MỤC LỤC
Trang
PHẦN THỨ NHẤT.............................................................................................1
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VỀ ĐẢNG BỘ HUYỆN NGHI XUÂN........1
I. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa của huyện Nghi Xuân....1
II. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của huyện ủy Nghi Xuân........4
2.1. Chức năng.....................................................................................................4
2.2. Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan................................................................4
2.2. Cơ cấu tổ chức Huyện uỷ Nghi Xuân...........................................................5
2.2.1. Ban Tuyên giáo..........................................................................................6
2.2.2 Ban Tổ chức...............................................................................................7
2.2.3 Ban Dân vận...............................................................................................9
2.2. 4 Ban Kiểm tra..............................................................................................10
PHẦN THỨ HAI: ĐỀ TÀI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CÔNG
TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở ĐẢNG BỘ HUYỆN NGHI XUÂN TRONG
TÌNH HÌNH HIỆN NAY.......................................................................................13
LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................................13
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG TA VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA,
GIÁM SÁT...........................................................................................................16
1.1. Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát................................................16
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng
ta về cơng tác kiểm tra, giám sát.........................................................................17
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở ĐẢNG BỘ
HUYỆN NGHI XUÂN TRONG 3 NĂM (2008 ;2009; 2010)............................20
2.1. Thực trạng về công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ huyện Nghi Xuân trong
tình hình hiện nay................................................................................................20
1
2.1.1. Tình hình chung của Đảng bộ huyện Nghi Xuân......................................20
2.1.2. Chất lượng đội ngũ giáo viên, cấp ủy và ủy ban kiểm tra của Đảng bộ
huyện Nghi Xuân.................................................................................................20
2.2. Kết quả hoạt động công tác kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ huyện Nghi Xuân..........23
2.2.1. Cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám
sát.........................................................................................................................24
2.2.2 Ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định
(Điều 19)..............................................................................................................26
2.2.2. Thực hiện nhiệm vụ giám sát tổ chức Đảng và đảng viên.........................28
2.2.4. Thi hành kỷ luật trong Đảng......................................................................29
2.2. Nguyên nhân và kinh nghiệm.......................................................................31
2.2.1. Nguyên nhân..............................................................................................31
2.2.2. Bài học kinh nghiệm..................................................................................33
CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC KIỂM
TRA,GIÁM SÁT Ở ĐẢNG BỘ HUYỆN NGHI XUÂN TRONG TÌNH HÌNH
HIỆN NAY..........................................................................................................34
3.1. Phương hướng và mục tiêu...........................................................................34
3.1.1. Phương hướng...........................................................................................34
3.1.2. Mục tiêu chủ yếu.......................................................................................34
3.2. Những giải pháp chủ yếu..............................................................................35
3.2.1. Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát..................36
3.2.2. Những giải pháp tăng cương công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ....38
3.2. Một số kiến nghị, đề xuất.............................................................................39
KẾT LUẬN.........................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................42
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................43
2
PHẦN THỨ NHẤT
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VỀ ĐẢNG BỘ HUYỆN NGHI XUÂN
I. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa của
huyện Nghi Xn
Nghi Xn là huyện nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, cách thị xã
Hà tĩnh 56 km và cách thị xã Hồng Lĩnh 15 km về phía Bắc, cách thành phố
Vinh (Nghệ An) 7 km về phía Nam, có Quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng
12 km.
Có vị trí địa lí từ 18031’00’’
- 18045’00’’
vĩ độ Bắc;
105039’00’’ - 105051’00’’ kinh độ Đơng.
Tồn huyện có 19 đơn vị hành chính cấp xã và hai thị trấn với tổng diện
tích tự nhiên là 22004.14 ha. Thị trấn Nghi Xn là trung tâm kinh tế, văn hố,
chính trị của huyện, cách thành phố Vinh 10 km về phía nam, cách thị xã Hà
Tĩnh 50 km về phía Bắc. Nghi Xn có bờ biển dài 32 km, sơng Lam chảy phía
Bắc huyện với chiều dài trong địa phận huyện là 28 km, đường quốc lộ chạy qua
phần phía Tây của huyện dài 11 km, đường 22/12 nối từ ngã ba thị trấn Nghi
Xuân và chạy xuyên qua các xã ven biển của huyện đến các xã của huyện Can
Lộc, Thạch Hà và thị xã Hà Tĩnh. Huyện lại gần một số cảng sông (Bến Thuỷ,
Xuân Hội) và cảng biển (Cửa Lị, Cửa Hội). Với vị trí địa lí như vậy nên rất
thuận lợi cho giao lưu thông thương với các tỉnh, các trung tâm kinh tế, xã hội
trong và ngồi nước.
Nghi Xn có địa hình đặc trưng của tỉnh Hà Tĩnh cũng như của khu vực
miền Trung (địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đơng Băc, phía Tây Bắc dọc
theo ranh giới của tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An là con sơng La, phía Tây Nam
chắn bởi dãy núi Hồng Lĩnh, kế tiếp là dãi đồng bằng nhỏ hẹp ven núi Hồng
Lĩnh, cuối cùng là bãi cát ven biển và Biển Đơng). Địa hình được chia làm 3
vùng:
3
- Vùng 1: Bao gồm phù sa sông Lam và cát biển phía Bắc. gồm 10 xã
Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Tiên Điền, thị trấn Nghi Xuân,
Xuân Giang, thị trấn Xuân An, Xuân Hồng, Xuân Lam;
- Vùng 2: Thuộc dãy núi Hồng Lĩnh nằm ở phía Nam. Đây là những dãy
núi đá có độ dốc lớn, chủ yếu là đá Mácma axit, cao nhất là đỉnh núi Ông (+676
m so với mặt nước biển). Gồm Cương Gián, Cổ Đạm, Xuân Liên, Xuân Thành,
Xuân Viên, Xuân Lĩnh, Xuân Hồng, Xuân Lam.
- Vùng 3: Bao gồm các dãy cồn cát ven biển kéo dài dọc theo bờ biển, tạo
bởi các dãy đụn cát. Vùng này có tiềm năng phát triển kinh tế biển và dịch vụ du
lịch nghỉ mát gồm: Cương Gián, Xuân Liên, Cổ Đạm, Xuân Thành, Xuân Yên,
Xuân Hải, Xuân Phổ, Xuân Đan, Xuân Trường, Xuân Hội.
Tình hình kinh tế - xã hội: Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện
lần thứ 33 (nhiệm kỳ 2005- 2010); kinh tế tiếp tục tăng trưởng, kết cấu hạ tầng
được tăng cường, đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên, bộ mặt nơng
thơn có nhiều khởi sắc. Các chỉ tiêu kinh tế hàng năm đều đạt và vượt so với kế
hoạch đề ra. Tổng giá trị sản xuất đến năm 2010 đạt 1,719 tỷ đồng, tăng 733 tỷ
đồng, đạt 93,15% so với năm 2009; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt
10,4%, bình quân người 15,2 triệu đồng/năm; tỷ trọng ngành công nghiệp xây
dựng đạt 22,9; thương mại - dịch vụ đạt 30,3%.
Sản xuất nông - lâm - thủy sản tiếp tục ổn định và phát triển khá; tổng sản
lượng lương thực 9 vạn tấn. Đi đôi với trồng trọt chăn nuôi tiếp tục phát triển
mạnh nhờ làm tốt phòng chống dịch bệnh, chống rét cho gia súc, gia cầm nên
tổng đàn trâu bò 37.000 con, tổng đàn lợn 72.700 con. Cả huyện có 142 trang
trại, có 30 trang trại cho thu nhập từ 80 đến 300 triệu đồng/năm. Chăn nuôi cá
với 700 ha ao hồ.
Công nghiệp - Tiểu thủ cơng nghiệp - xây dựng có bước chuyển biến khá,
giá trị sản xuất CN - TTCN tăng bình quân hàng năm 3% các sản phẩm chủ yếu
như gạch nung, khai thác đá xây dựng, cát sỏi, chế biến bún bánh, và một số mơ
hình như sản xuất mộc cao cấp, mây tre đan...
4
Dịch vụ thương mại đạt tỷ trọng 36,1%. Hàng hóa dịch vụ ngày càng đa
dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất và đời sống dân sinh.
Về xây dựng kết cấu hạ tầng: Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, phát huy
tốt tiềm năng, nội lực trong nhân dân và sự quan tâm của cấp trên nên mấy năm
qua các cơng trình được đầu tư xây dựng đồng bộ. Tổng số đường bê tông nhựa
và bê tơng xi măng tồn huyện là 131km/144km đường giao thơng nông thôn,
kênh xây đạt 320km, chiếm 87% tổng số kênh mương phải kiên cố hóa; cùng
với giao thơng, thủy lợi, kết cấu hạ tầng như hệ thống điện, trạm xá, trường học
được đầu tư xây dựng ngày một hoàn chỉnh...
Văn hóa xã hội tiếp tục được quan tâm, ngày càng được xã hội hóa; tạo
được sự chuyển biến tích cực và có mặt đạt kết quả vượt bậc.
Chất lượng giáo dục đại trà, mũi nhọn được nâng lên, phong trào thi đua
dạy tốt, học tốt phát triển rộng. huyện đã hồn thành phổ cập THCS, có 100% số
xã có trường học cao tầng 52 trường đạt chuẩn quốc gia. Năm 2010, có 581 em
trúng tuyển vào đại học, cao đẳng.
Cơng tác y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân, cơng tác dân số kế hoạch hóa
gia đình, chăm sóc bảo vệ trẻ em được thực hiện khá tốt. Các chương trình quốc
gia về y tế triển khai có hiệu quả. Có 18 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ diễn ra sơi nổi, phong trào tồn dân
đồn kết xây dựng đời sống văn hóa thực hiện tốt, các xã đều có sân bóng đá,
nhà văn hóa, các xóm đều có điểm sinh hoạt, vui chơi, cơ quan đạt đơn vị văn
hóa cấp tỉnh. 71% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 100% xóm xây dựng
hương ước, quy ước.
Thực hiện tốt cơng tác chính sách xã hội và chính sách người có cơng với
cách mạng cũng như các chính sách xã hội khác. Ngồi việc thực hiện tốt chính
sách theo quy định của nhà nước, huyện Nghi Xuân là huyện đi đầu trong các
hoạt động cụ thể, thiết thực như xóa nhà tranh tre, dột nát; ngói hóa nhà ở, tặng
quà, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các đối tượng thương binh, liệt sĩ; thực hiện
5
tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn liên tục được khơi dậy,
quỹ đền ơn đáp nghĩa thu được hàng trăm triệu đồng.
Thực hiện tốt chương trình xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, xây
dựng nơng thơn mới.
Về an ninh - quốc phịng: An ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội được
giữ vững; cơng an, quân sự hàng năm đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thực
hiện tốt xây khu vực phòng thư, xây dựng cơ sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến
đầu. Nhiều năm liền được Đảng và Nhà nước công nhận đơn vị quyết thắng.
II. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của huyện ủy
Nghi Xuân
2.1. Chức năng
Cơ quan Đảng bộ huyện Nghi Xuân gọi tắt là Huyện ủy Nghi Xuân có
chức năng tham mưu tổng hợp cho Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về tình
hình cơng tác xây dựng Đảng trên địa bàn huyện.
2.2. Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan.
Theo điều 8 quyết định số 31-QĐ/TW ngày 01 tháng 10 năm 1997 của Bộ
chính trị quy định về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của
Đảng thì cơ quan Huyện ủy Nghi Xuân có nhiệm vụ quyền hạn sau:
- Chỉ đạo, giải thích, hướng dẫn việc thi hành các Nghị quyết, Nghị định,
Chỉ thị của Ban chấp hành Đảng bộ cấp trên với cơ quan, Đảng ủy thuộc phạm
vi lãnh đạo.
- Ra quyết định, chỉ thị tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thi hành các
văn bản đó.
- Huyện uỷ Nghi Xuân có nhiệm cụ tham gia , chuẩn bị và chủ trì kỳ họp
Ban thường vụ Huyện uỷ.
- Tuyên truyền phổ biến công tác Đảng rộng rãi trong quần chúng nhân
dân , động viên mọi người vào tổ chức Đảng.
6
- Xây dựng quy chế để xác định nguyên tắc trách nhiệm, quyền hạn chế
độ và lề lối làm việc của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, đảng uỷ cấp cơ sở trực
thuộc huyện.
- Sắp xếp nội dung công tác, lịch làm việc cụ thể của cán bộ quan trọng
từng thời gian nhất định.
2.2. Cơ cấu tổ chức Huyện uỷ Nghi Xuân
Cơ quan Đảng bộ Nghi Xuân gọi tắt là Huyện uỷ Nghi Xuân làm việc
theo hình thức tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quyết định theo đa số và cơ
cấu trong cơ quan được phân như sau:
Trong cơ quan Huyện uỷ Nghi Xuân cơ 40 người cơng chức (bao gồm cả
hợp đồng), trong đó đứng đầu cơ quan là:
01 Bí thư
02 Phó Bí thư
04 Trưởng Ban
01 Chánh Văn phòng
Huyện uỷ Nghi Xuân 5 năm đại hội một lần, đại hội này do Ban Chấp
hành đảng bộ khố trước triệu tập, đại hội có nhiệm vụ và chuẩn y Báo cáo của
Ban Chấp hành, thảo luận và Quyết định có nhiệm vụ chủ trương, chính sách…
quan trọng thuộc phạm vi địa phương, thảo luận các vấn đề do Ban Chấp hành
TW hoặc cấp tỉnh, dựa trên quy định chung của Ban Chấp hành Huyện uỷ Nghi
Xuân là 5 năm Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Huyện uỷ 3 tháng họp một lần.
Đứng đầu Huyện uỷ có Bí thư: là người lãnh đạo cao nhất có quyền quyết
định tất cả các công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định trên cơ sở
ý kiến tập thể, là người chủ trì các cơng việc của Ban Chấp hành và Ban Thường
vụ Huyện uỷ, quán xuyến các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách về công tác của
Đảng, Kinh tế, Văn hố, Xã hội, Chính trị, An ninh, Quốc phịng.
Giúp việc cho Bí thư có phó Bí thư: là người giúp Bí thư chỉ đạo, lãnh đạo
cơng tác xây dựng Đảng, các ban Đảng, tổng hợp tình hình và đề ra các giải
7
pháp giúp cấp uỷ quyết định đúng đắn các vấn đề đề ra, lãnh đạo văn phịng làm
tốt cơng tác thông tin tổng hợp công tác Văn thư - Lưu trữ.
Ngồi ra có 04 Ban và Văn phịng.
Cụ thể:
* Ban Tuyên giáo
* Ban Dân vận
* Ban Tổ chức
* Uỷ ban Kiểm tra
* Văn phòng
*Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan Huyện uỷ Nghi Xn
Bí thư
Phó Bí thư
Ban
Tun
giáo
Phó Bí thư
Ban
Dân
vận
Ban Tổ
chức
Uỷ ban
Kiểm
tra
Văn
phịng
2.2.1. Ban Tun giáo:
Gồm 01 trưởng ban, 01 phó ban và 04 chuyên viên.
* Chức năng:
Ban Tuyên giáo là Ban tham mưu giúp Huyện uỷ chỉ đạo, hướng dẫn triển
khai, kiểm tra việc tổ chức các lĩnh vực tuyên giáo gồm: chính trị, tư tưởng,
8
Thơng tin tun truyền, văn hố văn nghệ, khoa giáo, lịch sử Đảng và một số
công tác khác do Huyện uỷ phân công.
* Nhiệm vụ:
- Giúp cấp uỷ nghiên cứu, theo dõi tổng hợp tình hình tư tưởng, tình hình
và kết quả hoạt động các lĩnh vực Tuyên giáo trên địa bàn toàn huyện. Tham
mưu cho Huyện uỷ các chủ trương trên lĩnh vực Tuyên giáo.
- Giúp cấp uỷ chỉ đạo, hưởng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện học tập,
quán triệt, triển khai thực hiện, sơ kết, tổng kết các Nghị quyết, Chỉ thị, Chủ
trương của TW Đảng, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ. Hướng dẫn và phối hợp với các Đảng
bộ, chi bộ cơ sở, UBMT TQ và các đoàn thể nhân dân tổ chức phổ biến Chỉ thị,
Nghị quyết, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, Đảng
viên và nhân dân.
- Giúp cấp uỷ tổ chức, quản lý, điều hành mạng lưới hoạt động Báo cáo
viên cấp uỷ, hướng dẫn, kiểm tra và định hướng nội dung hoạt động của các cơ
quan thông tin đại chúng trên địa bàn.
- Tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị, thời sự, chính sách theo nội dung,
chương trình, hướng dẫn của TW, của Tỉnh uỷ cho cán bộ, đảng viên theo dõi,
kiểm tra việc giảng dạy lý luận chính trị ở các lớp do Trung tâm BDCT và tổ
chức chính trị - xã hội mới.
- Tham gia chuẩn bị các Quyết định của cấp uỷ, chỉ đạo một số vấn đề cụ
thể thuộc lĩnh vực công tác tuyên giáo.
- Tổ chức sưu tầm, lưu trữ, bảo quản lịch sử Đảng bộ huyện, hướng dẫn
giúp đỡ sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử các Đảng bộ xã, thị trấn, đoàn
thể, ban nghành cấp huyện và cơ sở, tổ chức tuyên truyền phát huy truyền thống
cách mạng của Đảng bộ và nhân dân.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thường trực, Thường vụ cấp uỷ phân
công.
- Tham mưu cho cấp uỷ chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước, tuyên
truyền, động viên, cổ vũ nhân rộng mơ hình, điển hình tiên tiến.
9
2.2.2 Ban Tổ chức
Gồm 01 trưởng ban, 01 phó ban và 04 chuyên viên.
* Chức năng:
Ban Tổ chức Huyện uỷ là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Đảng bộ
huyện, trực tiếp là Ban Thường vụ Huyện uỷ về cơng tác tổ chức, cán bộ, cơng
tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác xây dựng tổ chức Đảng và đảng viên.
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu đề xuất với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện
những chủ trương, kế hoạch xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, cơng tác bảo vệ
chính trị nội bộ, cơng tác xây dựng tổ chức Đảng và đảng viên; chuẩn bị hoặc
tham gia chuẩn bị các Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết và các văn bản khác của
Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ và các mặt cơng tác nói trên; thẩm
định các đề án về tổ chức, cán bộ trước khi trình Ban Thường vụ, Ban Chấp
hành Đảng bộ huyện quyết định.
- Hướng dẫn các Ban Đảng, các Đảng uỷ trực thuộc triển khai thực hiện
các Chỉ thị, Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và của Đảng bộ huyện
về công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, cơng tác xây dựng tổ chức
Đảng và đảng viên.
- Hướng dẫn và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ thuộc lĩnh vực công tác nêu
trên cho cán bộ tổ chức các xã, thị trấn, Đảng uỷ, Chi uỷ cơ quan trực thuộc.
- Giúp cấp uỷ kiểm tra việc thực hiện các Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết,
chủ trương, chính sách của Đảng về cơng tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị
nội bộ, cơng tác xây dựng tổ chức Đảng, công tác đảng viên và qua kiểm tra đề
xuất với Tỉnh và Huyện uỷ những giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt các Quyết
định, Chỉ thị, Nghị quyết, chủ trương, chính sách nói trên.
+ Làm một số công việc cụ thể được Ban Chấp hành, Ban Thường vụ
Huyện uỷ uỷ nhiệm:
+ Tham mưu xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử
dụng đội ngũ cán bộ.
10
+ Hướng dẫn thực hiện việc phân công, phân cấp quản lý cán bộ theo quy
định của Ban Thường vụ Huyện uỷ.
+ Hướng dẫn và tổ chức thực hiện một số chuyên đề về xây dựng Đảng.
+ Quản lý hồ sơ và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ thuộc diện
Ban Thường vụ Huyện uỷ quản lý.
+ Quản lý biên chế, quản lý đánh giá đội ngũ cán bộ, cơng chức cơ quan
Đảng, đồn thể ở huyện, xã.
+ Tổ chức việc cấp, phát và quản lý thẻ đảng viên, huy hiệu Đảng.
+ Hướng dẫn và quản lý hồ sơ đảng viên, giới thiệu sinh hoạt Đảng và
giải quyết những vấn đề Đảng tịch theo quy định của Trung ương.
+ Hướng dẫn các tổ chức cơ sở Đảng về công tác phát triển Đảng, chịu
trách nhiệm thẩm định các hồ sơ, đối tượng Đảng trước khi trình Ban Thường vụ
Huyện uỷ xác nhận.
+ Tổ chức thực hiện công tác thống kê về hệ thống tổ chức, cấp uỷ viên,
cán bộ, đảng viên.
2.2.3 Ban Dân vận
Gồm có 01 trưởng ban, 01 phó trưởng ban, 02 chuyên viên.
* Chức năng:
Ban Dân vận Huyện uỷ là một Ban thuộc hệ thống các ban xây dựng
Đảng. Là cơ quan tham mưu của Huyện uỷ, có chức năng nghiên cứu đề xuất
các chủ trương giúp cấp uỷ hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện cơng tác dân
vận của Đảng, trong đó có công tác Tôn giáo.
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, tham mưu với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ
huyện những chủ trương về công tác dân vận: Chuẩn bị, tham gia chuẩn bị các
văn bản, Nghị quyết, Chỉ thị về cơng tác vận động quần chúng nói chung và
từng chun đề nói riêng phù hợp từng thời điểm cụ thể, nhằm thực hiện thắng
lợi các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
huyện Khố 33; thẩm định các đề án về cơng tác Dân vận trước khi trình cấp uỷ
11
và tham mưu giúp cấp uỷ xử lý những vấn đề cụ thể, quan trọng trong công tác
Tôn giáo.
- Hướng dẫn các Đảng uỷ, chi uỷ trực thuộc, Mặt trận, các đoàn thể, hội
quần chúng thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết chủ trương của cấp trên về công
tác Dân vận, hướng dẫn khối dân vận xã, thị trấn về chuyên môn nghiệp vụ.
- Giúp Huyện uỷ kiểm tra việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết của
Đảng, trong đó có các Nghị quyết, Chỉ thị về cơng tác dân vận. Theo dõi tình
hình, phong trào và nguyện vọng của quần chúng, tổng kết rút kinh nghiệm, thực
hiện chế độ báo cáo, kiến nghị và đề xuất chủ trương vơi Tỉnh uỷ, Huyện uỷ về
công tác Dân vận và những vấn đề liên quan công tác xây dựng Đảng xây dựng
chính quyền.
- Phối hợp với Ban Tổ chức triển khai công tác tổ chức và cán bộ trong
khối theo quy định của cấp uỷ; đề xuất việc bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ trong
khối thuộc cấp uỷ quản lý, kiến nghị những biện pháp quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ Dân vận; tổ chức hướng dẫn bồi dưỡng nghiệp vụ Dân
vận cho các bộ của hệ thống chính trị; tham gia cơng tác xây dựng Đảng ở các
Chi bộ, Đảng bộ cơ quan khối dân.
- Chủ trì phối hợp với các Ban ngành liên quan, nhất là các cơ quan: Mặt
trận, các Đoàn thể, hội quần chúng, để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới các tầng lớp nhân dân. Hướng dẫn
phong trào quần chúng thực hiện các nhiệm vụ Kinh tê - xã hội, quốc phòng - an
ninh, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, góp phần xây dựng hệ
thống chính trị trong sạch vững mạnh, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đề
xuất với cấp uỷ giải quyết về cơ sở vật chất, phương tiện, ngân sách đảm bảo
cho việc thực hiện các chương trình, nội dung cơng tác của Ban, UBMT và các
đoàn thể, hội quần chúng.
2.2. 4 Ban Kiểm tra.
12
Gồm 06 uỷ viên trong đó 01 đồng chí Chủ nhiệm, 02 đồng chí phó Chủ
nhiệm và 03 uỷ viên trong đó 01 uỷ viên chuyên trách, 02 uỷ viên kiêm chức là
đồng chí trưởng ban tổ chức và Chánh Thanh tra huyện.
- Chức năng:
Uỷ ban kiểm tra Huyện uỷ là cơ quan kiểm tra chuyên trách của BCH
Đảng bộ huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Điều lệ
Đảng, tham mưu giúp Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Ban Thường vụ, Thường
trực Huyện uỷ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng.
- Nhiệm vụ và quyền hạn:
+ UBKT Huyện uỷ xây dựng Chương trình, Kế hoạch cơng tác kiểm tra,
giám sát cả nhiệm kỳ, từng quý, hàng năm và trực tiếp tổ chức, thực hiện các
nhiệm vụ công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng theo quy định của
Điều lệ Đảng.
Kiểm tra đảng viên (kể cả cấp uỷ viên cùng cấp) khi có dấu hiệu vi pham
tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ
đảng viên.
Kiểm tra Tổ chức Đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp
hành cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định của
Đảng các nguyên tắc tổ chức của Đảng và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng.
Giám sát cấp uỷ viên, cán bộ thuộc diện Huyện uỷ quản lý và thực hiện
Chủ trương đường lối, Chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, Nghị quyết
của cấp uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của Đảng.
Xem xét kết luận những trường hợp vị phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề
nghị Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Huyện uỷ thi hành kỷ luật Đảng.
Giải quyết đơn thư tố cáo đối với tổ chức Đảng và đảng viên, giải quyết
khiếu nại về kỷ luật Đảng.
Kiểm tra Tài chính của cấp uỷ cấp dưới và của cơ quan Tài chính cấp uỷ
cùng cấp.
13
+ Hướng dẫn và kiểm tra các tổ chức Đảng, UBKT cơ sở và Đảng viên
thực hiện những quy định Điều lệ Đảng và các hướng dẫn thực hiện của UBKT
cấp trên.
+ Tham gia góp ý về cơng tác chuẩn bị nội dung các kỳ họp BCH, Ban
Thường vụ về công tác kiểm tra và công tác xây dựng Đảng có liên quan đến
chức năng, nhiệm vụ của UBKT.
+ Theo dõi việc thực hiện Quy chế làm việc của BCH Đảng bộ Huyện,
từ đó mà tham mưu với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Huyện uỷ những vấn
đề nhằm thực hiện nghiêm túc Quy chế.
+ Thông qua công tác kiểm tra của Đảng, UBKT cùng Ban Tổ chức
Huyện uỷ đề xuất tham gia ý kiến với Thường trực, Ban Thường vụ Huyện uỷ
về cơng tác đánh giá, bố trí, sử dụng đề bạt cán bộ thuộc diện Huyện uỷ quản
lý.
+ Chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ công tác kiểm tra, xây dựng bộ máy
bồi dưỡng cho cán bộ UBKT cơ sở và nắm vững phân cấp quản lý cán bộ của
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện.
+ Thực hiện một số công việc cụ thể do Thường trực, Ban Thường vụ
Huyện uỷ phân công.
14
PHẦN THỨ HAI: ĐỀ TÀI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở ĐẢNG BỘ HUYỆN NGHI XUÂN
TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY.
LỜI MỞ ĐẦU
Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và
rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng kim chỉ nan cho mọi hoạt động, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội.
Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc, đại
diện trung thành với lợi ích của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động và của cả
dân tộc. Từ ngày thành lập đến nay, trải qua biết bao thăng trầm, gian nan thử
thách của lịch sử, Đảng ngày càng trưởng thành và lớn mạnh.
Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình trước giai cấp và dân tộc là xây
dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản,
phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phải coi trọng
và làm tốt cơng tác kiểm tra, giám sát mới góp phần thiết thực có hiệu quả phịng
ngừa và góp phần khắc phục những yếu kém trong hoạt động thực tiễn của Đảng. Từ
ngày thành lập đến nay Đảng luôn coi trọng công tác kiểm tra, giám sát là những
chức năng lãnh đạo của Đảng và “có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động
lãnh đạo của Đảng”. Lãnh đạo không chỉ là việc xây dựng đường lối, Nghị quyết,
Chỉ thị là việc thực hiện bố trí cán bộ mà lãnh đạo còn là kiểm tra ở bất kỳ tổ chức và
cá nhân nào; không những kiểm tra, giám sát thực hiện cương lĩnh chính trị, đường
lối, chủ trương chính sách phải được coi trọng thường xuyên mà đồng thời kiểm tra,
giám sát ngay bản thân cương lĩnh chính trị đường lối, chính sách đó và kiểm tra các
15
tổ chức tiến hành kiểm tra nhằm đảm bảo đường lối, chính sách được xác định đúng,
quán triệt đầy đủ và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Đó là vấn đề có tính ngun
tắc, vừa là chức năng lãnh đạo vừa là trách nhiệm, nội dung, phương pháp quá trình
lãnh đạo của Đảng.
Hiện nay, thực hiện cơng cuộc đổi mới, đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường định hướng XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,
đã và đang thu được nhiều thành tựu quan trọng: kinh tế tăng trưởng khá, văn
hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cái thiện, tình
hình chính trị cơ bản được ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường và giữ
vững quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế
được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường, định hướng XHCN đang còn là vấn đề mới mẽ đối với Đảng ta.
Mặt khác, những mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang tác động làm một bộ
phận cán bộ, đảng viên suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, cơ hội,
quan liêu, tham nhũng...Bên cạnh đó một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được
chỉnh đốn, nội bộ mất đồn kết; cơng tác tư tưởng, cơng tác lí luận cịn yếu kém
bất cập; cơng tác tổ chức cán bộ cịn có biểu hiện trì trệ, tổ chức chỉ đạo thực
hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Pháp luật của nhà nước còn yếu kém.
Trong bối cảnh tình hình thế giới cịn có diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù dịch đang ra sức chống phá cách mạng nước ta, thực hiện
chiến lược “diễn biến hịa bình, bạo loạn lật đổ” hịng xóa bỏ vai trị lãnh đạo của
Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng
đối với dân tộc, đặt ra cho Đảng ta phải tự đổi mới tự chính đốn, coi nhiệm vụ
phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, để Đảng
vươn lên ngang tầm nhiệm vụ, là nhân tố đảm bảo thắng lợi và sự nghiệp cách
mạng. Vì vậy, tồn Đảng phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết về
xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết TW6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng chỉnh đốn
16
Đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, chỉ có cơng tác kiểm tra,
giám sát chúng ta mới thấy được mặt mạnh của chủ trương, chính sách, nghị
quyết, chỉ thị để phát huy, khắc phục những mặt thiếu sót, lệch lạc... khơng ngừng
bổ sung, hồn thiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng. Đồng thời, xử lý
nghiêm minh những tổ chức Đảng, đảng viên có vi phạm.
Trong tình hình cách mạng, Đảng ta ln xác định thực hiện nhiệm vụ chính
trị là trọng tâm, cơng tác xây dựng Đảng là then chốt, được xuyên suốt trong q
trình lãnh đạo của Đảng mà cơng tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ và Uỷ ban
Kiểm tra các cấp là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng.
Ở Đảng bộ huyện Nghi Xuân, trong những năm qua đã đặc biệt quan tâm
tới công tác xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng. Trong đó có cơng tác kiểm tra,
giám sát của cấp ủy, Uỷ ban Kiểm tra các cấp đã được chú trọng, vì vậy năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng được nâng cao, kinh tế
phát triển, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội được giữ vững, hoạt động của hệ thống chính trị được đổi mới,
nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng nói chung và cơng tác kiểm tra, giám
sát nói riêng ở một số Đảng bộ cịn nhiều hạn chế, chưa chú trọng kiểm tra, giám
sát việc quán triệt triển khai, thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị kiểm tra, giám sát
việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên, kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng khi có
dấu hiệu vi phạm...
Xuất phát từ những cơ sở trên và nhận thức đúng đắn về vai trị vị trí của
cơng tác kiểm tra, giám sát trong công tác xây dựng Đảng. Trong quá trình học
tập, nghiên cứu lý luận vừa kết hợp với thực tiễn trong quá trình thực tập tại cơ
quan, tôi thấy rằng muốn xây dựng tổ chức Đảng thực sự trong sạch vững mạnh
để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong giai đoạn cách mạng hiện nay đòi hỏi phải phát huy hơn nữa công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng bộ. Với lý do trên tôi đã chọn đề tài “Nâng cao
17
chất lượng hoạt động công tác kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ Huyện Nghi
Xuân trong tình hình hiện nay”.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG TA VỀ CÔNG TÁC KIỂM
TRA, GIÁM SÁT
1.1. Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát
Nhận thức bao giờ cũng là một quá trình. Tổ chức dù vững mạnh, con
người dù có tài năng, khoa học và công nghệ phát triển cao cũng không thể một
lúc hiểu hết mọi vấn đề, mọi sự vật hiện tượng một cách đầy đủ, chính xác.
Vì vậy, muốn đạt được kết quả trong thực tiễn, phải xem tình hình thực tế,
để xem xét đánh giá nghĩa là phải kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát toàn bộ
ý định chủ trương, kế hoạch đến hoạt động thực tiễn, kết quả đạt được để giúp
cho tổ chức và cá nhân đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm của ý định, chủ
trương kết hoachk, hành động kịp thời rút kinh nghiệm bổ sung sửa đổi những
thiếu sót chưa đồng bộ, chưa phù hợp hoặc sai lầm, lệch lạc đảm bảo ý định, chủ
trương, kế hoạch, hành động đúng đắn, chính xác hơn, chất lượng hơn, hiệu quả
đạt được tốt hơn.
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là hoạt động của cấp ủy, tổ chức
Đảng, các ban chức năng của Đảng và đội ngũ đảng viên để theo dõi, nhận xét,
đánh giá kết luận về những ưu điểm, khuyết điểm trong nhận thức, hành động
của tổ chức Đảng, đảng viên nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, xây
dựng nội dung Đảng trong sạch vững mạnh. Như vậy, công tác kiểm tra, giám
sát của Đảng được hiểu về mặt thực chất là kiểm tra, giám sát về “việc” và
“người”.
Kiểm tra, giám sát về “việc” là kiểm tra, giám sát ngay bản thân quá trình
đề ra chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị để kịp thời bổ sung, điều chỉnh
đảm bảo chủ trương, nghị quyết đi vào cuộc sống của nhân dân.
18
Kiểm tra, giám sát về “người” là kiểm tra, giám sát các tổ chức và đảng
viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và thực hiện nhiệm vụ đảng viên để đảng viên luôn
xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo.
Giữa kiểm tra, giám sát “việc” và “người” là hai vấn đề liên quan trực tiếp
với nhau, hỗ trợ cho nhau, không thể coi nhẹ hoặc tách rời.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và của Đảng ta về công tác kiểm tra, giám sát.
Hoạt động của tổ chức và con người trong xã hội là hoạt động có ý thức.
Điều này đã được Các Mác minh họa bằng sự so sánh về sự khác biệt giữa nhà
kiến trúc tồi nhất (hoạt động có ý thức) và con ong giỏi nhất (hoạt động theo bản
năng) là “nhà kiến trúc trước khi xây dựng từng ngăn trong tổ ong thì đã xây
dựng từng ngăn đó trong óc mình rồi”.
Trước khi hành động, các tổ chức và con người đều phải suy nghĩ, xác
định rõ ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi ý
định, chủ trương, kế hoạch ấy trong thực tiễn. Song, thực tiễn luôn luôn vận
động, biến đổi phát triển không ngừng theo quy luật khách quan, nên ý định, chủ
trương, kế hoạch đã xác định dù được nghiên cứu, tính tốn, cân nhắc kỹ vẫn có
thể có những thiếu sót, sơ sài, thậm chí khơng có khả năng thực thi hoặc sai lầm
nghiêm trọng. Vì vậy, muốn đạt được kết quả trong thực tiễn, phải xem xét tình
hình thực tế để nhận xét, đánh giá, có nghĩa là phải kiểm tra, giám sát toàn bộ từ
ý định, chủ trương, kế hoạch đến tổ chức thực hiện và kết quả đạt được để giúp
cho tổ chức và con người đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm của chủ trương,
kế hoạch, hành động, kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung chưa phù hợp hoặc sai
lầm, lệch lạc; bảo đảm ý định, chủ trương, kế hoạch hành động được đúng đắn,
chuẩn xác hơn, chất lượng, hiệu quả đạt được tốt đẹp hơn. Do đó hoạt động có ý
thức là hoạt động có kiểm tra, giám sát; ý thức càng cao, tổ chức càng quan
trọng, con người ở cương vị càng cao và cán bộ chủ chốt các cấp, nhiệm vụ càng
khó khăn, phức tạp thì càng địi hỏi phải coi trọng và tiến hành công tác kiểm
tra, giám sát.
19
Văn kiện Đại hội VIII khẳng định: “Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ
quan trọng trong tồn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng”. Vì lãnh đạo khơng chỉ
là việc xây dựng đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, việc tổ
chức thực hiện và bố trí cán bộ mà lãnh đạo cịn là kiểm tra, giám sát, không
những kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối cương lĩnh chính trị, chủ
trương, chính sách đó và kiểm tra, giám sát cả các tổ chức tiến hành kiểm tra
nhằm đảm bảo đường lối, chính sách được xác định đúng, được quán triệt và
thực hiện thắng lợi trong thực tiễn.
Lê Nin đã chỉ rõ: khi đường lối, chính sách đã được xác định, phương
hướng đã được thơng qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu
và sự lãnh đạo phải “chuyển trọng tâm từ việc soạn tảo các sắc lệnh và mệnh
lệnh song việc lựa chọn người và kiểm tra việc thực hiện”. Lê Nin cịn nhấn
mạnh: “Kiểm tra nhân viên cơng tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác
- mấu chốt của tồn bộ cơng tác, của tồn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở
đấy và chỉ có ở đấy”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chính sách đúng là nguồn gốc của
thắng lợi”. “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành cơng thất bại của chính sách
đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu
3 điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vơ ích”. “Nếu tổ chức việc kiểm
tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu
ưu điểm, khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng:
chín phần mười khuyết điểm trong cơng việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm
tra”.
Thực tiễn lãnh đạo của Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay đã khẳng
định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, lãnh đạo phải
có kiểm tra “Lãnh đạo mà khơng kiểm tra thì coi như khơng có lãnh đạo”. Vì
vậy, Đảng ta đã rút ra 6 bài học kinh nghiệm chủ yếu qua 20 năm đổi mới, trong
đó có bài học kinh nghiệm về cơng tác kiểm tra, giám sát là “Đảng phải tăng
cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Thường
20
xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của đảng để
phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm; kiểm
tra, giám sát công tác năng lực và phẩm chất của cán bộ, đảng viên, xây dựng tổ
chức Đảng, cơ quan nhà nước và cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch vững
mạnh”. Đồng thời Đảng ta yêu cầu “Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác
kiểm tra, giám sát trong Đảng và trong cả hệ thống chính trị. Kiểm tra nhận
thức, năng lực lãnh đạo, xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, kiểm tra phẩm chất chính trị và đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và
giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà
nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó, mà góp phần vào việc cũng cố
Đảng về tư tưởng, về tổ chức”.
Qua thực tiễn Đảng ta đã kết luận: Công tác kiểm tra là “Một bộ phận
quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”, là “một khâu quan trọng của
tổ chức thực hiện”, là “Biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu”.
Đảng cộng sản Việt Nam là một tổ chức, một bộ phận của xã hội, vó vai
trị lãnh đạo chính trị đối với tồn xã hội đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và
nhân dân ta đến thắng lợi. Sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành thông qua tổ
chức Đảng và đảng viên đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Mỗi tổ chức Đảng và đảng viên dù công tác ở lĩnh vực, cương vị nào đều
phải tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
đường lối, chủ trương của Đảng. Đó là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của
mọi tổ chức Đảng. Đặc biệt trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh phải coi
trọng và tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
21
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở ĐẢNG BỘ
HUYỆN NGHI XUÂN TRONG 3 NĂM (2008 ;2009; 2010)
2.1. Thực trạng về công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ huyện Nghi
Xuân trong tình hình hiện nay.
2.1.1. Tình hình chung của Đảng bộ huyện Nghi Xuân.
Tính đến tháng 12/2010, Đảng bộ huyện Nghi Xuân có 54 tổ chức cơ sở
Đảng. Trong đó, có 19 Đảng bộ xã, thị trấn và 31 Đảng bộ, chi bộ cơ quan trực
thuộc. Tổng số đảng viên tồn huyện tính đến tháng 12/2010 là 7553 đồng chí,
sinh hoạt trong 54 Đảng bộ, chi bộ trực thuộc. Trong đó, đảng viên cơng giáo 42
đồng chí chiếm 0,32%; Đảng viên được miễn sinh hoạt là 646 đồng chí 8,55%;
Đảng viên nữ là 2091 đồng chí chiếm 27,69%. Số đảng viên mới kết nạp trong 3
năm (2008, 2009, 2010) là 974 đồng chí.
Những năm qua, các tổ chức cơ sở Đảng toàn huyện đã bám sát chức năng,
nhiệm vụ của mình lãnh đạo phường, đơn vị hồn thành cơ bản nhiệm vụ được giao.
2.1.2. Chất lượng đội ngũ giáo viên, cấp ủy và ủy ban kiểm tra của
Đảng bộ huyện Nghi Xuân
2.1.2.1. Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên, cấp ủy viên được thể
hiện qua các bảng biểu
Biểu 1: Phân loại chất lượng tổ chức cơ sở Đảng của các Đảng bộ xã Thị trấn năm 2008; 2009; 2010)
TT
1
2
3
Kết quả đạt được
Tổ chức cơ sở Đảng TSVM
Tỷ lệ %
Tổ chức cơ sở Đảng HTNV
Tỷ lệ %
Tổ chức cơ sở Đảng yếu kém
Tỷ lệ %
Tổng cộng
2008
19
82,61
4
17,39
0
0
19
22
Năm
2009
20
86,95
3
13,05
0
0
19
2010
21
91,3
3
8,7
0
0
19
Biểu 2: Phân loại chất lượng tổ chức cơ sở Đảng của các chi bộ trực
thuộc Đảng bộ (2008; 2009; 2010)
TT
1
2
3
Năm
2008
2009
2010
Năm
2008
2009
Tổ chức cơ sở Đảng TSVM
295
301
Tỷ lệ %
78,87
80,48
Tổ chức cơ sở Đảng HTNV
77
70
Tỷ lệ %
20,58
18,72
Tổ chức cơ sở Đảng yếu kém 2
3
Tỷ lệ %
0,55
3
Tổng cộng
19
19
Biểu 3: Phân loại chất lượng đảng viên (2008; 2009; 2010)
Kết quả đạt được
Tổng
số
đảng
viên
hiện
có
2010
314
83,95
60
16,05
0
0
19
Kết quả phân tích chất lượng đảng viên
Tổng số
đảng
viên dự
phân
loại
7350
6672
7410
6768
7553
6907
Một số Đảng bộ
Hồn thành tốt nhiệm
vụ
Trong
Số
Tỷ lệ đó HT
lượng %
xuất
sắc NV
4935 73,95 748
4998 74,89 768
5358 77,57 966
cơ sở đã chăm lo cơng tác
Hồn thành Vi phạm tư
nhiệm vụ
cách
Tỷ
Số
Tỷ lệ Số
lệ
lượng %
lượng
%
1659
1709
7489
đào tạo
25,40 42
24,16 61
21,57 60
bồi dưỡng cán
0,64
0,90
0,86
bộ,
trong thời gian qua đã có 107 đồng chí tốt nghiệp bổ túc văn hóa phổ thơng, 305
đồng chí cán bộ cơ sở đã qua tập huấn nghiệp vụ; 157 đồng chí học Trung cấp
chun mơn; 133 đồng chí tốt nghiệp Đại học, 167 đồng chí trung cấp lý luận
chính trị, 9 đồng chí cấp ủy cơ sở tham gia cấp ủy huyện.
Biểu 4: Phân loại chất lượng cấp ủy cơ sở (2008; 2009; 2010)
Kết quả phân tích chất lượng
Tổng số
Hồn thành tốt nhiệm
Hồn thành nhiệm
Năm Cấp ủy dự
vụ
vụ
phân loại
Số
Số lượng
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
lượng
2008 288
240
83,33
48
16,67
2009 288
244
84,72
44
15,28
2010 288
249
86,45
39
13,55
23
Vi phạm tư
cách
Số
Tỷ lệ
lượng
%
0
0
0
0
0
0
Trong số 288 ủy viên Ban chấp hành Đảng ủy, có 70,9% tốt nghiệp THPT,
29,1% tốt nghiệp THCS, về chuyên mơn nghiệp vụ có 89 đồng chí tốt nghiệp
Đại học – Cao đẳng, 75 đồng chí trung cấp. Về lí luận khơng có đồng chí nào là
cử nhân chính trị, 182 đồng chí có lý luận trung cấp, số cịn lại là sơ cấp.
Ban chấp hành Huyện ủy khóa XXXIII (nhiệm kỳ 2005 – 2010) Đại hội
XXXIII Đảng bộ huyện Nghi Xuân (2005 – 2010) đã bầu 39 đồng chí Ủy viên
Ban chấp hành Đảng bộ huyện.. Trong đó có 3 đồng chí là nữ, chiếm 7,7%.
Ban thường vụ huyện ủy gồm 11 đồng chí. Trong đó có 1 đồng chí là nữ,
chiếm 9%.
Biểu 5: Phân loại chất lượng Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ huyện (2008;
2009; 2010).
Kết quả phân tích chất lượng
Năm
Tổng Số
Cấp ủy dự
phân loại
2008
2009
2010
Tuổi đời:
Hồn thành tốt
Hồn thành
nhiệm vụ
nhiệm vụ
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
lượng
%
lượng
%
39
35
89,74
4
10,26
39
36
92,30
3
7,70
37
35
94,59
2
5,41
18 – 35 tuổi có 2 đồng chí, chiếm 5,4%
Vi phạm tư
cách
Số
Tỷ lệ
lượng
%
0
0
0
0
0
0
36 – 45 tuổi có 7 đồng chí, chiếm 18,9%
46 – 55 tuổi có 25 đồng chí, chiếm 67,57%
56 – 60 tuổi có 3 đồng chí, chiếm 8,13%
Bình qn tuổi đời: 43
Trình độ văn hóa: THPT có 33 đồng chí, chiếm 100% trình độ chun
mơn:
- Trung cấp chun nghiệp có 9 đồng chí, chiếm 27,3%
- Cao đẳng, Đại học có 17 đồng chí, chiếm 51,5%
- Thạc sĩ có 1 đồng chí, chiếm 3,3%
Trình độ lí luận chính trị:
24
- Trung cấp có 19 đồng chí, chiếm 51,35%
- Cao cấp, cử nhân có 18 đồng chí, chiếm 48,56%
2.1.2.2. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra của Đảng.
Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Nghi Xuân được Ban chấp hành Huyện ủy bầu
6 đồng chí, trong đó có 3 đồng chí ủy viên chun trách. Có 1 đồng chí là ủy
viên Ban thường vụ là chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra, 1 đồng chí là Huyện ủy viên
làm phó Chủ tịch ủy ban kiểm tra.
- Trình độ văn hóa
: THPT 5/5 đồng chí, chiếm 100%
- Trình độ chun mơn: Trung cấp chun nghiệp có 1 đồng chí, chiếm
20%; Cao đẳng, Đại học có 4 đồng chí, chiếm 80%
- Trình độ lý luận chính trị:
Trung cấp có 3 đồng chí, chiếm 60%
Cao cấp, cử nhân có 2 đồng chí; chiếm 40%
Về các Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy cơ sở.
Tồn Huyện có 30 ủy ban kiểm tra cơ sở, 134 cán bộ. Mỗi ủy ban kiểm tra
cơ sở được cơ cấu từ 3 đến 5 đồng chí các đồng chí chủ nhiệm ủy ban kiểm tra
cơ sở là ủy viên Ban thường vụ Trực Đảng (biểu 6)
Nhìn chung, từ năm 2008 đến nay đội ngũ cán bộ Ủy ban Kiểm tra cơ sở
luôn được quan tâm kiện toàn bổ sung, đủ số lượng. Huyện ủy đã mở lớp bồi
dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra cho 803 đồng chí là Bí thư Đảng ủy chi bộ
trực thuộc và ủy ban kiểm tra cơ sở.
Cán bộ làm cơng tác ở cơ sở là các đồng chí đã trải qua thực tế công tác
Đảng và môi trường cơng tác khác, có bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm.
Tuy nhiên, một số ủy viên ủy ban kiểm tra cơ sở mới tham gia lần đầu,
năng lực và kinh nghiệm cơng tác kiểm tra cịn ít, trình độ lí luận, nhận thức
chuyên môn nghiệp vụ không đều, ảnh hưởng không nhỏ dến chất lượng hoạt
động công tác kiểm tra, giám sát của Đảng theo quy định của điều lệ.
2.2. Kết quả hoạt động công tác kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ huyện
Nghi Xuân.
25