Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

Đương sự trong vụ án dân sự tại tòa án nhân dân tỉnh kon tum thực trạng và kiến nghị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (548.29 KB, 25 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHÂN HIỆU KON TUM

PHẠM MINH PHONG

ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH KON TUM – THỰC TRẠNG VÀ
KIẾN NGHỊ

Kon Tum, tháng 12 năm 2016


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHÂN HIỆU KON TUM

PHẠM MINH PHONG

ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH KON TUM – THỰC TRẠNG VÀ
KIẾN NGHỊ

GVHD : TÔ QUANG ĐÔ
SVTH : PHẠM MINH PHONG
LỚP

: K612LHV

MSSV : 122501039

Kon Tum, tháng 12 năm 2016




MỤC LỤC
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG......................................................................................................... 1
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 1
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 1
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................................. 1
5. Bố cục đề tài .................................................................................................................... 2
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM .................. 3
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM ................................. 3
1.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................................. 3
1.1.2. Cơ cấu tổ chức ....................................................................................................... 3
1.2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM ...... 4
CHƢƠNG 2. ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ .................................................. 5
2.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ .......................... 5
2.1.1. Khái niệm .............................................................................................................. 5
2.1.2. Đặc điểm về đương sự trong vụ án dân sự ............................................................ 5
2.1.3. Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng
dân sự ................................................................................................................................... 6
2.1.4. Xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự ............................................... 7
2.1.5. Quyền, nghĩa vụ của đương sự ............................................................................ 12
2.1.6. Ý nghĩa của việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự ........................ 13
2.2. THỰC TIỄN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON
TUM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.................................................................................... 13
2.2.1. Thực tiễn xét xử vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum ..................... 13
2.2.2. Một số kiến nghị .................................................................................................. 15
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP

i


LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong q trình giải quyết vụ án dân sự thì đương sự là chủ thể khơng thể thiếu, họ
có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức (có tư cách pháp nhân và khơng có tư cách pháp
nhân). Trong các vụ án dân sự có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án dân sự tham gia với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Trong một số trường hợp tuy họ khơng có quyền lợi ích liên quan đến vụ án dân sự
nhưng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của nhà nước trong lĩnh
vực được tham gia phụ trách.
Vì vậy, xác định tư cách tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự là một trong
những vấn đề quan trọng để giải quyết những yêu cầu phát sinh tại Tòa án, do các đương
sự khởi kiện để yêu cầu Tịa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích cơng
cộng, lợi ích nhà nước hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp.
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có nhiều sửa đổi về người tham gia tố tụng, quy định chi tiết
hơn, cụ thể hơn và đó cũng chính là lý do mà tôi chọn đề tài “Đương sự trong vụ án dân
sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum – Thực trạng và kiến nghị” để làm báo cáo thực
tập.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bên cạnh việc nâng cao sự hiểu biết về pháp luật Việt Nam nói chung, về pháp luật
tố tụng dân sự nói riêng thì cũng nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ
án dân sự khi tham gia tố tụng, điều kiện khởi kiện khi quyền và lợi ích bị xâm phạm,
rộng hơn nữa là thực hiện quyền và nghĩa vụ của một công dân.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đương sự trong vụ án dân sự bao gồm cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: chỉ nghiên cứu về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự.
Phạm vi thời gian: nghiên cứu Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi bổ
sung năm 2011, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao có liên quan đến đề tài này.
Phạm vi không gian: nghiên cứu thực tiễn xét xử án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh
Kon Tum.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài báo cáo được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê
Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về chiến lược cải cách tư pháp trong thời gian tới.
Đồng thời, bài báo cáo kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực
luật học như: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và phương pháp thống kê, tổng
kết kinh nghiệm.

1


5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bài báo cáo gồm 02
chương:
Chương 1: Giới thiệu về Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
Chương 2: Đương sự trong vụ án dân sự - Thực trạng và kiến nghị.

2



CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
1.1.1. Vị trí địa lý
Tịa án nhân dân tỉnh Kon Tum có trụ sở nằm trên địa bàn Thành phố Kon Tum,
đây là tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum, nằm ở vùng địa hình lịng chảo phía nam của tỉnh này.
Do nằm ở vị trí đặc biệt, đất đai bằng phẳng và màu mỡ được sông Đắk Bla bồi đắp,
và cũng do nhiều yếu tố lịch sử mà vùng đất này dần trở thành nơi định cư của nhiều dân
tộc khác nhau, trong đó có người Kinh đến từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định.
Thành phố Kon Tum nằm ở phía nam tỉnh Kon Tum, được uốn quanh bởi thung
lũng sông Đăk Bla - vùng đất thấp nhất của tỉnh Kon Tum.
Phía tây thành phố giáp huyện Sa Thầy, phía bắc giáp huyện Đắk Hà, phía đơng
giáp huyện Kon Rẫy và phía nam giáp tỉnh Gia Lai.
Thành phố có diện tích tự nhiên 43.298,15ha.
Thành phố có 155.214 người (năm 2013) gồm 20 dân tộc cùng sinh sống.
Thành phố có trục giao thông huyết mạch là Quốc lộ 14 đi các tỉnh Quảng Nam,
Gia Lai và quốc lộ 24 đi tỉnh Quảng Ngãi. Ngồi ra, thành phố cịn có tỉnh lộ đường 675
kết nối huyện Sa Thầy và đường 671 đi huyện Đắk Hà.
Thành phố có 21 đơn vị hành chính gồm 10 phường: Duy Tân, Lê Lợi, Ngơ Mây,
Nguyễn Trãi, Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất, Trần Hưng Đạo,
Trường Chinh và 11 xã: Chư Hreng, Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk Năng, Đắk Rơ Wa, Đồn
Kết, Hịa Bình, Ia Chim, Kroong, Ngọk Bay, Vinh Quang.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, cơ cấu tổ chức của Tòa
án nhân dân tỉnh Kon Tum gồm có:
Ủy ban thẩm phán Tịa án nhân dân tỉnh Kon Tum gồm có 04 người trong đó thành
phần gồm: Chánh án, 01 Phó Chánh án; 01 Chánh tịa hình sự, 01 Chánh tịa dân sự.
Ủy ban Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Thảo luận về việc thực hiện chương trình, kế hoạch cơng tác của Tịa án nhân dân

tỉnh.
Thảo luận báo cáo cơng tác của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh với Tòa án nhân dân
tối cao và Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Tổng kết kinh nghiệm xét xử.
Thảo luận về kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh đề nghị Chánh án Tòa
án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu của Chánh án.
Các Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân tỉnh gồm Tịa hình sự, Tịa dân sự, Tịa
kinh tế, Tịa lao động, Tịa hành chính. Các Tồ chun trách của Tồ án nhân dân tỉnh
gồm có Chánh tịa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án.

3


Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tỉnh:
Sơ thẩm những vụ việc theo quy định của pháp luật.
Phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.
Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum gồm có: Văn phịng; Phịng
Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; Phòng Tổ chức cán bộ, thanh tra và Thi đua khen
thưởng.
1.2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân tỉnh
Kon Tum có thẩm quyền sau:
Xét sử sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng.
Xét xử phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật của Tịa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố
tụng.
Giám đốc thẩm, Tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật.

4


CHƢƠNG 2
ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM - THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
2.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐƢƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1.1. Khái niệm
Trong tiếng việt “Đương sự” được hiểu là “Người”, là “đối tượng” trong một sự
việc nào đó được đưa ra để yêu cầu Tòa án giải quyết những mối quan hệ, những vấn đề
phát sinh trong xã hội. Đương sự bao gồm công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước
ngồi, người khơng có quốc tịch, các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ
chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội – nghề nghiệp
Đương sự trong vụ án dân sự chính là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh
vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự. Xác định tư cách
của đương sự trong tố tụng dân sự tức là xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân
sự.
Theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: Đương sự trong vụ án
dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án là do nhu cầu giải quyết các quan hệ pháp
luật nội dung giữa các đương sự để ổn định xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
các chủ thể nên các đương sự là một thành phần không thể thiếu của vụ án dân sự. Khơng
có đương sự thì vụ án dân sự khơng tồn tại tại Tịa án. Mặt khác, đương sự cũng chính là
chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung được Tòa án giải quyết trong vụ án dân sự, có
quyền định đoạt quyền lợi của mình khi tham gia quan hệ. Trong quá trình tham gia tố

tụng đương sự tồn tại song song quyền lợi đi đơi với nghĩa vụ của mình, tương ứng với
sự định đoạt của đương sự hay pháp luật có quy định.
2.1.2. Đặc điểm về đƣơng sự trong vụ án dân sự
Đương sự trong vụ án dân sự luôn luôn tồn tại hai khía cạnh rất quan trọng, đó là
năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực pháp luật
tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự là hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể
của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật
tố tụng dân sự nên để tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thì đương sự phải có
năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Do đó, nếu thiếu
một trong hai yếu tố trên thì khơng thể coi là đương sự trong vụ án dân sự được.
a. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự
Là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định.
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (khoản 1 Điều 69 BLTTDS
2015).

5


Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân bao giờ cũng gắn liền với sự tồn tại
của cá nhân từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. Năng lực pháp luật
tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và chấm dứt
khi cơ quan, tổ chức đó khơng cịn tồn tại.
b. Năng lực hành vi tố tụng dân sự
Là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho
người đại diện tham gia tố tụng dân sự (khoản 2 Điều 69 BLTTDS 2015).
Để hiểu rõ hơn về năng lực hành vi đối với từng độ tuổi, cá nhân, cơ quan, tổ chức,
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể như sau:
Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng
dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. Ở độ tuổi

này, nếu đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo
quyết định của Tòa án.
Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì khơng có
năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự cũng như
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Tòa án sẽ do người đại diện hợp pháp
của họ thực hiện.
Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm thì việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ tố tụng dân sự cũng như việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Tịa
án sẽ do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Trong giới hạn độ tuổi này, nếu họ là
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa
án.
Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao
động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự
mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân
sự đó. Trong trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của họ, Tịa có quyền triệu tập người
đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đối với những việc khác thì việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa sẽ do người đại diện hợp pháp của
họ thực hiện.
Đương sự là cơ quan, tổ chức sẽ do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng.
2.1.3. Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố
tụng dân sự
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự có mối quan
hệ ràng buộc và khơng thể tách rời nhau. Năng lực pháp luật dân sự là cơ sở của năng lực
hành vi tố tụng dân sự. Năng lực hành vi tố tụng là bước ngoặc, đánh dấu khả năng nhận
thức, tư duy của con người trong mối quan hệ xã hội, dựa trên năng luật pháp luật quy
định cho mỗi cá thể. Chính vì vậy, cả hai hỗ trợ cho nhau, để đảm bảo thống nhất trong

6



một cá thể độc lập cũng là cơ sở để đảm bảo yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
2.1.4. Xác định tƣ cách của đƣơng sự trong vụ án dân sự
Đương sự trong vụ án dân sự là một phần tất yếu không thể thiếu đối với bất kì vụ
án dân sự nào. Việc xác định đương sự trong vụ án dân sự là việc làm hết sức quan trọng
trước khi đi vào thụ lý hồ sơ và giải quyết vụ án. Quy định hiện nay của pháp luật Việt
Nam đã có những định nghĩa cũng như những chỉ dẫn rõ ràng về việc xác định đương sự
trong vụ án dân sự. Điều này cũng tạo nên những đóng góp tích cực đối với ngành Tịa án
nói riêng và việc ổn định trật tự, an ninh xã hội nói chung. Tuy nhiên, việc xác định đúng
và đủ tư cách tố tụng của đương sự trong thực tiễn xét xử vụ án dân sự hiện nay cũng cịn
nhiều vướng mắc, khó khăn, chưa giải quyết triệt để được. Do đó, chúng ta cần phải đi
sâu vào phân tích, xác định về tư cách tố tụng của đương sự nhằm tìm ra giải pháp để
giúp cho việc thực thi pháp luật trong tố tụng dân sự được giải quyết nhanh chóng, hồn
thiện.
Trong vụ án dân sự việc xác định đúng và đủ thành phần đương sự có ý nghĩa rất
quan trọng trong đường lối giải quyết vụ án, hơn nữa đó là tiền đề cho việc giải quyết vụ
án được toàn diện và đảm bảo cho nguyên tắc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa được
thực thi.
a. Đƣơng sự là cá nhân: có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi
tố tụng dân sự.
b. Đƣơng sự là cơ quan: Gồm các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân.
Cơ quan tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật (thủ trưởng cơ
quan) hoặc đại diện theo ủy quyền. Thông thường một cơ quan gồm nhiều bộ phận cấu
thành về nguyên tắc nếu những bộ phận cấu thành này khơng có quyền độc lập về tài sản
thì các bộ phận này khơng thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự.
Ví dụ: Tịa án nhân dân tối cao có nhiều bộ phận khác nhau trong đó có 05 Tịa
chun trách và 03 Tịa phúc thẩm hoạt động độc lập nhưng khơng có quyền độc lập về
tài sản. Do đó các Tịa này khơng thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự, mà đương

sự phải là Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, đối với những bộ phận trong cơ quan
nhưng lại có quyền độc lập về tài sản, có quyền tham gia các quan hệ dân sự với tư cách
độc lập thì bộ phận này vẫn có quyền tham gia tố tụng dân sự độc lập.
Ví dụ: Báo pháp luật của Bộ Tư pháp là một đơn vị của Bộ Tư pháp nhưng đơn vị
này có thẩm quyền ký hợp đồng lao động với phóng viên, có quyền độc lập tham gia các
giao dịch dân sự trên cơ sở tài chính độc lập, vì vậy họ có tồn quyền tham gia tố tụng
với tư cách là đương sự.
c. Đƣơng sự là tổ chức: Gồm tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã
hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Tổ chức tham gia tố
tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Tổ
chức là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân và có thể tham gia tố tụng dân sự với tư

7


cách là đương sự. Trường hợp tổ chức có nhiều bộ phận thì chỉ những bộ phận hồn tồn
độc lập về tài chính mới có tư cách đương sự.
Ví dụ: Tổng cơng ty có văn phịng, có phịng kế tốn tài vụ…và các cơng ty thành
viên thì văn phịng, phịng kế tốn tài vụ… khơng thể tham gia tố tụng với tư cách đương
sự, nhưng các công ty thành viên, nếu đủ điều kiện là pháp nhân thì được tham gia tố
tụng dân sự với tư cách đương sự.
Đối với cơ quan, tổ chức nước ngồi thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự được xác
định theo pháp luật của nước cơ quan, tổ chức đó được thành lập, trừ trường hợp pháp
luật Việt Nam có quy định khác.
Đối với tổ chức quốc tế thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự được xác định trên cơ
sở điều ước Quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức
Quốc tế hoặc điều ước Quốc tế đã được ký kết với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
d. Xác định tƣ cách nguyên đơn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nguyên đơn
trong vụ án dân sự là “người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân, do do Bộ

luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này
quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của
Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”.
Như vậy, có thể thấy nguyên đơn trong vụ án dân sự không những chỉ là người khởi
kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của
họ bị xâm phạm mà nguyên đơn trong vụ án dân sự còn là cơ quan, tổ chức khởi kiện để
yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ
trách. Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương
sự khác. Hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi
hay đình chỉ hoạt động tố tụng.
Về nguyên tắc thì nguyên đơn phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có
tranh chấp, có quyền, lợi ích liên quan đến quan hệ pháp luật nội dung đó. Người khởi
kiện có thể là nguyên đơn hay người đại diện hợp pháp của ngun đơn. Cịn ngun đơn
khơng phải mọi trường hợp đều là người khởi kiện. Nguyên đơn có thể khơng là người có
quyền và lợi ích bị xâm phạm
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách nguyên đơn khi họ thực hiện quyền khởi kiện
yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích cơng cộng, lợi ích
của nhà nước do mình phụ trách hoặc ủy quyền cho người khác khởi kiện để bảo vệ
quyền lợi cho họ.
Với cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc cơ quan, tổ chức thông
qua người đại điện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự và được Tòa án thụ lý thì cá nhân, cơ
quan, tổ chức đó được xác định là nguyên đơn. Nếu cá nhân là người khơng có năng lực
hành vi tố tụng dân sự mà được người đại điện khởi kiện thì người khơng có năng lực

8


hành vi tố tụng dân sự được bảo vệ quyền lợi là nguyên đơn. Khi cơ quan, tổ chức khác

theo quy định của pháp luật khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác thì người được bảo vệ quyền lợi chính là ngun đơn, cịn chủ thể khởi kiện vì lợi
ích của người khác được xác định là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn.
Để xác định một chủ thể là nguyên đơn của vụ án dân sự còn căn cứ vào thời điểm
khởi kiện. Đó là trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dung trong
tranh chấp cùng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ nội dung tranh chấp đó,
Tịa án thụ lý đơn khởi kiện của bên nào trước thì bên đó được xác định là ngun đơn.
Ngồi những căn cứ trên để một chủ thể trở thành nguyên đơn trong vụ án dân sự
thì bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có thể trở thành nguyên đơn
trong các trường hợp sau:
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên u cầu
phản tố của mình. Khi đó bị đơn trở thành nguyên đơn.
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ với yêu cầu độc lập trở thành nguyên đơn.
e. Xác định tƣ cách bị đơn
Trong vụ án dân sự thì bị đơn ln đi kèm với nguyên đơn, bởi khi nguyên đơn
nhận thấy quyền và lợi ích của mình bị người khác xâm phạm thì họ sẽ khởi kiện tại Tịa
án để u cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của họ. Lúc này, người bị nguyên đơn khởi kiện sẽ
được gọi là bị đơn. Vì vậy, bị đơn đóng vai trị khơng thể thiếu trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự. Bị đơn là người tham gia tố tụng dân sự một cách bắt buộc, thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và thường có quyền lợi đối
kháng với nguyên đơn.
Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị
nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi
kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp
của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.
Tùy vào từng vụ việc, mối quan hệ mà xác định tư cách bị đơn, cụ thể:
Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án về quan hệ bảo lãnh: trường hợp này
phụ thuộc vào những điều kiện luật định. Chủ nợ có thể khởi kiện người có nghĩa vụ theo
quan hệ hợp đồng hoặc theo quan hệ bảo lãnh để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo quy

định của pháp luật dân sự. Bị đơn sẽ là người bảo lãnh nếu nghĩa vụ đến hạn phải thực
hiện nhưng bên có nghĩa vụ khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng nghĩa vụ hoặc
khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu khơng thuộc trường hợp này thì
người bị kiện hay bị đơn chính là người có nghĩa vụ theo quan hệ hợp đồng.
Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án về quan hệ pháp luật sở hữu: Bị đơn
trong quan hệ pháp luật sở hữu thường là bên vi phạm quyền sở hữu của chủ thể khác.
Pháp luật dân sự hiện hành có sự phân biệt giữa tài sản là động sản phải đăng ký quyền
sở hữu và tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Đối với động sản khơng
phải đăng ký quyền sở hữu thì chủ sở hữu chỉ có quyền khởi kiện người chiếm hữu ngay

9


tình để địi lại tài sản trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này
thơng qua hợp đồng khơng có đền bù với người có quyền định đoạt tài sản. Trong trường
hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền địi lại động sản nếu
động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngồi ý chí của chủ sở
hữu – kiện vật quyền.
Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng. Trong các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người bị thiệt hại phải khởi
kiện người có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự. Khi đó người
bị khởi kiện chính là bị đơn. Đối với việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do người
chưa thành niên gây ra, chủ thể được xác định là bị đơn bao gồm cha mẹ của người chưa
thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hai; người chưa thành niên từ đủ mười năm tuổi
đến chưa đủ mười tám tuổi; cá nhân, tổ chức giám hộ trong trường hợp người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại.
Đối với thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì bị đơn là người có trách
nhiệm trong quan hệ bồi thường. Người bị khởi kiện được xác định là bị đơn trong vụ án
dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có thể là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ
đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, người được chủ sở hữu nguồn nguy

hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của
pháp luật; người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại.
Cũng căn cứ vào thời điểm kiện mà một chủ thể có thể được xác định là bị đơn hay
nguyên đơn. Đó là trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dung
trong tranh chấp cùng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ nội dung tranh
chấp đó, thì bên mà Tịa án thụ lý đơn khởi kiện sau bên kia được xác định là bị đơn.
Ngồi ra, trong q trình giải quyết vụ án dân sự tại Tịa, bị đơn có thể trở thành
nguyên đơn như đã phân tích ở trên, và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan cũng có thể trở thành bị đơn trong những trường hợp xác định căn cứ vào Điều 200
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
Nguyên đơn trở thành bị đơn trong trường hợp: nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố.
Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn khi nguyên đơn rút toàn
bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình.
Khoản 5 Điều 72 BLTTDS 2015 quy định: bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu độc lập
đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến
việc giải quyết vụ án, trường hợp này thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn.
f. Xác định tƣ cách của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng
vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ lợi ích của mình.
Việc tham gia của họ có thể xuất phát từ chính họ (chủ động tham gia) hoặc theo yêu cầu
của đương sự khác hoặc Tòa án

10


Khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc
giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình

đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia
tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Trong vụ án dân sự ngồi ngun đơn, bị đơn cịn có người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan. Bởi, khi giải quyết vụ án dân sự để giải quyết tranh chấp giữa ngun đơn và
bị đơn thì có thể liên quan tới quyền, nghĩa vụ của người thứ ba. Để giải quyết vụ án tồn
diện, triệt để địi hỏi cần thiết phải có sự tham gia của người thứ ba này với tư cách là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Họ có thể tham gia tố tụng độc lập hoặc đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn. Một
chủ thể được coi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi họ tự mình đề nghị được
tham gia tố tụng, được các đương sự khác đề nghị Tòa án chấp nhận đưa họ tham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc họ sẽ tham gia tố tụng
theo ý chí của Tịa án khi việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi nghĩa
vụ của họ mà khơng có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng. Để xác định tư cách
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự, thì cần căn cứ vào việc xác định
tư cách của các đương sự trước đó của Tịa án, phụ thuộc vào việc thực hiện quyền khởi
kiện của nguyên đơn và việc thụ lý vụ án dân sự của Tòa án.
Theo quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: “Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố
tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người tham gia vào
hoạt động tố tụng của vụ án có yêu cầu độc lập trước Tòa án. Yêu cầu này là đối tượng
mà Tòa án phải xem xét giải quyết cùng với yêu cầu của nguyên đơn. Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp
giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị
đơn. Do đó, yêu cầu của họ có thể chống lại nguyên đơn, bị đơn hoặc chống lại cả hai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn
hoặc bị đơn hay có thể hiểu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khơng có u cầu
độc lập là người tham gia vào vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ luôn phụ thuộc vào việc tham
gia tố tụng của nguyên đơn hoặc bị đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia

tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn do có quyền, lợi ích của họ gắn liền với
quyền, lợi ích của nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không thể đưa ra yêu cầu độc lập với
yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cịn có thể là người có u cầu khơng độc
lập, ở đây họ khơng được tự mình u cầu bảo vệ quyền, lợi ích cho mình, yêu cầu phụ
thuộc vào việc tham gia tố tụng, vào yêu cầu của nguyên đơn hay bị đơn. Chính vì vậy,
họ khơng thể khởi kiện riêng để Tịa án giải quyết quyền lợi cho riêng họ.

11


Trong những trường hợp thơng thường thì một vụ án dân sự chỉ có một nguyên đơn
và một bị đơn. Tuy nhiên, cũng rất nhiều vụ án mà có một nguyên đơn kiện nhiều bị đơn
hoặc nhiều nguyên đơn kiện một bị đơn hoặc nhiều nguyên đơn kiện nhiều bị đơn. Trong
những vụ án như thế này thì khái niệm đồng tham gia tố tụng sẽ xuất hiện, hay còn được
gọi là đồng nguyên đơn hoặc đồng bị đơn.
“Đồng nguyên đơn là những người có quyền hoặc lợi ích đang bị một người (hay
nhiều người) vi phạm hoặc có tranh chấp và đã cùng khởi kiện hoặc cùng được những
người có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích cho họ.
Đồng bị đơn là những người cho rằng đã cùng vi phạm đến quyền lợi của một
người hay nhiều người và vì vậy đã cùng bị kiện tại Tòa án”.
Trường hợp này các nguyên đơn hoặc các bị đơn phải tham gia vào cùng một quan
hệ pháp luật nội dung. Nếu như nội dung đó là khác nhau, liên quan đến những vụ án
khác nhau thì họ khơng thể được gọi là đồng nguyên đơn hoặc đồng bị đơn được, lúc này
họ chỉ tham gia vào những vụ án riêng biệt và họ có thể được xác định với tư cách là
nguyên đơn, bị đơn, hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Những người đồng tham gia tố tụng không tranh chấp với nhau và lợi ích của họ
khơng đối lập nhau. Các đồng tham gia tố tụng họ phải thống nhất với nhau về các lợi ích
của họ, khơng được tranh chấp với nhau, bởi nếu tranh chấp với nhau thì họ sẽ có thể làm
phát sinh ra một vụ án mới.

2.1.5. Quyền, nghĩa vụ của đƣơng sự
Bộ luật tố tụng dân sự 2004, được sửa đổi bổ sung năm 2011 chưa quy định đầy đủ
về nghĩa vụ của đương sự nên đã gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc
xử lý những tình huống cụ thể, làm cho vụ án bị kéo dài. Đồng thời, để đủ điều kiện thực
hiện việc tranh tụng trong quá trình tranh tụng, cần thiết phải quy định đầy đủ về quyền
và nghĩa vụ của đương sự. Chính vì vậy, khắc phục những thiếu sót, bất cập của bộ luật
cũ, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã kế thừa, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của đương sự,
cụ thể:
Tơn trọng Tịa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tịa.
Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo
quy định của pháp luật.
Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ, nơi cư trú, trụ sở của mình; trong q trình Tịa
án giải quyết vụ việc nếu có thay đổi địa chỉ, nơi cư trú, trụ sở thì phải thơng báo kịp thời
cho đương sự khác và Tịa án.
Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình khơng
thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ
mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân đang lưu
giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập
người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản.

12


Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc
do Tịa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ giữ bí mật theo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015.
Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao
đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ giữ bí mật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015. Trường hợp vì lý do chính đáng khơng thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài
liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ.

Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án
trong q trình Tịa án giải quyết vụ việc.
Đề nghị Tịa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc.
Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng.
Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện chí, khơng được lạm dụng để gây cản
trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác; trường hợp khơng thực hiện nghĩa vụ
thì phải chịu hậu quả do Bộ luật này quy định.
2.1.6. Ý nghĩa của việc xác định tƣ cách đƣơng sự trong vụ án dân sự
Việc xác định tư cách của đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có ý
nghĩa vơ cùng quan trọng. Việc xác định đúng đắn một chủ thể là nguyên đơn, bị đơn hay
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự không chỉ bảo đảm để họ thực
hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
mà cịn là một bảo đảm cho Toà án trong việc giải quyết vụ án dân sự được đúng đắn,
khách quan. Do vậy, xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự không thể không
dựa trên những căn cứ luật định.
Xác định đủ tư cách tố tụng của đương sự: Để cá nhân, cơ quan, tổ chức trở thành
đương sự thì phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
Xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự: Việc giải quyết vụ án dân sự tại Tịa
án có liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của nhiều người trong mối quan hệ mà họ
cho là bị xâm phạm. Tùy thuộc vào từng trường hợp mà Tòa án phải xác
định cho đúng tư cách tham gia tố tụng để giải quyết cho phù hợp với các quy định
của pháp luật. Là căn cứ để các bên đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố
tụng của mình.
Xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự không những giải quyết vụ án đúng
đắn, phù hợp pháp luật mà còn đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩ
trong tố tụng dân sự.
2.2. THỰC TIỄN XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON
TUM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.2.1. Thực tiễn xét xử vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum

Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 ra đời và ngày
01/7/2016 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thay thế Bộ luật tố tụng 2004 đã
làm cho hoạt động xét xử các vụ án dân sự thời gian qua của hệ thống Tòa án nhân dân

13


nói chung và hệ thống Tịa án nhân dân hai cấp tỉnh Kon Tum nói riêng, đạt được nhiều
kết quả cả về số lượng lẫn chất lượng. Số lượng án giải quyết đều đạt chỉ tiêu đặt ra của
ngành, hạn chế đến mức thấp nhất án bị hủy, sửa vì lỗi chủ quan của người tiến hành tố
tụng.
Nhìn chung, việc giải quyết các vụ án dân sự đã đáp ứng, tuân thủ pháp luật cả về
nội dung lẫn tố tụng, xác định đúng và đầy đủ tư cách tham gia tố tụng của đương sự,
đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đem lại niềm tin vào pháp
luật, công lý cho người dân
Số lượng các vụ án dân sự đã thụ lý, giải quyết tại hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp
tỉnh Kon Tum tăng lên đáng kể qua từng năm: Năm 2014, số lượng vụ án dân sự đã thụ
lý, giải quyết 322/354 vụ; năm 2015 là 385/403 vụ; năm 2016 là 380/427 vụ. Số lượng
các vụ án dân sự tăng theo xu hướng và mức độ phức tạp hơn, nhiều tình huống mới phát
sinh cùng với sự phát triển của xã hội. Trong khi đó, Bộ luật tố tụng cũ cịn nhiều bất cập,
chưa lường trước những thay đổi của thực tế, văn bản hướng dẫn chưa cụ thể, còn chung
chung dẫn đến việc giải quyết các vụ án phần nào gặp nhiều khó khăn, một trong số đó là
việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự cịn nhiều thiếu
sót ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, gây khó khăn cho cơng tác thi hành án.
Cụ thể có những thiếu sót thường gặp như:
Một là, thiếu sót trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự là Ngân
hang.
Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật dân sự 2005 và Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2005
thì Văn phịng đại diện và Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc khơng phải là pháp nhân. Tuy
nhiên, vẫn có nhiều Tịa án ghi đương sự là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nơng

thơn Việt Nam- Chi nhánh…là sai.
Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa chi nhánh Ngân hàng A
với ơng Nguyễn L. Tịa cấp sơ thẩm xác định chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nơng thơn A là ngun đơn là khơng chính xác. Lẽ ra, phải xác định nguyên đơn là
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, ủy quyền cho chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn A, do ông Nguyễn T- Giám đốc….
Hai là, thiếu sót trong việc khơng đưa người có quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan
tham gia tố tụng.
Đây là lỗi thường gặp trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự. Ngun nhân có
thể do đương sự khơng cung cấp thơng tin, có thể Tịa án xác minh, thu thập chứng cứ
không đầy đủ dẫn đến không đưa người có quyền lợi liên quan đến vụ án, ảnh hưởng đến
tiến độ giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba, thậm chí gây khó
khăn cho công tác thi hành án dân sự.
Ba là, thiếu sót trong việc xác định tư cách đương sự trong trường hợp nhập vụ án.
Ví dụ: Trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” giữa Nguyên đơn công ty
ECE VN và ECE Nhật Bản với bị đơn là công ty TNHH Đầu tư xây dựng Ngọc Phong.
Trong quá trình giải quyết vụ án công ty ECE VN xin rút lại tư cách đồng nguyên đơn.

14


Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã đưa công ty ECE vào tham gia tố tụng với tư cách
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trên thực tế, tại biên bản thỏa thuận tư vấn xây
dựng không hề có chữ ký xác nhận của cơng ty ECE VN nên thực sự công ty ECE VN
không tham gia thỏa thuận này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn đưa công ty
ECE vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không
đúng quy định của pháp luật.
Nguyên nhân để xảy ra thiếu sót
Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, mặc dù đội ngũ cán bộ Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp đã được tăng

cường đáng kể trong thời gian gần đây nhưng số lượng Thẩm phán vẫn còn thiếu so với
biên chế được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê duyệt, tạo nguồn bổ sung không đáp ứng
kịp yêu cầu trước thực trạng số lượng án gần đây tăng cả về số lượng và tính chất ngày
càng phức tạp đã tạo ra áp lực công việc quá tải. Có nơi trung bình một Thẩm phán phải
giải quyết khoảng 20 vụ án các loại/tháng nên không thể tập trung nhiều thời gian cho
việc nghiên cứu vụ án, dễ dẫn đến sai sót.
Thứ hai, việc ban hành các văn bản của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
thống nhất pháp luật đối với các vướng mắc trong thực tiễn xác định tư cách đương sự
còn chưa nhất quán, chưa rõ ràng hoặc quy định còn chung chung, chưa đáp ứng kịp thời
so với yêu cầu hiện nay dẫn đến còn lúng túng trong thực tiễn xét xử.
Thứ ba, nhận thức pháp luật của người dân nhất là ở những vùng sâu, vùng xa vẫn
cịn hạn chế, khơng biết được việc mình phải có trách nhiệm khai báo thơng tin về những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để việc giải quyết vụ án được chính xác nên dẫn
tới Tòa án xác định thiếu người tham gia tố tụng mà chủ yếu là người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan đến vụ án.
Nguyên nhân chủ quan:
Một số Thẩm phán - Chủ tọa phiên tịa nói riêng và Hội đồng xét xử nói chung,
Thẩm phán được phân cơng giải quyết vụ án dân sự cịn chủ quan, khơng nghiên cứu kỹ
các quy định của pháp luật và văn bản hướng dẫn khi áp dụng dẫn đến việc áp dụng pháp
luật khi tiến hành tố tụng thiếu chính xác. Năng lực của một số Thẩm phán còn chưa thực
sự đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, chưa nêu cao tinh thần trách
nhiệm, chưa tích cực học tập để nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ dẫn tới xác
định sai và thiếu tư cách đương sự tham gia tố tụng.
Công tác bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ giải quyết vụ án dân sự chưa được
chú trọng, số lượng các buổi tập huấn giải quyết các vụ án dân sự chưa được nhiều và
chất lượng cũng chưa cao.
Công tác kiểm tra, rút kinh nghiệm giải quyết các vụ án dân sự chưa thực sự đạt
hiệu quả, một số bản án dân sự do xác định không đúng tư cách của đương sự tham gia tố
tụng nên dẫn đến giải quyết vụ án không đúng với tính chất của vụ việc.
2.2.2. Một số kiến nghị


15


Để hạn chế những thiếu sót nêu trên trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng
của các đương sự trong vụ án dân sự, tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau:
Một là, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao sớm có văn bản hướng dẫn thi hành, nhất là
hướng dẫn cụ thể thế nào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cần hướng dẫn
phân biệt rõ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khơng có u cầu độc lập đứng về
phía nguyên đơn hoặc bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu độc lập
để giúp Tịa án xác định chính xác thế nào là đương sự trong vụ án và tại bản án xác định
cụ thể ai là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía ngun đơn, ai là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn và ai là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Hai là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ chun mơn nghiệp vụ cho
các Thẩm phán, thư ký và kiến thức pháp luật cho các Hội thẩm nhân dân. Thông qua
việc thường xuyên tổ chức định kỳ các buổi tập huấn, trong các buổi tập huấn này cần
hướng dẫn cụ thể phương pháp xác định tư cách tố tụng của đương sự đồng thời cần cập
nhật kiến thức pháp luật về các văn bản có hiệu lực thi hành có quy định về tư cách tố
tụng đương sự, khi xác định tư cách tố tụng của đương sự thì áp dụng điều luật nào, có
như vậy thì kỹ năng nghiệp vụ và kiến thức pháp luật mới được nâng cao, đảm bảo việc
xác định tư cách tố tụng đương sự đúng quy định của pháp luật, qua đó bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân.
Ba là, thường xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm giải quyết các loại án, trong
đó giải quyết các vụ án dân sự cần được chú trọng, bởi lẽ kết quả giải quyết vụ việc ảnh
hưởng rất lớn đến quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng
đến các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị.
Bốn là, cần tăng cường công tác kiểm tra nghiệp vụ, xây dựng kế hoạch kiểm tra
theo chuyên đề để phát hiện, khắc phục kịp thời những sai phạm trong hoạt động tố tụng.
Xác định rõ trách nhiệm và có cơ chế xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp cán

bộ cơng chức có vi phạm, áp dụng pháp luật một cách tùy tiện.
Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện có những sai sót trong việc xác định tư cách
tham gia tố tụng của đương sự thì Tịa án cấp trên tổng hợp lại sau đó rút kinh nghiệm
cho Tịa án cấp dưới, thơng qua những cuộc họp giao ban định kỳ, những buổi tập huấn
chuyên môn nghiệp vụ trong công tác xét xử, trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng thì kiến nghị cấp có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Ngoài ra, Tòa án tỉnh Kon Tum nên thường xuyên lồng ghép tổ chức rút kinh
nghiệm trong chuyên môn, thực hiện các chuyên đề, trong đó chuyên đề về xác định tư
cách tham gia tố tụng đương sự cũng cần được xem trọng, nêu ra những thiếu sót thường
gặp để các Tịa án có cơ sở rút kinh nghiệm, thực hiện thống nhất trong công tác xét xử.
Năm là, cần phổ biến kiến thức pháp luật cho nhân dân, khuyến khích người dân
cũng phải tự trang bị cho mình kiến thức pháp luật hoặc thông qua Luật sư hỗ trợ để đảm
bảo khởi kiện chính xác đối với người có nghĩa vụ liên quan để yêu cầu Tòa án đưa vào
tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

16


Sáu là, tiếp tục hoàn thiện đội ngũ cán bộ Thẩm phán, đảm bảo đủ biên chế Thẩm
phán theo chỉ tiêu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, sắp xếp đội ngũ cán bộ một cách hợp
lý để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ xét xử đạt kết quả tốt nhất.
Cuối cùng, tăng cường cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp,
lối sống và trách nhiệm cơng vụ cho cán bộ cơng chức Tịa án nhân dân hai cấp tỉnh Kon
Tum. Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ năng lực
chuyên môn nghiệp vụ. Xây dựng phương án đào tạo nguồn cán bộ, đặc biệt chú trọng
đến lực lượng thư ký, thẩm tra viên trẻ tuổi là nguồn bổ sung cho đội ngũ Thẩm phán về
sau. Tăng cường bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức Tịa án tỉnh
Kon Tum nhằm hồn thành tốt nhiệm vụ xét xử mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao
phó.


17


KẾT LUẬN
Kiện tụng, tranh chấp là những vấn đề vẫn xảy ra thường ngày trong xã hội hiện
nay. Việc giải quyết những xung đột lợi ích phát sinh ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao
giờ hết. Các quan hệ pháp luật trong đó có quan hệ tố tụng dân sự ra đời nhằm đáp ứng
nhu cầu này, nhanh chóng dung hịa được các nhóm lợi ích xung đột. Tham gia vào quan
hệ tố tụng dân sự với tư cách là một chủ thể quan trọng không thể thiếu, đương sự trong
vụ án dân sự thiết lập và tạo dựng nên mối quan hệ pháp lý đó.
Việc xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự là vấn đề trọng
tâm trong tố tụng dân sự, giúp Tịa án có thể triệu tập đúng đương sự và giải quyết vụ án
một cách đúng đắn. Pháp luật hiện hành quy định về tư cách tố tụng của đương sự trong
vụ án dân sự cũng khá đầy đủ nhưng vẫn cịn một số bất cập. Vì vậy, để đảm bảo cho quá
trình tố tụng được tiến hành thuận lợi thì rất cần thiết phải quy định chặt chẽ hơn về vấn
đề này. Đồng thời, cũng giúp cho đương sự có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ, góp phần giải quyết vụ án dân sự, cũng như việc dân sự được đúng đắn,
toàn diện.
Qua thời gian được thực tập tại Tịa án nhân dân tỉnh Kon Tum, bản thân tơi đã học
được rất nhiều kiến thức pháp luật không chỉ trong sách vở mà cả những vấn đề mới phát
sinh, những tình huống mới đơi khi người giải quyết phải linh động áp dụng tương tự đối
với những vụ việc chưa có hướng dẫn nhưng vẫn trong khn khổ quy định của pháp
luật, hay việc xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự phải được căn cứ vào
những quy định của pháp luật. Đồng thời với việc hiểu rõ và nắm bắt được cụ thể, chính
xác các quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự cũng như đặc trưng cụ thể của
từng nhóm đương sự có ý nghĩa gì trong việc xác định đúng tư cách của đương sự trong
vụ án dân sự. Lý thuyết khoa học về tố tụng dân sự và thực tế thi hành pháp luật đều
khẳng định: đương sự và vấn đề xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự đóng
vai trị quan trọng trong việc Tòa án giải quyết đúng đắn vụ án dân sự.
Cùng với việc nghiên cứu bộ luật, các văn bản, thì tham dự các phiên tịa giải quyết

vụ án dân sự đã giúp tôi nắm chắc hơn những kiến thức đã được học và nó có tác dụng
hữu hiệu giúp tôi hiểu biết hơn về pháp luật tố tụng dân sự.
Cùng với sự phát triển của xã hội, đòi hỏi các nhà làm luật phải nghiên cứu, dự liệu
những sự việc có thể sẽ xảy ra, để từ đó quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn
để việc thi hành và việc chấp hành luật được nghiêm minh, thể hiện sự kỷ cương của Nhà
nước nhưng cũng khơng làm mất lịng tin của người dân vào cơng lý, đảm bảo cho họ
quyền được yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền quyết định và tự
định đoạt, nghĩa vụ phải tuân theo các quy định mà luật định.
Việc xác định đúng và đầy đủ tư cách tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự đòi
hỏi người tiến hành tố tụng phải hiểu biết sâu sắc lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật
về đương sự

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.
2. Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
3. Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ
hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự
đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
4. Nghị quyết 01/2005/HĐTP-TANDTC ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ
nhất “những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
5. Đề tài “Đương sự trong tố tụng dân sự” năm 2010 của ThS. Nguyễn Việt
Cường – Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
6. Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Nguyễn Hồng Phúc với tên “Quyền khởi
kiện với vấn đề xác định tư cách đương sự trong tố tụng dân sự” năm 2011.

7. Tham khảo thêm một số bản án sơ thẩm, phúc thẩm do Tòa án nhân dân
tỉnh Kon Tum giải quyết.


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN


NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP



×