức, khơng có vật chất là khơng có ý thức. Trong
đó: bộ óc con người là cơ quan vật chất của ý thức; các sự vật hiện tượng trong
thế giới khách quan được phản ánh vào bộ óc; họat động thực tiễn, hoạt động sản
xuất là nền tảng xã hồi của sư hình thành và phát triển ý thức.
Vật chất quyết định nội dung của ý thức, muốn thay đổi một thói quen trong
phong tục tập qn nào đó, thì phải thay đổi điều kiện vật chất, ý thức lý luận
khoa học cũng do vật chất hiện thực khách quan quyết định.
Vật chất quyết định sự biến đổi nội dung của ý thức, ý thức ra đời từ vật chất, từ
quá trình phản ánh hiện thưc khách quan, phản ánh những điều kiện sinh hoạt

13


chất lượng của xã hội, phần ánh quá trình lao động, đấu tranh, sản xuất của xã
hội, … Vật chất là điều kiện khách quan để hiện thực hóa ý thức, tư tưởng.
Như vậy, tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính

độc lập tương đối, tính năng động của ý thức. Mặt khác, đời sống con người là
sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần
trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu
cầu vật chất cũng bị tinh thần hố. Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa
vật chất và ý thức khơng có ý nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân tố có vai trị
như nhau trong đời sống và hoạt động của con người. Trái lại, triết học MacLênin khẳng định rằng, trong hoạt động của con người, những nhân tố vật chất
và ý thức có tác động qua lại, song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất
của nhân tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức.
Trong hoạt động của con người, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ
cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và qui định hoạt động của con người vì
nhân tố vật chất qui định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt
động của con người, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần
khác biến thành hiện thực và qua đó qui định mục đích chủ trương biện pháp mà
con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa bổ sung,
cụ thể hố mục đích, chủ trương, biện pháp đó. Hoạt động nhận thức của con
người bao giờ cũng hướng đến mục tiêu để biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu
cuộc sống, hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối
và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất
hiện có.
Khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực tiếp của nhân tố vật chất, triết học
Mỏc- Lênin đồng thời cũng khơng coi nhẹ vai trị của nhân tố tinh thần, của tính
năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác dụng trở lại quan trọng đối với nhân
tố vật chất. Hơn nữa, trong hoạt động của mình con người không thể để cho thế
14


giới khách quan, quy luật khách quan chi phối mà chủ động hướng nó đi theo
con đường có lợi của mình. Ý thức con người khơng thể tạo ra các đối tượng vật
chất, cũng không thể thay đổi qui luật vận động của nó. Do đó, trong q trình
hoạt động của mình, con người phải tuân theo qui luật khách quan và chỉ có thể

đề ra những mục đích, chủ trương trong phạm vi hoàn cảnh vật chất cho phép.
Qua phân tích và nội dung của vật chất và ý thức ta thấy tác động trở lại của ý
thức đối với vật chất như sau:
- Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có
tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại đối với vật chất thông qua
hoạt động thực tiễn của con người
- Vai trò của ý thức biểu hiện trong việc xác định xây dựng nmục tiêu, cơ
chế, chính sách cùng các biện pháp, các bước đi cho hoạt động thực tiễn
của con người.
Ví dụ: Vật thể, trong những điều kiện khách hàng đặc biệt, ý thức trở thành nhân
tố quyết định cho hoạt động của con người sai hay sai, thành công hay thất bại,
… v.v.
Vai trò của ý thức, sức mạnh của ý thức khơng phải ở chỗ nó tách rời điều kiện
vật chất, thoát ly hiện thực khách quan, mà là biểt dựa vào điều kiện vật chất để
có nhận thức đúng thế giới khách quan, để cải tạo thế giới một chủ động, sáng
tạo và có hiệu quả. Lenin nói: "Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới
khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan"
Qua nghiên cứu nội dung chủ yếu của Triết học Mác xít về hai pham trù cơ bản
là vật chất và ý thức, về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức giúp
chúng ta rút ra ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực
tiễn. Đây là một trong những nội dung chu yếu, yêu cầu cấp bách của công việc
nhận thức lại, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển học thuyết Mac Lenin
trong thời đại ngày nay nói chung, trong điểu kiện mới được xây dựng CNXH ở
nước ta nói riêng.
15


Mối quan hệ giữa các vật chất và ý thức có ý nghĩa phương pháp luận hết sức
quan trọng, đó là:
- Nguyên tắc khách quan trong nhận thức và hành động: đây chính là u

cầu có tính bắt buộc nhằm bảo đảm sự thành công của hoạt động nhận
thức và hành động thực tiễn. Nguyên tắc này được rút ra từ quan điểm về
mối quan hệ duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thức. Nó địi hỏi hoat
động nhận thức và họat động thực tiễn phải xuất ra từ khách quan, tôn
trọng và hành động theo luật khách quan;
- Phải xuất phát từ chính bản thân của sự vật với những thuộc tính, những
mối liên hệ vốn có của nó, những quy luật khách quan, khơng được lấy
tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Xuất
phát từ khách quan nghĩa là toàn bộ những hoạt động của con người phải
dựa trên công việc phát hiện, khai thác và sử dụng sức mạnh của các yếu
tố sau:
+ Những điều kiện, hoàn cảnh vật chất khách quan như: tiềm năng, tài
nguyên, điều kiện địa lý, khí hậu… hay các điều kiện là bối cảnh quốc
tế
+ Những quan hệ vật chất khách quan trong đời sống xã hội: quan hệ sản
xuất, quan hệ giai cấp, những hệ vật chất mới nảy sinh trong quá trình
thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập ...
+ Những quy luật khách quan: bao gồm cả những quy luật tự nhiên và
quy luật xã hội; cả những quy luật đã được nhân thức và chưa nhận
thức …sự tác động cảu các quy luật là cái xuyên suốt, chi phối vận
động và phát triển của hiện thực khách quan. Bởi vậy, năng lực nhận
thức và vận dụng pháp luật khách quan là cái có ý nghĩa quyết định đối
với sự thành cơng hay thất bại của con người.
- Phát huy tính năng động, sáng tạo ý thức, phát huy vai trò nhân tố quan trọng:
việc thực hiện nguyên tắc khách quan khơng những loại trừ mà cịn địi hỏi
phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố
16


chủ quan. Trước hết có nghĩa là việc sử dụng các điều kiện sức mạnh vật chất

khách quan, sức mạnh của quy luật… đến mức độ nào, hiệu quả lợi ích mà
chúng mang lại cho con người đến đâu là thuộc vào khả năng của chính con
người. Thơng qua việc phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy
vai trò nhân tố chủ quản bằng việc tổ chức các hoạt động phù hợp, con người
thực hiện biến đổi cái “vật từ nó”, tức là cái khách quan thành cái “vật cho
ta”, tức là phục vụ theo yêu cầu của con người. Việc phát huy tính năng động,
sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố chủ quan, sức mạnh của nó được
thể hiện ở sự tác động tổng hợp của các yếu tố sau:
+ Thứ nhất: tri thức, năng lực nhận thức và vận dụng các quy luật của
khách quan - đây là cơ bản nhất của nhân tố chủ quan.
+ Thứ hai: Ý chí, tình cảm, nhiệt tình, động cơ hành động của con
người ... là yếu tố có vai trị rất quan trọng, có tác động định hướng cho
việc phát huy sức mạnh của nhân tố quan.
+ Thứ ba: năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn - đây là điều kiện để thực
hiện sự chuyển hóa sức mạnh cải tạo trong thực tế.
 Tóm lại: quan điểm khách quang này có thể được tóm tắt với hai nội dung cơ
bản sau: phải xuất ra từ khách hàng, tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan; đồng thời phải phát huy vai trò năng động, sáng tạo của nhân tố
chủ quan.
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN RÚT RA TỪ MỐI
QUAN HỆ GIỮ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐỂ PHÊ PHÁN KHẮC PHỤC
SAI LẦM “CHỦ QUAN DUY Ý CHÍ” VÀ “BẢO THỦ TRÌ TRỆ”.
2.1Chủ quan duy y chí
2.1.1 Nội dung và biểu hiện
Là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trị của nhân tố chủ quan, cường điệu tính
sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật
khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự chậm chạp về tri thức khoa
học.
17



Đây là lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ
quan; thể hiện rõ trong khi định ra những chủ trương, chính sách và lựa chọn
phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo tưởng,
chủ quan.
Ví dụ như: mục tiêu đặt ra q cao, biện pháp khơng có tính khả thi ... Ngịai chủ
quan duy ý chí cịn lại nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm của người sản
xuất nhỏ chi phối. Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của
căn bệnh này.
Trước thời kỳ mới thay đổi (Đại hội 6) Đảng ta đã mắc bệnh chủ quản duy ý chí
trong việc xác định mục tiêu và hướng đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải
tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay
nền kinh tế nhiều thành phần, chỉ còn lại hai thành phần là: kinh tế quốc tế và tập
thể, hay có lúc đẩy mạnh quá mức xây dựng công việc nặng mà không chú ý đến
khi phát triển nghiệp nhẹ và nông nghiệp trong khi nước ta là một nước nông
nghiệp, tất cả các điều kiện vật chất khách quan đều thuận lợi để phát triển nơng
nghiệp, chúng ta đã duy trì q lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu ,
bao cấp, cơ chế xin - cho, có nhiều chủ trương sai lầm trong việc cải cách giá cả,
tiền tệ, tiền lương; công ty tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm
nghiên trọng.
2.1.2 Hướng khắc phục
Để khác phục bệnh chú ý duy trì chúng ta phải tíến hành động bó nhiều biện
pháp. Trước hết là đo lường mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về CNXH, về sự
cân bằng di chuyển lên CNXH ở nước ta, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn
để phát triển lý luận, dùng lý luận để hướng dẫn, giải thích những vấn đề do thực
tiễn đặt ra; đổi mới tồn diện, đồng bộ và triệt để với những hình thức, bước đi
và cách làm phù hợp, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm; tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan, nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng quy luật,
18



tăng cường phát huy dân chủ, phát huy tiềm năng, trình độ chính trị, chun mơn
nghiệp vụ, quản lý của cán bộ khoa học kỹ thuật, …
2.2 Bảo thủ trì trệ
Qua nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
Theo quan điểm của phép duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại
bằng cách tác động nhau, ràng buộc nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau; tất
cả đều vận động, biến đổi, phát sinh (phát triển) và mất đi. Phát triển là một
phạm vi triết học dùng để khái qt hóa q trình vận chuyển lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quan điểm
duy vật biện chứng khẳng định rắng thế giới vật chất luôn luôn vận hành và phát
triển đi lên, sự vận động không ngừng là khuynh hướng chung của mọi vật hiện
tượng. Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân của sự vật, do mâu
thuẫn của vật quy định, là quá trình tự thân của mỗi sự vật hiện tượng. Do vây,
phát triển là một khách quan độc lập với ý thức của con người, Vì thế, khi xem
xét các hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, sự phát triển, phải phát hiện ra
các xu hướng biến đổi chuyển hóa của chúng. Quán triệt quan điểm về sư phát
triển, chúng ta cần phải khắc phục, phê phán “bệnh” bảo thủ trì trệ, định kiến.
2.2.1 Nội dung và biểu hiện:
“Bệnh” bảo thủ, trì trệ, định kiến là tuyệt đối một nhận thức nào đó về sư vật có
được trong hồn cảnh lịch sử phát triển nhất định của nó và xem đó là nhận thức
duy nhất về tồn bộ sự vật trong q trình phát triển tiếp theo của nó. Hay nói
cách khác, "bệnh" bảo thủ, trì trệ là khuynh hướng cường điệu vai trò quyết định
của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, thạ thấp vai trò của nhân tố chủ
quan,
Khuynh hướng đó sẽ dẫn đến bảo thủ, trì trệ, ngại gian khổ, bó tay khuất phục
trước khó khăn, trước hồn cảnh khách quan, Biểu hiện của "bệnh" này là tình
trạng ỷ lại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại đổi mới, thậm trí cản trở cái mới, bằng lòng
19



thỏa mãn với cái đã có- là bạn đồng hành với chủ nghĩa quan liêu, độc đoán, và
hậu quả tất yếu là làm cản trở, thậm chí cịn kéo lùi sự phát triển.
2.2.2 Biện pháp khắc phục:
Vì vậy trong thời kỳ đổi mới và hiện nay chúng ta phải tiếp tục đối mới tư duy,
lý luận; đổi mới trong nhận thức và hành động, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, cái
tiến bộ phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ. Đổi mới tổ chức hoạt động của
các nhân tố bên trong chính trị bên trong khơng ngừng nâng cao các quyền làm
chủ và phát huy tinh thần sáng tạo của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống
xã hội.
2.3Bài học rút ra từ phương pháp luận
Phát huy tính năng động, sáng tạo, sức mạnh to lớn của yếu tố con người:
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải luôn chủ động,
phát huy hết trí thơng minh, khả năng suy nghĩ của mình. Phải ln tìm
tịi, sáng tạo ra cái mới trên cơ sở tích lũy, kế thừa những cái cũ phù hợp.
Có như vậy, con người mới ngày càng tài năng, xã hội ngày phát triển.
- Con người phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao thể lực, trí lực
để nâng cao năng lực nhận thức và lao động của mình. Phải kiên trì, nỗ lực
vượt qua khó khăn, khơng bỏ cuộc giữa chừng.
- Tuyệt đối không được thụ động, trông chờ, ỷ lại trong mọi tình huống.
Điều ngày cũng đồng nghĩa với việc tránh sa vào lười suy nghĩ, lười lao
động.
- Khơng được tuyệt đối hóa vai trị của các điều kiện vật chất trong nhận
thức và hoạt động thực tiễn. Vật chất có vai trị quyết định, chi phối nhưng
khơng có nghĩa là những thiếu hụt đối tượng vật chất sẽ khiến con người
thất bại trong việc tìm ra giải pháp khả thi.

20



CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY
Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn
nhau. Nhân tố vật chất giữ vai trò là cơ sở, quyết định, cịn nhân tố ý thức là có
tác dụng trở lại đối với nhân tố vật chất. Trong nhiều trường hợp, nhân tố ý thức
có tác dụng quyết định đến sự thành bại của hoạt động con người. Điều này thể
hiện rõ trong tác động của đường lối, các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế
của Đảng. Song xét đến cùng, tác động của ý thức có tính tương đối, có điều
kiện. Vai trị tích cực hay tiêu cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất
định và điều kiện cụ thể.
Vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động theo qui luật khách quan đòi hỏi
ý thức phải biến đổi phù hợp với nó, và nếu là tiêu cực, ý thức sớm muộn sẽ bị
đào thải. Mặt khác, ý thức là cỏi cú sau, là cái phản ánh, hơn nữa vai trò của nó
cịn tuỳ thuộc vào mức độ chính xác trong q trình phản ánh hiện thực. Do vậy,
xét tồn cục, ý thức chỉ có được nếu nó thâm nhập vào quần chúng và tổ chức
hoạt động.
Nếu như chúng ta đưa nó vào những điều kiện và hồn cảnh cụ thể, thì chúng ta
có thể thấy rằng, giữa kinh tế (Biểu hiện của vật chất) và chính trị (biểu hiện về ý
thức) cũng có mối quan hệ rằng buộc với nhau. Bởi vì, chúng ta thấy rằng, tình
hình kinh tế của một nước là cơ sở, là quyết định, song chính trị là cơ bản. Nếu
kinh tế của một nước giầu mạnh, nhưng chính trị khơng ổn định, đấu tranh giai
cấp, tơn giáo giữa các Đảng phái khỏc nhau, … v. thỡ đất nước đó cũng khơng
thể trở nên n ấm và tồn tại lâu dài được, cuộc sống của nhân dân tuy sung túc,
đầy đủ nhưng luôn phải sống trong lo âu, sợ hãi vì nội chiến, chết chóc.
Do đó, nếu chính trị của một nước mà ổn định, tuy nhiều Đảng khác nhau nhưng
vẫn qui về một chính Đảng thống nhất đất nước, và Đảng này vẫn đem lại sự yên
21



ấm cho nhân dân, thì nếu đất nước đó giầu thì cuộc sống của nhân dân ngày càng
ấm no, hạnh phúc, ngược lại nếu như nước đú nghốo thỡ cho dù chính trị ổn định
đến đâu thì cuộc sống của nhân dân sẽ trở nên khó khăn và sẽ dẫn đến đảo chính,
sự sụp đổ chính quyền để thay thế một chính quyền mới đem lại nhiều lợi ích
cho nhân dân hơn.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi tuỳ theo từng hình thái kinh tế xã
hội. Con người trải qua năm hình thái xã hội: thời kỡ nguyờn thuỷ, nô lệ, phong
kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Trình độ tổ chức quản lí và tính chất
hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố qui định trình độ hiện đại và mức sống
của xã hội. Sản xuất vật chất còn là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội
và đời sống tinh thần của xã hội. Hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng, mọi quan hệ
của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị. Nhà nước pháp quyền, đạo đức,
khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… đều hình thành và biến đổi phát triển gắn liền
với cơ sở kinh tế và sản xuất nhất định.
Trong xã hội ấy, theo Mác quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất
(quan hệ kinh tế) là quan hệ cơ bản nhất quyết định tất cả các quan hệ khác. Một
khi sản xuất phát triển, cách thức sản của con người thay đổi, năng suất lao động
tăng, mức sống được nâng cao thỡ cỏc mối quan hệ và mọi mặt của đời sống xã
hội cũng thay đổi theo. Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng
nhất tham gia vào quá trình phõn hoỏ và hoàn thiện các chức năng cảu con
người, thoả món cỏc nhu cầu của con người và xã hội.
Sản xuất vật chất, mơi trường, tự nhiên, điều kiện xó hội…địi hỏi thế lực, trí tuệ
và nhân cách của con người phải phát triển thích ứng với nó. u cầu khách
quan của sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất là cho khoa học kĩ thuật và
điều kiện sinh hoạt xã hội, là nhân tố quan trọng hàng đầu của Lực lượng sản
xuất. Sự phong phú và đa dạng của những quan hệ vật chất, sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất vật chất
22



là cơ sở làm nảy sinh sự phong phú và đa dạng trong sự phát triển thể chất, năng
lực và tinh thần của con người.
Cụ thể trong hoạt động của con người, những nhu cầu về vật chất (kinh tế) bao
giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì
con người phải trước hết ăn mặc, ở, rồi mới nghĩ đến vui chơi, giải trí. Hoạt động
nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm
thoả mãn nhu cầu sống. Hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến
cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những
điều kiện vật chất hiện có.
Nền kinh tế của mỗi nước là cơ sở để nước đó thực hiện những chủ trương, biện
pháp trong việc quản lí, đề ra những chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược
phát triển quân đội để đảm bảo trật tự an ninh và chủ quyền quốc gia. Căn cứ vào
thực trạng của nền kinh tế, các tư tưởng và chính sách đổi mới phát triển kinh tế
được đưa ra phù hợp và hiệu quả nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao cho xã hội,
cũng đồng thời cho nhân dân. Tác dụng ngược trở lại, thể chế chính trị (ý thức)
của một nước cũng rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn
định là điều kiện tốt, tạo khơng khí yên ấm, thoải mái và tự do để mọi người, nhà
nhà, các công ty, các tổ chức, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội cống
hiến và phát huy khả năng của mình để đem lại lợi ích cho bản thân mình và lợi
cho xã hội.
Nguyên lý triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý
thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình hình các sự vật (Ở đây là nền kinh tế ) từ
thực tế khách quan, tránh chủ chủ nghĩa chủ quan, duy ý trí, đồng thời phát huy
vai trò năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ lực chủ quan của con người
(như hoạt động kinh tế của nước ta, trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản
Việt Nam khởi xướng đã chú trọng đến việc đề cao yếu tố con người, làm cho ý
thức thay đổi mới thâm nhập vào các cơ sở kinh tế, vào đông đảo quần chúng).
23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×