LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng nỗ
lực của bản thân, em còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của Hội đồng khoa học
Khoa luật, các thầy giáo,cô giáo trong bộ mơn luật Dân sự, cán bộ, nhân viên
Tịa án nhân dân thành phố Vinh. Đặc biệt là sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt
tình, chu đáo của cơ giáo Bùi Thuận Yến
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GV. Bùi Thuận Yến –
người đã hướng dẫn trực tiếp cho em trong việc hồn thành khóa luận, xin
cảm ơn sự giúp đỡ của Hội đồng khoa học khoa Luật, các thầy giáo, cô giáo
trong tổ bộ môn luật Dân sự, cán bộ, nhân viên Tòa án nhân dân thành phố
Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong q trình triển khai đề tài .Và
ngồi ra e còn muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tạo mọi điều kiện để em có thể hồn thành khóa luận này.
Với kinh nghiệm và năng lực còn hạn chế, đề tài sẽ khơng thể tránh sự
thiếu sót nhất định. Rất mong sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học
khoa Luật, các thầy giáo, cô giáo cũng như những người quan tâm đến đề tài
này.
Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TAND : Tòa án nhân dân
BLDS : Bộ luật dân sự
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
HĐND : Hội đồng nhân dân
LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, hịa giải khơng chỉ chiếm vị trí quan trọng trong đời sống
kinh tế xã hội nói chung mà cịn có vai trị lớn trong khoa học pháp lí của hầu
hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Vì lẽ đó, ngay từ rất sớm
trong các văn bản pháp luật của nước ta đã đề cập và qui định một cách rất cụ
thể về vấn đề hòa giải như: Sắc lệnh số 13 ngày 21/1/1946 về tổ chức tòa án,
Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng,
Thông tư số 25 – TANDTC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm 1994…Việc ghi nhận chế định
hòa giải này thật sự có ý nghĩa về nhiều mặt mà nhất là trong quá trình giải
quyết các vụ án về dân sự. Sở dĩ như vậy, vì nó khơng những góp phần bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cịn bảo đảm cả lợi ích
của Nhà nước và góp phần ổn định xã hội. Thơng qua hịa giải Tòa án giúp
các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án phù hợp
quy định pháp luật, rút ngắn quá trình tố tụng, nâng cao hiệu quả giải quyết
các vụ án dân sự. Do đó, kế thừa các văn bản pháp luật cũ BLTTDS năm 2004
tiếp tục khẳng định vai trò của hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự. Điều ấy
là cơ sở pháp lí quan trọng buộc các tịa án nhân dân trước khi đưa vụ án dân
sự ra xét xử sơ thẩm phải qua thủ tục hòa giải, trừ những trường hợp khơng
được đưa ra hịa giải hoặc khơng tiến hành hòa giải được. Đáp ứng yêu cầu
trên TAND thành phố Vinh nơi hàng năm thụ lí nhiều các tranh chấp dân sự
luôn quán triệt các quy định của pháp luật và đề cao cơng tác hịa giải khi tiến
hành giải quyết vụ án. Tuy nhiên qua thực tiễn thi hành BLTTDS trong những
năm qua cho thấy một số quy định của BLTTDS nói chung và của chế định
hịa giải nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; có những quy định cịn
thể hiện sự khơng thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có
những quy định chưa phù hợp (hoặc khơng cịn phù hợp) với thực tiễn áp
dụng, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và cịn có những cách hiểu khác nhau… cần
được sửa đổi. Với nhận thức như vậy, em đã chọn đề tài “ Thực tiễn hòa giải
vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh” làm đề tài cho khóa luận
tốt nghiệp đại học. Qua quá trình nghiên cứu, em mong muốn tìm hiểu sâu
sắc, rộng hơn những quy định của pháp luật, trên cơ sở đó mạnh dạn đua ra
những kiến nghị nhằm hồn thiện hơn nữa các quy định của BLTTDS về hòa
giải nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hịa giải trong các vụ án dân sự.
2. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lí luận về vấn đề hòa giải vụ án dân sự
trong tố tụng dân sự, thực trạng hòa giải các vụ án dân sự trên địa bàn thành
phố vinh mà trực tiếp là tại tòa án nhân dân thành phố Vinh và từ đó đưa ra
những kiến nghị, giải pháp để nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa trong cơng tác
hịa giải các vụ án dân sự tại Tòa án.
3. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp phân tích, hệ thống được sử dụng xun suốt trong
q trình thực hiện khóa luận; đánh giá, nhận xét thực tiễn tiến hành việc hòa
giải các vụ án dân sự tại tịa án. Ngồi ra cịn sử dụng các phương pháp khác
như so sánh, thống kê và phương pháp lịch sử để đánh giá sự phát triển, tiến
bộ cũng như những hạn chế còn tồn tại.
4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu về lý luận và
thực tiễn về hịa giải vụ án dân sự, qua đó nhằm đưa một số đề xuất, kiến nghị
nhằm hoàn thiện qui định của pháp luật và nâng cao hiệu quả hòa giải các vụ
án dân sự.
Để thực hiện mục đích đó luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích những vấn đề lí luận cơ bản về vấn đề hòa giải vụ án dân sự
trong pháp luật tố tụng dân sự.
- Phân tích thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về hòa giải vụ án
dân sự trên thực tế tại Tòa án nhân dân thành phố vinh
- Đề xuất một số biện pháp pháp lí chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả qui
định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng
5. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận ngồi lời mở đầu và kết luận được chia làm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề lí luận về hòa giải vụ án dân sự theo pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam
Chương 2 : Thực tiễn hòa giải các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân
thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Chương 3 : Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1. Khái niệm và đặc điểm của hòa giải vụ án dân sự
Sau khi thụ lí vụ án, để giải quyết vụ án trước tiên tòa án sẽ tiến hành
việc giải thích pháp luật giúp các đương sự giải quyết mâu thuấn, thỏa thuận
với nhau về việc giải quyết các vấn đề của vụ án dân sự có tranh chấp.Hoạt
động này của tòa án được gọi là hòa giải vụ án dân sự.như vậy có thể hiểu “
Hịa giải vụ án dân sự được hiểu là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành
nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự”
(Giáo trình luật tố tụng dân sự - Trường đại học luật Hà Nội )
Cơ sở của hòa giải vụ án dân sự là quyền tự định đoạt của các đương
sự. Tòa án trước khi tiến hành việc xét xử vụ án dân sự cần phải tiến hành
việc hòa giải trước, trừ những trường hợp khơng hịa giải được hoặc khơng
được tiến hành việc hịa giải. Tại điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004
sửa đổi, bổ sung 2011 đã quy định “ tịa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải
và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Theo đó, hịa giải là trách
nhiệm của Tịa án nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận giải quyết câc mâu
thuẫn, tranh chấp với nhau. Thực hiện hòa giải cũng là việc vận dụng tối đa
cơ hội rút ngắn quá trình tố tụng, nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, đồng
thời giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên.
Cũng từ định nghĩa trên ta có thể rút ra được hòa giải vụ án dân sự có
một số đặc điểm sau:
+ Hịa giải vụ án dân sự là hoạt động do Tòa án tiến hành
Trong hoạt động hịa giải, Tịa án xuất hiện khơng phải với tư cách một
bên tham gia hòa giải mà là người tổ chức, bố trí cho các đương sự thương
lượng, thỏa thuận với nhau. Với vai trị của mình, Tịa án giải thích cho các
đương sự hiểu được quyền, nghĩa vụ pháp luật có liên quan đến tranh chấp
cần hòa giải. Kết quả hòa giải do Tòa án tiến hành là những văn bản có tính
chất pháp lí, là cơ sở để tiến hành các thủ tục tố tụng tiếp theo. Sự có mặt
trong hịa giải của Tịa án khẳng định vị trí trung gian của Tòa án trong việc
hòa giải các vụ án dân sự. Đặc điểm này là dấu hiệu để phân biệt hòa giải
trong tố tụng dân sự và hòa giải ngoài vụ án dân sự và trương hợp các đương
sự tự hòa giải. Cụ thể là:
Trong tố tụng dân sự, hòa giải do tòa án chủ động tổ chức và trực tiếp
tham gia với vai trị giải thích, hướng dẫn, động viên các đương sự tự thỏa
thuận. Còn hòa giải ngồi tố tụng là việc hịa giải khơng do tịa án tiến hành
mà do hòa giải viên thực hiện. Hòa giải do tòa án tiến hành cũng khác với
trường hợp đương sự tự thỏa thuận. Trường hợp đương sự tự thỏa thuận là
việc các bên chủ động tự thương lượng, thỏa thuận mà khơng có sự tham gia
của tịa án.
Buổi hòa giải được thẩm phán lập biên bản về nội dung mà các đương
sự tự thỏa thuận. Nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về toàn bộ
nội dung vụ án và án phí thì thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự. Còn trong trường hợp các bên tự hòa giải và khơng u cầu
tịa án tiếp tục giải quyết thì tịa án có thể ra quyết định đình chỉ việc giải
quyết vụ án.
+ Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự
Mặc dù hòa giải là một hoạt động do Tòa án tiến hành nhưng về bản
chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đượng sự. Đương sự trong vụ án
dân sự chính là các bên của tranh chấp mà Tòa án cần giải quyết. Họ là người
hiểu rõ hơn ai hết về những mâu thuẫn của mình. Vì lí do này mà pháp luật
quy định chính đương sự là người có quyền tự định đoạt cách giải quyết
những mâu thuẫn đó. Việc thỏa thuận giữa các đương sự sẽ đạt được kết quả
trung thực, hợp tình hợp lí nếu q trình thỏa thuận được diễn ra trên cơ sở tự
nguyện, khơng bị một ai với bất kì hình thức nào cưỡng ép, can thiệp vào thỏa
thuận của các đương sự. Điều này đòi hỏi Tòa án khơng được dùng bất kì
hình thức nào để cưỡng ép, bắt buộc các đương sự phải hòa giải với nhau.
Sự thảo thuận của chính các đương sự là đặc trưng cơ bản của hòa giải,
đồng thời cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải và xét xử. Khi xét xử, Tòa án
sẽ ra phán quyết và đương sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh mọi phán quyết của
Tòa án. Trong hịa giải, Tịa án chỉ có vai trị trung gian giúp các bên tranh
chấp thỏa thuận với nhau mà không được can thiệp vào thỏa thuận đó.
+ Hịa giải là một nguyên tắc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự
Hoạt động giải quyết vụ án dân sự của Tòa án sẽ tuân theo những
nguyên tắc do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Tại chương II BLTTDS quy
định về hòa giải trong tố tụng dân sự. Theo đó, hịa giải là trách nhiệm của
Tịa án nhằm giúp các đương sự thỏa thuận với nhau. Điều 180, 220 và 268
BLTTDS quy định hịa giải có tính bắt buộc phải tiến hành trước khi mở
phiên tòa sơ thẩm, trừ những vụ án khơng được tiến hành hịa giải hoặc khơng
hịa giải được và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo, nếu thấy có khả năng hịa
giải thành tịa án tiếp tục tiến hành hòa giải.
2. Nguyên tắc tiến hành hòa giải
Căn cứ vào Điều 180 BLTTDS ( sửa đổi, bổ sung 2011), hòa giải vụ án
dân sự bao gồm các nguyên tắc sau:
2.1. Hòa giải là một hoạt động của Tịa án phải tiến hành trong q
trình giải quyết các vụ án dân sự.
" Tịa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi
để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo
quy định của pháp luật" ( Điều 10 BLTTDS). Theo quy định thì hịa giải là
một hoạt động của Tòa án phải tiến hành trong quá trình giải quyết các vụ án
dân sự. Ở bất kì thời điểm nào, giai đoạn tố tụng nào, Tịa án cũng có thể tiến
hành hịa giải, điều đó thể hiện ở hai điểm sau:
- Thứ nhất, Tòa án bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên
tòa sơ thẩm, trừ những vụ án khơng hịa giải được hoắc khơng được tiến hành
hòa giải
" Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa
giải để các đương sự thảo thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trừ những
vụ án khơng được hịa giải hoặc khơng tiến hành hịa giải được" (khoản 1
Điều 180 BLTTDS). Như vậy, trừ những vụ án khơng được hịa giải hoặc
những vụ án khơng tiến hành hịa giải được, sau khi thụ lí vụ án đến trước khi
mở phiên tịa sơ thẩm, Tịa án có trách nhiệm tiến hành hịa giải dù việc hịa
giải có thành cơng hay khơng. Tính bắt buộc phải tiến hành hòa giải trước
phiên tòa sơ thẩm thể hiện ở chỗ: Nếu Tịa án khơng tiến hành hịa giải thì sẽ
xem như vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và là căn cứ kháng nghị
phúc thẩm, giám đốc thẩm để hủy vụ án và tiến hành xét xử lại sơ thẩm.
Việc bắt buộc tiến hành hòa giải vụ án trước khi mở phiên tịa sơ thẩm
là hồn tồn hợp lí, xuất phát tự mục đích của hịa giải là để các đương sự
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp một cách ổn thỏa, từ
đó đem lại nhiều ý nghĩa cho Tòa án và các đương sự. Do vậy, mục đích hịa
giải thể hiện rõ nhất, đem lại nhiều ỹ nghĩa nhất khi các đương sự thỏa thuận
được với nhau trước khi mở phiên tịa sơ thẩm. Vì khi đó Tịa án sẽ khơng
phải mở phiên tịa xét xử, có thể sẽ không phải tiến hành các giai đoạn tố tụng
tiếp theo như phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm. Với ý nghĩa như vậy
nên pháp luật quy định Tòa án phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tịa
sơ thẩm.
- Thứ hai, pháp luật khuyến khích tiến hành hòa giải ở các giai đoạn
tiếp theo
Tòa án khuyến khích hịa giải ở trong các giai đoạn tố tụng khác bằng
việc luôn công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở bất kỳ thời điểm thời
nào, nếu những thỏa thuận đó là tự nguyện, khơng trái pháp luật và đạo đức
xã hội. Ngồi ra, việc khuyến khích hịa giải này còn được thể hiện rõ trong
phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Tòa án hỏi đương sự có thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án này không. Nếu các đương sự thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử ra bản án công nhận sự
thỏa thuận của đương sự.
2.2. Hòa giải phải trên cơ sở sự tự nguyện thỏa thuận của các đương
sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương
sự thỏa thận không phù hợp với ý chí của mình.
Khoản 2 Điều 180 BLTTDS quy định: việc hịa giải phải " tơn trọng sự
tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa
dùng vũ lực bắt buộc đương sự phải thỏa thuận khơng phù hợp với ý chí của
mình".
Như vậy, sự tự nguyện của các đương sự là nguyên tắc cơ bản về hòa
giải các vụ án dân sự. Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định
đoạt của đương sự. Chỉ các đương sự là người có quyền và lợi ích tranh chấp
mới có quyền tự định đoạt về các tranh chấp của họ. Sự tự nguyện của đương
sự về hòa giải là sự tự nguyện tham gia hòa giải và thỏa thuận về giải quyết
vụ án. Pháp luật tố tụng dân sư quy định trách nhiệm hòa giải của Tòa án để
giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng khơng
có nghĩa là bắt buộc các đương sự phải hòa giải mà chỉ tạo điều kiện để các
đương sự hòa giải với nhau. Trong q trình hịa giải, Tịa án với vai trò trung
gian giúp các bên đương sự hiểu về quyền và nghĩa vụ liên quan tới các tranh
chấp, tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tịa án khơng
được can thiệp vào sự thỏa thuận của các đương sự nếu nội dung thỏa thuận
đó khơng trái pháp luật, đồng thời cũng không được để các đương sự biết về
phương hướng giải quyết vụ án nếu phải đưa ra xét xử.
Đối với hòa giải vụ án dân sự tại tòa án, sự tự nguyện của các bên
đương sự thể hiện ở hai nội dung : tự nguyện tham gia hòa giải và tự nguyện
thỏa thuận nội dung giải quyết vụ án.
Tự nguyện tham gia hịa giải : đương sự có quyền lựa chọn có tham gia
hịa giải để giải quyết các tranh chấp xảy ra hay không. Nếu bị đơn được triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt khơng có lý do chính đáng thì có
nghĩa là bị đơn từ chối hòa giải. Trong trường hợp này, tịa án khơng được ép
buộc bị đơn tham gia hòa giải, tòa án sẽ lập biên bản về việc khơng tiến hành
hịa giải được do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục chung.
Tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải : Trong q trình hịa giải, các
bên tranh chấp có quyền bàn bạc, thảo luận và đi đến thống nhất phương án
giải quyết tranh chấp. Nếu đương sự chấp nhận thỏa thuận và việc thỏa thuận
này là do hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực tác động đến ý chí chủ
quan của đương sự làm cho họ phải lựa chọn cách thức thỏa thuận để bảo vệ
tính mạng, sức khở, danh dự, nhân phẩm và tài sản của mình thì cũng khơng
được coi là tự nguyện thỏa thuận. Tịa án với vai trị trung gian khơng được
can thiệp vào sự thỏa thuận của các đương sự nếu nội dung thỏa thuận đó
khơng trái pháp luật. Các đương sự là chủ thể của các tranh chấp nên chính họ
mới là người có quyền định đoạt về việc giải quyết quyền lợi của họ trong
tranh chấp đó.
2.3. Nội dung thỏa thuận của các đương sự không được trái pháp
luật và đạo đức xã hội
Nhà nước chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, do đó
mọi sự thỏa thuận trái pháp luật đều khơng có giá trị pháp lí. Tịa án nhân
danh nhà nước chỉ có thể cơng nhận những thỏa thuận của các đương sự nếu
các thỏa thuận đó phù hợp với quy định của pháp luật. Sự tuân thủ pháp luật
là yêu cầu bắt buộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, trong q
trình hịa giải, các đương sự tự nguyên thỏa thuận với nhau nhưng các thỏa
thuận đó không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội
thì thỏa thuận đó khơng được công nhận. Mặt khác, là một hoạt động tố tụng,
hòa giải chỉ được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật và mọi sự thỏa
thuận về giải quyết vụ án phải phù hợp vói quy định của pháp luật.
3. Quy trình hịa giải vụ án dân sự tại Tòa án
3.1. Phạm vi hòa giải vụ án dân sự
Theo Điều 180 BLTTDS " trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hịa giải hoặc khơng tiến hành
hịa giải được" . Như vậy phạm vi hòa giải vụ án dân sự rất rộng bao gồm tất
cả vụ án dân sự, trừ những vụ án dân sự k hịa giải được hoặc khơng được tiến
hành hòa giải.
- Theo quy định tại Điều 181 BLTTDS thì những vụ án dân sự khơng
được hịa giải gồm
+ Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản nhà nước:
Tài sản của Nhà nước được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà
nước ( Điều 200 BLDS năm 2005). Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài
sản của nhà nước là trường hợp tài sản nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái
pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ gây ra... và người được
giao chủ sở hữu đối với tài sản nhà nước đó có yêu cầu địi bồi thường. Vì đối
tượng bị gây thiệt hại ở đây là tài sản nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân vì vậy
cho nên bất kì hành vi nào gây thiệt hại đến tài sản nhà nước đều bị coi là trái
pháp luật và phải bồi thường thiệt hại, người phải chịu trách nhiệm bồi
thường khơng có quyền thỏa thuận với nhà nước về việc bồi thường về việc
gây thiệt hại của mình trừ trường hợp người gây thiệt hại tự nguyện bồi
thường và phải phù hợp với pháp luật thì Tịa án có thể chấp nhận. Khi áp
dụng quy định tại khoản 1 Điều 181 BLTTDS cần phân biệt hai trường hợp
Thứ nhất, trường hợp tài sản của nhà nước được giao cho cơ quan, tổ
chức, đơn vị vũ trang quản lí, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà
nước do nhà nước thực hiện quyền sở hữu thơng qua cơ quan có thẩm quyền,
thì khi có u cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với loại tài sản này thì Tịa án
khơng được hịa giải để các bên đương sự thỏa thuận vói nhau về việc giải
quyết vụ án.
Thứ hai, trường hợp tài sản của Nhà nước được nhà nước đầu tư vào
doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn
đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của luật doanh nghiệp, luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu,
sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài
sản đó trong hoạt động sản xuất.
+ Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái
đạo đức xã hội.
Những giao dịch trái pháp luật ( giao dịch vi phạm điều cấm của pháp
luật) và trái đạo đức xã hội là những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối được
quy định tại Điều 128 BLDS 2005. Về bản chất thì giao dịch dân sự vô hiệu
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ ngay từ thời điểm xác lập. Do vậy,
pháp luật quy định Tịa án khơng tiến hành hịa giải để các bên thỏa thuận về
quyền và nghĩa vụ của họ trong giao dịch dân sự vơ hiệu này. Bởi nếu tiến
hành hịa giải là đồng nghĩa với việc khuyến khích các bên tiếp tục vi phạm
pháp luật. Tuy nhiên, nếu các bên thỏa thuận nhưng không phải để tiếp tục
thực hiện giao dịch mà chỉ để giải quyết hậu quả của giao dịch thì Tịa án vẫn
tiến hành hịa giải.
- Những vụ án khơng tiến hành hịa giải được:
Thực chất đó là những vụ án mà pháp luật yêu cầu Tòa án phải tiến
hành hịa giải. Tuy nhiên vì những lí do khách quan dẫn tới việc pháp luật
quy định không cần phải tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự. Theo đó,
có ba trường hợp được quy định tại Điều 182 BLTTDS mà Tịa án khơng cần
tiến hành hịa giải, đó là:
+ Bị đơn đã được Tịa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình
vắng mặt: Bị đơn là chủ thể bị động khi tham gia tố tụng và thường có ý thức
trốn tránh. Vì vậy, đối với chủ thể này chỉ cần có dấu hiệu cố tình vắng mặt
khơng than gia hịa giải, pháp luật cho phép Tịa án tiếp tục giải quyết vụ án
mà khơng cần hịa giải.
+ Đương sự khơng tham gia hịa giải được vì có lí do chính đáng
+ Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực
hành vi dâm sự: trong trường hợp họ là người bị mất năng lực hành vi dân sự
thì họ sẽ khơng thể hiện được ý chí của mình nên Tịa án cũng sẽ khơng tiến
hành hịa giải.
Như vậy, những trường hợp khơng hịa giải được là những trường hợp
liên quan đến vắng mặt hoặc liên quan đến năng lực hành vi của đương sự.
Trong những trường hợp này nếu Tòa án vẫn cố tình tiến hành hịa giải thì
việc hịa giải cũng sẽ không đạt được kết quả và mục đích của hịa giải. Quy
định này của BLTTDS giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng và
đạt hiệu quả hơn.
3.2. Thành phần phiên hòa giải
Theo quy định tại điều 184 BLTTDSquy định, thành phần phiên hòa gải
bao gồm:
_ Thẩm phán chủ trì phiên hịa gải : Thẩm phán tham gia phiên hòa
giải thực hiện các nhiệm vụ sau : phổ biến nội dung pháp luật liên quan đến
việc tranh chấp, các quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự, tạo điều kiện
thuận lợi cho các bên hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
bên tham gia. thẩm phán phải đảm bảo nguyên tắckhác quan, vô tư và công
bằng không được ép buộc các bên.
_ Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải
_ Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự
Trong trường hợp một vụ án mà có nhiều đương sự, nếu có một đương
sự vắng mặt trong phiên hịa giải nhưng các đương sự có mặt đều đồng ý tiến
hành việc hòa giải và việc hòa giải đó khơng có ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích của đương sự vắng mặt thì thẩm phán sẽ tiến hành việc hịa giải đối với
các đương sự có mặt, nhưng nếu các đương sự có mặt muốn việc hịa giải
phải có mặt đầy đủ các bên đương sự thì thẩm phán có thể hỗn phiên hịa
giải.
_ Người phiên dịch nếu đương sự khơng biết tiếng việt
Việc hịa giải là nhằm giúp cho các đương sự có thể thực hiện quyền tự
định đoạt của họ và làm cho việc giải quyết vụ án được hiệu quả cao mà
không phải xét xử. Vì vậy, BLTTDS quy định rất rõ là người tiến hành hịa
giải là thẩm phán được phân cơng giải quyết vụ án, còn thư ký chỉ là người
giúp việc và phải có mặt trong phiên hịa giải để ghi biên bản hòa giả. Việc
quy định này là cần thiết vì hịa giải là để cho các đương sự giải quyết với
nhau trước, bằng cách thương lượng, thỏa thuận và sự thỏa thuận này phải
được tịa án cơng nhận bằng một quyết định và quyết định này có giá trị bắt
buộc đối với các bên đương sự và nó cũng địi hỏi cả sự tơn trọng của xã hội.
Vì lẽ đó, BLTTDS quy định bắt buộc người đứng ra tổ chức hịa giải và chủ
trì phiên hịa giải phải là thẩm phán và đương sự phải có mặt đầy đủ.
3.3. Thủ tục tiến hành hòa giải
Hòa giải vụ án dân sụ được tiến hành trong thời gian chuẩn bị xét xử,
sau khi Tịa án đã thụ lí vụ án dân sự và được tiến hành vói thủ tục như sau:
Bước 1: Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa phải đưa ra thơng báo
về việc tiến hành hịa giải giúp các đương sự biết về thời gian và địa điểm, để
có sự chuẩn bị đầy đủ và chi tiết các tài liệu, căn cứ để bảo vệ lợi ích hợp
pháp và chính đáng của mình.
Bước 2: Tổ chức phiên hịa giải
Trình tự hịa giải theo điều 185 BLTTDS:
- Trước khi tiến hành hòa giải, thư ký Tòa án báo cáo với thẩm phán về
sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên hịa giải đã được Tịa án
thơng báo. Thẩm phán chủ trì phiên hịa giải kiểm tra lại sự có mặt và căn
cước của những người tham gia phiên hòa giải
- Tòa án xem xét các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ án phải giải
quyết để tiến hành hòa giải từng yêu cầu theo thứ tự hợp lí. Khi tiến hành hịa
giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật
có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ
của mình mà tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; phân tích hậu
quả pháp lí của việc hịa giải thành cho các đương sự biết. Thẩm phán khơng
được nói trước với các đương sự ai sai, ai đúng ở chỗ nào hoặc nếu các đương
sự khơng thỏa thuận được thì hướng xét xử của Tòa án như thế nào?
- Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý
kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa
giải.
- Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn
đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung những nội
dung chưa rõ, chưa thống nhất. Hịa giải kết thúc khi thẩm phán có kết luận
cuối cùng về những vấn đề các bên đương sự đã hòa giải thành và các vấn đề
chưa thống nhất.
4. Ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự
Xuất phát từ bản chất và các nguyên tắc đặc thù như đã phân tích ở
trên, hịa giải các vụ án dân sự tại Tịa án có những ý nghĩa quan trọng xét từ
nhiều góc độ khác nhau. Qua nghiên cứu, có thể cho thấy được việc hòa giải
các vụ án dân sự tại Tịa án có những ý nghĩa như sau.
- Thứ nhất : Đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của đương sự.
Trong giao lưu dân sự, các bên được tự do giao kết và thực hiện quyền,
nghĩa vụ mà họ đặt ra không trái với pháp luật và đạo đức xá hội. Khi có tranh
chấp trong q trình giao kết và thực hiện giao kết đó, các bên cũng được tự
do lựa chọn phương thức để giải quyết tranh chấp của mình, đó có thể là
Trọng tài, Tịa án, hịa giải bằng tổ chức hoặc cá nhân ngồi Tịa án...Do đó,
có thể hiểu hịa giải được bắt nguồn từ sự giao lưu dân sự theo nguyên tắc tự
do, tự nguyện cam kết và tự thỏa thuận của các bên đương sự, hòa giải thể
hiện quyền tự định đoạt của các bên đương sự khi tham gia tố tụng dân sự.
Việc BLTTDS quy định hòa giải các vụ án dân sự là một trong những
nguyên tắc cơ bản của tố tụng dan sự và quy định Tịa án có trách nhiệm tiến
hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án dân sự là nhằm bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt
của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Tịa án với vai trị là
trung gian hịa giải, khơng can thiệp vào nội dung giải quyết vụ án của các
bên đương sự. Các đương sự tự quyết định việc giải quyết toàn bộ các vấn đề
của vụ án.
- Thứ hai : Hòa giải thành giúp giải quyết nhanh chóng, hiệu quả vụ án
dân sự, tiết kiệm được công sức, tiền của, thời gian của Nhà nước và nhân dân
trong trường hợp hòa giải thành.
Giải quyết vụ án dân sự là một quá trình kéo dài qua các thủ tục tố tụng
theo quy định của BLTTDS. Mỗi thủ tục tố tụng được quy định theo một thời
hạn riêng nhất định và phải trải qua một thời gian người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng mới hồn thành. Hịa giải là thử tục tố tụng nằm trong
giai đoạn đầu của quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Nếu hòa giải thành, sẽ
giúp việc giải quyết vụ án được nhanh chóng kết thúc ngay ở giai đoạn đầu
của quá trình giải quyết vụ án. Nếu các đương sự không thể thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án, việc hòa giải không thành, vụ án sẽ phải
đưa ra xét xử sơ thẩm. Sau khi được xét xử sơ thẩm, bản án/ quyết định của
Tịa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Theo quy định của khoản 6 Điều 279 BLTTDS, thì « Bản án phúc thẩm có
hiệu lực kể từ ngày tuyên án » . Tuy nhiên việc giải quyết vụ án có thể bị kéo
dài hơn nữa, bởi theo quy định của BLTTDS, bản án/ quyết định của Tịa án
có hiệu lực có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Thậm chí, việc giải quyết vụ án có thể phải trải qua thủ tục đặc biệt xem xét
lại quyết định của Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao ( quyết
định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm) khi có căn cứ xác định quyết định
của Hội đồng thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ
bản nội dung quyết định mà Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
đương sự khơng biết khi đưa ra quyết định đó (Điều 310a BLTTDS). Trường
hợp bản án, quyết định của Tòa án bị tuyên hủy để xét xử sơ thẩm hoặc phúc
thẩm lại, thì việc giải quyết vụ án lại phải quay vịng thêm một quy trình tố
tụng nữa theo quy định của BLTTDS mà chưa biết bao giờ mới kết thúc.
Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tồn bộ
vấn đề của vụ án, Tịa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
bên đương sự, nếu hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hịa giải
thành mà khơng có đương sự nào thay đổi về những thỏa thuận đó. Quyết
định của Tịa án về việc cơng nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự
thường được thi hành nhanh chóng do xuất phát từ những cam kết tự nguyện
của các bên đương sự nên họ tự giác thi hành. Việc khiếu nại, kháng nghị
quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thường ít xảy ra. Trong
khi đó, như trình bày ở trên, thực tiễn xét xử các vụ án dân sự thường có xu
hướng bị các bên đương sự kháng cáo hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị dẫn
đến việc giải quyết các vụ án này thường phải kéo dài, phức tạp và tốn kém
tiền của, công sức, thời gian của Nhà nước và đương sự. Hòa giải trong tố
tụng dân sự nằm ở giai đoạn đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, do đó, nếu các bên
có thế đi đến thống nhất, hịa giải thành thì việc giải quyết vụ án đá được rút
ngắn rất nhiều thời gian so với một vụ án thông thường, từ đó giúp giảm
nhiều loại chi phí tố tụng, thời gian, chi phí cho Nhà nước và các đương sự.
-Thứ ba : Khơi phục và củng cố đồn kết trong nội bộ nhân dân
Trong lĩnh vực dân sự, trước khi khởi kiện, phần lớn các bên đương sự
thường là những người có quan hệ với nhau ( quan hệ huyết thống, quan hệ
bạn bè, quan hệ kinh doanh...) nhưng vì một lí do gì đó đã nảy sinh tranh chấp
với nhau. Nếu được sự hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ của Tịa án, có thể các
đương sự sẽ tìm ra cách thỏa thuận chung để tìm cách giải quyết. Việc quy
định hòa giải là một thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, một phần
cũng là xuất phát từ truyền thống dân tộc Việt Nam, đó là truyền thống đồn
kết, tương thân tương ái, và tình cảm con người được đặt lên hàng đầu mỗi
khi xem xét một vấn đề nào đó liên quan đến tranh chấp. Hòa giải giúp cho
các bên đương sự hiểu biết, thông cảm với nhau, giảm bớt mâu thuẫn, tranh
chấp, ngăn ngừa tội phạm xảy ra xuất phát từ tranh chấp dân sự.
-Thứ tư : Nâng cao ý thức pháp luật của cơng dân.
Thơng qua việc giải thích pháp luật của Tòa án, các đươn sự nắm được
quy định của pháp luật liên quan đến quan hệ tranh chấp, hiểu được quyền và
nghĩa vụ hợp pháp của mình. Trên cơ sở đó, họ tuân thủ đúng quy định của
pháp luật.
-Thứ năm : Giúp Tịa án xác định rõ tình tiết, sự kiện, yêu cầu của các
bên tranh chấp, từ đó xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng
đắn vụ án.
Trong trường hợp hịa giải khơng thành, thì việc tiến hành hịa giải vụ
án dân sự cũng giúp cho Tịa án có điều kiện tìm hiếu sâu hơn nội dung tranh
chấp, hiểu biết rõ hơn tâm tư, nguyện vọng cũng như những vướng mắc của
các đương sự để từ đó có thể xác định phương hướng giải quyết đúng đắn hơn
khi đưa vụ án ra xét xử. Qua đó, đảm bảo bản án, quyết định của Tịa án được
ban hành và thi hành nhanh chóng, có hiệu quả.
5. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự
Hoạt động ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
được quy định tại các Điều 187và 188 BLTTDS, theo đó:
Điều kiện để cơng nhận sự thỏa thuận của các đương sự bao gồm:
- Các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ
vụ án.
- Hết thời hạn bảy ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà
khơng có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
- Trường hợp trong một vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng
mặt trong phiên hịa giải, nhưng các đương sự có mặt thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những
người có mặt và được công nhận nếu không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa
vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được cơng nhận
nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản.
Thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
thuộc về thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một thẩm phán được Chánh án
Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Vấn đề hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự : Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực
ngay sau khi văn bản được ban hành; đương sự khơng có quyền kháng cáo,
VKS khơng có quyền kháng nghị quyết định này theo thủ tục phúc thẩm. Tuy
nhiên, để đề phòng các sai lầm hay vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong q
trình tiến hành hòa giải. Điều 188 BLTTDS quy định quyết định cơng nhận sự
thỏa thuận của các đương sự vẫn có thể bị thay đổi. Cụ thể là:
Nếu sau khi quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã
được cơng bố, các đương sự lại có sự thay đổi nguyện vọng, ý chí, thì họ chỉ
được quyền làm đơn khiếu nại lên Tòa án cấp trên hoặc Viện kiểm sát cấp trên
để yêu cầu các cơ quan đó xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc
có chấp nhận đơn khiếu nại đó hay khơng tùy thuộc vào sự nhận định của Tòa
án cấp trên hoặc của Viện kiểm sát cấp trên rằng đơn khiếu nại của đương sự
có hợp tình hợp lý hay khơng.
Nếu Tòa án cấp trên hoặc Viện kiểm sát cấp trên thấy có căn cứ cho
rằng sự thỏa thuận của các đương sự là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc
trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc khơng có sự nhất qn giữa biên bản
hịa giải thành và quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, thì
Tịa án cấp trên hoặc Viện kiểm sát cấp trên sẽ chấp nhận đơn khiếu nại của
các đương sự, đồng thời sẽ tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Nếu Tòa án cấp trên hoặc Viện kiểm sát cấp trên thấy đơn khiếu nại của
các đương sự là không có căn cứ hoặc quyết định cơng nhận sự thỏa thuận
của các đương sự của Tòa án cấp dưới là đúng pháp luật, khơng có gì sai sót,
thì Tịa án cấp trên hoặc Viện kiểm sát cấp trên sẽ không chấp nhận đề nghị
của các đương sự trong đơn khiếu nại, khơng mở phiên tịa giám đốc thẩm và
u cầu các đương sự có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung của quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã có hiệu lực.
6. So sánh với Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và pháp luật tố tụng dân
sự một số nước trên thế giới.
- Những điểm mới của BLTTDS sửa đổi so với BLTTDS cũ năm 2004
+ Về thành phần phiên hòa giải: bổ sung quy định về nghĩa vụ của thẩm
phán trong việc thông báo về việc hỗn hịa giải và việc mở lại phiên hịa giải
cho đương sự biết. Thêm vào đó,thẩm phán có quyền yêu cầu cá nhân, cơ
quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hòa giải nếu xét thấy cần thiết. Đây
là một quy đình hồn tồn hợp lí vì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
trong nhiều trường hợp là bên có khả năng thuyết phục được đương sự để đi
đến sự đồng thuận. Ví dụ như là vai trò của Hội phụ nữ trong hòa giải các
vụán li hơn...
+ Về trình tự hịa giải: BLTTDS sửa đổi, bổ sung 2011 bổ sung các quy
đinh mới về trình tự hịa giải ( được quy định tại điều 185 BLTTDS sửa đổi
năm 2011). Đây là điều luật hồn tồn mới nhằm thiết lập quy trình chình
thức cho q trình hịa giải tiền tố tụng, tránh sự tùy tiện trong q trình hịa
giải.
- So với pháp luật về hòa giải của một số nước trên thế giới
Pháp luật Việt Nam ln có sự tiếp thu học hỏi nhiều điểm tiến bộ của
các nước trên thế giới nhưng chúng ta cũng khơng rập khn, máy móc theo
pháp luật nước khác mà ln có sự khác biệt. Sau đây là một số sự so sánh về
hòa giải trong pháp luật tố tụng Việt Nam với pháp luật tố tụng Trung Quốc,
pháp luật tố tụng Nhật Bản...
+ Theo quy định tại điều 89 luật tố tụng dân sự Trung Quốc, khi một
thỏa thuận hòa giải đạt được, Tòa án nhân dân ra một biên bản hòa giải tuyên
bố rõ ràng về các vấn đề như các tình tiết trong vụ việc và kết quả hịa giải.
Biên bản hòa giải này được ký bởi thẩm phán , thư ký của Tịa án, đóng dấu
Tịa án và sau đó được gửi tới các bên đương sự; sau khi các bên đương sự ký
vào thì nó lập tức có hiệu lực. trong thời gian biên bản hòa giải đang được gửi
đến mà các bên thay đổi ý kiến của mình thì Tịa án nhân dân phải ra một
phán quyết mà khơng được trì hỗn. Khác với pháp luật Trung Quốc, quy
định của pháp luật Việt Nam là sau khi lập biên bản hịa giải thành các bên
đương sự có 7 ngày để suy ngĩ, thay đổi ý kiến. Nếu sau thời hạn 7 ngày, các
bên đương sự khơng có ý kiến về việc thay đổi bất kỳ vấn đề nào mà các bên
đã thống nhất như trong biên bản hịa giải thì nó sẽ có hiệu lực pháp luật
Thêm vào đó, pháp luật tố tụng dân sự của Trung Quốc còn quy định
trong một số trường hợp nhất định thì Tịa án khơng cần ra biên bản hịa giải
ví dụ như: các vụ việc về ly hôn mà các bên khơng ly hơn nữa sau khi đã
được hịa giải, vụ việc liên quan đến con nuôi mà quan hệ ni dưỡng vẫn
được duy trì sau hịa giải...Trong các trường hợp này, tuy khơng cần biên bản
hịa giải tuy nhiên vẫn cần có văn bản ghi lại và văn bản này có hiệu lực ngay
sau khi được ký hoặc đóng dấu bởi cả hai bên, thẩm phán và thư ký Tòa án.
Còn theo quy định của pháp luật Việt Nam khơng có trường hợp nào hịa giải
thành mà khơng cần ra biên bản hòa giải thành như quy định của pháp luật
Trung Quốc.
+ So với quy định của pháp luật nước Nhật Bản
Nhật Bản là một nước có truyền thống lâu đời về giải quyết tranh chấp
bằng phương pháp thỏa thuận. Tranh tụng mới chỉ được biết đến khi được du
nhập từ các nước phương tây vào những năm đầu thế kỉ XIX.
Chủ thể tiến hành hòa giải: Hòa giải trong pháp luật của Nhật được
thực hiện thông qua một Hội đồng hòa giải. Hội đồng này thường bao gồm
một thẩm phán và hai hòa giải viên trở lên. Các hòa giải viên này thường là
những người có chun mơn trong lĩnh vực mà các bên tranh chấp. Điều này
sẽ giúp cho hiệu quả của hòa giải được cao hơn bởi hòa giải tranh chấp trong
những lĩnh vực mang tính chất đặc thù như tranh chấp thương mại hoặc tranh
chấp xây dựng thì thẩm phán thường khơng có kiến thức chun sâu. Do vậy,
việc tham gia của những người có chun mơn sẽ giúp cho thẩm phán rất
nhiều trong q trình hịa giải. Đây là điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam
và Nhật Bản về hòa giải. Trong pháp luật Việt nam, chủ thể chủ trì phiên hịa
giải chỉ có một thẩm phán.
Thủ tục hòa giải: ở Nhật, hòa giải được tiến hành bằng nhiều buổi gặp
gỡ các bên. Buổi đầu Hội đồng hòa giải sẽ thơng báo cho các bên về thủ tục
hịa giải. Các buổi tiếp theo, Hội đồng hòa giải sẽ gặp từng bên để từ đó tìm ra
bản chất của vấn đề và các vấn đề liên quan. Ở Việt Nam, việc hịa giải được
diễn ra dưới hình thức là phiên hịa giải với sự có mặt của thẩm phán và các
bên liên quan.
Hiệu lực của biên bản hòa giải: theo quy định của pháp luật Nhật Bản "
Khi có sự thỏa hiệp hoặc ý kiến chấp thuận hay từ bỏ chấp nhận yêu cầu được
thể hiện trong biên bản thì biên bản này có hiệu lực như một bản án không thể
chối bỏ được" ( Điều 267 BLTTDS Nhật Bản). Như vậy, biên bản hịa giải
thành có hiệu lực ngay sau khi lập chứ không phải sau thời hạn 15 ngày như
trong pháp luật Việt nam.
Thông qua việc tham khảo pháp luật quy định về hòa giải của một số
nước chúng ta có thể thấy rằng: pháp luật các nước quy định về hịa giải có
những điểm khác biệt nhất định so với phap luật Việt Nam. Điều này xuất
phát từ truyền thống văn hóa, pháp lí, điều kiện kinh tế xã hội của từng nước.
Chúng ta có thể học tập, áp dụng những yếu tố hợp lí từ pháp luật các nước để
hoàn thiện hơn nữa chế định hịa giải nói riêng, pháp luật tố tụng dân sự nói
chung cho phù hợp với sự phát triển của đất nước.
Chương 2
THỰC TIỄN HÒA GIẢI CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN.
1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An.
Tòa án nhân dân thành phố Vinh là đơn vị có bề dày thành tích và là
đơn vị ln dẫn đầu về phong trào thi đua của ngành TAND tỉnh Nghệ An.
Các chỉ tiêu, kết quả công tác của năm sau luôn cao hơn năm trước, góp phần
thiết thực cùng tồn ngành hồn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác được Đảng,
Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó, xứng đáng là lá cờ đầu trong cơng
tác thi đua của ngành Tịa án.
Thành phố Vinh là đô thị loại I, trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Nghệ An,
nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam có diện tích 1.005 km2, dân số
29.200.000 người, đơn vị hành chính có 25 phường, xã (16 phường, 9 xã) là
trung tâm của tuyến du lịch Đơng Nam Á, hội trụ đủ các loại hình giao thơng:
Có bến cảng, sân bay, các tuyến đường sắt, đường Quốc lộ I lưu thông giữa
hai miền Nam - Bắc. Là nơi tập trung dân cư đông nhất tỉnh Nghệ An. Nền
kinh tế ngày càng phát triển, thàn phố Vinh hiện nay là một trong 3 khu công
nghiệp phát triển nhất của tỉnh ( ba khu cơng nghiệp đó là: khu cơng nghiệp
Vinh- Cửa lị gắn với khu kinh tế Đơng Nam, khu vực Hồng Mai và khu vực
Phủ Quỳ) . Thành phố còn là khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch
hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khơ và nóng. Vào mùa
đơng, chịu ảnh hưởng của gió mùa đơng bắc lạnh và ẩm ướt.
Do địa bàn thuận lợi nên các tội phạm ở thành phố Vinh ngày càng
nhiều đặc biệt là tội trộm cắp tài sản, cướp giật, buôn bán ma tuý, mại dâm,
kinh doanh thương mại, tranh chấp đất đai… Số lượng án tăng lên so với cùng
kỳ năm trước, TAND thành phố Vinh là đơn vị nhiều án nhất trong tỉnh Nghệ
An. Chính vì vậy, nhiệm vụ càng nặng nề hơn, địi hỏi cần có sự đổi mới
mạnh mẽ về mọi lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác của
ngành đề ra.
Song song với việc triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn,
đơn vị cũng rất chú trọng tới cơng tác kiện tồn tổ chức và xây dựng đội ngũ
cán bộ. Đội ngũ Hội thẩm nhân dân có 36 vị, TAND Thành phố Vinh quan
tâm bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các loại vụ án
cũng như về trang phục, chế độ chính sách, tài liệu...Nhìn chung, đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, Thẩm phán, Thư ký, cán bộ nhân viên và Hội thẩm nhân dân đều
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác của ngành và của địa phương ; nội
bộ đơn vị đoàn kết, tập trung dân chủ.
Chi bộ, cơ quan luôn làm tốt công tác lãnh đạo, giáo dục về chính trị, tư
tưởng cho Đảng viên, cán bộ công chức. Trên cơ sở các chủ trương lãnh đạo
đơn vị đã có chương trình và kế hoạch hoạt động cụ thể ngay từ đầu năm
nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả. Cơng tác xây dựng Đảng cũng được
quan tâm nhất là việc phát triển đảng viên mới. Chi bộ TAND thành phố Vinh
nhiều năm liền được đánh giá là chi bộ trong sạch, vững mạnh
Tổ chức Cơng đồn, Đồn thanh niên, Ban nữ cơng cũng có vai trị
đáng kể trong việc chăm lo, động viên cán bộ, công chức và các đoàn viên
trong cơ quan phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, duy trì thường
xun có hiệu quả về việc đọc báo đầu giờ. Cơng đồn, Đồn thanh niên, phụ
nữ ln có những hạt nhân tiêu biểu trong các hoạt động của đơn vị, của địa
phương. Bằng nhiều hoạt động thiết thực Cơng đồn cơ quan đã động viên
cán bộ, công chức hăng hái thi đua lao động và công tác, đề cao tinh thần
trách nhiệm và tính tổ chức kỷ luật trong cơng tác để hồn thành xuất sắc
nhiệm vụ. Nhiều năm liên tục, Cơng đoàn, Đoàn thanh niên TAND Thành phố
Vinh đều được xếp loại xuất sắc. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chun
mơn, hoạt động của các tổ chức đồn thể cũng đạt kết quả tốt, gắn với thực
hiện các phong trào thi đua sơi nổi, có hiệu quả như việc “Học tập và làm theo