TÀI LIỆU ĐÀO TẠO THỰC HÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH
CHUYÊN ĐỀ: DU LỊCH TÂM LINH
THỜ PHẬT, THỜ MẪU - ĐẠO GIA TIÊN
NIỀM TIN & TÍN NGƯỠNG
Kính thưa Q chư hữu xa gần
Sau những lần đi lễ chùa, đền cuối năm đầu năm, những lần đ ược vinh
dự dẫn khách du lịch đi lễ bái tâm linh, bản thân rút ra m ột đi ều: C ơ b ản
những người đi lễ có chăng đều theo tâm lý số đơng, thích đến nh ững n ơi
được nhiều người rỉ tai truyền miệng, đến những miền có chùa to t ượng
lớn...mấy ai trong đó đã quan tâm đến nơi ấy th ờ tự ai, th ần tích, th ần ph ả
như thế nào? Nơi mình lễ thuộc tín ngưỡng nào, giáo lý giáo lu ật giáo l ệ ra
sao? Nào phải ai cũng hiểu được vào nhà chùa phải vứt bỏ THAM SÂN SI, xóa
bụi trần dục vọng, chỉ xin sức khỏe, tâm an. Nhà Phật khơng t ạo giàu có và
cũng không giáng họa cho ai. Muốn xin công danh tài lộc ph ải đ ến các Ph ủ,
đền xin nương nhờ và cứu rỗi của thánh thần...Đâu phải ai cũng tìm hi ểu, t ại
sao bậc Thần thánh có vay có trả ? đầu năm xin lộc, cuối năm tr ả lễ.
Ngẫm ra mới thấy, ngoài do cái Tâm chưa tịnh, lòng tham còn nhi ều ,
cũng là do chưa được tiếp xúc kinh sách, ch ưa đ ược nghe l ời trí tu ệ gi ảng gi ải
về tâm linh nên vẫn u mê sáng tối, đi nhưng chẳng bi ết đến đâu, đi nh ư th ế
nào để an lạc, hạnh phúc. Xin chân thành cám ơn TS.Thích Thanh Toàn 1
Giảng sư cao cấp Học viện Phật Giáo TW, Phó VP Ban h ướng dẫn Ph ật t ử c ủa
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã truyền bá cho h ậu sinh nh ững ki ến th ức c ơ
bản về đức tin mình theo đuổi.
Sơ khảo: Thờ Phật, Thờ Mẫu & Đạo gia tiên - Tâm linh tín ngưỡng ch ỉ là
cuốn bài giảng nội bộ mà bản thân viết lại sau khi sưu tầm, ch ỉnh sửa và biên
soạn, để lúc có thời gian ngẫm nghĩ và học hỏi những điều ch ưa bi ết v ề tâm
linh xung quanh ta.
Với các bạn trẻ, xem qua cuốn sách này cũng là cách mà mình sẽ hi ểu
những thứ rất gần gũi song chưa bao giờ tìm hiểu, đặt câu h ỏi t ại sao nó l ại
là như thế ?
Chúc Quý vị an lạc...
Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh ( Nguyễn Du )
TP Vinh, ngày 11 tháng 12 năm 2013
SirThích Nhất Bắc ( Ta Bà Tự )
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được
phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truy ện
dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được
coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này,
vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ
"Bụt" bị mất đi và được thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ
Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành
"Phật". ( Cần thông tin rõ ràng về khác biệt của Tiểu thừa và Đ ại thừa. Hi ện
nay sự phân bố của hai dòng này như thế nào ? vấn đề này sẽ trình bày trong
tài liệu khác. Trong đó, phân biệt sự khác nhau giữa 2 dòng này sẽ được trình
bày tại phụ lục tham khảo cuối bài giảng )
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần,
Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả
mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là
quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến cu ối thế kỷ XVIII,
vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì
mất sớm nên việc này khơng có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh
2
hưởng mạnh của q trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam l ại phát tri ển m ạnh
mẽ khởi đầu từ các đơ thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà
sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu. Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua
bốn giai đoạn:
· Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và
phát triển rộng khắp;
· Thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh;
· Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái;
· Từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng.
Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tơng, Tịnh Độ
tơng và Mật tơng.
Thiền tơng (cịn được biết là Zen hayCh'an) là một tông phái Phật giáo do
nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào
đầu thế kỷ thứ 6. "Thiền" là cách gọi tắt của "Thiền na" ( Dhyana), có nghĩa là
"Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nh ằm đạt đ ến
chân lý giác ngộ của đạo Phật. Theo Thiền tông, "thi ền" không ph ải là "suy
nghĩ" vì suy nghĩ là "tâm vọng tưởng", làm phân tâm và m ầm m ống c ủa sanh
tử ln hồi. Cách tu theo Thiền tơng địi hỏi phải tập trung tồn bộ cơng s ức
và thời gian cộng với phải có khả năng đốn ngộ. Yêu cầu đó ch ỉ có nh ững k ẻ
căn cơ cao mới có được nên người tu thiền thì nhiều nh ưng người ch ứng ng ộ
quả thật rất là hiếm hoi Tuy nhiên lịch sử Thiền tông ở Việt Nam cũng có
một lịch sử rõ ràng hơn cả.
Dịng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni Đa
Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra. Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Vi ệt
Nam vào năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện Thuận
Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền. Dòng thiền này
truyền được đến 19 thế hệ. Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, người
Trung Quốc lập ra vào năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng,
huyện Gia Lâm, Hà Nội. Dòng thiền này truyền được đến 17 đời. Dòng thiền
thứ ba do Thảo Đường, người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm
Thành và được vua Lý Thánh Tơng giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo
tại chùa Khai Quốc vào năm 1069. Dòng thiền này truyền được đến 6 đời.
Năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung
Thượng Sỹ, xuất gia và lên tu ở núi n Tử, thuộc huyện ng Bí, Quảng Ninh,
thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và lập nên Thiền phái Trúc Lâm.
Sau này, một số thiền phái khác xuất hiện như phái Tào Động dưới thời
3
Trịnh-Nguyễn, phái Liên Tơn vào thế kỷ 16-19(có trụ sở tại chùa Bà
Đá và chùa Liên Phái, Hà Nội), phái Liễu Quán (Liễu Quán là tên một vị tổ
thuộc dòng Lâm Tế) vào thế kỷ 18 (miền Trung), phái Lâm Tế dưới thời nhà
Nguyễn (miền Trung, và sau này phát triển ở miền Nam).
Thiền tông Việt Nam đề cao cái "tâm": "Phật ở tại tâm", tâm là Niết Bàn, hay
Phật. Trần Nhân Tông viết trong bài phú Cư Trần Lạc Đạo:
"Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu
bảo hưu tầm mích, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền." dịch: "Ở đời vui đạo hãy
tùy dun, Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thơi tìm kiếm, Đối
cảnh vơ tâm chớ hỏi thiền."
Tịnh độ tông là một tông phái Phật giáo, chủ trương tu dựa trên tha lực của
Phật A Di Đà là chủ yếu, tuy nhiên vẫn có tự lực. Phật Thích Ca có lần thuyết
giảng: "Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm,
nhưng nếu một hịn đá dù to đến mấy mà đặt trên bè thì nó cũng n ổi".
Có một cõi cách biệt với lục độ, gọi là Thế giới Cực Lạc - Nơi khơng có sự ln
hồi, do đức Phật A Di Đà (tiếng Phạn: Amitabha) tạo nên. Nơi đây hoa báu rất
nhiều, rất trang nghiệm, thanh tịnh, nhiều vị đại bồ tát nhứ Quán Th ế Âm,
Đại Thế Chí Bồ Tát ... và bạn đồng tu => Mơi trường rất tốt để tu chóng đạt v ị
quả. Việc tu hành như viếng chùa, làm việc thiện để tích cơng ph ước đ ức,
tụng danh Phật A Di Đà đến khi "Nhất tâm bất loạn", đ ọc các chú nh ư Chú
Đại Bi.... Do đây là thời mạt pháp, yêu quỷ hoành hành, chúng sanh căn c ơ
thấp kém nên việc tu Tịnh Độ là điều tối cần thiết và đúng đ ắn. Vì v ậy T ịnh
Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam. Đi đến đâu ta cũng gặp
người dân tụng niệm câu "Nam mơ A Di Đà Phật" (có nghĩa là "Nguyện quy y
đức Phật A Di Đà"). Tượng Phật A Di Đà là tượng có m ặt ở khắp mọi n ơi và có
mặt từ rất lâu đời.
Mật tơng: là một tông phái Phật giáo chủ trương sử dụng nh ững phép tu
tụng niệm các mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ. Cũng cịn g ọi là Lạt Ma
tơng, Mật tông là sự hợp nhất giới luật của thuyết nhất thiết hữu
bộ (Sarvastivada) và nghi thức tác pháp của Kim Cương thừa. Bước quyết
định trong nghi thức này là lễ Quán Đỉnh ( Abhiseka) do một vị sư cả ( guru hay
"lạt ma") ban phép cho người đệ tử được nhập thiền định tâm vào một v ị
Phật cụ thể bằng cách đọc chân âm (mantra), suy niệm đồ hình Mạn đà
la (mandala) và thực thi ấn quyết (mudra) để đạt đến độ thăng hoa loại bỏ ý
niệm nhị nguyên (duality) đặng nhập vào Chân Như, vào cõi Không. Trạng
thái đó được biểu tượng bằng Kim cương chử (Vajra). Để làm chủ được các
nghi thức tác pháp của Mật tơng (cịn gọi là Kim C ương th ừa - Vajrayana) thì
điều tiên quyết là phải thấu hiểu giáo nghĩa của Bát-nhã-ba-la-mật4
đa (Prajnaparamita) của Long Thọ và Vô Trước. Giáo nghĩa Bát-nhã-ba-lamật-đa được gọi là "Nhân thừa", và giáo nghĩa Kim Cương th ừa đ ược g ọi là
"Quả thừa". Tương truyền rằng Mật tông do đức Phật Đại Nhật khởi xướng.
Mật tơng có hai bộ kinh cơ bản là Đại Nhật kinh và Kim cương bát-nhã-ba-lamật-đa kinh. Như vậy, từ thế kỉ thứ 3 đến thế kỉ thứ 7, Thiền tông Việt Nam
mang đậm giáo nghĩa Tam Luận tông của Long Thọ, mà đặc biệt là tư tưởng
Bát-nhã-ba-la-mật-đa của Long Thọ và Vơ Trước. Các thiền sư thuộc Thiền
phái Tì Ni Đa Lưu Chi không chỉ uyên thâm về Ph ật pháp mà nhi ều v ị r ất có
uy tín với triều đình và biểu thị rõ ý thức độc lập tự ch ủ của đ ất n ước. Các
thiền sư Pháp Thuận, Ma Ha (thế kỉ thứ 10), Sùng Phạm (thế kỉ 12),... đều
làm cố vấn cho nhà vua không chỉ việc đạo mà cả việc đ ời, vi ệc ngo ại giao.
Dịng Tì Ni Đa Lưu Chi còn kéo dài mãi đến th ế k ỉ 19 . Đặc biệt, các thiền sư
dịng Tì Ni Đa Lưu Chi thường có hình th ức tu tập "T ổng Trì Tam Mu ội"
(Dharani samadhi), một hình thức tu tập phổ biến của Mật giáo ( Tantrism),
dùng chân âm kết hợp với ấn quyết trong trạng thái đại định đ ể giữ đ ược
thân, khẩu, ý. Ở Hoa Lư (Ninh Bình), một cột kinh Phật bằng đá vào th ế k ỉ th ứ
10 có khắc bài thần chú Phật Đỉnh Tối Thắng Đà La Ni ( Usnisavijaya dharani),
một thần chú phổ biến của Mật tông, đã được phát hiện.
Khi vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại đ ộc l ập nh ư m ột tông phái riêng
mà nhanh chóng hịa lẫn vào dịng tín ngưỡng dân gian với những truyền
thống cầu đồng, pháp thuật, yểm bùa, trị tà ma, ch ữa bệnh,...
Trên bước đường truyền bá và hội nhập, Phật giáo luôn luôn cố gắng thực
hiện hai điều đó là khế lý và khế cơ. Nếu thiếu đi m ột trong hai y ếu t ố này
Phật giáo sẽ chẳng cịn là Phật giáo n ữa. Duy trì và phát tri ển hai y ếu t ố này,
Phật giáo được truyền vào Việt Nam và các nước khác.
Khế lý là nói về mặt tư tưởng nhờ khế lý nên dù ở th ời gian và không gian
nào, giáo lý Phật-đà vẫn hợp với chân lý, tư tưởng vẫn luôn luôn phong phú,
sâu sắc mà vẫn giữ được bản chất của mình và chỉ có một vị đó là v ị gi ải
thoát
Khế cơ thiên trọng về mặt lịch sử nhờ khế cơ nên dù trong hoàn cảnh và
quốc độ nào thì sự sinh hoạt, thể hiện, truyền đạt cũng luôn luôn đa d ạng.
Tùy theo phong tục tập quán của mỗi quốc gia mà vẫn không h ề m ất g ốc
(Phật giáo). Nói một cách khác thì có thể tùy nghi ph ương ti ện theo t ừng
vùng miền để truyền bá giáo lý Phật-đà nhưng không làm mất đi bản s ắc của
Phật giáo là ứng hợp với mọi tầng lớp và căn cơ chúng sanh.
Tên gọi tuy có khác nhưng giáo lý vẫn là một nên gọi là kh ế lý, dù m ột mà
không phải một, nên có lắm tên Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Tây Tạng,
Phật giáo Thái Lan, v.v. tất cả đều có tên chung là Ph ật giáo, b ảo r ằng gi ống
5
cũng được nhưng bảo rằng khơng thì là sai. Đây gọi là kh ế c ơ là b ản đ ịa hóa,
hay sắc thái Phật giáo của từng vùng miền.
Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền s ư ng ười Vi ệt
bản địa hóa, khiến Phật giáo hịa mình vào lịng dân tộc tạo nên m ột s ắc thái
đặc biệt của riêng Việt Nam. Phật giáo đã cùng sinh t ồn cùng dân t ộc. Đi ểm
này dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng th ịnh c ủa đ ất n ước nh ư
Đinh, Lê, Lý Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hành h ưng th ịnh và
các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các triều đại đó. Dù đ ược b ản đ ịa
hóa để quyện mình vào lịng dân tộc nhưng tam tạng kinh đi ển Ph ật giáo
Việt Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Ph ật giáo
Việt Nam
Tính tổng hợp: Tổng hợp là một trong những đặc tính của lối tư duy nơng
nghiệp, chính vì thế tổng hợp là đặc tính nổi bật nh ất c ủa Ph ật giáo
Việt Nam.
Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống
Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là
thờ thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất
là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp. Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Ph ật
hóa". Các pho tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Ph ật Pháp
Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp Điện, trên th ực tế các tượng này hoàn toàn
điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật. Nghĩa là đầy đủ 32 t ướng
tốt cùng 80 vẽ đẹp, mà một trong những nét tiêu biểu chính là t ướng nh ục
kế, những khế ấn, và khn mặt đầy lịng từ mẫn v.v. Các h ệ th ống th ờ ph ụ
này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa "tiền Phật, h ậu th ần" hay "ti ền
Phật, hậu Mẫu". Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng
thổ địa, anh hùng dân tộc... vào thờ trong chùa. Đa số các chùa còn đ ể c ả bia
hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất.
Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo
Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với
nhau. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo. Nhi ều v ị thi ền s ư
đời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,... đều giỏi pháp
thuật và có tài thần thơng biến hóa. Thiền tơng còn k ết h ợp v ới T ịnh Độ tông
như là trong việc tụng niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát.
Các điện thờ ở chùa miền Bắc có vô cùng phong phú các loại t ượng Ph ật, bồ
tát, la hán của các tông phái khác nhau. Các chùa miền Nam cịn có xu hướng
kết hợp Tiểu thừa với Đại thừa. Nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ
Phật Thích Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đ ại th ừa; bên
6
cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni cịn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng
cịn có áo nâu, áo lam.
Tổng hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác
Tín ngưỡng truyền thống đã tiếp nhận Phật giáo ngay từ đầu Cơng ngun.
Sau đó Phật giáo cùng tín ngưỡng truy ền th ống tiếp nh ận Đạo giáo. Rồi tất
cả cùng tiếp nhận Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng ngun" (cả ba tơn
giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tơn giáo có cùng m ột
mục đích). Ba tơn giáo trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ ch ức xã hội, Đ ạo giáo
lo thể xác con người, Phật giáo lo tâm linh, kiếp sau c ủa con ng ười. Trong
nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở
bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt. Ngồi
ra Phật giáo Việt Nam cịn được hịa trộn với tất cả các tôn giáo khác đ ể hình
thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là "Thiên nhân h ợp
nhất" và "Vạn giáo nhất lý".
Tính hài hịa âm dương
Sau tính tổng hợp, hài hịa âm dương là m ột trong nh ững đ ặc tính khác c ủa
lối tư duy nơng nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Ph ật giáo Vi ệt Nam làm
cho Phật giáo Việt Nam có phần thiên về nữ tính.
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành "Phật
ông - Phật bà". Phật Bà Quán Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị
thần hộ mệnh của vùng Nam Á nên còn được gọi là Quan Âm Nam H ải. Ngồi
ra người Việt cịn có những vị Phật riêng của mình nh ư Man Nương Phật
Mẫu (tên khác: Phật Mẫu), Quan Âm Thị Kính (tên khác: Quan Âm Tống
Tử), Quan Âm Diệu Thiện (tên khác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba).
Tính linh hoạt
Phật giáo Việt Nam cịn có một đặc điểm là rất linh hoạt, mà nhà Phật
thường gọi là "tùy duyên bất biến; bất biến mà vẫn thường tùy duyên" nghĩa
là tùy thuộc vào tình huống cụ thể mà người ta có thể tu, giải thích Ph ật giáo
theo các cách khác nhau. Nhưng vẫn không xa rời giáo lý c ơ bản c ủa nhà Ph ật.
Ví dụ: Các vị bồ tát, các vị hịa thượng đều đ ược gọi chung là Ph ật, Ph ật Bà
Quan Âm (vốn là bồ tát), Phật Di Lặc (vốn là hịa th ượng),... Ngồi ra Ph ật ở
Việt Nam mang dáng dấp hiền hịa và dân dã: ơng Bụt Ốc (Thích Ca tóc xoăn),
ơng Nhịn ăn mà mặc (chỉ Thích Ca Tuyết Sơn),... Trên đầu Ph ật Bà Chùa
Hương cịn có lọn tóc đi gà rất truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Phật giáo Hòa Hảo, hay còn gọi là Đạo Hịa Hảo, là một tơng phái Phật giáo
do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản
và chủ trương tu hành tại gia. Phật giáo Hòa H ảo th ể hiện r ất rõ tính t ổng
7
hợp và tính linh hoạt của Phật giáo Việt Nam. Số tín đồ Đạo Hịa Hảo ước
tính khoảng 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở đồng bằng Nam bộ.
Thực chất Phật giáo Hòa Hảo là tiếp nối của m ột tơng phái Ph ật giáo có t ừ
gần một trăm năm trước ở đồng bằng Nam bộ có tên là Bửu Sơn Kỳ
Hương do Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) sáng lập vào năm 1849 tại
vùng Bảy Núi (tỉnh An Giang). Tiếp sau Phật Thày Tây An là Phật Trùm, Ngô
Lợi (Đức Bổn Sư) rồi đến Huỳnh Phú Sổ. Thời kỳ Huỳnh Phú Sổ là th ời kỳ
phát triển rực rỡ nhất của Phật giáo Hòa Hảo.
Giáo lý là sự kết hợp của Tịnh Độ tông với Đạo Ông Bà. Tôn chỉ là "Học Phật
Tu Nhân", noi theo giáo lý Đức Phật mà tu sửa con người, tích c ực th ực hành
thuyết "Tứ ân (ơn)": cha mẹ, đất nước, tam bảo (Phật-Pháp-Tăng), nhân loại.
Cách thức tu hành của Phật giáo Hòa Hảo rất đơn gi ản là "tu hành t ại gia".
Người "cư sĩ tại gia" cúng lạy vào hai buổi sớm mai và chi ều t ối v ới 16 l ạy
như một bài thể dục tịan thân ở "bàn thơng thiên", ăn chay một tháng 4 ngày
để cơ thể khỏe mạnh; thờ trần đỏ hoặc trần dà với ý nghĩa hịa h ợp; khơng
chấp nhận mê tín dị đoan (khơng đốt vàng mã, khơng cúng tà th ần...); th ực
hành tiết kiệm triệt để như không dâng cúng th ực ph ẩm cho Ph ật ch ỉ cúng
bông hoa nước sạch, không ăn thịt trâu, chó, bị để giữ sức kéo...; khơng hình
thức: khơng đúc tượng, khơng chng mõ, "tử thì táng", khơng có hàng giáo
phẩm và khơng có tổ chức đạo (trước năm 1947).
Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên
dấu vết Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét. Nhiều người Vi ệt theo
lệ ăn chay vào những ngày mồng một hay ngày rằm.
CHÙA & BÀI TRÍ
Việt Nam hiện có 14.775 ngơi chùa, chiếm 36% tổng số di tích Việt
Nam. Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo. Tuy nhiên, một số chùa
Việt Nam ngồi thờ Phật cịn thờ thần (điển hình là thờ các vị thi ền s ư: Từ
Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Trần Nhân Tông và Lý Thần Tông), thờ tam
giáo (Phật – Lão – Khổng), thờ Trúc Lâm Tam tổ...
Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt cịn có từ "chiền" (chữ Nơm: 廛 hoặc
廛 )... Một số người cho rằng từ "chiền" có thể có gốc từ cetiya của tiếng
Pali hay caitya của tiếng Phạn, cả hai dùng để chỉ điện thờ Phật.
Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số là thuộc
về cộng đồng làng xã. Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với
làng quê Việt Nam. Việc chọn đất xây chùa thường bị chi ph ối bởi quan
niệm phong thủy. "Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất tốt
là nơi bên trái trống khơng, hoặc có sơng ngịi, ao hồ ôm bọc. Núi h ổ (hay tay
hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen,
8
tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái. Đó là đất
dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy. Nước thì nên ch ảy quanh sang
trái. Nếu đảo ky, thì mạch nước lại vào ở phía trước. Trước mặt có minh
đường hay khơng có đều được cả.
Các Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc
như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói... Nhưng người ta thường dành cho chùa
những vật liệu tốt nhất có thể được. Vật liệu cũng nh ư tiền bạc dùng cho
việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớp dân c ư, gọi là
của "công đức". Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem cúng v ật li ệu hay
tiền bạc cho việc xây dựng chùa. Trên những cột gỗ lim không bị mối mọt,
một số chùa khắc rõ tên người đóng góp. Ngồi ra các tên này cũng đ ược ghi ở
các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như bát hương, bình hoa, chân
đèn... trong một danh sách dài.
Ngày bắt đầu xây dựng chùa cũng như ngày khánh thành đều là nh ững th ời
điểm có ý nghĩa trong đời sống nhân dân làng quê Vi ệt Nam. Th ường có
những nghi lễ đặc biệt trong những ngày này.
Chùa Việt Nam thường không phải là một cơng trình mà là m ột qu ần
thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau.
Tùy theo cách bố trí những ngơi nhà này mà người ta chia thành nh ững ki ểu
chùa khác nhau. Tên các kiểu chùa truy ền thống th ường đ ược đ ặt theo
các chữ Hán có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa.
Do lịch sử truyền nhập Phật giáo ở đây, phần lớn chùa Việt Nam là chùa Đ ại
Thừa (Mahayana). Do đó, ở nhà chính điện cũng như các tịa nhà khác trong
chùa, chúng ta thấy nhiều tượng Phật (Buddha), Bồ Tát (Bodhisattva) cùng
với tượng các thiên thần Phật giáo khác. Đó là ch ưa k ể s ự có m ặt nh ững
tượng thần của các tơn giáo khác và của tín ngưỡng dân gian Việt Nam truy ền
thống. Sự hiểu biết về các tượng trong ngôi chùa Việt Nam giúp chúng ta
thấy rõ đặc điểm của Phật giáo Việt Nam.
Chính điện bao giờ cũng là nơi trung tâm của sự thờ cúng trong chùa. Ở đây có
nhiều bàn thờ, và bàn thờ chính, ở giữa, thường được làm thành những bậc t ừ
cao xuống thấp. Khơng có một cơng thức chung cho sự bài trí t ượng ở các
chùa Việt Nam. Vị trí của các tượng thay đổi một cách linh hoạt tùy theo t ừng
ngôi chùa.
Ở tầng cao nhất của bàn thờ giữa ở chính điện, sát vách, th ường có ba pho
tượng được gọi là "tam thế", tức tượng các vị Phật của ba th ời gian: Quá kh ứ,
Hiện tại và Vị lai. Ba vị Phật này chỉ là đại biểu cho vô số Phật trong mọi th ời
gian và không gian, theo quan niệm của Phật giáo Đại Thừa.
Phía dưới ba pho tượng tam thế, thường xếp ba pho tượng g ọi là "Di Đà tam
tôn", gồm tượng Phật A Di Đà (Amitabha) ở giữa, tượng Bồ Tát Quan Th ế Âm
(Avalokitesvara) ở bên trái và tượng Bồ Tát Đại Thế Chí (Mahasthamaprapta)
9
ở bên phải. Tượng Phật A Di Đà thường có kích th ước lớn h ơn các t ượng
khác.
Sự có mặt ở vị trí đặc biệt tượng Phật A Di Đà cùng với tượng các B ồ Tát
Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đã nói lên ý nghĩa quan tr ọng c ủa tín ng ưỡng
Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam.
Ở Việt Nam, khơng có một phái Tịnh Độ riêng biệt, nhưng tín ng ưỡng T ịnh Đ ộ
phổ biến rộng rãi, làm thành một cơ tầng bình dân cho Ph ật giáo. Theo tín
ngưỡng này, người ta tin có một cõi Tịnh Độ hay Tây Ph ương c ực l ạc, n ơi có
Phật A Di Đà ngự trị, các Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đã tiếp dẫn linh
hồn chúng sinh về nơi đó. Người ta chỉ cần niệm tên Phật A Di Đà nhi ều l ần
là có thể vãng sinh ở cõi Tây Phương cực lạc. Tên A Di Đà Ph ật đã tr ở thành
lời chào nhau của các tín đồ Phật giáo Việt Nam.
Cần nói thêm là trong chùa Việt Nam, tượng Đại Thế Chí chỉ được bày bên
cạnh tượng A Di Đà, còn tượng Quan Thế Âm, hay Quan Âm, thì có nhi ều ki ểu
và có thể được đặt ở nhiều nơi. Đó là vì tín ngưỡng Quan Âm ở Vi ệt Nam có
một vị trí độc lập, khơng phải lúc nào cũng gắn liền với tín ng ưỡng T ịnh Đ ộ A
Di Đà.
Người Việt Nam coi Quan Âm là nữ thần cứu kh ổ cứu nạn, có th ể giúp nhân
dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, vượt qua các tật bệnh, tai ương. Tín
ngưỡng này có thể đã kết hợp với tín ngưỡng các n ữ th ần có ngu ồn g ốc dân
gian. Quan Âm được thờ ở chùa mà cũng có thể được thờ ở nhà.
Trong các chùa Việt Nam, tượng Quan Âm có nhiều kiểu. Tượng "Quan Âm
tống tử" thể hiện một người phụ nữ bế một đứa bé, bên cạnh có con vẹt.
Tượng này gắn liền với câu chuyện dân gian kể rằng Thị Kính bị ch ồng là
Thiện Sĩ nghi oan, đã cải trang làm trai, lấy tên là Kính Tâm, đi tu ở chùa. Có
một cơ gái là Thị Mầu say mê Thị Kính nhưng bị cự tuy ệt. Về sau, Thị M ầu đã
đem đứa con hoang mới sinh của mình vứt vào chùa, đổ oan cho Th ị Kính là
bố đứa bé. Thị Kính đã nhẫn nhục, nuôi nấng đứa bé, và sau này, bà tr ở thành
Bồ Tát Quan Âm. Con vẹt là hậu thân của Thiện Sĩ.
Tượng "Quan Âm Nam Hải" là tượng Quan Âm ở trên biển. Người Trung Quốc
đã coi Potalaka, nơi ở của Avalokitesvara theo truyền thuy ết Ấn Độ, là núi Ph ổ
Đà trên quần đảo Chu Sơn gần Hàng Châu. Đến lượt, người Vi ệt Nam l ại
đồng nhất Nam Hải, nơi ở của Quan Âm với biển Việt Nam.
Trong các chùa Việt Nam cịn có loại tượng Quan Âm có nhi ều tay, đ ược gọi là
"Quan Âm chuẩn đề" (Cundi-Avalokitesvara). Trong loại tượng Quan Âm
nhiều tay, có kiểu "Thiên thủ thiên nhãn" (Sahasrabhuja-sahasranetra) v ới
nghìn tay nghìn mắt (ở giữa mỗi bàn tay có hình một con m ắt). Pho tượng
kiểu này ở chùa Bút Tháp (tỉnh Bắc Ninh) do nhà điêu kh ắc h ọ Tr ương t ạc
năm 1656 được coi là niềm tự hào của điêu khắc cổ Việt Nam.
10
Trong chùa, các tượng Quan Âm tống tử, Quan Âm Nam Hải th ường đ ược bày
trên các bàn thờ ở góc hai bên bàn thờ chính ở nhà thượng điện. Tượng Quan
Âm nhiều tay có lúc đặt trên bàn thờ chính, cũng có lúc bày ở bàn th ờ riêng.
Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp đ ặt ở gian bên c ạnh
của bàn thờ chính. Ở một số chùa, tượng Quan Âm cịn được đặt trong các
động đắp bằng vơi vữa.
Trên bàn thờ chính, dưới ba pho tượng Di Đà tam tơn đã nói ở trên, th ường là
tượng Phật Thích Ca Mầu Ni (Sakyamumi), với tượng Bồ Tát Văn Thù S ư L ợi
(Manjusri) ở bên trái và tượng Bồ Tát Phổ Hiền (Samantabhadra) ở bên phải.
Thích Ca ngồi trên tịa sen, cịn Văn Thù và Phổ Hiền đứng trên tịa sen. Cũng
có tượng Văn Thù ngồi trên lưng con sư tử màu xanh và Ph ổ Hi ền ngồi trên
lưng con voi màu trắng. Bộ ba tượng này thể hiện cảnh Ph ật Thích Ca đang
thuyết pháp. Có khi, thay vào vị trí của Văn Thù và Phổ Hi ền, là hai đ ệ t ử c ủa
Thích Ca, Ca Diếp (Kasyapa) và A Nan Đà (Ananda).
Tượng Thích Ca trong chùa Việt Nam thường có một số kiểu khác nhau, di ễn
tả những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của Ph ật. T ượng Tuy ết S ơn
biểu hiện thời kỳ Thích Ca tu khổ hạnh trong núi tuyết, tức Himalaya, có thân
hình gầy guộc, ngực hiện rõ những chiếc xương sườn. Việt Nam có nhi ều pho
tượng Tuyết Sơn đẹp, đặc sắc như các tượng ở chùa Tây Ph ương, chùa Mía...
Tượng Nhập niết bàn (Parinirvana) là tượng Thích Ca nằm nghiêng, cánh tay
chống lên đỡ lấy đầu, mắt lim dim. Trong các chùa Việt Nam, ki ểu tượng này
hiếm, nhưng cũng có một số pho đẹp như ở chùa Mía hay chùa Trấn Qu ốc...
Kiểu tượng phổ biến là Thích Ca sơ sinh, đó là hình m ột chú bé v ới tay trái ch ỉ
lên trời, tay phải chỉ xuống đất. Theo truy ền thuy ết, lúc Thích Ca ra đ ời, có
chín con rồng (ở Ấn Độ là naga) phun nước tắm. Vì th ế, tượng Thích Ca s ơ sinh
ở Việt Nam thường đặt dưới một vịm chạm hình chín con rồng bay xung
quanh, giữa những đám mây, với các hình chư thiên, tiên n ữ và có khi c ả bát
bộ Kim Cương. Kiểu tượng này được gọi là tượng Cửu Long (Chín r ồng).
Tượng Thích Ca sơ sinh và tượng Cửu long thường được bày ở tầng d ưới cùng
của bàn thờ chính. Hai bên tượng Thích Ca sơ sinh, ng ười ta th ường đ ặt
tượng Đế Thích (Indra) và tượng Phạm Vương, còn gọi là Ph ạm Thiên
(Brahma) được đưa vào thần điện Phật giáo khá sớm.
Trên các điêu khắc Phật giáo ở Gandhara và Mathura, đã có hình Indra và
Brahma đứng ở hai bên đức Phật. Cùng với sự lan truy ền của Ph ật giáo, tín
ngưỡng về Indra và Brahma, như những người bảo vệ của đ ức Ph ật cũng
được đưa tới các nước Đông Á và Đông Nam Á.
Ở Việt Nam, Indra - Đế Thích và Brahma - Ph ạm Thiên đ ược coi là các chúa t ể
của thế giới người và thần, nên khi đức Thích Ca ch ưa thành đ ạo, h ọ ph ải ở
11
ln bên cạnh để hộ trì. Vì họ được quan niệm là những ông vua, nên t ượng
của họ được tạo trong tư thế ngồi ngai báu, đội mũ miện, m ặc áo cổn.
Tuy nhiên, như ta thấy, ở một số nước châu Á, Indra có một vị trí quan tr ọng
hơn Brahma trong tín ngưỡng của nhân dân. Tín ngưỡng v ề Indra th ường hịa
lẫn vào tín ngưỡng dân gian. Ở Việt Nam cũng vậy, từ xưa, Đế Thích khơng ch ỉ
được thờ phụng bên cạnh Phạm Thiên mà cịn có thể được th ờ ph ụng riêng.
Đã có những ngơi chùa dành riêng cho việc th ờ Đế Thích, nh ư chùa Vua ở Hà
Nội.
Trên bàn thờ chính ở nhà thượng điện, ngồi tượng Phật A Di Đà, Ph ật Thích
Ca, ở một số chùa, cịn có tượng Phật Di Lặc (Maitreya). T ượng Di L ặc đ ược
tạo với bộ mặt tươi cười, áo phanh, để hở cái bụng to. Người Việt Nam quen
gọi Di Lặc là "ông vô lo".
Thật tương phản, khi tượng Di Lặc đặt bên cạnh tượng Tuy ết Sơn, gày gò
khắc khổ! Di Lặc đã có mặt từ lâu trong Ph ật điện Việt Nam. Nh ưng d ường
như trong Phật giáo Việt Nam, Di Lặc khơng có một vị trí bằng A Di Đà.
Hầu hết các chùa đều có tượng A Di Đà nhưng khơng ph ải chùa nào cũng có
tượng Di Lặc. Ở Trung Quốc, có tín ngưỡng Tịnh Độ A Di Đà l ẫn tín ng ưỡng
Tịnh Độ Di Lặc, nhưng ở Việt Nam, chỉ có tín ngưỡng T ịnh Độ A Di Đà mà
khơng có tín ngưỡng Tịnh Độ Di Lặc.
Trong nhà tiền đường, thường có hai tượng Hộ Pháp (Dvarapala), nh ững
thiên thần bảo vệ Phật Pháp, mặc giáp trụ, cầm vũ khí, đứng hoặc ngồi trên
lưng sấu, một loại sư tử huyền thoại.
Những tượng này thường được đắp bằng đất, phủ sơn, và có kích th ước rất
lớn, đầu gần chạm mái. Vì vậy mà trong ngơn ngữ Việt Nam, có thành ngữ "to
như Hộ Pháp". Trong một số chùa, ở nhà tiền đường, có bày tượng bát bộ Kim
Cương (Vajrapani), tức tám vị thần bảo vệ của Phật, cũng mặc giáp tr ụ và
cầm vũ khí. Đơi khi, ở nhà bái đường, cịn có các bàn th ờ m ười v ị Diêm V ương
(Yama), được gọi là thập điện Diêm Vương, tức mười vị vua cai qu ản m ười
tầng địa ngục. Bàn thờ mười Diêm Vương cũng có lúc đ ược đặt sát t ường ở
hai bên nhà chính điện.
Cảnh mười tầng địa ngục đôi khi được chạm trong nh ững bức phù điêu hay
đắp thành động, diễn tả cảnh những người có tội bị các quỷ Dạ Xoa
(Yakasas) hành hình bằng nhiều cách, trước m ặt các Diêm V ương. Trong nhà
bái đường, có thể có một số bàn thờ khác, thờ Thổ Địa (Th ần Đất), Long
Vương, hay Đức Ông, người bảo vệ tài sản của chùa. Có ng ười cho r ằng ng ười
bảo vệ tài sản chùa này chính là Cấp Cô Độc (Anathapindika), người đã cúng
nhiều tài sản cho Phật, nhưng nhiều người khác không nghĩ nh ư vậy.
12
Ở nhà tổ, ngoài tượng các vị sư từng trụ trì ở chùa, cịn có bàn th ờ đ ặt t ượng
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), nhà sư Ấn Độ đến Trung Hoa vào kho ảng đ ầu
thế kỷ VI, được coi là người sáng lập Thiền Tông ở đây. Vì Ph ật giáo Việt Nam
thường tự coi là thuộc các phái Thiền nên đều thờ vị tổ th ứ nh ất này. T ượng
Bồ Đề Đạt Ma thường có mũi cao, tóc quăn, râu quai nón.
Ở các chùa có hai dãy hành lang, người ta thường bày tượng 18 v ị La Hán
(Arhat), mỗi bên 9 tượng. Có chùa, như chùa Keo (tỉnh Thái Bình), các t ượng
La Hán được bày ngay ở nhà tiền đường. Riêng ở chùa Tây Ph ương (Hà N ội),
có những pho tượng đẹp bày ở hậu đường được coi là các t ượng La Hán,
nhưng căn cứ vào tên các vị này, như Gia Na Hòa Tu (Sanakavasa), Ba Tu M ật
(Vasumitra), Phật Đà Nan Đề (Buddhanandi), Ca Tỳ Ma La (Kapimala), La H ầu
La Đa (Rahulata), Tăng Già Nan Đề (Sanghanandi), Cưu Ma La Đa (Kumarata),
Chà Dạ Đa (Jayata)... Chúng ta thấy đó là tên của các vị tổ (trong 28 v ị) ng ười
Ấn Độ mà Thiền Tông Trung Quốc truy nguyên và thừa nhận. Nếu vậy, đây là
tượng Tổ chứ khơng phải tượng La Hán.
Do tính chất pha tạp của Phật giáo Việt Nam, trong các chùa, ngoài t ượng các
Phật, các Bồ Tát, La Hán hay các thiên thần Phật giáo, ta cịn có th ể g ặp t ượng
các vị thần Đạo giáo như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân hay
Nam Tào, Bắc Đẩu.
Đặc biệt là trong các chùa Việt Nam thường có các bàn th ờ Mẫu, tức n ữ th ần
Mẹ. Thờ Mẫu là một tín ngưỡng Việt Nam có nguồn gốc dân gian. Có nhi ều
Mẫu, như Mẫu Thượng Ngàn (nữ thần Núi), Mẫu Thoải (nữ thần Nước), Mẫu
Địa Phủ (nữ thần Đất)... Một vị Mẫu có vị trí quan trọng trong tín ngưỡng
Việt Nam là Mẫu Liễu, tức công chúa Liễu Hạnh, được coi là m ột trong "t ứ
bất tử" (Bốn vị thánh bất tử)(1). Thánh Mẫu Liễu Hạnh được th ờ trong
nhiều đền nổi tiếng nhưng cũng được thờ trong nhiều chùa. Chẳng h ạn, ở
chùa Mía (Hà Nội), bàn thờ Liễu Hạnh được đặt ngay ở nhà tiền đ ường.
CHỮ VẠN - Ý NGHĨA - NGUỒN GỐC
Trong tinh thần nhằm cung cấp thêm dữ liệu thông tin cho đ ộc gi ả v ề hình
chữ Vạn trong Phật giáo, với chữ Vạn mà Hitler đã dùng làm bi ểu t ượng c ủa
Đức Quốc Xã (Nazi), mà các chiều quay của nó chiều thuận kim đồng h ồ
(clockwise) và chiều ngược kim đồng hồ (counter-clockwise), chúng tôi mạnh
dạn lên bài viết này.
Nhưng chúng tơi khơng bàn luận tính huy ền thoại, truy ền thuy ết... T ừ ch ữ
Vạn trong tiếng Anh - Swastika, có nguồn gốc từ tiếng Sankrit là Svastika,
hình chữ Thập có các cạnh đều nhau có nghĩa là khoẻ m ạnh, h ạnh phúc, các
cạnh hoặc quay trái hoặc quay phải.
13
Người Thái khi chào hỏi họ dùng từ sawasdee, với nghĩa gốc là kh ỏe m ạnh,
hạnh phúc. Đây là biểu tượng được dùng rộng rãi trong Hindu giáo, Ph ật giáo
và đạo Jain. Theo các bằng chứng khảo cổ học, nó thu ộc th ời đ ại Đ ồ Đá M ới
(Neolithic Period), tuy nhiên vào năm 1920 dấu ch ữ này đ ược Đ ức Qu ốc Xã
chiếm dụng làm của riêng và kể từ đó motif trang trí này đã trở thành m ột đ ề
tài tranh luận lý thú.
Các quốc gia Hindu giáo như Nepal, Ấn Độ thì dấu chữ Vạn (Swastika) th ường
được trang trí trước nhà hoặc các ngôi đền, trong các buổi lễ tôn giáo ho ặc
các lễ thông thường khác như đám cưới hoặc các Festival. Tuy nhiên ch ữ V ạn
dùng trong Hindu giáo thường có dấu chấm ở các góc của nó.
Ở châu Âu, chữ có nguồn gốc lịch sử rất cổ xưa được tìm thấy trên các đồ tạo
tác từ các nền văn hố châu Âu trước Cơng ngun. Một số hình Swastika ở
trên mũ giáp của các chiến binh Hy Lạp khoảng niên đại 350-325 BC t ừ th ời
Taranto được tìm thấy ở Herculanum-Cabinet des Médailles, Paris.
Chữ Swastika có gốc Sankrit này đã được sử dụng trong tiếng Anh t ừ năm
1871, thay cho từ gammadion (có gốc từ tiếng Hy Lạp). Các biểu tượng gi ống
hình Swastika cũng đã xuất hiện trong những đồ trang trí th ời đ ồ đồng và đ ồ
sắt (Bronze & Iron Age) ở miền Bắc Caucasus (văn hoá Koban), ở Azerbaijan
cũng như ở Skythians.
Chữ Vạn (Swastika) xoay phải (right-facing) theo chiều kim đồng h ồ hoặc
xoay trái (left-facing) ngược chiều kim đồng hồ, thường được tìm th ấy trong
Hindu giáo và Phật giáo truyền thống. Người Ấn Độ có tín ngưỡng th ường
dùng biểu tượng này cả hai mặt để nói lên sự cân đối.
14
Người theo Phật giáo ở các quốc gia ngoài Ấn Độ thường dùng chữ V ạn ng ược
chiều kim đồng hồ (counter-lockwise) hơn là cùng chiều kim đồng h ồ
(lockwise), mặc dù cả hai cách viết đều thông dụng.
Trong Hindu giáo, hai biểu tượng này (quay trái hoặc ph ải) đ ều nói lên hai
hình thức của đấng tạo hố Brahma: Xoay theo chiều phải nói lên sự phát
triển (evolution: sự triển nở ra của vũ trụ) (Pravritti), xoay chiều trái nói lên
sự thu lại của vũ trụ (involution - Nivritta). Nó cũng cịn chỉ bốn h ướng Đơng,
Tây, Nam, Bắc và được dùng như biểu tượng của m ặt trời c ủa th ần m ặt tr ời
Surya.
Trong sách Three Ways of Asian Wisdom (Ba con đường minh triết Á Châu)
của tác giả Nancy Willson Ross, tác giả đã minh họa bằng hình ảnh v ề hình
Swastika trong chương nghệ thuật của Phật giáo (The Art Of Buddhism) ký
hiệu ảnh số 47 (hình ảnh Đức Phật thuy ết pháp đầu tiên ở v ườn L ộc Uy ển
được mô tả bằng một chiếc ngai nệm để trống (chú ý hình trên ngai để trống
là một biểu tượng Mặt trời cổ xưa) từ Nagarjunakonda, thế kỷ thứ III sau
Công nguyên.
Tương tự như vậy thời nhà Đường, Hoàng hậu Võ Tắc Thiên cũng đã từng
sáng tạo ra một chữ vạn đọc âm là “Nhật” ý tượng trưng cho mặt tr ời.
Như vậy biểu tượng này mang nhiều ý nghĩa liên quan về mặt trời xuất phát
từ chủ trương “cư Nho mộ Thích”, các vua Nguy ễn đã dùng bộ Nh ật ( 廛), có
nghĩa là mặt trời để đặt tên cho các vua trước khi lên ngôi d ựa vào “Kim sách”
rồi mới làm lễ tấn tôn ngôi vị thiên tử.
Trong nghệ thuật Phật giáo, biểu tượng này được hiểu theo tiếng Nh ật:
manji, nghĩa đen từ tiếng Trung Hoa là sự bất tử (Eternality), nói v ề pháp
Manji (Dharma), là sự hài hồ vũ trụ. Khi quay phía trái, nó t ượng tr ưng cho Bi
(lòng từ bi - compassion), khi quay phía phải, nó tượng tr ưng cho Trí (trí tu ệ,
sự minh triết - Wisdom) và Dũng (sức mạnh - Strength).
Những biểu tượng này thường được thấy khắc chạm trước ngực của các
tượng Phật Gautama, dưới lòng bàn chân hoặc dưới gót chân của Đ ức Ph ật.
15
Vì liên tưởng trùng với chữ Vạn (Swastika) của ch ủ nghĩa Quốc xã (Nazism)
cho nên dấu hình Manji sau nửa thế kỷ XX hầu nh ư đã sử dụng hình quay
theo mặt trái (left facing) để khỏi bị hiểu nhầm với dấu của ch ủ nghĩa Qu ốc
xã.
Năm 1920, Hitler Hitle khi thành lập "Đảng công nhân Đ ức xã h ội ch ủ nghĩa
Quốc Gia", y cũng đã thiết kế lá cờ cho đảng Quốc xã gồm hình Th ập ngo ặc
màu đen nằm nghiêng in trên một mảng tròn màu trắng. Mảng tròn này là
tâm của lá cờ màu đỏ, vốn là một kiểu trang trí trong n ền văn hoá c ổ thành
Troia, do Heinrich Schliemann người Đức đào được ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm
1873.
Quốc huy của nước Ettoni và Phần Lan thời cận đại cũng có hình ch ữ th ập
ngoặc như thế. Hitler cịn nhìn thấy hình này trong các huy hi ệu m ột vài đ ảng
phái chính trị ở Áo chống người Do Thái. Y cảm th ấy rất thích thú và nói:
“Màu đỏ tượng trưng cho ý nghĩa Xã hội của phong trào chúng ta, màu tr ắng
tượng trưng cho chủ nghĩa dân tộc, còn tượng trưng cho sứ mệnh đấu tranh
đi tới thắng lợi của người Arian".
Sau đó y cho khâu hình chữ Thập ngoặc trên nền trắng trịn vào cánh tay áo
của các đảng viên Quốc xã. Lá cờ có hình chữ Thập ngoặc về sau tr ở thành lá
cờ chung cho nước Đức phát xít.
Chẳng rõ Hitle có ngụ ý gì trong việc hình chữ Thập ngoặc quay sang ph ải
hay không, hay cũng chẳng bận tâm tới việc quay sang ph ải hay trái. V ả l ại,
cờ của Đức Quốc xã, chữ Vạn được in nghiêng.
Dưới thời Pháp thuộc, năm 1941, có một câu chuy ện r ất bu ồn c ười v ề m ột
viên cơng sứ Pháp, đi từ Phủ Dỗn lên đàn Nam Giao, khi ngang qua chùa T ừ
Đàm Huế, thấy các hình trang trí chữ Vạn xung quanh tường rào đ ược trang
trí nằm trong khơng gian có thể trơng từ hai phía, ơng ta đã nổi gi ận và bắt v ị
Trụ trì chùa phải xây phơng ở phía sau để chỉ được nhìn về phía m ặt ch ữ V ạn
của Phật giáo. Như vậy vấn đề tranh luận chữ Vạn quay ph ải hay quay trái đã
xảy ra từ lâu.
Trong sách Phật học Quần Nghi (dịch giả Thích Minh Quang), Hồ thượng
Thích Thánh Nghiêm đã căn cứ từ nhiều kinh sách để nói v ề hình ch ữ V ạn.
16
Căn cứ từ kinh Trường A Hàm, chữ Vạn là tướng đại nhân th ứ 16 n ằm tr ước
ngực của Đức Phật.
Trong kinh Tát Giá Ni Kiền Tử Sở Thuyết, quy ển 6 nói đó là tướng t ốt th ứ 80
của Đức Phật Thích Ca, Thập Địa Kinh Luận, quy ển 12 nói: “ Bồ Tát Thích Ca
lúc chưa thành Phật trước ngực đã có tướng chữ vạn quay ngược ý chỉ công
đức trang nghiêm Kim Cương”.
Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm, quyển 3, nói tóc của Đức Phật cũng có
năm tướng chữ vạn. Sách Huệ Lâm Âm Nghĩa, Huệ Uyển Âm Nghĩa và
kinh Hoa Nghiêm... và rất nhiều kinh sách khác đều có đề cập. Hồ th ượng
nói: “Trong Phật giáo, khơng luận là xoay sang hữu hay xoay sang tả, ch ữ Vạn
luôn tượng trưng cho lịng từ bi và trí tuệ quang minh của Đức Phật. Xoay
vịng tượng trưng cho Phật lực vận tác vơ cùng, không ngừng, không nghỉ, c ứu
độ vô lượng chúng sinh trong mười phương. Cho nên không cần phải chấp
chặt, thắc mắc hình chữ Vạn nên xoay qua phải hay qua trái ”.
Vì khơng muốn có sự hiểu lầm giữa hình chữ Vạn của Ph ật giáo và hình ch ữ
thập ngoặc của Hitle - Chủ nghĩa phát xít đã làm kinh hoàng nhân lo ại m ột
thời, rất nhiều học giả, và các nhà tôn giáo học đã c ố gắng đ ưa ra nhi ều d ữ
liệu thông tin để làm sáng tỏ ý nghĩa cho biểu tượng này.
Trên đây là những tình tiết liên quan đến chữ Vạn (Swastika ) mà chúng ta
thường thắc mắc về chiều quay và mặt quay của ch ữ ấy, nhất là nh ững du
khách Âu Tây khi tham quan các chùa ở nước ta.
Qua việc tìm kiếm dữ liệu, lược dịch, tóm tắt và ghi chép, chúng tơi đã c ố
gắng đưa thông tin và dữ liệu cho quý độc giả tham cứu h ơn là bình lu ận. Có
lẽ lượng thông tin, dữ liệu chưa thật phong phú, rất mong quý độc gi ả và quý
thiện tri thức hoan hỷ, cảm thông bằng cách chỉ rõ và bổ sung cho nh ững tri
thức được hoàn mỹ hơn.
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI VÀO CHÙA.
Chùa là nơi thờ Phật, bắt nguồn từ chữ Thù pa (tiếng Pali) hay là Stupa (ti ếng
Sansrit). Ấn Độ. Chùa gắn liền với đời sống văn hóa và tinh th ần c ủa người
Việt, được phát triển theo thời gian và phân hóa theo khơng gian. Chùa Vi ệt
Nam có chùa làng và chùa nước. Chùa nước thường là nh ững nghơi chùa có
lịch sử hình thành và phát triển sớm, có vị trí về phong th ủy và phong c ảnh
đẹp, có quy mơ lớn, có giá trị về văn hóa lịch sử tơn giáo và và thường là nơi
tu hành của những tăng, ni Phật tử. Chùa làng th ươgnf có quy mơ nh ỏ h ơn và
là nơi sinh hoạt tâm linh trong làng. Vì vậy, những ngơi chùa th ường là nh ững
điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách và nhiều tín đồ đến chiêm bái. Cái
Tâm phải chay tịch " Tâm tĩnh tuệ xuất "
17
Theo phong tục cổ truyền người Việt trong các ngày rằm, mồng m ột, ngày lễ
tết… cùng những ngày có việc quan trọng thường đến Chùa l ễ Ph ật v ới t ấm
lịng thành kính nhờ nghiệp lức vơ biên của Phật, Ch ư Bồ Tát , các b ậc Thánh
Hiền mà được thiện duyên, giác ngộ, mong tâm được thanh tịnh, đ ạo đ ược
mở mang, tai qua nạn khỏi, cuộc sống ấm no hạnh phúc.. ước vọng chính
đáng ấy được thể hiện khi chúng ta đến trước điện đài của Phật.
Ngôi chùa Việt không những là một kiến trúc tôn giáo bi ểu hi ện cho Ph ật
giáo, tín ngưỡng Việt mà cịn mang trong mình biết bao trầm tích của ngh ệ
thuật cùng những giá trị văn hóa của người Việt. Do đó khi tham gia vào các
nghi lễ thờ cúng tại chùa cần lưu ý một số vấn đề sau:
Các hạng mục tham quan và lễ trong Chùa
Chùa là nơi thanh tịnh và là nơi tu hành của các v ị cao tăng nên khi vào chùa
du khách phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định về ứng x ử văn hóa
như sau:
- Về trang phục: Khi vào chùa cần mặc quần áo dài, kín cổ, đi khẽ. Tránh
mặc áo ngắn tay, áo sát nách, áo may ơ, quần sc, váy ngắn,… Đối v ới Ph ật t ử
thì phải mặc áo lễ khi đến điện thờ Phật trong chùa.
- Về xưng hô: Với nhà sư thì xưng là A di đà Phật, bạch Thầy,… và xưng
mình là Con. Xưng hơ như vậy tức là nhìn thấy tăng mà tưởng nh ớ th ầy Thích
Ca Mâu Ni, mình xưng hơ như vậy là đang x ưng hơ v ới Đ ức Thích Ca. N ếu nhà
sư đó là Thầy hướng dẫn mình tu tập thì xưng hơ là Th ầy thì ngồi ý nghĩa
trên còn mang nghĩa là Thầy dạy học đạo. Khi thưa gửi gì v ới nhà s ư thì đ ều
chắp tay hình búp sen.
- Về trình tự vào chùa:
+ Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan ( bên
phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái). C ửa Trung quan ch ỉ dành cho
Thiên tử, bậc cao tăng, bậc khoa bảng đi vào chùa, và đi ra cũng theo c ửa này.
Sau đó du khách có thể gặp sư trụ trì, sở dĩ là vì Chùa do s ư tr ụ trì cai qu ản,
có sư, tăng - ni, chùa mới được giữ gìn và Đạo Phật mới được truyền lưu nên
khi vào chùa phải theo lệ: “Nhập gia vấn chủ, nhập tự kiến sư
Tiên vấn trụ trì, hậu lễ Tam bảo”.
Nghĩa là:
“Vào nhà hỏi chủ, đến chùa gặp sư
Trước thăm trụ trì, sau lễ Tam bảo”.
Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta cũng khơng hồn tồn là làm bước này
khi đến chùa. Sau khi, vấn đáp sư trụ trì, du khách t ới nhà khách n ơi có bàn
để bày lễ dâng Phật, Thánh, Mẫu tại chùa đang tham quan.
- Trình tự lễ trong chùa:
+ Thắp hương tại đỉnh đặt bên ngoài, hạn ch ế th ắp h ương bên trong
chùa, vì có thể gây ảnh hưởng đến tượng Phật, pháp khí,…
18
+ Lễ tại ban Đức Ông: đặt lễ lục cúng, chắp tay hình búp sen, xin phép
vào lễ Phật (vì Đức Ơng là người kiểm sốt tâm thế của k ẻ đến chùa, chúng
sinh đến với Phật).
+ Phật điện: đặt lễ tại chính giữa Tam bảo, chắp tay hình búp sen, đ ứng
hoặc quỳ, thành tâm cầu khẩn điều an lành.
+ Sau đó đặt lễ ( nếu cần) và lần lượt kính lễ tại Ban T ổ, Nhà M ẫu và
Ban vong.
Cách sắm lễ và hành lễ trong Chùa.
Việc sắm sửa lễ vật khi vào Chùa, có những quy định mà du khách c ần tuân
thủ theo. Đó là lễ vật bao gồm có lễ chay để dâng lên điện Phật: gồm có lục
cúng ( hương, hoa, đăng, trà, quả, thực). Lễ vật chỉ cần có lục cúng mà khơng
cần dâng tiền vàng, đồ mặn, đồ mã,…Không đặt tiền lên ban th ờ, đĩa l ễ mà b ỏ
vào hòm cơng đức ở ban chính, vì đây là tiền chi phí d ầu đèn, h ương hoa l ễ
Phật, tu bổ di tích và ni chúng tăng. Đồng th ời cũng không nên b ỏ ti ền lên
ban Phật, gài vào tay, thân tượng Phật, Thánh vì đó là hành vi b ất kính.
Lễ là mặn chỉ có thể sắm sửa nếu trong chùa có thờ các vị Thánh, và có ban
thờ Mẫu và chỉ dâng tại các ban này thôi. Tuyệt đối không được dâng trên ban
thờ Phật, Chư Bồ tát và Thánh Hiền
- Về cầu cúng: tại chùa chỉ cúng những nghi lễ Phật giáo nh ư Ph ật đ ản, Vu
Lan, Mơng sơn thí thực,…Ngồi ra có một số lễ cúng rước vong lên chùa nh ằm
thỏa mãn đời sống tâm linh cho người dân.
- Khi cầu tay chắp thành hoa sen, đặt trước ngực " Tâm kh ởi bồ đề ", m ắt
hướng đến các ban, miệng niệm Phật cường độ âm v ừa đ ủ, " Nhân tâm nghĩ
quỷ thần xuất "
Một số vấn đề nhận biết cho du khách
- Về pháp khí, gồm có:+ Cờ Phật: là lá cờ hình chữ nhật, ghép các m ảnh khác
màu nói lên sự hịa hợp của nhiều cá thể, nhiều dân tộc… trong đạo pháp c ủa
Phật giáo. Thường có 10 mảnh tượng trưng cho thập ph ương chúng sinh, v ới
4 màu gọi là tứ đại tượng trưng cho hỏa, thủy, địa và phong.
+ Chuông trong chùa: gồm có chng treo và chng gõ.
Chng treo: hình ống, có quai treo, thường được trang trí bằng hình
rồng uốn mình, chia làm 4 múi, cách nhau một vành đai, có núm gõ, trên chân
chng thường khắc các bài văn có nội dung liên quan đ ến bản chùa ho ặc
kinh Phật, gọi là bài Minh chung.
19
Chuông gõ: miệng chuông ngửa lên trên, đế chuông là vành khăn vải,
thường đặt cạnh mõ gỗ, để ở trước Phật điện, dành cho vi ệc t ụng kinh c ủa
các nhà tu hành hoặc khách thập phương.
+ Mõ: có nhiều kích cỡ, gồm loại hình trịn và hình cá, th ường làm b ằng
gỗ, khoét rỗng lòng, dùng để gõ khi tụng kinh.
+ Mộc: là miếng gỗ dùng đánh hiệu lệnh của chùa.
+ Khánh: thường dùng khi rước đồ linh thiêng hay th ỉnh khi các v ị cao
tăng đi lên Phật điện hành lễ hay lên Bảo tòa thuy ết pháp.
+ Tích trượng hay cịn gọi là Trí trượng ( có nghĩa là ng ười tu hành
nương nhờ cây gậy này mà thêm thăng tiến và phát sinh trí tuệ). Trên đầu cây
tích trượng có là 4 khâu, 12 vòng tượng trưng cho T ứ Đế ( Ph ật, Pháp, Tăng,
Bảo) và Thập nhị nhân duyên.
THỜ CÚNG GIA TIÊN
Trong quan niệm của người Việt, ban thờ trong mỗi gia đình – n ơi th ờ cúng
gia tiên, tưởng nhớ tổ tiên là nơi trang nghiêm, tơn kính nhất. Th ế nh ưng
phong tục tốt đẹp từ ngàn đời này có những nguyên tắc s ắp x ếp, trang hồng
riêng mà khơng phải ai cũng biết.
Nơi thờ cúng ảnh hưởng đến gia vận?
Người xưa có câu “ẩm thủy đương tư tuyền nguyên đầu, thực mễ đang tư
nông canh khổ, hữu tiền đang tư vô tiền thời, kiện khang đang t ư ph ụ m ẫu
ân”, dịch nghĩa “khi uống nước thì phải nhớ đầu nguồn suối, ăn c ơm ph ải nh ớ
lúc cày cấy vất vả, giàu có phải nhớ lúc nghèo kh ổ, khỏe m ạnh ph ải nh ớ đ ến
ân của cha mẹ”.
Người ta sinh ra có được sinh mệnh, được sống đến ngày nay là nh ờ vào t ổ
tiên. Tổ tiên giống như gốc cây đại thụ nuôi dưỡng để cành lá khỏe m ạnh
xanh tươi, tượng trưng cho con cháu phát triển. Vì v ậy, n ếu khơng có t ổ tiên
duy trì nịi giống truyền từ đời này sang đời khác thì cũng khơng có con cháu
ngày nay. Tục thờ cúng tổ tiên chính là sự ghi nhớ cơng ơn và là cách đ ể chăm
chút cho cái gốc của mình, gốc có tốt thì cây m ới phát tri ển ra hoa k ết trái.
Người ta thường nói, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu là nh ư v ậy.
Ngồi ra, trong lịch sử tín ngưỡng người Việt, thờ cúng thần linh đã có t ừ lâu
đời, do cuộc sống dựa chủ yếu vào tự nhiên nên người x ưa l ập đàn kính t ế
quỷ thần, mong giảm bớt thiên tai đem đến phúc lộc. Dễ dàng nh ận th ấy
ngồi các ngơi đền lớn nhỏ ở khắp các địa ph ương thì ngày nay trong nhi ều
gia đình vẫn có bát hương thờ thần Phật để tiêu tai n ạp phúc, s ự nghi ệp
thuận lợi, hưng vượng nhân đinh, là nơi gửi gắm niềm tin của c ả gia đình.
20
Thần Phật được thờ trong nhà giống như người khách quý nên ng ười ta
thường đặt ban thờ thần Phật ở sảnh giữa nhà, áp lưng vào tường v ững ch ắc
hoặc để chung với bàn thờ gia tiên. Cho dù đặt riêng hay đ ặt chung v ới bàn
thờ gia tiên thì cũng đều có những ngun tắc cần tuân th ủ: Gia tiên là ch ủ
nhân, thần minh là khách quý, có thể chấp nhận có chủ nhân nh ưng khơng có
khách, khơng được có khách mà khơng có ch ủ. Nếu v ừa có ch ủ v ừa có khách
cùng chung một bàn thờ là lý tưởng nhất.
Nhưng cũng khơng phải tùy tiện thích đặt thế nào thì đ ặt vì v ậy, ng ười x ưa
cho rằng chỉ cần nhìn vào nơi thờ cúng của gia đình cũng có th ể bi ết gia ch ủ
có tâm hay không. Cái tâm ở đây không được đo bằng mâm cao c ỗ đ ầy, vàng
mã bao nhiêu mà là ở vị trí đặt bàn thờ, cách sắp xếp bàn th ờ ra sao cho phù
hợp, trang nghiêm và sạch sẽ.
Quan niệm phong thủy thì cho rằng bàn thờ là n ơi linh khí quy t ụ, là ch ỗ đ ể
người trên dương thế liên hệ với người đã khuất, người ch ết thì thành th ần,
thần lại là trung gian giữa trời với người. T ừ đó có th ể th ấy, khí tr ường c ủa
ban thờ ảnh hưởng rất lớn đến người trong nhà. Ban th ờ sắp đặt đúng cách
không chỉ khiến người đã khuất an định mà ở lại coi sóc phù hộ gia đình, nên
ban thờ cũng có những quy tắc nhất định.
Sắp đặt ban thờ theo quan niệm phong thủy
Ban thờ nên quay ra cửa chính, khơng nên ng ược v ới h ướng nhà có th ể gây
âm dương tương phản, dễ gây bất trắc, nô bộc phản bội hoặc con cái không
hiếu thuận, tài vận và gia vận bị ảnh hưởng. Ban thờ thần Phật thì nên đặt ở
hướng chính hoặc quay bên trái, bên phải. Ban thờ gia tiên tốt nh ất nên đ ặt ở
tầng một, gian chính giữa nhà, quay ra cửa lớn để khi vừa m ở c ửa vào đã nhìn
thấy gia tiên, tiện bề chăm sóc.
Số lượng thần Phật phải là số dương, do thần Phật thuộc d ương vì v ậy ph ải
dùng số lẻ, không nên thờ cùng lúc quá nhiều th ần Ph ật, hoặc th ờ cùng lúc
hai thần xung khắc nhau có thể gây loạn linh khí khiến người trong nhà tinh
thần bất an, dễ gặp tai họa. Nếu có đặt tượng thần Ph ật mà t ượng ấy l ại b ị
nứt thì nên nhanh chóng thay mới do tà khí có thể xâm nhập vào.
Ban thờ có thờ chung thần Phật và bài vị tổ tiên thì thần Phật đặt ở bên trái,
tổ tiên đặt ở bên phải, nếu đặt ngược lại sẽ gây âm thịnh dương suy không
tốt cho phong thủy, trong nhà dễ gặp thị phi kiện tụng, bệnh t ật không d ứt.
Thông thường người ta đặt nơi thờ cúng tổ tiên trước rồi m ới đ ến thần Ph ật.
Tổ tiên được coi là chủ, thần Phật được coi là khách quý, nếu m ời thần Ph ật
trước rồi mới mời tổ tiên người xưa cho rằng như vậy khiến tổ tiên nhà
mình khơng dám vào cửa. Bài vị tổ tiên cũng không đ ược đ ặt cao h ơn c ủa
21
thần Phật. Ban thờ phải có chỗ dựa lưng, tức kê sát vách t ường đ ể linh khí
được hội tụ không bị tản mát
Bát hương thờ tổ tiên nên có tay cầm, bát hương th ờ th ần khơng nên có tay
cầm. Vật liệu bát hương tốt nhất là dùng bằng sứ, sau đó đ ến đ ồng, khơng
nên dùng đá hoa cương.
Bóng đèn phía trước khơng nên xung với ban th ờ, không nên dùng đèn chi ếu.
Ban thờ cũng khơng đặt ở vị trí dưới xà nhà, n ếu khơng có v ị trí t ốt h ơn thì
phải làm trần, ngồi ra bên trên khơng được có máy móc nh ư máy đi ều hịa,
máy hút mùi, loa đài.
Số lượng thờ thần Phật nhiều nhất là 3, không nên quá nhi ều dễ gây b ất an.
Bát hương nên dùng hình trịn khơng có chân đ ế, ch ất li ệu b ằng s ứ là t ốt
nhất. Bát hương thông thường không nên quá đầy tro, ngày 15 âm hàng tháng
có thể rút bớt chân hương cho sạch sẽ.
Bát hương thờ thần Phật nên cao hơn bát hương th ờ tổ tiên, khi c ắm h ương
thì nén hương nên cao hơn mắt người. Khi đốt h ương chỉ nên đ ốt m ột que,
nếu có điều cần khấn nguyện thì đốt ba que, khơng nên đ ốt nhi ều h ơn d ễ
khiến tà linh theo vào nhà. Vật phẩm thờ cúng cũng c ần chú ý m ột s ố đi ểm
sau: thờ Phật và Quan Âm chỉ được dùng đồ chay do nhà Ph ật không ăn đ ồ
tanh; thờ thần chủ yếu dùng hoa quả và phải là số lẻ 1, 3, 5, n ếu cúng tổ tiên
thì số lượng là hai chữ số.
Những điều cấm kị khi sắp xếp ban thờ
Người xưa quan niệm có rất nhiều cấm kị tại vị trí đặt ban th ờ: Khơng đ ược
dựa vào trụ nhà, khơng được có cửa sổ bên cạnh (do khơng th ể tụ đ ược khí).
Ban thờ cũng khơng được áp lưng vào nhà bếp vì có thể khiến chủ nhân dễ bị
kích động, tính tình thất thường, nóng nảy, có bệnh về cột sống.
Phía sau ban thờ đặc biệt khơng được có nhà vệ sinh, nhà t ắm do có âm khí
và xú khí nặng, theo phong thủy dễ khiến “ch ư th ần thoái v ị”, ch ủ nhà d ễ b ị
trúng phong, gặp ác mộng, đau lưng. Sau bàn th ờ cũng không đ ược có thang
máy, cầu thang, nếu khơng chủ nhân dễ bị tán tài, thương tật ở lưng.
Bàn thờ không được đối diện với lò, bếp, nhà vệ sinh, kể cả h ướng lệch sang
bên cũng khơng tốt. Nếu khơng cịn vị trí nào khác để đặt ban th ờ thì nên l ấy
bình phong che lại. Phịng thờ khơng nên đặt ở nền đất v ốn tr ước đây là nhà
bếp, nhà vệ sinh do chất đất không tốt. Trên ban th ờ k ị đ ặt các v ật linh tinh,
dao kéo, thuốc men, không được dùng tủ thờ làm n ơi cất giữ đ ồ đ ạc ho ặc b ể
cá, vô tuyến, loa đài.
22
Vật liệu làm bàn thờ nên sử dụng gỗ long não, đàn h ương và nên điêu kh ắc
thủ công là tốt nhất do các loại gỗ này tránh mối m ọt, có th ể s ử dụng t ừ đ ời
này sang đời khác.
Trên bàn thờ không nên đặt chậu cây cảnh mà chủ y ếu dùng hoa tươi đ ể th ờ
phụng, không nên dùng hoa nhựa. Chủ nhà thường xuyên vệ sinh khu v ực
xung quanh, nên thắp hương vào sáng và tối. Người xưa quan niệm r ằng n ếu
khói hương bay thẳng lên là tốt, nếu cuốn thành vịng trịn hoặc tản mát là có
“ngoại linh đang tranh cướp”. Nếu bát hương bàn thờ thần tự nhiên bốc cháy
là may mắn, nếu bát hương thờ tổ tiên cháy là điềm báo hung.
Nếu ban thờ của nhà có thờ cả họ nội và họ ngoại thì họ nội đặt bên trái, h ọ
ngoại đặt bên phải, nhưng phải dùng vạch sơn màu đỏ phân chia rõ ràng
hoặc dùng tấm vách ngăn sơn đỏ để tránh tranh chấp nhau.
Ban thờ khơng nên treo trên khơng, khơng có chỗ dựa lưng hoặc trên đ ường
đi. Sở dĩ có quan niệm này vì người xưa cho rằng ban th ờ là n ơi c ần đ ược h ội
tụ linh khí, khí trường bàn thờ sung mãn có th ể khiến tồn gia đình đ ược an
lành hạnh phúc. Nếu ban thờ treo trên khơng, khơng có chỗ dựa lưng ho ặc ở
nơi đi lại dễ khiến người trong nhà bất an, gia vận trồi sụt khó đốn.
Ban thờ không được xung với đường đi: Ban thờ bị đường đi đâm th ẳng vào
dễ gây bất an tổn hại đến cung tài lộc, nhân đinh của gia đình, d ễ gây tai n ạn
ngoài ý muốn hoặc bệnh tật tấn công.
Ban thờ ngược với hướng nhà dễ khiến người trong nhà bất hòa, d ễ g ặp b ất
trắc bệnh tật. Nếu đặt ở vị trí quay sang trái hoặc sang phải nhà thì ch ủ nhân
dễ có tâm sự phiền muộn khó nói ra. Nếu ban th ờ đ ối di ện v ới nhà v ệ sinh
thì người trong nhà gặp nhiều bệnh tật đau đớn.
Nếu ban thờ đối diện với nhà bếp dễ khiến nguời trong nhà hay tranh cãi
những việc nhỏ, tính tình nóng nảy. Nếu phía trên ban th ờ có xà nhà có th ể
khiến chủ nhân dễ bị đau đầu, cuộc sống vất vả. Nếu đặt đối diện v ới c ầu
thang, chủ nhân dễ bị động dao kéo, tai nạn đổ máu. Nếu đặt dưới cầu thang
thì người trong nhà khó có cơ hội phát triển. Nếu đ ặt trên n ền đ ất l ồi lõm
khơng bằng phẳng có thể khiến chủ nhân gặp khó khăn trong m ọi vi ệc. Nếu
phía trên, dưới, trái, phải ban thờ có cửa sổ thì chủ nhân dễ bị tán tài.
Ngày Tết là thời điểm quan trọng chuyển giao từ năm cũ sang năm m ới, m ọi
người đều dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị đón Tết và cũng khơng đ ược phép qn
trang hồng nơi thờ cúng. Cơng việc này thơng thường bắt đầu từ ngày 23/12
âm lịch, thời điểm tiễn táo qn lên thiên đình bẩm báo cơng vi ệc ở h ạ gi ới
trong năm theo phong tục Việt Nam...
MÂM NGŨ QUẢ
23
Ngày Tết trên bàn thờ luôn bày trái cây để cúng ông bà gọi là mâm ngũ quả. Ở
Trung bộ gọi là mâm quả tử, lưu ý đến hạt/tử hay nói rõ là quả có hạt, hơn là
quả nói chung, ám chỉ tín lý phồn thực: cầu mong sự sinh s ản, gieo m ột h ạt
được trăm hạt, nhất bản vạn lợi.
Tập quán bày ngũ quả không quy định là những thứ quả gì mà dường nh ư tùy
địa phương, tùy sự được mùa quả từng năm mà người ta chọn mua hay hái đ ể
dâng cúng tổ tiên. Tiêu chuẩn lý tưởng là quả tốt, có màu s ắc đ ẹp và càng có
giá trị là các loại quả quý hiếm. Điều kiêng kị là các loại quả có tên g ọi đ ồng
âm với từ có nghĩa xấu theo đó, cá biệt có nơi người ta k ị cam (cam ch ụi),
chuối (chúi: chúi đầu, chúi mũi; tức vất vả)… Ngược lại, cũng theo tên g ọi, các
loại trái ở Nam bộ, người ta thích thơm (thơm tho, th ơm danh), sung (sung
túc); đủ một câu thể hiện sự mong ước khiêm tốn gồm mãng cầu, dừa, đu đủ,
xoài (cầu vừa đủ xài); quá mức đầy đủ một bậc mãng cầu, dừa, đu đ ủ, xoài,
sung (cầu vừa đủ xài sung)…
Nói chung, mâm ngũ quả như vậy là một biến thái mà xu h ướng ch ủ đ ạo là
theo vần theo âm.
Số Năm - Ngũ
Truy nguyên cội nguồn của mâm ngũ quả buộc chúng ta phải xem xét đến hai
thành tố của tên gọi: ngũ (số 5) và quả (trái cây), rồi sau đó m ới nói đến ngũ
quả.
Theo quan niệm cổ đại phổ biến trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hoá
Trung Quốc, các quy luật phổ biến đều gộp vào con số 5: ngũ sắc, ngũ vị, ngũ
âm, ngũ tạng, ngũ kim, ngũ quan, ngũ luân, ngũ cốc… Nh ư v ậy, s ố 5 là bi ểu
hiện chung của sự sống và ở đây ngũ quả tự nó biểu trưng một h ợp thành
được coi là đầy đủ của loại lễ vật dâng cúng là quả.
Đối với cư dân nông nghiệp ngũ cốc (đạo/nếp hương, lương/gạo, thúc/đậu,
mạch/ lúa mì, tắc/kê) là lương thực chủ đạo và ngũ quả (trái cây nói chung)
là thứ yếu. Theo sự xác tín đã trở thành tập tục phổ biến trong dân gian nên
có thể “ngũ quả” nêu trên là “chuẩn” của năm thứ quả dùng làm lễ v ật bởi lẽ
việc dâng lễ vật nào đều có thể là cách biểu thị sự cầu mong của người dâng
lễ. Ở đây, đối với người nông dân thời cổ thì điều cầu mong l ớn nh ất là đ ược
mùa ngũ cốc.
Quả - Trái
Quả hay trái cây là thứ lễ vật xuất hiện khá sớm trong việc cúng bái bên c ạnh
các lồi thú hiến tế (heo, bị, dê: tam sinh; hoặc bình dân h ơn: gà, v ịt, tôm, cua,
cá). Theo khoa nghi nhà Phật, trong danh mục lễ vật l ục cúng hay th ập cúng
có hương (nhang), đăng (đèn), hoa, trà, quả, thực… Tuy nhiên, nghi l ễ nhà
Phật cũng không quy định rõ là quả gì.
24
Quả/trái cây nói chung là biểu tượng của sự sung túc, dồi dào. Vì quả th ường
chứa nhiều hạt được đồng nhất với quả trứng vũ trụ, biểu tượng cho m ọi
nguồn gốc, mọi sự khởi nguyên; biểu trưng quả (với hạt bên trong c ủa nó)
biểu thị cho sự phồn thực, sinh sôi và khao khát sự bất tử - hiểu theo nghĩa là
sự nối truyền dòng giống miên viễn. Theo chiều hướng này, quả bao g ồm c ả
ý nghĩa biểu trưng vượt lên trên nhịp điệu sinh tồn c ủa v ạn v ật: s ự xen kẽ
luân hồi của sự sống và cái chết; giữa cuộc sống dưới đất (của hạt giống) và
cuộc sống dương thế…
Trong văn hóa, cụ thể là trong văn học và nghệ thuật tạo hình, quả vừa là
biểu trưng chung vừa là biểu trưng có ý nghĩa riêng - ho ặc theo s ự đ ồng âm
của nó hoặc nó được xác định bởi các tình tiết văn học truy ền kỳ, th ần tiên…
Lựu được biểu trưng cho sinh con (lựu khai bách tử), dưa hấu nhiều h ạt cũng
có ý nghĩa tương tự như lựu. Mơ, đào, bầu, phật thủ… đều có ý nghĩa bi ểu
trưng riêng, song đều hội ý chúc tụng cát tường, nh ư ý.
Tóm lại, mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của người Việt là một “s ản
phẩm văn hóa” đã xác lập trong q trình lịch sử lâu dài, đ ược khn đúc theo
quan niệm về “bộ ngũ hoàn hảo” và bắt nguồn từ cái nhìn liên t ưởng mang
tính chất trải nghiệm từ thực tế sinh trụ dị diệt của thực vật.
Tập tục thú vị về tiễn – đón Táo quân
Người xưa cho rằng ngày Tết hết sức quan trọng do nó quy ết đ ịnh v ận th ế,
sự nghiệp và tài lộc cho cả năm sau: Táo quân cai quản khói lửa ở h ạ giới, lại
thường ở trong bếp nên biết hết chuyện hay dở của gia đình trong c ả năm,
sau khi nghe thơng báo xong Ngọc hồng sẽ căn c ứ vào đó đ ể đ ịnh đo ạt, có
thể là khen thưởng cũng có thể là quở phạt.
Vì vậy, trước khi Táo quân lên thiên đình người ta bày l ễ cúng đ ể Táo quân
“nói tốt” cho nhà mình. Tục xưa thường để bàn th ờ, bài v ị của Táo công treo
trên tường nhà bếp, thần vị làm bằng giấy vẽ hình táo quân và m ột bát
hương, cúng vào buổi sáng và buổi tối, nhưng ngày nay khơng cịn phong t ục
này nữa.
Đồ cúng táo quân thông thường là các loại kẹo bánh có v ị ng ọt, hi v ọng th ần
ăn đồ ngọt sẽ không bẩm báo những chuy ện nhỏ nhặt v ới Ngọc đ ế. Sau khi
cúng tế xong đem đồ ngọt bôi quanh miệng bếp, tượng trưng miệng th ần
quân dẻo ngọt không bẩm chuyện xấu của nhà mình với Ngọc hồng. Nếu
nhà có trẻ nhỏ thì cúng thêm một con gà tr ống để mong đ ứa tr ẻ phát tri ển
khỏe mạnh.
Khi cúng tiễn thần bếp, người ta thường phải tắm r ửa s ạch sẽ, dùng mu ối,
hoa, tinh dầu, lá bưởi hoặc các loại lá thơm làm n ước tắm, sau khi t ắm xong
thay quần áo sạch sẽ rồi mới cúng.
25