Tải bản đầy đủ (.pdf) (40 trang)

PHONG TỤC ĐÓN NĂM MỚI CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 40 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
KHOA DU LỊCH VÀ ẨM THỰC

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI:

PHONG TỤC ĐÓN NĂM MỚI CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỈNH
TRÀ VINH


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
KHOA DU LỊCH VÀ ẨM THỰC

TIỂU LUẬN
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
ĐỀ TÀI :

PHONG TỤC ĐÓN NĂM MỚI CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỈNH
TRÀ VINH

GIẢNG VIÊN PHỤ TRÁCH: ĐINH THIỆN PHƯƠNG
HỌ VÀ TÊN
Phạm Bích Hường
Lê Phan Lan Anh
Nguyễn Quang Trí
Võ Đình Anh
Phạm Thị Anh Nghĩa
Nguyễn Thị Phương Hạnh
Phạm Thị Thúy Ngân


MSSV
2024200085
2024200205
2024200408
2024200033
2024200141
2024200170
2024200204

LỚP
11DHQTDVLH2
11DHQTDVLH2
11DHQTDVLH2
11DHQTDVLH2
11DHQTDVLH2
11DHQTDVLH2
11DHQTDVLH2

Thành Phố Hồ Chí Minh, Ngày Tháng Năm 2021


BẢNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HỒN THÀNH CƠNG VIỆC CỦA
THÀNH VIÊN NHĨM

STT

HỌ VÀ TÊN

MSSV


NỘI DUNG PHỤ
TRÁCH

1

Phạm Bích Hường (C)

2024200085

2

Lê Phan Lan Anh

2024200205

3

Nguyễn Quang Trí

2024200408

4

Võ Đình Anh

2024200033

5

Phạm Thị Anh Nghĩa


2024200141

Chương 3+Mở
đầu+hỗ trợ tìm tài
liệu+củng cố bài
Chương 1+hỗ trợ
tìm tài liệu
Chương 1+ hỗ trợ
tìm tại liệu
Chương 2+ hỗ trợ
tìm tài liệu
Chương 2+ hỗ trợ
tìm tài liệu
Chương 4+ hỗ trợ
tìm tài liệu+chỉnh
word
Kết luận+hỗ trợ
chương 1+hỗ trợ tài
liệu

6

7

Nguyễn Thị Phương Hạnh 2024200170

Phạm Thị Thúy Ngân

2024200204


MỨC ĐỘ
HOÀN
THÀNH
100%

XÁC NHẬN

100%

Đã xác nhận

90%

Đã xác nhận

100%

Đã xác nhận

100%

Đã xác nhận

100%

Đã xác nhận

70%


Đã xác nhận

Đã xác nhận


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................ 1
1.

Lý do chọn đề tài ..............................................................................................1

2.

Mục đích nghiên cứu .......................................................................................1

3.

Phạm vi nghiên cứu .........................................................................................1


4.

Phương pháp nghiên cứu ................................................................................1

5.

Bố cục tiểu luận ................................................................................................1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN .................................. 2
1.1.

Cơ sở lý luận và thực tiễn .................................................................................2

1.1.1 Cơ sở lý luận ..................................................................................................2
1.1.1.1 Văn hóa ....................................................................................................2
1.1.1.2 Phong tục .................................................................................................2
1.1.1.3 Tết của người Khmer ...............................................................................3
1.1.2 Cơ sở thực tiễn ...............................................................................................3
1.1.2.1 Khái quát lịch sử Trà Vinh ......................................................................3
1.1.2.2 Địa lý Trà Vinh ........................................................................................4
1.1.2.3 Văn hóa của người Khmer .......................................................................5
1.1.2.4 Một số nghĩ lễ và niềm tin của người Khmer trong năm mới..................6
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NHÌN TỪ VĂN HĨA NHẬN THỨC ...... 8
2.1.

Nguồn gốc ra đời của lễ hội Chol Chnam Thmay .........................................8

2.2.

Sự tích Chol Chnam Thmay ...........................................................................8


2.3.

Quan niệm tết của người khmer ở Trà Vinh...............................................11

2.4.

Tín ngưỡng về ngày tết của người khmer ở Trà Vinh ...............................11

2.5. Phong tục ngày tết người khmer ở Trà Vinh ............ Error! Bookmark not
defined.
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NHÌN TỪ VĂN HĨA TỔ CHỨC ......... 12
3.1.

Các giai đoạn chính trong ngày tết của người Khmer ở Trà Vinh ...........12

3.1.1. Những ngày cuối năm .................................................................................12
3.1.2. Đêm giao thừa..............................................................................................15
3.1.3. Những ngày đầu năm ..................................................................................16
3.2. Sơ nét các hoạt động chính trong ngày tết Chol Chnam Thmay ở Trà
Vinh ………………………………………………………………………………..18
3.2.1. Đặt bát hội ....................................................................................................18


3.2.2. Đắp núi cát ...................................................................................................20
3.2.3. Tắm Phật ......................................................................................................21
3.2.4. Thọ trì quy giới ............................................................................................23
3.2.5. Văn nghệ chào mừng năm mới...................................................................24
CHƯƠNG 4: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NHÌN TỪ VĂN HĨA ỨNG XỬ ............ 27
4.1.


Lòng hiếu khách của người dân Khmer ......................................................27

4.2.

Tầm quan trọng của Chol Chnam Thmay ..................................................28

KẾT LUẬN.......................................................................................................... 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 29


PHỤ LỤC HÌNH ẢNH

Hình ảnh 3. 1 Bánh Tét, loại bánh không thể thiếu trong những lễ vật dâng cúng ngày
Tết của người Khmer. ....................................................................................................13
Hình ảnh 3. 2 Để đón Tết Chol Chnam Thmay rộn ràng, trang trọng, bà con phật tử vệ
sinh, quét dọn chánh điện, sala, khuôn viên chùa .........................................................14
Hình ảnh 3. 3 Các ngơi chùa cũng được trang trí thêm đèn, cờ, hoa. ...........................15
Hình ảnh 3. 4 Lễ đón Têvada (cịn gọi là bà Tiên, Chư Thiên) xuống trần để chăm lo
đời sống của người dân ..................................................................................................16
Hình ảnh 3. 5 Trong khơng khí trang nghiêm, thanh tịnh, quý thiện nam tín nữ Phật tử
lần lượt thực hiện nghi thức đặt bát hội cúng dường lên chư Tăng. .............................19
Hình ảnh 3. 6 Hình tượng ngơi tháp goijlaf Chơlàmani chêđây trong nghi thức văn hóa.
.......................................................................................................................................20
Hình ảnh 3. 7 Nghi thức tắm tượng phật bằng nước ướp hương, gột rửa những điều
không may mắn năm cũ để sang năm mới mọi sự được như ý. ....................................22
Hình ảnh 3. 8 Các nhà sư thực hiện nghi thức tắm cho sư trụ trì chùa Xồi Xiêm mới
(huyện Trà Cú)...............................................................................................................23
Hình ảnh 3. 9 Nghi thức quy y tam bảo của thanh niên người dân tộc Khmer. ............24
Hình ảnh 3. 10 Mọi người tụ tập xem hát Du kê, một loại hình nghệ thuật đặc sắc của

đồng bào Khmer (Trà Cn) .........................................................................................25
Hình ảnh 3. 11 Người dân Khmer đi diễu hành và múa hát mừng tết Chol Chnam
Thmay ............................................................................................................................26


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phong tục đón năm mới của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh là một trong những
đề tài ít được cập nhật đến nên mọi người vẫn chưa thật sự hiểu rõ về phong tục
đón năm mới của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh nên nhóm em quyết định chọn
đề tài này
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là để mở mang kiến thức, tìm hiểu rõ hơn, biết thêm về
phong tục đón năm mới của người Khmer ở Trà Vinh
3. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phong tục đón năm mới của người Khmer ở tỉnh Trà
Vinh sẽ là đối tượng chính trong đề tài này
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được giới hạn trong phạm vi không gian và thời
gian sau
+Về không gian: tỉnh Trà Vinh
+ Về thời gian: Năm mới
4. Phương pháp nghiên cứu
-

Phân tích tổng hợp lí thuyết

-

Quan sát, tham dự (vì tình hình dịch bệnh nên nhóm chúng em sẽ tìm nghiên
cứu tham khảo những video thực tế liên quan đến đề tài)


-

Phân tích và tổng hợp từ những tài liệu tham khảo, những video thực tế đã
xem, từ lý thuyết

5. Bố cục tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của đề
tài được chia là 4 chương:
Chương 1: Các khái niệm và cơ sở lý luận, thực tiễn
Chương 2: Vấn đề nghiên cứu nhìn từ vấn đề nhận thức
Chương 3: Vấn đề nghiên cứu nhìn từ văn hóa tổ chức
Chương 4: Vấn đề nghiên cứu nhìn từ văn hóa ứng xử

1


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của lồi người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan
hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo
nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác thơng qua q trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và
phát triển trong q trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là
trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và
hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật
chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Khái niệm về văn hóa: Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa

được dùng theo nghĩa thơng dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên
biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn
hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng,
phong tục, lối sống…

1.1.1.2 Phong tục
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong
quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Phong tục khơng mang tính cố định, bắt buộc như nghi
thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày. Nó trở
thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất.
Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chỉ
một dòng họ, gia tộc. Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành
nhiều loại. Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phong

2


tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão... Hệ thống phong tục
liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống
phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người...
1.1.1.3 Tết của người Khmer
Chol Chnam Thmay (hoặc Chaul Chnam Thmay) là lễ hội mừng năm mới theo
lịch cổ truyền của dân tộc Khmer. Chôl nghĩa là Vào và Chnăm Thmay là Năm
Mới. Lễ Chôl Chnăm Thmay cũng là những ngày Tết của Campuchia, Lào,
Thái Lan, Myanma, Sri Lanka. Ngồi tơn giáo chính là Phật giáo, người Khmer
cịn tin rằng mỗi năm có một vị thần trên trời (Têvôđa) được sai xuống để chăm
lo cho cuộc sống và con người trong năm đó, hết năm lại về trời để vị thần khác
xuống hạ giới. Những ngày này trở thành, lễ hội truyền thống của cả cộng đồng.
Tổ chức nhiều trị vui như đốt đèn trời, đốt ơng lói, đánh quay lửa... Các cụ già

kể cổ tích, thần thoại, chuyện cũ cho con cháu nghe.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1 Khái quát lịch sử Trà Vinh
Trước đây vùng đất Trà Vinh còn được gọi là xứ Trà Vang. Tên Trà
Vang vốn có nguồn gốc từ ngơn ngữ Mơn-Khmer cổ mà dân gian thường
gọi là Trah Păng. Tên gọi ấy phản ánh đặc điểm cảnh quan thuở xa xưa của
một vùng đất mới được bồi đắp ở ven sông, ven biển, có nhiều vùng trũng,
đầm lầy, ... Vì vậy, Trà Vinh là tỉnh còn tương đối non trẻ.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền qn quản Cộng hịa miền
Nam Việt Nam vẫn duy trì tỉnh Trà Vinh cho đến đầu năm 1976.
Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Trà Vinh
và tỉnh Vĩnh Long để thành lập một tỉnh mới có tên là tỉnh Cửu Long, tỉnh
lỵ đặt tại thị xã Vĩnh Long. Năm 1986, sau nhiều lần sáp nhập và chia
tách, tỉnh Cửu Long bao gồm thị xã Vĩnh Long (tỉnh lỵ tỉnh Cửu Long), thị
xã Trà Vinh và 12 huyện: Bình Minh, Cầu Kè, Cầu Ngang, Càng

3


Long, Châu Thành, Duyên Hải, Long Hồ, Tam Bình, Tiểu Cần, Trà Cú, Trà
Ôn, Vũng Liêm.
Ngày 26 tháng 12 năm 1991, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ra nghị
quyết giải thể tỉnh Cửu Long để tái lập tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như
cũ. Khi tách ra, tỉnh Trà Vinh có diện tích 2363,03 km², dân số 961.638
người, bao gồm thị xã Trà Vinh và 7 huyện: Càng Long, Cầu Kè, Cầu
Ngang, Châu Thành, Duyên Hải, Tiểu Cần, Trà Cú..
Ngày 4 tháng 3 năm 2010, chuyển thị xã Trà Vinh thành thành phố Trà
Vinh trực thuộc tỉnh Trà Vinh
Ngày 15 tháng 5 năm 2015, thành lập thị xã Duyên Hải trên cơ sở điều
chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Duyên Hải

Ngày 15 tháng 2 năm 2016, thành phố Trà Vinh được cơng nhận là đơ thị
loại II.
Tỉnh Trà Vinh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Trà Vinh,
thị xã Duyên Hải và các huyện: Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Châu
Thành, Duyên Hải, Tiểu Cần, Trà Cú.
1.1.2.2 Địa lý Trà Vinh
Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sơng Cửu Long; vị trí địa lý giới hạn
từ 9°31'46" đến 10°4'5" vĩ độ Bắc và từ 105°57'16" đến 106°36'04" kinh độ
Đơng. Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km đi bằng quốc lộ
53 qua tỉnh Vĩnh Long, khoảng cách rút ngắn thời gian chỉ còn 130 km nếu
đi bằng quốc lộ 60 qua tỉnh Bến Tre, cách thành phố Cần Thơ 50 km. Được
bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cung Hầu và Định An nên giao
thơng đường thủy có điều kiện phát triển
Trà Vinh là tỉnh duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí địa lý:
-

Phía Đơng giáp Biển Đơng với 65 km bờ biển.

-

Phía Tây giáp Vĩnh Long.

4


-

Phía Nam giáp Sóc Trăng với ranh giới là sơng Hậu.

-


Phía Bắc giáp Bến Tre với ranh giới là sơng Cổ Chiên.
Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sơng Tiền và sơng Hậu. Địa hình
chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt
biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo
bình vịng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng này
càng cao và rộng lớn.
Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sơng chính với tổng chiều dài 578 km,
trong đó có các sơng lớn là sơng Hậu và sơng Cổ Chiên. Các sơng ngịi,
kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa
sơng chính là cửa Cổ Chiên hay còn gọi là cửa Cung Hầu và cửa Định An.
Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những
thuận lợi chung như: có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và
ổn định, Tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có
một số hạn chế về mặt khí tượng như gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít,
Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu ơn hịa.

1.1.2.3 Văn hóa của người Khmer
Cũng giống như người Khmer ở Campuchia người Khmer ở Việt Nam đều gìn
giữ và phát huy nền văn hóa lâu đời của mình, một số lễ hội chính của người
Khmer:
-

Lễ hội Pchum Ben (tên gọi ở Campuchia) hay lễ hội Sen Đôn ta (tên gọi
theo người Khmer Krom ở đồng bằng Mekong). Đây là lễ báo hiếu ông bà,
mang ý nghĩa gần giống với lễ Vu Lan ở Việt Nam. Đặc biệt trong lễ Sen
Đôn ta ở vùng An Giang, hằng năm diễn ra một hoạt động rất nổi tiếng là lễ
hội đua bò Bảy Núi.

-


Tết Chol Chnam Thmay là tết mừng năm mới của người Khmer thường bắt
đầu vào tháng 4 dương lịch, ở các nước ảnh hưởng văn hoá Khmer và Phật

5


giáo Ấn như Thái Lan, Lào, Miến Điện cũng có ngày tết tương tự. Trong tết
có 3 ngày lễ chính, sẽ có 1 ngày gọi là ngày Songkran.
-

Ok-om-bok (lễ cúng trăng). Trong tháng lễ có các hoạt động đua ghe ngo
truyền thống có quy mơ lớn như tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và vào ngày cuối
cùng của đêm lễ Ok-om-bok sẽ diễn ra nghi thức thả đèn trời, thả hoa đăng.

Các lễ hội Phật giáo:
Song-ka-tun (Trai Tăng)
Ka-thina (Dâng Y)
Maggha Bochea (Rằm tháng Giêng)
Vesakha Bochea (Rằm tháng Tư)
Vassa (An cư kiết hạ)
1.1.2.4 Một số nghĩ lễ và niềm tin của người Khmer trong năm mới
-

Thường tổ chức khoảng đầu tháng Chét của lịch Phật giáo Khmer (khoảng giữa
tháng 4 dương lịch). Kéo dài trong 3 ngày, năm nhuận kéo dài 4 ngày, tên gọi
mỗi ngày tết khác nhau. Hằng năm đến trung tuần tháng tư dương lịch, đông
bào khmer tổ chức lễ Chol Chnam Thmay, tức là tết chịu tuổi của dân tộc. Từ
xa xưa, Chol Chnam Thmay đã trở thành ngày lễ hội truyền thống của dân tộc
Khmer. Tết này, gắn chặt với nghi lễ của các cư dân nông nghiệp làm lúa nước

và một số nghi thức Phật giáo Tiểu thừa. Điều đó thể hiện rõ trong sự tích Chol
Chnam Thmay và các nghi thức của buổi lễ.[7] [Các lễ hội truyền thống của
đồng bào Khmer,1998, tr9]
Theo lệ thường hằng năm, gần đến Chol Chnam Thmay, khắp phum sóc lại
nhộn nhịp hẳn lên, Người ta chuẩn bị mọi thứ để mừng lễ tết, trong đó bao gồm
cả vấn đề ăn, mặc, trang trí nhà cửa, mua sắm quần áo, sửa sang đường sá, cầu
cống. Đặc biệt là việc chuẩn bị mọi thứ đón tết ở các chùa …
Cận ngày tết Chol Chnam Thmay, đi phum sóc, các chùa và các gia đình, đâu
đâu cũng thấy mọi người chuẩn bị các thứ cho dịp lễ. Tùy theo hoàn cảnh và
điều kiện kinh tế của địa phương và gia đình, họ chuẩn bị với quy mô và mức
độ khác nhau. Dọc theo các con đường vào phum sóc, vào các ngơi chùa và đi
đến từng nhà, đều được dọn dẹp sạch sẽ. Có nơi, ở các cổng chào, người ta

6


trang trí cờ hoa rực rỡ, kèm các khẩu hiệu mừng năm mới… Ở từng chùa, các
vị sư và tín đồ làm vệ sinh từ ngoài cổng cho đến sân chùa và vào trong các
ngôi chánh điện, sala, liêu…Ở từng gia đình, đồng bào tổ chức sơn cửa, qt
vơi tường trang trí và sắp xếp bánh trái, bơng hoa đẹp đặt trên bàn thờ Phật và
bàn thờ ơng bà.
Ngồi việc sắp xếp bơng, trái để đón vị thần năm mới theo quan niệm của đồng
bào dân tộc, người ta còn quan tâm đến việc mua sắm quần áo mới cho mọi
người. Đồng thời chuẩn bị gạo xay bột, đậu các loại lá chuối, lá dừa, tìm kiếm
dây nho, củi đuốc... để làm các đại bánh trái. Trong những ngày lễ Chôl
Chhnăm Thmây, ta thường gặp các loại bánh mà đồng bào hay làm như num
chruk ( bánh tét ), num tean ( bánh ít , num knhậy ( bánh gừng) num trom, num
tom be (bánh men )... Các bại bánh này, được làm trước lễ tết một hai ngày dê
đành cúng, đi chùa và tiếp khách trong mấy ngày lễ tại gia đình.
Thời gian tiến hành lễ đúng theo tập tục từ xưa đến nay là ba hoặc bốn ngày

đêm. Ngày bắt đầu Chôl chhnăm thmay bao giờ cũng như nhau. Ngày đó, dựa
vào âm lịch Khmer được chọn theo chu kì của 365 ngày, nó dao động từ ngày
mồng 06 tháng 5 đến ngày mồng 06 tháng 6. Trước đây, có nơi tổ chức kéo dài
từ một đến hai tuần nhưng hiện nay, xu hướng chung là làm ba ngày đêm.
Trong ba hoặc bốn ngày ba đêm đó, mọi công việc ruộng rẫy đều dừng lại,
người giúp việc trong nhà cũng được nghỉ ngơi vui chơi giải trí. Những người ở
xa gia đình đều trở về sum họp với gia đình trong ba ngày tết. Mọi người mặc
đẹp, ăn nói và cư xử với nhau một cách lịch sự. Ba ngày lễ Chôl Chhnăm
thmây, đồng bào dân tộc Khmer rất kiêng cữ việc cãi vã, chửi mắng nhau. Kể
cả trâu bị trong gia đình, người ta cũng tránh đánh đập, tất cả trâu bị đều được
cho nghỉ ngơi.
Lễ Chơl Chhnăm thmây được tổ chức vào giai đoạn kết thúc mùa nắng, là thời
kì đa số nơng dân được rảnh việc (theo quan niệm sản xuất một vụ mùa lúa
trước đây). Đó là thời gian nhằm tạo điều kiện đồng bào cịn có dịp vui chơi

7


giải trí, sau một năm làm lụng vất vả. Đồng thời cũng là lúc chuẩn bị cho vụ
mùa năm mới.
Ý nghĩa của nó, khơng chỉ thể hiện quan niệm của đồng bào Khmer về chu kì
chuyển vận của một năm, lấy mùa mưa làm mốc để đánh dấu thời gian, mà còn
nhằm giáo dục con người về tấm lòng hiếu thảo, về nước mơ hạnh phúc, về ý
thức hướng thiện và ông biết ơn đối với ông bà, cha mẹ và những người có
cơng đã qua đời.[8][Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer,1998,tr17]

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NHÌN TỪ VĂN HĨA NHẬN THỨC

2.1.


Nguồn gốc ra đời của lễ hội Chol Chnam Thmay
Dân tộc Khmer là một trong những dân tộc nhiều lễ hội diễn ra hằng năm gắn
với đời sống sinh hoạt cộng đồng. Nguồn gốc của các lễ hội, các nghi lễ và các
hoạt động được tổ chức trong lễ hội phần lớn xuất phát từ truyện kể dân gian.
Để giải thích cho nguồn gốc của lễ Chơl Chnam Thmay, người ta dự vào sự tích
Chol Chnam Thmay- một câu chuyện kể đặc sắc về phong tục người khmer. Đó
là câu chuyện xoay quanh nhân vật Thom Ma Bal. Câu chuyện có lẽ ra đời vào
lúc đạo Bà La môn dần dần mất đi vị thế thống trị tâm linh của mình trong xã
hội người Khmer để nhường chỗ cho Phật giáo Theraveda với chi tiết vị thần
tối cao của bà la mơn lại thua trí một cậu bé 7 tuổi.

2.2.

Sự tích Chol Chnam Thmay
Sự tích Chol Chnam Thmay được lưu truyền như sau: Ngày xưa có một cậu bé
tên Thom Ma Bal rất thơng minh, lúc bảy tuổi đã đem sựu hiểu biết của mình
truyền bá cho mọi người. Dân chúng rất thán phục và rất thích nghe cậu thuyết
giảng.
Tiếng đồn về tài trí của Thom Ma Bal ngày càng lan rộng, chẳng mấy chốc đxa
vang lên tận thượng giới. Các vị thiên thần cũng xuống trần gian nghe Thom

8


Ma Bal thuyết giảng. Do vậy, những buổi thuyết giảng của thần Ka Bưl Ma ha
Prưm trên thượng giới ngày càng vắng vẻ.
Thần Ka Bưl Ma ha Prưm vốn rất có uy thế trên thượng giới. Nay Thần nghe ở
trần gian có kẻ hơn mình, lấy làm tức giận, Thần cho gọi hết các vị thiên thần
trở về, cấm không cho xuống trần gian nghe thuyết giảng. Đồng thời Thần tìm
cách hãm hại Thom Ma Bal. Một hơm, lúc Thom Ma Bal đang thuyết giảng cho

dân chúng nghe, Ka Bưl Ma ha Prưm xuất hiện và phán ràng:
- Ta nghe đồn ngươi thông minh xuất chúng, những ta chưa tin điều ấy. Nay ta
đặt cho ngươi ba câu đố, nếu ngươi giải đáp đúng, ta sẽ cắt đầu mình trước mặt
ngươi. Cịn nếu khơng giải đáp được, thì ngươi phải dâng mạng sống cho ta.
Không thể từ chối được Thom Ma Bal đành phải chấp nhận trả lời câu hỏi.
Thần Ka Bưl Ma ha Prưm liền đặt câu hỏi:
- Ngươi hãy cho biết: buổi sáng, duyên của con người ở đâu ? Buổi trưa, duyên
con người ở đâu ? Buổi tối, duyên của con người ở đâu ?
Hỏi xong Thần Ka Bưl Ma ha Prưm hẹn bảy ngày sẽ trở lại nghe Thom Ma Bal
giải đáp. Đến ngày thứ sáu rồi mà cậu bé vẫn chưa tìm được câu trả lời, cậu đi
lang thang từ sáng đến trưa. Quá mệt mỏi và thất vọng, chàng nghỉ mệt dưới
gốc cây thốt nốt.
Lúc ấy, trên đọt cây thốt nốt có hai con chim đại bàng đang nói chuyện với
nhau. Con chim mái hỏi chim trống:
- Ngày mai ta sẽ đi ăn ở đâu?
- Ngày mai ta sẽ ăn thịt Thom Ma Bal, chim trống đáp.
Chim mái ngạc nhiên:
- Tại sao ăn thịt Thom Ma Bal?
Chim trống thuật lại chuyện thần Ka Bưl Ma ha Prưm yêu cầu Thom Ma Bal
phải trả lời câu hỏi thách đố của thần. Nghe xong chim mái hỏi:
- Vậy có ai giải đáp được khơng?
Chim trống tự đắc đáp: ta đã nghe thần Ka Bưl Ma ha Prưm nói là:
- Buổi sáng, duyên của con người ở trên mặt, nên ngủ dậy người ta phải rửa mặt
cho tươi tỉnh. Buổi trưa, duyên của con người ở trên ngực, nên người ta phải

9


tắm cho mát. Buổi tối, duyên của con người ở dưới bàn chân, nên người ta
thường rửa chân cho sạch trước khi đi ngủ.

Thom Ma Bal ngồi dưới gốc cây, nghe được lời nói chuyện của đơi chim nên
rất mừng rở và trở về nhà.
Hôm sau đúng hẹn, thần Ka Bưl Ma ha Prưm tay cầm gươm vàng, đáp xuống
gặp Thom Ma Bal. Y lời chim trống nói hơm qua, Thom Ma Bal trả lời ba câu
hỏi đó của thần Ka Bưl Ma ha Prưm.
Điều mà Thom Ma Bal trả lời hồn tồn chính xác. Thần Ka Bưl Ma ha Prưm
thua cuộc ngửa mặt lên trời gọi bảy người con gái xuống trần gian bảo: “Cha đã
thua trí Thom Ma Bal rồi. Theo lời hứa, cha phải chết. Các con hãy cất giữ đầu
của cha trong tháp trên đỉnh núi Kaylas, nơi người trần không chạm đến được.
Các con hãy cẩn thận, nếu để đầu cha rơi xuống biển, biển sẽ cạn, nếu để đầu
cha tung lên khơng trung thì trời khơng có mưa và nếu để đầu cha trên mặt đất
thì đất sẽ khơ cằn, cỏ cây khơng mọc được”.
Dặn các con xong, Thần tự cắt cổ trao đầu mình cho con gái lớn và thân của
thần biến thành một luồng ánh sáng bay vút lên không trung.
Ngày nay, khi đến bất kì ngơi chùa nào của người Khmer, ngta vẫn thường thấy
đầu của thần Ka Bưl Ma ha Prưm (Thần Bốn Mặt) được thờ trong các tháp xây
trong chùa và nơi đặt đầu của thần cũng chính là vị trí trung tâm, là bàn thờ
chính trong các nghi lễ tôn giáo cũng như các nghi lễ truyền thống được tổ chức
trong chùa.
Xét về góc độ tơn giáo thì đây là sự tích thể hiện cuộc đấu tranh giữa Phật giáo
và đạo Bà La Môn, thần Ka Bưl Ma ha Prưm là biểu tượng của đạo Bà La Mơn,
cịn cậu bé Thom Ma Bal là biểu tượng của Phật giáo. Nó cịn có ý nghĩa xã hội
rất sâu sắc thể hiện qua việc Thom Ma Bal thuyết giảng cho chư thần nghe và
việc thần Ka Bưl Ma ha Prưm chặt đầu mình sau khi thua cuộc khơng chỉ khẳng
định sự thắng thế của Phật giáo trong xã hội của đồng bào Khmer lúc bấy giờ
mà còn thể hiện sự bình đẳng giữa chúng sinh với nhau, khơng phân biệt đẳng
cấp như quy định của đạo Bà La Môn trước đây. Nó cịn là sự khẳng định sự

10



thắng lợi của con người ở trần gian đối với các thiên thần trên thượng
giới.[9][Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer,1998,tr10]
2.3.

Quan niệm tết của người khmer ở Trà Vinh
Lễ Chôl Chhnăm thmây được tổ chức vào giai đoạn kết thúc mùa nắng, là thời
kì đa số nơng dân được rảnh việc (theo quan niệm sản xuất một vụ mùa lúa
trước đây). Đó là thời gian nhằm tạo điều kiện đồng bào cịn có dịp vui chơi
giải trí, sau một năm làm lụng vất vả. Đồng thời cũng là lúc chuẩn bị cho vụ
mùa năm mới.
Ý nghĩa của nó, không chỉ thể hiện quan niệm của đồng bào dân tộc Khmer,
đây là lúc giáp nối giữa mùa nắng và mùa mưa, là thời kì kết thúc mùa nắng và
mùa mưa. Giai đoạn này, cỏ cây trở lại tươi tốt và thiên nhiên trỗi dậy sức sống.
Chính sự đâm chồi nảy lộc của cỏ cây và sự bừng lên của thiên nhiên đã được
đồng bào quan niệm như là sự khởi đầu của một năm mới, gọi là Chol Chnam
Thmay (vào năm mới), lấy mùa mưa làm mốc để đánh dấu thời gian, mà còn
nhằm giáo dục con người về tấm lòng hiếu thảo, về nước mơ hạnh phúc, về ý
thức hướng thiện và ông biết ơn đối với ông bà, cha mẹ và những người có
cơng đã qua đời.[10][Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer,1998,tr29]

2.4.

Tín ngưỡng về ngày tết của người khmer ở Trà Vinh
Ý nghĩa đón tết của người Khmer cũng khơng khác gì ý nghĩa ngày tết cổ
truyền của các dân tộc khác, tuy cách tổ chức và tập tục có khác nhau. Song, vì
người Khmer là dân tộc theo đạo Phật, coi ngôi chùa như một trung tâm sinh
hoạt văn hóa của cộng đồng, do vậy mà ngoài một số lễ nghi được tổ chức tại
từng nhà, phần lớn bà con đều tập trung tại chùa để thực hiện các nghi thức,
nghi lễ và cùng sinh hoạt vui chơi giải trí tại đó. Vì thế, trước thời điểm của

những ngày tết khoảng từ một tháng đến một tuần, tại hầu hết các ngôi chùa
Khmer, cũng như tại từng hộ gia đình, người ta tiến hành dọn dẹp nhà cửa thật
sạch sẽ, ngăn nắp, đôi khi người ta còn phải tu bổ lại một số cơng trình kiến
trúc trong chùa cho thật khang trang, nhất là các ngôi tháp thờ hài cốt của thân
nhân họ hàng để làm sao đón mừng năm mới thật có ý nghĩa… Riêng đối với
11


từng gia đình trong phum sóc, ngồi việc dọn dẹp nhà cửa, bà con còn chuẩn bị
các loại bánh trái như: bánh tét, bánh ít, bánh gừng, hoa quả, nhang đèn để đem
vào chùa dâng cúng cho Chư Phật, các vị Chư Tăng, thánh thần; đồng thời cũng
để tiếp khách khi có người đến thăm

CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NHÌN TỪ VĂN HĨA TỔ CHỨC

3.1.

Các giai đoạn chính trong ngày tết của người Khmer ở Trà Vinh

3.1.1. Những ngày cuối năm
Để chuẩn bị đón Tết cổ truyền, từ nhiều tuần trước đó, ngồi việc dọn dẹp nhà
cửa, chuẩn bị quần áo mới, bà con còn chuẩn bị các loại bánh trái như: bánh tét,
bánh ít, bánh gừng, hoa quả, nhang đèn để đem vào chùa dâng cúng Chư Phật,
Chư Tăng, thánh thần…Người Khmer có cuộc sống tâm linh hướng về thế tục
và có quan niệm rằng cuộc sống hiện tại chỉ là cõi tạm, con người sống phải
tích phước bằng cách tu bổ, sắm sửa cho nhà chùa để kiếp sau có cuộc sống an
nhàn, sung túc hơn.

12



Hình ảnh 3. 1 Bánh Tét, loại bánh khơng thể thiếu trong những lễ vật dâng cúng ngày
Tết của người Khmer.
Nguồn: MOITRUONG.NET.VN
Nhưng quan trọng hơn cả là việc người dân tự nguyện góp cơng, góp của tu bổ,
sửa sang chùa ở phum sóc nơi gia đình đang sinh sống. Vào ngày trước Tết,
ngôi chùa của người Khmer như bừng lên một sức sống mới. Tượng Phật, chính
điện, cổng chào được sơn son thiếp vàng, khn viên chùa trang hồng lộng
lẫy.

13


Hình ảnh 3. 2 Để đón Tết Chol Chnam Thmay rộn ràng, trang trọng, bà con phật tử vệ
sinh, quét dọn chánh điện, sala, khuôn viên chùa
Nguồn: Uỷ Ban Mặt Trận Tỉnh Tiền Giang
Người Khmer vốn có truyền thống văn hóa phong phú và lâu đời nhưng đặc điểm
riêng biệt và độc đáo là mọi sinh hoạt văn hóa đều gắn bó với chùa chiền, tơn giáo đạo
Phật. Hầu như tất cả các lễ hội lớn nhỏ trong năm đều được thực hiện tại ngơi chùa là
chính.

14


Hình ảnh 3. 3 Các ngơi chùa cũng được trang trí thêm đèn, cờ, hoa.
Nguồn: VOV

3.1.2. Đêm giao thừa
Đêm giao thừa nhà nhà đều thắp nhang, đèn, làm lễ đưa Têvêđa cũ và rước
Têvêđa mới. Têvêđa, theo người Khmer là vị tiên được trời sai xuống để lo cho

dân chúng trong một năm. Sau đó, mọi nghi thức quan trọng đón Tết đều diễn
ra tại chùa.

15


Hình ảnh 3. 4 Lễ đón Têvada (cịn gọi là bà Tiên, Chư Thiên) xuống trần để chăm lo
đời sống của người dân
Nguồn: Báo Ảnh Việt Nam
Gia đình nào có con trai đến tuổi đi tu thì dẫn vào chùa làm lễ thí phát, quy y.
Nhiều nhà cịn ở trong chùa suốt những ngày Tết. Dưới mái chùa chung của cả
phum sóc, mọi người đều hướng lịng thành kính về Đức Phật, tưởng nhớ đến
ông bà tổ tiên và đặt hy vọng vào một năm mới an lành.
3.1.3. Những ngày đầu năm
❖ Ngày đầu tiên có tên: Maha Songkran (Chơl sangkran thmây)
Ngày thứ nhất, (hiện nay ngày đầu của năm bình thường được tính chính xác là
13 tháng 4 dương lịch, còn năm nhuận thi nhằm ngày 14 tháng 4 dương lịch)
con cái tổ chức đi thăm và dâng quà, bánh trái cho ông bà, cha mẹ, người thân
hoặc những người có ân đức với mình. Qua đêm tiễn đưa năm cũ, sáng hôm sau
người ta tổ chức rước năm mới Công việc đầu tiên là đồng bào tổ chức rước
Mahasoongkran (tức cuốn đại nông lịch Khmer). Lúc tổ chức rước, cuốn dại

16


nông lịch được đặt trên chiếc khay đội lên đầu, mọi người sắp xếp lại thành
đoàn và đi tuần hành ba vịng xung quanh ngơi chánh điện. Đồn tuần hành
nước đại nông lịch được tổ chức chu đáo. Dẫn đầu đồn tuần hành là chằn
mang mặt nạ trơng oai vệ, tay cầm gây múa mở đường; tiếp theo là đói trong
chhay dám hoặc dàn nhạc ngu âm... Cách tổ chức như vậy, vừa thể hiện tình

nghiêm trang nhưng đồng thời cũng tạo nên sự vui vẻ. Sau đó, đồng bào phật tử
vào chánh điện tụng kinh đón chờ đúng thời điểm rước vị thần năm mới. Xong
lễ rước năm mới, những người lớn tuổi ngồi nghe các vị sư thuyết pháp. Nội
dung thuyết pháp trong dịp này là kể về thân thế sự nghiệp của Đức Phật Thích
Ca và các vị sư tụng kinh chúc mừng năm mới. Còn thanh niên nam nữ thì tố
chức các trị chơi dân gian như kéo Co, bịt mắt, đá gà, chôl chung hoặc chơi các
mơn thể thao khác như nhảy bao, đánh bóng chuyền...
❖ Ngày thứ hai có tên: Wanabat (Wonbơf)
Ngày thứ hai, (gọi là ngày Vonabot, năm nhuận 2 ngày, năm thường 1 ngày)
đồng bào tổ chức dâng cơm sáng và trưa cho các vị sư. Trước khi độ cơm, các
vị sư tụng kinh làm lễ tạ ơn những người đã làm ra vật thực và cũng để đưa vật
thực đến các linh hồn ông bà đã quá cố. Sau khi độ xong, các vị sư lại tụng kinh
chúc phúc cho thí chủ. Tất cả những vật thực do lòng từ thiện của thí chủ mang
đến dù ngon hay dở, các vị sư cũng phải độ một chút gọi là nhận lễ. Trưa hơm
đó, người lớn tổ chức bốc thăm theo quy định để nghe các nhà sư thuyết pháp.
Theo quan niệm của đồng bào dân tộc Khmer, mục đích bốc thăm nghe thuyết
pháp là nhằm đoán sự may rủi trong năm. Riêng lớp trẻ thì tổ chức vui chơi văn
nghệ như rom vong, hát aday đối đáp, chơi chhay dăm hoặc xem rô băm, du kê,
phim ảnh...Cũng trong ngày này, đồng bào tổ chức lễ đắp núi cát hoặc núi lúa
xung quanh ngôi chánh điện. Các vị Achar hướng dẫn bà dẫn bà con đắp thành
những ngọn núi nhỏ ở tám hướng. Những núi này tượng trưng cho vũ trụ, mỗi
múi một hướng và núi thứ chín ở giữa tức núi someru, trung tâm của Trái Đất
(mặt khác các ngọn núi còn là biểu tượng tượng trưng ước mơ cầu cho năm mới
trở nên giàu có, của các chất cao như núi). Buổi chiều, lọ tổ chức quy y cho các
mô hình núi. Sáng hơm sau thì làm lễ xuất thế cho các ngọn núi đó. Tất cả các

17


nghi lễ này được lưu truyền và giữ gìn, theo Phật giáo gọi là Anisoong pun

phnum khsách (phúc duyên đắp núi cát). Tập tục này cũng theo một sự tích
khác, có từ lâu đời. Sự tích kể về một người làm nghề săn bắn, từ trẻ đến già đã
giết nhiều loài thú. Nhưng nhờ dâng tim cho các sự đi khất thực nên ơng được
một nhà sự hướng dẫn tích phước bằng cách đắp núi cát trong một ngôi chùa
gần nơi ơng ở.
Về già, ơng đau yếu. Ơng ln bị ám ảnh bởi nghề nghiệp, thấy các bầy thú
hung hăng đến đòi oan nghiệt. Nhờ phước đức đã từng đắp núi cát, ông tỉnh táo
bảo với bầy thú rằng: cứ đếm hết những hạt cát mà ông đã đến rồi hãy đến địi
nợ ơng.
Bọn thú đồng ý, cùng nhau đi đếm cát nhưng không tài nào đếm hết. Chán ngán,
chúng kéo nhau đi và người thợ săn cũng hết bệnh. Từ đó, ơng cố gắng tích đức
làm việc thiện cho đến khi chết. Sau khi chết, ông được lên cõi Tiên.
Do sự tích này, mà đồng bào Khmer vẫn giữ tập tục đắp núi cát cho đến ngày
nay.
❖ Ngày thứ ba có tên: Tngai Laeung Saka (Lơng săk)
Ngày thứ ba (ngày Long sắk), sau khi dâng cơm sáng và trưa cho các vị sư
người ta đem nước ướp hương thơm cùng với nhang đèn đến đền thờ Phật làm
lễ tắm tượng Phật. Kế tiếp là tắm cho các sư sãi cao niên. Ở từng gia đình người
ta cũng tổ chức tắm rửa cho ông bà, cha mẹ và thay bộ quần áo mới do con cái
hiến dâng... Mục đích việc tắm rửa này, theo quan niệm của đồng bào là để tẩy
rửa mọi ô uế bụi trần của năm cũ và chúc phúc, chúc thọ cho những người lớn
tuổi. Xong nghi thức lễ tại chùa, người ta mời sự sãi đến các ngôi tháp đựng hài
cốt, hoặc đến các nghĩa trang, mộ lé làm lễ cầu siêu (băng sköl) cho vongw
những người quá cố. Riêng từng gia đình thì tổ chức đắp mộ của ông bà, cha
mẹ hoặc những người thân đã qua đời và mời các vị sư đến đọc kinh cầu siêu để
kết thúc lễ.

3.2.

Sơ nét các hoạt động chính trong ngày tết Chol Chnam Thmay ở Trà Vinh


3.2.1. Đặt bát hội

18


×