Tải bản đầy đủ (.doc) (46 trang)

thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam taị tỉnh hà tĩnh hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (258.95 KB, 46 trang )

LỜI CẢM ƠN
Sau hai tháng thực tập và nghiên cứu thực sự cố gắng và nghiêm túc tơi đã
hồn thành báo cáo thực tập của mình với đề tài: Thực trạng thực thi chính sách
hỗ trợ nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam tại tỉnh Hà Tĩnh hiện nay( nghiên
cứu trường hợp tại xã Sơn Trường- huyện Hương Sơn).
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban chủ nhiệm khoa và tập
thể các thầy cô giáo trong khoa LÞch Sư đã tạo diều kiện để sinh viên có một
kì thực tập bổ ích và đạt hiệu quả cao, có cơ hội cọ xát với mơi trường làm việc.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ phòng LĐ- TBXH huyện
Hương Sơn và cán bộ UBND xã Sơn Trường, cùng tất cả nhng ngi ó tạo
điều kiện giỳp tụi trong sut thi gian thc tp ti c quan và cung
cấp những tài liệu , thông tin quan trọng để tôi hoàn thành
bài báo cáo này.
c bit tụi xin cm n s giỳp nhit tỡnh ca Cô giáo Nguyễn
Thị Bích thủy giáo viên hướng dẫn của tơi, người đã tận tình chỉ bảo, chia sẽ
cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm và trực tiếp hướng dẫn cho tơi hồn thành
q trình thực tập cũng như báo cáo này.

1


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến tranh ở nước ta đã chấm dứt hơn 30 năm nhưng những hậu quả do
nó để lại cịn tồn tại đến ngày hôm nay và ảnh hưởng đến cả thế hệ mai sau.
Trong những hậu quả hết sức tàn khốc của chiến tranh có những di chứng khơng
thể nào xóa nhịa được đó chính là nổi đau chất độc màu da cam. Những người
con của đất nước theo tiếng gọi của tổ quốc đã lên đường vào Miền Nam đánh
Mĩ cứu nước.Từ chiến trướng khốc liệt trở về quê hương là niềm vui khơn xiết
của gia đình, bản thân nhưng thứ chất độc hóa học mà quân đội Mĩ đã rải xuống
thì mãi tồn tại trong cơ thể khi họ tham gia chiến đấu ở trong vùng bi rãi chất


độc màu da cam.Đó khơng chỉ là nổi đau nổi bất hạnh của một người mà nó là
nổi đau, nổi bất hạnh đeo bám đến cả cấc thế hệ mai sau.
Bao nhiêu người ra đi? Bao nhiêu người sống sót quay trở về? bao nhiêu
người phải chống chọi với chất độc kia, chống chọi với bệnh tật? Và bao nhiêu
trẻ em sinh ra trong nổi đau của chất độc màu da cam? Những nạn nhân có cuộc
sống như thế nào? Đó là những câu hỏi mà chúng ta những người may mắn
không bị ảnh hưởng bởi chất độc hủy diệt đó phải suy nghĩ và cần tìm ra được
nhưng lời giải đáp.
Trong chiến tranh từ năm 1961- 1971, quân đội Mĩ rải xuống đất nước ta
hơn 80 triệu lít chất độc hóa học trong đó có khoảng 400 kg dioxin xuống Miền
Nam nước ta. Nó đã làm nhiễm độc và tàn phá hàng triệu ha rừng đặc biệt
nghiêm trọng hơn nó gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của
con người.
Ở Việt Nam hiện nay hơn 4 triệu người là nạn nhân chất độc màu da cam.
Trong số những người bị nhiễm đó thì có hàng nghìn người chết, số người khác
thì đang chống chọi với bệnh tật và nguy cơ mắc các bệnh hiểm nghèo như ung
thư, và các bệnh nan y khác. Kể cả những thế hệ con cháu của họ cũng đang
sống trong bệnh tật nghèo đói khơng thể tự mình làm việc để ni bản thân lại
2


tạo nên gánh năng cho gia đình. Tất cả những điều dó là những di chứng để lại
của chất độc màu da cam.
Hà Tĩnh là một địa phương trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt chống
thực dân Pháp nhưng may mắn hơn các tỉnh phía Nam là khơng nằm trong vùng
bị rãi chất độc màu da cam nhưng theo tiếng gọi của tổ quốc thanh niên Hà Tĩnh
tòng quân vào Nam đánh giặc.Khi chiến tranh kết thúc họ trở về sinh sống, làm
việc và xây dựng quê hương. Niềm vui của gia đình khi các anh trở về càng lớn
thì họ lại càng đau đớn khi nhìn những người con, người chồng phải gồng mình
lên để chống chọi lại với các căn bệnh quái ác mà di chứng do chất độc để lại

đang diễn ra hàng ngày.
Trong số các huyện của tỉnh Hà Tĩnh, huyện Hương Sơn là một huyện có
tỉ lệ người đi tham gia chiến tranh ở chiến trường miền Nam là rất lớn trong đó
số người sống sót trở về chỉ đạt 1/4 số người ra đi và trong số những người trở
về đa phần đều bị nhiễm chất độc màu da cam tùy vào mức độ nặng, nhẹ khác
nhau.
Theo báo cáo thống kê của phòng LĐ- TBXH huyện Hương Sơn hiện nay
cả huyện có 1200 người bị nhiễm chất độc màu da cam chiếm 46 % người tàn
tật trên địa bàn trong đó có 425 trẻ em đưới 18 tuổi chiếm 9,86 %. Trong đó số
nạn nhân đã được hưởng các chế độ, chính sách của nhà nước là 815 người.
Theo báo cáo của thực hiện kế hoạch của tỉnh phịng LĐ- TBXH cho biết
tồn huyện có 1200 nạn nhân bị nhiễm trong đó có 697 người bị nhiễm trực tiếp
và 503 người bị nhiễm gián tiếp tức là thế hệ con cháu bị nhiễm, trong đó đa số
nạn nhân khơng có khả năng lao động . Đây là đối tượng phải chịu nhiều thiệt
thòi họ luôn phải sống trong nổi đau bệnh tật và cả nổi đau về tinh thần.
Sự chia sẻ động viên của xã hội, sự hỗ trợ đãi ngộ các chính sách của nhà
nước sẽ làm giảm bớt nổi đau cho những nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da
cam giúp họ vượt lên nổi đau cải thiện cuộc sống và cảm thấy đời đỡ bất hạnh.
Qua những con số trên cho chúng ta thấy được mức độ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống của nạn nhân bị nhiễm đến mức nào. Chính vì vậy chính sách
3


hỗ trợ của nhà nước là một yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết đối với các nạn
nhân chất độc màu da cam.
Xã Sơn Trường là một xã miền núi đặc biệt khó khăn thuộc huyện Hương
Sơn tỉnh Hà Tĩnh. Chiến tranh đã lùi xa nhưng hàng ngày những người đã tham
gia chiến tranh đang phải đối diện với những nổi đau của chất độc màu da cam
nổi đau đớn đó khơng chỉ các anh phải chịu đựng mà ngay cả người thân trong
gia đình con cái, cháu chắt phải gánh chịu hậu quả đó. Đã có rất nhiều chính

sách hỗ trợ của nhà nước nhằm thực hiện để giảm bớt khó khăn trong đời sống
của họ. Tuy nhiên làm thế nào để thực thi chính sách cho nạn nhân bị nhiễm chất
độc màu da cam hiệu quả thì chúng ta cần phải xem xét và tìm hiểu.
Các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam ở xã Sơn Trường đều có
hồn cảnh đặc biệt khó khăn. Một số nạn nhân đã nhận được một số chính sách
của xã hội nhưng cũng đang có rất nhiều nạn nhân bị nhiễm chưa nhận được hỗ
trợ nào. Vì thế các chính sách hỗ trợ có thể khơng nhiều nhưng nó có một ý
nghĩa hết sức to lớn làm cho các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam hiểu
rằng xã hội đang quan tâm đến họ không bỏ rơi và miệt thị họ.
Như vậy việc thực thi chính sách hỗ trợ của xã hội có vai trị, vị trí như
thế nào và thực trạng thực thi ra sao? Nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam
tiếp cận những chính sách đó thế nào? Đó là câu hỏi mà chúng ta cần quan tâm
từ đó chỉ ra những mặt hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ
trợ của xã hội cũng như đưa ra các kiến nghị giải pháp để giúp cho các nạn nhân
bị nhiễm chất độc màu da cam một cách tốt nhất các chính sách hỗ trợ đó để
giảm bớt khó khăn trong cuộc sống cho bản thân cũng như cho gia đình. Đó
cũng là lí do để chúng tơi quyết định chọn đề tài “ thực trạng thực thi chính sách
hỗ trợ nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam taị tỉnh Hà Tĩnh hiện nay (khảo
sát trường hợp tại xã sơn trường- huyện Hương Sơn) để làm bài báo cáo thực tập
cuối khóa.

4


2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Với những hậu quả nặng nề từ chất độc màu da cam/dioxin, việc chung
tay giúp đỡ các nạn nhân và gia đình của họ đều được sự hưởng ứng của tồn xã
hội. Đã có rất nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực thể hiện qua các chương trình
dự án hỗ trợ, giúp đỡ và cải thiện đời sống cho các nạn nhân giúp họ hịa nhập
với cộng đồng xã hội. Và các chính sách xã hội đã có vai trị như thế nào? Đã có

rất nhiều hội thảo khoa học được tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt
động hỗ trợ, các đề tài nghiên cứu về việc thưc thi và vai trị của chính sách đối
với nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam thể hiện trên những khía cạnh nào?.
Trong nghiên cứu “Vai trò của mạng lưới xã hội trong việc chăm sóc nạn
nhân chất độc hố học da cam/dioxin tại cộng đồng” (Nghiên cứu trường hợp
Huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế), luận văn thạc sĩ xã hội học chuyên ngành
xã hội học của Hồ Thị Kim Uyên, mã số: 603130 do PGS.TS. Mai Quỳnh Nam
hướng dẫn đã tìm hiểu trên những vấn đề sau.
* Nghiên cứu về thực trạng các điều kiện tiếp cận những dịch vụ y tế cơ
bản như khám chữa bệnh, khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế, chăm sóc, ni
dưỡng và phục hồi sức khoẻ của nhóm nạn nhân tại mơi trường gia đình, cộng
đồng.
* Nghiên cứu một số đặc điểm mạng lưới chăm sóc sức khoẻ của nhóm
nạn nhân tại một khu vực với những điều kiện xã hội – kinh tế ở một địa bàn
vùng biên giới miền núi có dân tộc ít người cư trú có nhiều điểm bất lợi về mặt
môi trường. Đề xuất các giải pháp, các phương hướng trợ giúp về chăm sóc y tế
trong cộng đồng có nhiều người là nạn nhân chất độc hố học trong và sau chiến
tranh ở Việt Nam.
Hội thảo “Tổ chức phục hồi chức năng cho nạn nhân chất độc hóa học do
Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam” do Bộ y tế phối hợp với trường Đại
học Y tế Công cộng tổ chức từ ngày 29 đến 30/09/2009. Hội thảo đã phác họa
bức tranh về thực trạng nạn nhân chất độc da cam/dioxin bị tàn tật, thực trạng về
5


mạng lưới phục hồi chức năng tại cộng đồng ở 3 địa phương triển khai dự án là
Thái Bình, Quảng Ngãi và Đồng Nai.
Với cách tiếp cận “Lấy người khuyết tật làm trung tâm, tập trung vào gia
đình và dựa vào cộng đồng”, Dự án hướng tới kết quả là mọi trẻ khuyết tật
trong vùng dự án sinh ra được phát hiện và được can thiệp sớm nhờ được tư vấn

và có sự tham gia tích của của gia đình và cộng đồng, người khuyết tật và gia
đình được tiếp cận và được hỗ trợ từ các dịch vụ tư vấn và huấn luyện phục hồi
chức năng, được phẫu thuật và cung cấp dụng cụ trợ giúp, hưởng lợi từ các
chính sách hỗ trợ.
Báo cáo của Ban chấp hành Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh
Hà Tĩnh về công tác hoạt động nhiệm kỳ I và phương hướng nhiệm kỳ II (2010 –
2015).
Trong Báo cáo kết quả hoạt động của Hội nạn nhân chất độc da
cam/dioxin tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ I (2005 – 2009), Hội đã sớm xác định hai
nhiệm vụ trung tâm hàng đầu của Hội là chăm sóc giúp đỡ nạn nhân, đồng thời
tham gia tuyên truyền góp thêm tiếng nói cùng với Trung ương Hội và cả nước
đấu tranh địi cơng lý cho nạn nhân chất độc da cam thông qua vụ khởi kiện dân
sự các cơng ty hóa chất Mỹ sản xuất chất độc hóa học để quân đội Mỹ sử dụng
trong chiến tranh Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo từ Trung
ương Hội, Hội nạn nhân chất độc da cam Đà Nẵng đã cố gắng đề ra các chương
trình hành động cụ thể, kêu gọi tồn Hội “Đồn kết – Nhân ái – Chủ động –
Sáng tạo”, tất cả vì nạn nhân chất độc da cam/dioxin; từng bước xây dựng các
dự án thiết thực, phát động phong trào “Vì nạn nhân chất độc da cam” để vận
động các tổ chức và cá nhân ở cộng đồng tham gia góp phần chăm sóc nạn nhân.
Trong “Phương hướng nhiệm vụ hoạt động của Hội nạn nhân chất độc
da cam/dioxin tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ II (2010 – 2015)” thì Hội tiếp tục song
hành hai nhiệm vụ trọng tâm: chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân tốt hơn nữa trong
cuộc sống, đồng thời cùng Trung ương Hội và cả nước tiếp tục cuộc đấu tranh
địi cơng lý cho nạn nhân chất độc da cam. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Vì
6


nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam”, hàng năm tổ chức sơ kết và tổng
kết phong trào thi đua “Vì nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam”. Đưa ra
các biện pháp lớn để xây dựng và phát triển Hội:

- Xây dựng kế hoạch chương trình hoạt động của Hội từng năm và 5 năm
sát với tình hình thực tế, thường xuyên có kiêm tra đánh giá và rút kinh nghiệm.
- Chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, đài truyền hình và
các ban ngành, hội, đoàn thể và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, để phát huy hiệu
quả các hoạt động của Hội. Giữ mối quan hệ chặt chẽ giữa Thành hội và Trung
ương Hội, với các Hội quận, huyện và tranh thủ sự giúp đỡ của cấp ủy và chính
quyền địa phương.
- Tập trung xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Bồi dưỡng và nâng cao
năng lực cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ mới.
- Phát triển công tác đối ngoại nhân dân trên cơ sở đường lối của Đảng và
Nhà nước để tiếp cận tạo cơ hội tranh thủ hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế
nhiều hơn nữa.
- Phấn khởi, tin tưởng bước vào nhiệm kỳ mới, Hội nạn nhân chất độc da
cam/dioxin tỉnh Hà Tĩnh nguyện “Đoàn kết – Nhân ái – Chủ động – Sáng tạo”
dấy lên phong trào mạnh mẽ cuộc vận động toàn dân giúp đỡ chăm sóc nạn nhân
chất độc da cam/dioxin và kiên trì cuộc đấu tranh địi cơng lý và đạo lý cho đến
thắng lợi.
Như vậy dựa trên sự kế thừa những công trình nghiên cứu và các bài viết
của những tác giả đi trước, nhóm chúng tơi mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu thêm
về thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ dành cho nạn nhân bị nhiễm chất độc da
cam. Tính mới của đề tài thể hiện ở chỗ việc thực thi chính sách hỗ trợ được thể
hiện qua cách đánh giá của người dân, họ có tiếp cận được với sự hỗ trợ đó
khơng, cũng như hiệu quả của các chính sách đã tác động như thế nào đến đời
sống của họ.

7


3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung

- Tìm hiểu thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ cho nạn nhân bị nhiễm
chất độc màu da cam và khả năng tiếp cận những chính sách của nạn nhân
bị nhiễm chất độc màu da cam tại xã Sơn Trường- Hương Sơn- Hà Tĩnh
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Các chính sách cụ thể hỗ trợ cho nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da
cam tại địa bàn.
- Khả năng tiếp cận chính sách của nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da
cam
- Hiệu quả của việc thực thi chính sách hỗ trợ cho nạn nhân bị nhiễm chất
độc da cam tại địa bàn
- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khi thực hiên những chính
sách hỗ trợ cho nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da
cam tại xã Sơn Trường – Huyện Hương Sơn-Tỉnh Hà Tĩnh.
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam tại xã Sơn Trường- huyện
Hương Sơn
- Cán bộ xã Sơn Trường- huyện Hương Sơn
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Không gian
- Đề tài tập trung nghiên cứu tại khu vực xã Sơn Trường - Huyện Hương
Sơn - Tỉnh Hà Tĩnh.
4.3.2 Thời gian
Thời gian nghiên cứu tiến hành từ tháng 1/2012 đến 3/2012.6.
8


5. Giả thiết nghiên cứu

- Việc thực thi chính sách hỗ trợ nạn nhân chất độc màu da cam còn gặp
nhiều khó khăn.
- Khả năng tiếp cận chính sách của nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da
cam chưa cao.
- Thực thi chính sách hỗ trợ góp phần giảm bớt khó khăn trong cuộc sống
cho nạn nhân nhiễm chất độc màu da cam.
- Việc thực thi chính sách hỗ trợ nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam
chưa đạt hiệu quả cao.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Xã sơn trường đã thực thi những chính sách gì cho nạn nhân bị nhiễm
chất độc màu da cam ?
- Việc thực thi chính sách đạt hiệu quả ra sao ?
- Nạn nhân bị nhiễm chất độc mầu da cam tiếp cận chính sách như thế
nào?
- Cần có Các giải pháp nào để nâng cao hiệu quả cho việc thực thi chính
sách cho nạn nhân bị nhiễm chất độc mầu da cam?
7 phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu được thực hiện trên nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn xem xét sự vật hiện tượng trong một
quá trình phát triển và trong mối liên hệ phổ biến Mark đã vận dụng và phát
triển phép duy vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét, lí giải các hiện tượng, sự vật
trong mối liên hệ tác động qua lại, trong mâu thuẩn và trong sự vận động, phát
triển không ngừng của lịch sử. Xuất phát điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử là
sự phân tích các q trình lịch sử từ góc độ cơ sở kinh tế của xã hội, từ quan
điểm: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
Nghiên cứu cịn có sự vận dụng hệ thống các khái niệm và lý thuyết của
các XHH chuyên nghành như: Lý thuyết cấu trúc- chức năng, lý thuyết mạng
9



lưới xã hội và lý thuyết vai trò xã hội cùng một số hướng tiếp cận của các XHH
chuyên nghành như: chính sách xã hội, an sinh xã hội.
7.2 Phương pháp hệ
7.2.1 Phương pháp chọn mẫu.
Đối với thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ các nạn nhân bị nhiễm chất
độc màu da cam chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất, dung lượng
là 3 mẫu.
Đối với đối tượng cung cấp thơng tin là hộ gia đình nạn nhân và thân nhân
bị nhiễm, chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm với dung lượng mẫu là
30 mẫu trên tổng số hộ 320 người bị nhiễm trên địa bàn xã Sơn Trường.
7.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
7.2.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong q trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các tài liệu sau đây: các
cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được cơng bố, đăng tải trên các
sách báo, tạp chí, báo in, báo điện tử...báo cáo theo tháng, theo quý của phong
LĐ_ TBXH huyện Hương Sơn, báo cáo tổng kết của ban chính sách xã Sơn
Trường...Ngồi ra chúng tơi cịn sử dụng một số tài liệu liên quan đến việc thực
thi chính sách cho nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam được phịng LĐTBXH cung cấp như thơng tư 50 của chính phủ về vấn đề thực hiện chính sách
cho người có cơng , bị nhiễm chất độc màu da cam và danh sách trích ngang của
các đối tượng bị nhiễm chất độc hóa học khi tham gia kháng chiến tại chiến
trường miền Nam.
Bằng phương pháp phân tích truyền thống chúng tôi tiến hành tổng quan,
sắp xếp chia tư liệu thành các tệp nhỏ theo các tiêu chí về nội dung thơng
tin.Cuối cùng chọn những thơng tin có giá trị để làm luận cứ, luận chứng cho bài
báo cáo.
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Với cách chọn mẫu phán đốn, chúng tơi chọn 3 đại diện của các cán bộ
địa phương cho cuộc phỏng vấn bán cấu trúc. Các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc
10



nhằm để thực hiện thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ nạn nhân bị nhiễm chất
độc màu da cam tại địa bàn, tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả trong
q trình thực thi chính sách của chính quyền địa phương và những ý kiến đề
xuất nhằm nâng cao hiệu quả khi thực hiện các chính sách đó.
Kết quả phỏng vấn bán cấu trúc cũng được xử lý thủ công, các thông tin
được chắt lọc và sắp xếp theo từng chủ đề hợp lý với nội dung của bài báo cáo.
7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trong nghiên cứu chúng tôi dự định sẽ thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu
dành cho các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam để tìm hiểu rõ hơn về việc
thực hiện các chính sách hỗ trợ hiện nay. Măt khác, tìm hiểu về cách tiếp cận
cũng như hiệu quả của các chính sách hỗ trợ mà các nạn nhân bị nhiễm chất độc
màu da cam được hưởng.
Các cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành xoay quanh nội dung như hoàn
cảnh gia đình, khả năng tiếp cân hỗ trợ, nguyện vọng, ý kiến đề xuất của các nạn
nhân để tiếp cận chính sách hỗ trợ dễ dàng và thuận lợi hơn.
7.2.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Để bổ sung và làm rõ những thông tin thu thập được từ phương pháp
phỏng vấn bán cấu trúc và phương pháp phỏng vấn sâu chúng tơi tiến hành 2
cuộc thảo luận nhóm tập trung để thu thập thông tin. 1 cuộc dành cho chính
quyền địa phương và 1 cuộc dành cho các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da
cam tại xã Sơn Trường- Hương Sơn- Hà Tĩnh.
7.2.2.5 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp hỗ trợ cho tất cả các phương pháp được chúng tôi sử
dụng trong đề tài nghiên cứu. Ở đây, chúng tơi đã sử dụng phương pháp quan sát
có chuẩn mực để mô tả đối tượng, để kiểm tra giả thuyết và để kiểm tra thông
tin từ các phương pháp khác, nhằm làm rõ hơn và bổ sung các thơng tin mà
chúng tơi thu thập được trong qua trình nghiên cứu của mình.
7.2.3 Phương pháp xử lý thơng tin

- Phương pháp xử lý định tính: nhóm thơng tin theo chủ đề
11


8. Khung lý thuyết

Chính sách hỗ trợ cho nạn nhân bị
nhiễm chất độc màu da cam

Đời sống của nạn nhân bị
nhiễm chất độc màu da cam

Khả năng tiếp cận chính sách

hiệu quả thực thi chính sách

Giải pháp, khuyến nghị

9. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
9.1 Ý nghĩa lý luận
Trong đề tài nghiên cứu này chúng tơi có sử dụng một số các khái niệm
cơ bản như: chất độc màu da cam, chính sách, chính sách xã hội, dioxin, vai trị
xã hội. Ngồi ra chúng tơi con vận chúng các lý thuyết cơ bản của các nhà xã
hội học tiền bối như: lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết cấu trúc chức năng,
lý thuyết vai trò.
12


9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài được thực hiện nhằm góp phần vào hệ thống nghiên cứu về vấn đề

chất độc màu da cam, thực hiện đề tài nhằm cung cấp thêm thơng tin và giúp
chúng ta có cách nhìn nhận rõ hơn, cụ thể hơn về nổi đau mà các nạn nhân bị
nhiễm chất độc màu da cam đang phải chịu đựng hàng ngày.
Đánh giá việc thực thi chính sách đối với nạn nhân bị nhiễm chất độc màu
da cam qua đó thấy được thực trạng đời sống của đối tượng bị nhiễm chhaats
độc hiện nay. Trên cơ sỡ đó khắc phục những hạn chế, tồn tại trong cơng tác
quản lý, thực thi chính sách và những thiếu sót của CSXH, hướng tới mục tiêu:
Đảm bảo cho đời sống cho nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam có mức
sống cao hơn, ổn định hơn.
10. Kết cấu báo cáo
Báo cáo gồm có ba phần
Phần I. Mở Đầu
Phần II. Nội dung nghiên cứu
Chương I. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương II. Kết quả nghiên cứu.
2.1 Thực trạng việc thực thi chính sách hỗ trợ các nạn nhân bị nhiễm chất
độc màu da cam của chính quyền địa phương.
2.2 Khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ và những thuận lợi, khó khăn khi
tiếp cận các chính sách của các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam.
2.3 Hiệu quả của việc thực thi chính sách hỗ trợ cho nạn nhân bị nhiễm
chất độc màu da cam của chính quyền địa phương.
Phần III. Kết luận, khuyến nghị và giải pháp

13


PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Các khái niệm cơ bản.
1.1 Khái niệm chính sách

Là cách thức tác động có chủ đích của một nhóm, tập đồn xã hội vào
nhóm, tập đồn xã hội khác thông qua các thiết chế khác nhau của hệ thống
chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định trước. Chính sách thường
được quyết định, các quy định, hệ thống văn bản pháp luật và các quy chuẩn
hành vi khác.( nguồn: Tailieu.vn)
1.2 Khái niệm chính sách xã hội
Chính sách xã hội là cơng cụ của nhà nước được thể chế hóa để tác động
vào những quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra góp
phần thực hiện cơng bằng, bình đẳng tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện của
con người.(Nguồn: Forum- viet.net )
1.3 Khái niệm chất độc màu da cam
Chất độc màu da cam là một chất diệt cỏ được sản xuất vào những năm
1940. Chất này đã được quân đội Mỹ sử dụng nhiều nhất trong chiến tranh việt
Nam để làm trụi rừng và rừng sú vẹt nhằm làm lộ ra các con đường vận tải và
các căn cứ quân sự, phá hủy mùa màng ngăn ta khơng có lương thực dự trữ. Để
phân biệt các chất khác nhau, các thùng được mang những cái băng màu nhận
dạng... Các màu trong sắc cầu vồng được dùng và tên các chất diệt cỏ dược gọi
theo tên các băng màu trên thùng chúa nó: chất xanh, chất đỏ, chất vàng... tên
“chất maù da cam” đại diện cho tất cả các chất diệt cỏ đã được sử dụng trong
chiến tranh Việt Nam.( Nguồn:www. wikipedia.org.vn)
1.4 Khái niệm dioxin
Dioxin là tên gọi chung của hầng trăm các hợp chất hóa học mà tồn tại
bền vững trong môi trường.
14


Trong đó, thành phần độc nhất là TCDD (2,3,7,8 Trtrachlorodibenzop
dioxin....)
Dioxin là sản phẩm phụ của nhiều quá trình sản xuất chất hóa học cơng
nghiệp liên quan đến clo như các hệ thống đốt chất thải, sản xuất hóa chất và

thuốc trừ sâu tẩy trắng trong sản xuất giấy.( nguồn: www.khoahoc.com)
1.5 Khái niệm vai trò xã hội
Vai trò xã hội là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ
được gắn cho một địa vị cụ thể.
2 Các lý thuyết liên quan
2.1 Lý thuyết mạng lưới xã hội.
Karl Mar đã từng nhấn mạnh bản chất của con người và của xã hội là mối
tổng hòa các liên hệ và quan hệ giữa họ với nhau.
Khai niệm mạng lưới xã hội ùng để chỉ phức hợp các mối quan hệ xã hội
do con người xây dựng duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư
cách là thành viên của xã hội.
Phân tích về mạng lưới xã hội đã có từ đầu thế kỷ XX gắn liền với nhà xã
hội học Đức Grorg Simmel với việc đưa ra các hái niệm tính liên hệ xã hội.Ơng
đã khắc họa hình thức mang tương tác xã hội tức là nhấn mạnh đến các kiểu
hình thức của mạng lưới gồm các mối liên hệ giữa các cá nhân, nhóm xã hội với
nhau.Còn Emile Dur khiem chú trọng đến cấu hình xã hội hay các loại hình xã
hội với các kiểu hình thức đồn kết xã hội. Mạng lưới quan hệ chức năng đặc
trưng cho các xã hội hiện đại với hình thức phân cơng lao động xã hội phức tạp
và mạng lưới phi chức năng đặc trưng cho kiểu đồn kết máy móc trong các xã
hội truyền thống và sự phân công lao động giản đơn.
Trên cấp độ vĩ mô nghiên cứu của Mark Granovetter về mật độ và cường
độ mạng lưới của xã hội cho biết những dặc điểm của mạng lưới xã hội có tác
dụng khác nhau đối với sự giao tiếp xã hội và sự hội nhập xã hội, ơng cho rằng
những người có mạng lưới xã hội giày đặc sẽ tạo ra sự hạn chế trong việc trao
15


đổi thông tin và hạn chế với thế giới bên ngoài. Nhưng ngược lại, một mạng lưới
xã hội bao gồm các mối liên hệ thưa thớt , lỏng lẻo sẽ tạo ra lợi thế cho sự trao
đổi thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội mà ông gọi hiện tượng này “hiệu

ứng của các mối liên hệ yếu ớt” [3, tr 259].
Nhìn chung các kiểu liên kết về quan hệ bao gồm quan hệ thân tộc giao
tiếp bạn hữu, đẳng cấp...
Các chính sách là một phần quan trọng trong xã hội hiện nay nó hữu ích
cho các cá nhân và quan trọng đối với xã hội. Vì thơng qua các chính sách thể
hiện rõ được sự quan tâm, chia sẽ giữa xã hội và các cá nhân. Mặt khác, nó giúp
xã hội vận hành một cách trơi chảy, gắn bó hài hịa.
Vận dụng lý thuyết trên vào đề tài nhằm giải thích vai trị của xã hội trong
việc thực thi chính sách hỗ trợ nạn nhân nhiễm chât độc màu da cam, bao gồm
các thực thể xã hội, chính quyền địa phương, các chính sách của nhà nước...
Các thực thể hành động liên kết với nhau tạo nên một mối liên hệ chặt chẽ
trong việc hỗ trợ nạn nhân chất độc màu da cam. Gia đình là chỗ dựa vững chắc
nhất cho các nạn nhân, hệ thống chính quyền địa phương là những người thực
hiện các chính sách hỗ trợ cho nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam là sự
chia sẽ, cam thông và tạo nên sức mạnh cho các nạn nhân giúp họ hòa nhập và
vượt lên số phận của mình.
2.2 Lý thuyết vai trị.
Một hệ thống có một cơ cấu phức tạp tương ứng với nó, bao gồm nhiều
bộ phận cấu thành, mỗi bộ phận có mỗi vị trí vai trị và chức năng xã hội khác
nhau.
Lý thuyết vai trò trong XHH nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của
XHH và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận
trong cơ cấu xã hội gắn liền với những quyền lợi nghĩa vụ hay hy vọng để định
hướng cho những hành vi xã hội của các cá nhân đó nó được xác định trong đối
chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác [2, tr 116].
16


Dựa vào đây chúng ta có thể thấy được vai trị to lớn của việc thực thi các
chính sách trong việc giúp đỡ giảm bớt khó khăn cho nạn nhân bị nhiễm chất

độc màu da cam.
Các chính sách xã hội được cơ quan chức năng thực hiện xen kẻ, hợp lý.
Mỗi chính sách có những đặc điểm nội dung và các thực hiện khác nhau trong
việc thực thi vào thực tiễn của từng hoàn cảnh của các nạn nhân bị nhiễm chất
độc màu da cam, nhằm hỗ trợ giảm bớt khó khăn về mặt kinh tế cũng như về
mặt tinh thần, tạo cho họ có cái nhìn lạc quan hơn vào cuộc sống có nghị lực
vươn lên hịa nhập cùng xã hội.
2.3 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết này xã hội được nhìn nhận như một hệ thống hồn chỉnh của
các mối liên hệ giữa các bộ phận. các nghiên cứu thường xem xã hội như cơ thể
con người. Trong đó các bộ phận giống như các bộ phận của cơ thể có các chức
năng riêng, chức năng này thỏa mãn nhu cầu của hệ thống và các bộ phận [1, tr
76]

17


CHƯƠNG II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
Vị trí địa lý
Sơn Trường là một xã miền núi nằm ở phía Đơng Nam của huyện Hương
Sơn, tỉnh Hà Tĩnh cách trung tâm huyện 6km.
Phía Bắc giáp với xã Sơn Phú huyện Hương Sơn
Phía Nam giáp với xã Sơn Thọ Huyện Vũ Quang
Phía Đơng giáp xã Sơn Phúc và Sơn Mai huyện Hương Sơn
Phía Tây giáp xã Sơn Hàm huyện Hương Sơn
Tổng diện tích đất tự nhiên là 1933,35 ha, dân số năm 2010 là 4515 gồm
1361 hộ được phân bổ trên 10 thơn .
Địa hình
Địa hình của xã Sơn Trường chủ yếu là đồi núi hệ thống núi từ Đông

sang Tây thấp dần vào giữa và thấp dần từ Nam ra Bắc, độ cao trung bình 180m
– 380 m so với mặt nước biển, đỉnh cao nhất là Tràm Mây 400m, thấp nhất là
vùng Khe Cấy 150m. Nằm xen giữa các khu dân cư là diện tích đất trồng lúa,
trồng màu và các loại cây công công nghiệp ngắn ngày khác. Gắn với khu dân
cư là diện tích vườn đồi trồng cây ăn quả các loại và cây lâm nghiệp.
Khí hậu thời tiết
Sơn Trường là 1 xã nằm chịu ảnh hưởng chung của vùng Bắc miền trung,
đặc điểm khí hậu chia 4 mùa: Xn, hạ, thu, đơng. Mùa hè nắng nóng, mùa đơng
lạnh và khơ hanh, có nhiệt độ trung bình hàng năm 25,9 0C. Vào tháng 05, 06, 07
nhiệt độ có thể lên tới 39 - 40 0C. Nhiệt độ thấp nhất là vào các tháng 12, 01, 02
là 5 đến 60C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1268 mm, tháng cao nhất là
tháng 7 khoảng 900mm, tháng thấp nhất vào các tháng 12, tháng 01, tháng 02,
trung bình lượng mưa chỉ có 15- 20mm.
Do Sơn Trường nằm chịu ảnh hưởng chung của vùng Bắc miền trung nên
mùa hè phải chịu khơ hạn bởi gió Phơn tây nam(giị Lào) nên hiện tượng khơ
18


hạn gay gắt, mùa đơng chịu ảnh hưởng gió mùa đơng bắc. Độ ẩm khơng khí
trung bình là 87%
Nhìn chung khí hậu của xã thuận lợi cho sản xuất nơng nghiệp, đa dạng
hố cây trồng.
Nguồn nước
Nguồn nước tưới tiêu chính của xã được lấy tư 2 hồ lớn đó là hồ Bãi Sậy
và hồ Mỏ Kẹc ngồi ra cịn lấy từ các hồ nhỏ tại các thôn.
Nguồn nước ngầm phong phú, tầng nước nông, chất lượng tốt thuận lớ
cho việc khai thác và sử dụng. Đây là nguồn nước chủ yếu để sinh hoạt và làm
rau màu cho người dân địa phương.
Đánh giá chung về vị trí địa lý địa hình của xã.
Thuận lợi:

- Xã Sơn Trường có vị trí địa lý tương đối thuận lợi lại có đường Hồ Chí
Minh chạy xuyên suốt từ đầu xã đến cuối xã, cách trung tâm huyện lỵ không xã
nên việc giao lưu đi lại, trao đổi hàng hoá đối với hộ dân là tương đối thuận lợi
- Là một xã có địa hình, tài ngun đất, nước và mơi trường sinh thái phù
hợp với sản xuất nơng nghiệp, đa dạng hố các loại cây trồng, vật nuôi năng suất
cao và chất lượng sản phẩm tốt.
Khó khăn:
- Khí hậu thời tiết biến động thất thường, mùa hè chịu nóng nực bởi gió
Lào, mùa thu lại phải gánh chịu liên tục những trận bão và lũ quét gây thiệt hại
lớn cho người dân. Vì địa hình là đồi núi dốc cho nên sau những đợt mưa lớn
xói mịn đi một lượng đất màu gây bạc màu nhanh chóng. Mùa đơng giá lạnh
nên cây trồng, vật ni chậm phát triển. Vì vậy nền kinh tế khơng có điều kiện
để phất triển.

19


2. Kết quả nghiên cứu
2.1 Thực trạng việc thực thi chính sách hỗ trợ các nạn nhân bị nhiễm
chất độc màu da cam của chính quyền địa phương.
2.1.1 Các chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương
Theo số liệu thực tế đã thu thập được về các chính cách hỗ trợ cho các nạn
nhân bị nhiễm chất độc màu da cam trên địa bàn xã Sơn Trường- huyện Hương
Sơn- tỉnh Hà Tĩnh. Đi sâu vào tìm hiểu chúng ta sẽ thấy rõ được những nỗ lực
của các cơ quan, tổ chức làm thế nào đó để thực hiện một cách tốt nhất vai trị
của mình trong vấn đề thực thi các chính sách.
Hiện nay tại huyện Hương Sơn có hơn 1200 nạn nhân bị nhiễm chất độc
màu da cam, trong đó phần lớn là những người đã tham gia ở chiến trường miền
Nam và những nơi mà quân Mĩ rải chất độc màu da cam, khi trở về họ mang
trong người chất độc ấy và làm ảnh hưởng đến thế hệ con cháu của họ, các nạn

nhân đều có hồn cảnh khó khăn, khơng có khả năng lao động. “Có những nạn
nhân bị nhiễm chất độc nặng sinh ra bốn người con thì có ba người bị nhiễm”
(Ơng Nguyễn H, thôn 8). Do vậy sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, các
chính sách của Đảng và Nhà nước là niềm an ủi lớn lao cho các nạn nhân.
Trong thời gian vừa qua, huyện Hương Sơn đã thực hiện các chính cách
hỗ trợ dành cho các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam trên toàn huyện.
Theo chỉ thị và quy định của Nhà Nước hiện nay, phần lớn các nạn nhân bị
nhiễm chất độc màu da cam đã được hưởng các chính sách như: hưởng chế độ
trợ cấp hàng tháng theo từng mức độ khác nhau (từ 491.000-1.452.000
đồng/tháng) mức trợ cấp tùy theo mức độ bị nhiễm chất độc được phòng y tế
kiểm tra và chứng nhận. Thực hiện các chính sách “ Nhà ở cho người tàn tật”
vào tháng 7 năm 2011 phòng LĐTBXH kết hợp với các phịng và ban nghành
như Đồn thanh niên, Hội Chữ thập đỏ, Hội HLHPN, Hội cựu chiến binh... thực
hiện chủ trương của Nhà nước trợ giúp xây dựng 112 ngôi nhà cho các nạn nhân
trong 32 xã trên địa bàn. Trong đó xã Sơn Trường là xã có rất nhiều trường hợp
nạn nhân bị nhiễm chất độc gia cam có hồn cảnh đặc biệt khó khăn nên đã
20


được hỗ trợ xây 6 ngơi nhà đó là các nạn nhân: Phạm Xuân Cúc, Lê Thị
Nga( thôn 10), Trần xuân Phú( thôn 1), Nguyễn Hợi( thôn 8), nguyễn Huy
Văn( thôn 7), trần Huy(thôn 5).(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện chính sách
cho người tàn tật năm 2011 của phịng LĐ- TBXH).
Thực hiện pháp lệnh số 26/2005/PL – UBTVQH11 ngày 29/06/2005 của
UBTV và Quốc Hội, các nghị định của chính phủ, thông tư của các cán bộ,
ngành...về việc hướng dẫn thực hiện chế độ ưu đãi người có cơng với cách
mạng. Trên cơ sỡ văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của sở LĐ – TBXH tỉnh đã triển
khai các chế độ chính sách của Đảng và nhà nước xuống các xã thị. Năm 2010
toàn huyện đã giải quyết các hồ sơ tồn đọng và giải quyết cho 429 người đươc
hưởng trợ cấp đó là những người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất

độc hóa học. Sau đó giải quyết thêm 11 người hoàn thành thủ tục chậm.
Năm 2011 tổng số nạn nhân đang hưởng trợ cấp (tính đến 30/09/2011) là
700 đối tượng. Hiện nay phòng LĐ – TBXH huyện Hương Sơn đang tiếp nhận
và giải quyết các đơn thư thắc mắc khiếu nại của của các đối tượng bị nhiễm
chất độc màu da cam mà chưa nhận được hỗ trợ của nhà Nước cũng như các
chính sách của chính quyền địa phương. Phịng LĐ – TBXH chịu trách nhiệm
chuyển các thông tin cũng như hướng dẫn các nạn nhân hoàn thành hồ sơ để tiếp
tục xét duyệt trong thời gian tiếp theo( Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm
vụ chun mơn, tình hình giải quyết đơn thư thưc hiện kết luận kiến nghị, quyết
định xử lí của các đồn kiểm tra và cải cách hành chính thuộc lĩnh vực LĐTBXH).
Ngoài ra các tổ chức, ban ngành còn triển khai và thực hiện các hoạt động
thăm hỏi, động viên các nạn nhân về các dịp lễ tết, thương binh liệt sĩ 27/7 và
ngày vì nạn nhân chất độc màu da cam Việt Nam 10/8 hàng năm. Tuy khơng
nhiều nhưng đó là món q động viên tinh thần cho các nạn nhân.
Hàng năm phòng LĐ- TBXH huyện kết hợp cùng với đoàn thanh niên,
Hội chử thập đỏ, Hội LHPN, BHXH...tổ chức các cuộc mít tinh nhằm tạo tiếng
nói chung cũng như sự đồng cảm, chia sẽ giữa những nạn nhân bị nhiễm chất
21


độc, lắng nghe nguyện vọng của họ. Ngày tết nguyên đán phòng LĐ- TBXH
huyện Hương Sơn kết hợp với UBND huyện đã đi tặng 450 suất quà cho các nạn
nhân bị nhiễm chất độc màu da cam, mỗi suất trị giá 500.000 đồng và thực hiện
tặng “áo ấm tình thương”cho các gia đình có con đẻ bị nhiễm chất độc màu da
cam khi mùa đông về. Thực hiện hoạt động dạy nghề cho con em của các nạn
nhân khơng có điều kiện để đi học. Trong năm 2011 phòng LĐ- TBXH đã phối
hợp với cơ sỡ dạy nghề Hồng Phúc đưa 20 em đi học nghề sửa chữa xe máy, sữa
chữa điện tử.... tại thành phố Vinh với thời gian là 3 tháng. Hiện tại đã có 12 em
đi làm có thu nhập từ 1.000.000 - 2.000.000 đồng/tháng.Số cịn lại đang theo
học chuẩn bị ra trường.(Nguồn: Báo cáo hoạt động phòng LĐ- TBXH quý 2

Năm 2011).
Việc thực hiện duyệt và trợ cấp thẻ BHYT theo nghị định 13/NĐ – CP cho
các xã, thị trấn trong đó xã Sơn Trường được cấp 225 đối tượng là nạn nhân bị
nhiễm chất độc màu da cam, duyệt 9 hồ sơ đối tượng là con đẻ bị nhiễm chất
độc màu da cam đang học tạp hưởng chế độ “ưu đãi giáo dục” và cấp 3 tạ muối,
5 tạ gạo cho các nạn nhân trong dịp tết nguyên đán vừa qua. Tham gia cùng nhà
tài trợ VINCOM tặng 200 suất quà cho nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam
tại xã Sơn Trường, cấp 100% thẻ BHYT cho các nạn nhân bị nhiễm chất độc
màu da cam. Ngồi ra xã Sơn Trường đã hịa thiện và đưa đi xét duyệt thêm 10
hồ sơ cho những đối tượng bị nhiễm chất độc màu da cam nhưng chưa được
hưởng các chính sách của Đảng và nhà Nước.(Nguồn:Báo cáo hoạt động của
phòng LĐ- TBXH huyện Hương Sơn quý 1 năm 2011).
Hiện tại đời sống của các nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam đều
gặp rất nhiều khó khăn, theo số liệu thống kê của xã của xã Sơn Trường thì hiện
nay tồn xã có 320 người bị nhiễm chất độc màu da cam trong đó có 90 người bị
suy giãm KNLĐ từ 80% trở xuống, 105 trẻ em DTDD, SGKNLĐ còn tự lực
được trong sinh hoạt, 50 trẻ em không tự lực trong sinh hoạt, số còn lại 75 người
bị nhiễm nhưng mức độ nhẹ. ( Nguồn: Báo cáo tổng hợp người tàn tật xã Sơn
Trường năm 2011).
22


Hiện nay xã Sơn Trường đang áp dụng các mức hưởng chế độ ưu đãi khác nhau cho
từng nạn nhân trên địa bàn như: 1.452.000 đồng, 491.000 đồng, 867.000 đồng theo bảng tổng
hợp thanh tốn chi phí trả trợ cấp hàng tháng xã Sơn Trường thì lại trợ cấp cho đối tượng
người bị nhiễm chất độc hóa học hàng tháng là 226.035.000 đồng.

TT

Loại trợ cấp


Số tiền trợ cấp

Số người

130.680.000 đồng

90

51.555.000 đồng

105

43.800.000 đồng

50

Người nhiễm CĐHH và
con đẻ bị nhiễm CĐHH
Bị mắc bệnh suy giãm

1

KNLĐ từ 80% trở xuống
Con bị DTDD, suy giãm

2

KNLĐ còn tự lực được
trong sinh hoạt

Con bị dị tật suy giãm

3

KNLĐ khơng tự trong sinh

hoạt
[Bảng tổng hợp thanh tốn kinh phí chi trả trợ cấp hàng tháng cho nạn
nhân bị nhiễm CĐHH tại xã Sơn Trường.]
Năm 2011 xã đã thực hiện hỗ trợ xây dựng được 6 ngôi nhà cho nạn nhân
bị nhiễm chất độc màu da cam có hồn cảnh đặc biệt khó khăn.Ngồi sự hỗ trợ
của nhà nước các tổ chức, ban ngành thì xã Sơn Trường tổ chức qun góp từ
các hội gia đình. Ngồi qun góp tiền thì xã cịn vận động bà con giúp đỡ các
gia đình bằng các ngày cơng.

Danh sách các hộ gia đình được trợ cấp nhà ở:

TT

Họ và tên

Năm sinh
23

Đơn vị


1

Phạm Xuân Cúc


1939

Thôn10

2

Lê Thị Nga

1955

Thôn10

3

Trần Huy

1946

Thôn 5

4

Trần Xuân Phú

1971

Thôn 1

5


Nguyễn Hợi

1942

Thơn 8

6

Nguyễn Huy Văn

1965

Thơn 7

[Danh sách trích ngang các đối tượng bị nhiễm chất độc màu da cam
được hỗ trợ nhà ở.]
Mỗi ngôi nhà trị giá 40 triệu đồng. Số tiền này được hỗ trợ từ quỹ dành
cho người tàn tật của sở, ngồi ra cịn có sự hỗ trợ từ phía Hội chữ thập đỏ,
Đồn thanh niên, Hội phụ nữ của tỉnh.Riêng trong năm 2011 huyện Hương Sơn
đã trích quỹ “đền ơn đáp nghĩa”, vận động thêm các nguồn tài trợ với tổng số
tiền là 130 triệu đồng. Các doanh nghiệp gạch tuynel Sơn Bình, Cơng ty TNHH
Cảnh Dương, các nhà hảo tâm đã tặng sổ tiết kiệm cho 4 đối tượng mỗi sổ trị giá
3 triệu đồng đó là các nạn nhân: Đào Xuân Sơn (thôn 10), Nguyễn Thị Thuận
(thôn 2),Cù Thị Nghĩa ( thôn 4) và Nguyễn Hợi ( thôn 8) và tặng 15 suất học
bổng cho các học sinh là con em của nạn nhân tham gia học tập.(Nguồn: Báo
cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về người có cơng trên địa bàn
huyện Hương Sơn giai đoạn 2006 – 2011).
Để đáp ứng nhu cầu đi lại của các nạn nhân CĐMDC sở LĐ- TBXH đã
tặng cho các nạn nhân chiếc xe lăn dành cho nạn nhân đi lại khó khăn, do ảnh

hưởng của chất độc nên bị thiếu hụt tay chân không thể di chuyển được của
huyện Hương Sơn. Riêng xã Sơn Trường sau khi phòng LĐ- TBXH xem xét đã
quyết định hỗ trợ cho 5 nạn nhân bị nhiễm CĐMDC nặng các đối tượng đều bị
liệt chân hoặc liệt cả hai chân. Đây là niềm vui và hạnh phúc của gia đình các
nạn nhân. Với kinh tế gia đình khó khăn như hiện tại để có tiền mua cho nạn
nhân chiếc xe lăn là rất khó nhờ có sự quan tâm của các cơ quan, ban nghành
nên gia đình thuận tiện hơn trong việc chăm sóc các nạn nhân “từ khi có chiếc
24


xe lăn vợ chồng tôi đỡ vất vã hơn khi đưa cháu đi vệ sinh cá nhân, đơi lúc cịn
đưa nó ra ngồi cho thống nữa”.( ơng Phạm Xn C thôn 10)
Danh sách nạn nhân được hỗ trợ xe lăn của xã Sơn Trường:

Năm

Họ và tên

1

Phạm Thị Hoa Tươi

1980

Thôn 1

Liệt chân, tay

2


Nguyễn Thị Thúy Kiều

1990

Thôn 2

Teo hai chân

3

Lê Văn Đức

1963

Thôn 7

Liệt hai chân

4

Phạm Hồng Quân

1975

Thôn 10

Liệt tay chân

5


Lê Cao Thắng

1983

Thôn 9

Liệt hai chân

Sinh

Đơn Vị

Tình trạng khuyết

TT

tật

[ Danh sách trích ngang các nạn nhân bị nhiễm CĐMDC tại xã Sơn
Trường đã được cấp xe lăn]
Trong thời gian vừa qua xã Sơn Trường đã nhận được sự giúp đỡ của các
ban nghành nên đã thực hiện tốt được các chính sách dành cho nạn nhân bị
nhiễm CĐMDC, từ những kết quả trên chúng ta có thể thấy sự nỗ lực của cán bộ
địa phương cũng như các nhà hảo tâm đã quan tâm đến các nạn nhân tạo niềm
tin cho nạn nhân vào cuộc sống, tương lai.

25



×