MỞ ĐẦU
Nếu chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là một trong ba phát minh quan
trọng nhất của chủ nghĩa Mác, thì những quan điểm về tơn giáo là một trong
những biểu hiện rõ nét nhất lập trường duy vật về lịch sử của học thuyết này. Nó
thể hiện thông qua các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cả bản chất,
nguồn gốc lẫn chức năng của tôn giáo. Hiện nay trên thế giới, rất nhiều nước
khác nhau cùng vận dụng nguyên tắc của chủ nghĩa Mác Lê Nin trong việc giải
quyết vấn đề về tôn giáo và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Để hiểu
rõ hơn về vấn đề này, trong bài tập lớn lần này em xin chọn đề số 12: “Những
nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - LêNin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo và
sự vận dụng một trong những nguyên tắc này của Đảng, Nhà nước ta hiện nay”
để hồn thành phần bài tập của mình.
NỘI DUNG
I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG
VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO:
1. Một số vấn đề chung về tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin:
* Khái niệm về tôn giáo:
Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vơ hình, mang tính
thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư
ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm
tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn
cảnh địa lý văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận
hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng
xã hội tôn giáo khác nhau.
Cần phân biệt tôn giáo với mê tín dị đoan; Mê tín dị đoan là những hiện
tượng (ý thức, hành vi) cuồng vọng của con người đến mức mê muội, trái với lẽ
phải và hành vi đạo đức, văn hoá cộng đồng, gây hậu quả tiêu cực trực tiếp đến
đời sống vật chất tinh thần của cá nhân, cộng đồng xã hội. Đây là một hiện
tượng xã hội tiêu cực, phải kiên quyết bài trừ, nhằm lành mạnh hoá đời sống
tinh thần xã hội
* Nguồn gốc của tôn giáo:
Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Tơn
giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã
khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con
người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một
thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu
hiện.
Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín
ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tơn giáo thường đưa ra các
giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp
và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…Rất
khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan
niệm của con người về tơn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tơn giáo
là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và
giữa chúng khơng có sự tách bạch.
Tơn giáo có rất nhiều nguồn gốc khác nhau bao gồm:
Thứ nhất, nguồn gốc kinh tế xã hội của tơn giáo là tồn bộ những nguyên
nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái
hiện những niềm tin tơn giáo. Trong đó một số ngun nhân và điều kiện gắn
với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ
giữa con người với con người.
Trong xã hội nguyên thuỷ, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, con
người cảm thấy yếu đuối, lệ thuộc và bất lực trước tự nhiên. Vì vậy họ đã gán
cho tự nhiên những lực lượng siêu tự nhiên có sức mạnh, quyền lực to lớn,
quyết định đến cuộc sống và họ phải tơn thờ.
Khi xã hội có giai cấp đối kháng, động là nguồn gốc nảy sinh tôn giáo.
V.I.Lênin đã viết: "Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống
bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lịng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên
kia". Hiện nay, con người vẫn chưa hoàn toàn làm chủ tự nhiên và xã hội ; các
cuộc xung đột giai cấp, dân tộc, tôn giáo, thiên tai, bệnh tật,... vẫn còn diễn ra,
nên vẫn còn nguồn gốc để tơn giáo tồn tại.nạn áp bức, bóc lột, bất cơng của giai
cấp thống trị đối với nhân dân lao .
Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của
q trình nhận thức. Đó là một q trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống
nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan.
Tơn giáo bắt nguồn từ sự nhận thức hạn hẹp, mơ hồ về tự nhiên, xã hội có
liên quan đến đời sống, số phận của con người. Con người đã gán cho nó những
sức mạnh siêu nhiên, tạo ra các biểu tượng tôn giáo. Mặt khác, trong quá trình
biện chứng của nhận thức, con người nảy sinh những yếu tố suy diễn, tưởng
tưởng xa lạ với hiện thực khách quan, hình thành nên các biểu tượng tôn giáo.
Cuối cùng là nguồn gốc tâm lí của tơn giáo. Ngay từ thời cổ đại, các nhà
duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm)
đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãi sinh ra thần
thánh.
Tình cảm, cảm xúc, tâm trạng lo âu, sợ hãi, buồn chán, tuyệt vọng đã dẫn
con người đến sự khuất phục, không làm chủ được bản thân là cơ sở tâm lí để
hình thành tơn giáo. Mặt khác, lịng biết ơn, sự tơn kính đối với những người có
cơng khai phá tự nhiên và chống lại các thế lực áp bức trong tình cảm, tâm lí
con người cũng là cơ sở để tôn giáo nảy sinh.
2. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo:
* Tình hình tơn giáo trên thế giới:
Theo Từ điển Bách khoa Tôn giáo thế giới năm 2001, hiện nay trên thế
giới có tới 10.000 tơn giáo khác nhau, trong đó khoảng 150 tơn giáo có hơn 1
triệu tín đồ. Những tôn giáo lớn trên thế giới hiện nay gồm có: Kitơ giáo (bao
gồm Cơng giáo, Tin Lành, Anh giáo hay Chính thống giáo) có khoảng 2 tỉ tín
đồ, chiếm 33% dân số thế giới; Hồi giáo: 1,3 tỉ tín đồ, chiếm 22% dân số thế
giới; Ấn Độ giáo: 900 triệu tín đồ, chiếm 15% dân số thế giới và Phật giáo: 360
triệu, chiếm 6% dân số thế giới. Như vậy, chỉ tính các tơn giáo lớn đã có 4,2 tỉ
người tin theo, chiếm 76% dân số thế giới.
Trong những năm gần đây hoạt động của các tôn giáo khá sôi động, diễn
ra theo nhiều xu hướng. Các tôn giáo đều có xu hướng mở rộng ảnh hưởng ra
tồn cầu ; các tơn giáo cũng có xu hướng dân tộc hố, bình dân hố, mềm hố
các giới luật lễ nghi để thích nghi, tồn tại, phát triển trong từng quốc gia dân
tộc; các tôn giáo cũng tăng các hoạt động giao lưu, thực hiện thêm các chức
năng phi tôn giáo theo hướng thế tục hố, tích cực tham gia các hoạt động xã
hội để mở rộng ảnh hưởng làm cho sinh hoạt tôn giáo đa dạng, sôi động và
không kém phần phức tạp.
Đáng chú ý là gần đây, xu hướng đa thần giáo phát triển song song với xu
hướng nhất thần giáo, tuyệt đối hố, thần bí hố giáo chủ đang nổi lên ; đồng
thời, nhiều “hiện tượng tôn giáo lạ” ra đời, trong đó có khơng ít tổ chức tôn giáo
là một trong những tác nhân gây xung đột tôn giáo, xung đột dân tộc gay gắt
trên thế giới hiện nay. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiếp tục lợi
dụng tôn giáo để chống phá, can thiệp vào các quốc gia dân tộc độc lập.
Tình hình, xu hướng hoạt động của các tơn giáo thế giới có tác động, ảnh
hưởng khơng nhỏ đến sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam. Một mặt, việc mở rộng
giao lưu giữa các tổ chức tôn giáo Việt Nam với các tổ chức tôn giáo thế giới đã
giúp cho việc tăng cường trao đổi thơng tin, góp phần xây dựng tinh thần hợp
tác hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau vì lợi ích của các giáo hội và đất nước; góp
phần đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, vu cáo của các thế lực
thù địch với Việt Nam; góp phần đào tạo chức sắc tôn giáo Việt Nam. Mặt khác,
các thế lực thù địch cũng lợi dụng sự mở rộng giao lưu đó để tun truyền, kích
động đồng bào tơn giáo trong và ngồi nước chống phá Đảng, Nhà nước và chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
* Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáo:
Giải quyết vấn đề tôn giáo là một quá trình lâu dài gắn với quá trình phát
triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hố, giáo dục, khoa học công nghệ nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân. Để giải quyết tốt vấn đề tơn giáo, cần thực hiện các vấn đề
có tính nguyên tắc sau :
Một là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã
hội cũ, xây dựng xã hội mới- xã hội xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, chỉ có thể giải phóng quần chúng
khỏi ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo bằng cách từng bước giải quyết nguồn gốc
tự nhiên, nguồn gốc xã hội của tơn giáo. Đó phải là kết quả của sự nghiệp cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới một cách toàn diện. Theo đó, giải quyết vấn
đề tơn giáo phải sử dụng tổng hợp các giải pháp trên tất cả các lĩnh vực nhằm
xác lập được một thế giới hiện thực khơng có áp bức, bất cơng, nghèo đói, dốt
nát. Tuyệt đối khơng được sử dụng mệnh lệnh hành chính cưỡng chế để tun
chiến, xố bỏ tơn giáo.
Hai là, tơn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và khơng tín
ngưỡng của cơng dân, kiên quyết bài trừ mê tín dị đoan
Trong chủ nghĩa xã hội, tơn giáo cịn là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài. Bởi vậy, phải tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng tơn giáo và quyền tự do khơng tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Nội
dung cơ bản của quyền tự do tín ngưỡng là: Bất kì ai cũng được tự do theo tơn
giáo mà mình lựa chọn, tự do không theo tôn giáo, tự do chuyển đạo hoặc bỏ
đạo. Nhà nước xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho mọi cơng dân, khơng phân biệt tín
ngưỡng tơn giáo đều được bình đẳng trước pháp luật. Các tổ chức tơn giáo hợp
pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Mọi tổ chức và cá
nhân đều phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tơn giáo và quyền tự do khơng
tín ngưỡng tơn giáo của cơng dân. Tơn trọng gắn liền với không ngừng tạo điều
kiện cho quần chúng tiến bộ mọi mặt, bài trừ mê tín dị đoan, bảo đảm cho tín
đồ, chức sắc tơn giáo hoạt động theo đúng pháp luật.
Ba là, quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.
Tơn giáo có tính lịch sử, nên vai trị, ảnh hưởng của từng tôn giáo đối với
đời sống xã hội cũng thay đổi theo sự biến đổi của tồn tại xã hội. Bởi vậy, khi
xem xét, đánh giá, giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo cần phải quán
triệt quan điểm lịch sử, cụ thể, tránh giáo điều, máy móc, rập khn cứng nhắc.
Những hoạt động tơn giáo đúng pháp luật được tơn trọng, hoạt động ích nước
lợi dân được khuyến khích, hoạt động trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích dân tộc
bị xử lí theo pháp luật.
Bốn là, phân biệt rõ mối quan hệ giữa hai mặt chính trị và tư tưởng trong
giải quyết vấn đề tôn giáo.
Trong xã hội, sinh hoạt tôn giáo tồn tại hai loại mâu thuẫn: Mâu thuẫn đối
kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp bóc lột và thế lực lợi dụng
tôn giáo chống lại cách mạng với lợi ích của nhân dân lao động, đó là mặt chính
trị của tơn giáo. Mâu thuẫn khơng đối kháng giữa những người có tín ngưỡng
khác nhau hoặc giữa người có tín ngưỡng và khơng có tín ngưỡng, đó là mặt tư
tưởng của tôn giáo.
Cho nên, một mặt phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân,
mặt khác phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động của các thế
lực lợi dụng tôn giáo. Việc phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải
quyết vấn đề tôn giáo nhằm: Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết
quần chúng nhân dân, khơng phân biệt tín ngưỡng tơn giáo; Phát huy tinh thần
yêu nước của những chức sắc tiến bộ trong các tơn giáo; Kiên quyết vạch trần
và xử lí kịp thời theo pháp luật những phần tử lợi dụng tôn giáo để hoạt động
chống phá cách mạng.
II. VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC –
LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO CỦA
ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ:
1. Khái qt tình hình tơn giáo ở Việt Nam hiện nay:
Việt Nam là quốc gia có nhiều tơn giáo và nhiều người tin theo các tôn
giáo. Hiện nay, ở nước ta có 6 tơn giáo lớn: Phật giáo, Cơng giáo, Tin Lành, Hồi
giáo, Cao Đài, Hồ Hảo với số tín đồ lên tới trên 20 triệu. Có người cùng lúc
tham gia nhiều hành vi tín ngưỡng, tơn giáo khác nhau.
Theo thống kê dân số năm 2010 thì số tìn đồ Phật Giáo là 6.802.318
người trong đó 2.988.666 tín đồ ở thành thị và 3.813.652 tín đồ ở nơng
thơn.Cơng giáo Rơma (hay Thiên Chúa giáo La Mã), lần đầu tiên tới Việt bởi
những nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước khi Việt Nam là một
thuộc địa của Pháp.
Theo thống kê năm 2015 ở Việt Nam có khoảng 5.677.086 tín đồ Cơng
giáo trong đó có 1.776.694 tín đồ ở khu vực thành thị và 3.900.392 ở các khu
vực nơng thơn, địa phương có đơng đảo tín đồ Cơng giáo nhất là tỉnh Đồng Nai
với 797.702 tín đồ, và khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước.Đạo
Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ. Cũng theo thống kê năm 2015 có
khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hịa Hảo khiến tơn giáo này trở thành tơn
giáo có số tín đồ đơng thứ ba tại Việt Nam. tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung
chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật
Giáo Hịa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hịa Hảo đơng nhất cả nước) Cao
Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa Việt Nam do Ngô
Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm
là Tịa Thánh Tây Ninh.
Theo điều tra Ban Tơn giáo chính phủ, có 3 triệu người tự xem mình là
tín đồ Cao Đài phân bố tại 39 tỉnh thành cả nước.Tin Lành được truyền vào Việt
Nam năm 1911. Năm 2015, số tín đồ Tin Lành ở Việt Nam là 734.168 chủ yếu
tập trung ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc và là tơn giáo chính của nhiều dân
tộc thiểu số. Tỉnh có đơng đảo tín đồ Tin Lành nhất là Đăk Lăk với 149.526 tín
đồ.Hầu hết tín đồ Hồi giáo và Hindu giáo tại Việt Nam là người Chăm. Người ta
cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng
đồng người Chăm. Năm 2015, tại Việt Nam có khoảng 75.268 tín đồ Hồi giáo.
Ngồi ra, ở Việt Nam cịn có một số tơn giáo khác nhưng nó nhỏ lẻ khơng đáng
kể và cịn có một số người khơng có tơn giáo.
Trong những năm gần đây các tôn giáo đẩy mạnh hoạt động nhằm phát
triển tổ chức, phát huy ảnh hướng trong đời sống tinh thần xã hội. Các giáo hội
đều tăng cường hoạt động mở rộng ảnh hưởng, thu hút tín đồ ; tăng cường quan
hệ với các tổ chức tôn giáo thế giới. Các cơ sở tôn giáo được tu bổ, xây dựng
mới khang trang đẹp đẽ ; các lễ hội tôn giáo diễn ra sôi động ở nhiều nơi. Đại đa
số tín đồ chức sắc tơn giáo hoạt động đúng pháp luật, theo hướng “tốt đời, đẹp
đạo”.
Về mặt tích cực thì tơn giáo là hình thức phản ánh đặc thù, phản ánh hư
ảo thế giới hiện thực, tôn giáo đã góp phần chế ngự các hành vi phi đạo đức. Do
tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của các tơn giáo, nhiều tín đồ đã sống
và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày càng thuần khiết. Ở Việt
Nam giáo phái sống hòa thuận, khơng có xung đột dẫn đến chiến tranh như một
số nước hồi giáo ở Trung Đơng.
Bên cạnh đó thì tơn giáo cũng có một số mặt tiêu cực. Một số người lợi
dụng vào vấn đề tâm linh để lừa gạt người khác như vụ làm giả hài cốt nhằm tạo
lòng tin để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng nhà ngoại cảm “rởm” “cậu Thủy”
của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam khoảng 8 tỷ đồng, … Cịn có một
số kẻ phản động chuyên đi kích động một số bà con giáo dân làm loạn để chống
phá Đảng và Nhà nước ta…Tình hình tơn giáo cịn có những diễn biến phức tạp,
tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Vẫn cịn có chức sắc, tín đồ mang tư
tưởng chống đối, cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc ; vẫn cịn
các hoạt động tơn giáo xen lẫn với mê tín dị đoan, cịn các hiện tượng tà giáo
hoạt động làm mất trật tự an toàn xã hội.
Các thế lực thù địch vẫn luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách
mạng Việt Nam. Chúng gắn vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” với cái gọi là “tự
do tôn giáo” để chia rẽ tôn giáo, dân tộc ; tài trợ, xúi giục các phần tử xấu trong
các tôn giáo truyền đạo trái phép, lôi kéo các tôn giáo vào những hoạt động trái
pháp luật, gây mất ổn định chính trị.
2. Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào việc
giải quyết vấn đề tôn giáo ở nước ta hiện nay:
Do nhận thức khơng đầy đủ, đã có một thời kỳ chúng ta mắc phải những
sai lầm nghiêm trọng trong việc đấu tranh chống tơn giáo. Chúng ta đã q nơn
nóng, cực đoan trong ứng xử với các tôn giáo cũng như với các cơ sở thờ tự của
tôn giáo. Nhiều nhà thờ, chùa chiền, miếu mạo đã bị đập phá, các sinh hoạt tơn
giáo bị ngăn cấm, người có đạo bị kỳ thị. Quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo
khơng được đảm bảo. Chính sự nóng vội đó đã dẫn đến hậu quả xấu về mặt
chính trị, tư tưởng, là cơ sở để các thế lực phản động lợi dụng chống phá cách
mạng nước ta. ở điểm này, rõ ràng chúng ta đã không vận dụng tốt những quan
điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác - Lênin. Để giải quyết tốt vấn đề tôn giáo,
theo cá nhân em, trước hết mọi cá nhân cần phải nhận thức rõ một số vấn đề
sau:
- Thứ nhất, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay,
những điều kiện tồn tại của tơn giáo vẫn cịn; vì vậy, sự tồn tại của nó vẫn là
một tất yếu khách quan. Những điều kiện đó là: trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, của khoa học - kỹ thuật còn thấp nên khả năng cải tạo thế giới chưa
cao; trình độ nhận thức còn hạn chế nên chưa cho phép giải thích đầy đủ, khoa
học những hiện tượng tự nhiên, xã hội; trình độ phát triển kinh tế cịn thấp nên
đời sống của người dân cịn gặp nhiều khó khăn; thời kỳ quá độ với những quan
hệ sản xuất cũ và mới đan xen nhau nên chưa thể xoá bỏ những hiện tượng bóc
lột, bất bình đẳng trong xã hội… Thêm vào đó, chiến tranh, đặc biệt là thiên tai,
vẫn xảy ra khiến cho con người cảm thấy không yên tâm và vì vậy, một bộ phận
người dân vẫn sẽ có nhu cầu tín ngưỡng tơn giáo như một tất yếu. Vấn đề là ở
chỗ, chúng ta cần có thái độ như thế nào đối với tôn giáo.
- Thứ hai, cần phải nhận thức rõ rằng, đối tượng đấu tranh trong việc giải
quyết vấn đề tôn giáo không phải là mọi tôn giáo và những sinh hoạt tơn giáo
hay tất cả những tín đồ tơn giáo nói chung, mà chỉ là những bộ phận người lợi
dụng tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan hoặc chống phá cách mạng, gây rối
trật tự trị an, đi ngược lại với lợi ích của quốc gia dân tộc.
- Thứ ba, để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tơn giáo, khơng thể
dùng mệnh lệnh hành chính hay tun truyền giáo dục đơn thuần mà phải chú
trọng đến việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Xố bỏ dần phương thức
sản xuất tiểu nơng lạc hậu, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
người dân, kết hợp với tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức,
trình độ văn hố để người dân tự nhận thức được vai trò thực sự của tơn giáo
trong đời sống hiện thực của họ và chính họ, chứ không phải ai khác, tự quyết
định theo hay khơng theo một tơn giáo nào đó.
Những năm gần đây, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã có những thay đổi quan
trọng trong nhận thức về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, đưa ra nhiều
chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp.
Quan điểm của Đảng ta về giải quyết vấn đề tôn giáo được thể hiện trong
nhiều văn kiện của các kỳ Đại hội và được cụ thể hoá bằng các nghị quyết, chỉ
thị của Trung ương, như Nghị quyết số 24/NQ-TW (ngày 16/10/1990) của Bộ
Chính trị Về tăng cường cơng tác tơn giáo trong tình hình mới… Chỉ thị số 37
CT-TW (ngày 2/7/1998) của Bộ Chính trị Về cơng tác tơn giáo trong tình hình
mới… Ngồi ra, cịn có nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng về các mặt
công tác đối với tơn giáo nói chung và từng tơn giáo nói riêng trong từng thời
kỳ. Đặc biệt, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ban
hành Nghị quyết số 25/NQ-TW (ngày 12/3/2003) Về công tác tôn giáo. Những
quan điểm của Đảng ta về công tác tôn giáo được cụ thể hố trong Pháp lệnh về
tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH11 ra ngày 18/6/2004. Tất cả các
chỉ thị, nghị quyết, pháp lệnh nêu trên đều thể hiện nhất quán một số quan điểm
và chính sách sau đây:
- Một là, tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân
dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc khơng theo một
tơn giáo nào, quyền sinh hoạt tơn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tơn
giáo hoạt động bình thường trong khn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp
luật.
- Hai là, thực hiện nhất quán chính sách đại đồn kết dân tộc, khơng phân
biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tơn giáo. Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương khoá VI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta
khảng định “Tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, Đảng
và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và khơng tín ngưỡng của nhân
dân, thực hiện bình đẳng, đồn kết lương giáo và giữa các dân tộc. Khắc phục
mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống
những hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng”. Quan điểm của Đảng nghiêm cấm sự
phân biệt đối xử với cơng dân vì lý do tín ngưỡng, tơn giáo. Đồng thời, nghiêm
cấm lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái
pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động, chia rẽ các dân tộc, gây rối,
xâm phạm an ninh quốc gia.
- Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là vận động quần chúng.
Công tác vận động quần chúng phải động viên được đồng bào nêu cao tinh thần
yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thơng qua việc thực hiện
tốt các chính sách kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo lợi ích vật
chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tơn giáo.
- Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do
Đảng lãnh đạo, trong đó, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo là
lực lượng nòng cốt.
- Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ có quyền tự do hành
đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Việc theo
đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt
động mê tín dị đoan, khơng được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các
tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm
các quy định của pháp luật.
Như vậy, quan điểm của Đảng ta về tôn giáo là rõ ràng, nhất quán, đảm
bảo quyền tự do, dân chủ. Trong khi đó, hiện nay, có những cá nhân, tổ chức
trong và ngồi nước vẫn cho rằng ở Việt Nam người dân khơng có quyền tự do
tín ngưỡng, tơn giáo. Từ đó, chúng dùng nhiều thủ đoạn để kích động đồng bào
có đạo gây rối, chống phá cách mạng, rơi vào âm mưu “diễn biến hồ bình” vơ
cùng thâm độc của chúng. Đó là những luận điệu sai lầm, xun tạc chính sách
tơn giáo của Đảng, Nhà nước ta cũng như xuyên tạc tình hình tôn giáo và các
hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay mà chúng ta cần kiên quyết bác bỏ.
Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
tơn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng
ta khẳng định: tơn giáo cịn tồn tại lâu dài, còn là nhu cầu tinh thần của một bộ
phận nhân dân; tơn giáo có những giá trị văn hố, đạo đức tích cực phù hợp với
xã hội mới; đồng bào tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đồn kết
tồn dân tộc.
Cơng tác tơn giáo vừa quan tâm giải quyết hợp lí nhu cầu tín ngưỡng của
quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách
mạng.
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng
sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.Làm tốt công tác tơn giáo là trách nhiệm của tồn bộ hệ thống chính
trị do Đảng lãnh đạo.
3. Đề xuất một số kiến nghị nhằm vận dụng hiệu quả nguyên tắc của chủ
nghĩa Mác LêNin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và Nhà
nước hiện nay:
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm
tăng cường đồn kết đồng bào các tơn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Về quan điểm, chính sách nhằm vận dụng hiệu quả những nguyên tắc
của chủ nghĩa Mác LêNin trong việc giải quyết các vấn đề về tơn giáo thì nhà
nước ta cần:
Một là, tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân
dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta.
Hai là, Nhà nước thực hiện nhất qn chính sách đại đồn kết dân tộc,
khơng phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng bào các tôn giáo là
bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tơn giáo với sự nghiệp chung.
Mọi cơng dân khơng phân biệt tín ngưỡng, tơn giáo đều có quyền, nghĩa vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm
động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống
nhất Tổ quốc thơng qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế xã hội, an ninh,
quốc phịng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong
đó có đồng bào các tôn giáo.
Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Nước ta hiện nay có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà
tu hành của các tơn giáo, phân bổ ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước.
Vì vậy, cơng tác tơn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và
nhiều cấp, nhiều ngành.
Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do
hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các
tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, hoạt động theo pháp luật và được
pháp luật bảo hộ, được mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh
sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tơn giáo,.. của mình theo đúng
quy định của pháp luật. Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác
đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên
truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, khơng được ép buộc người dân theo
đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức
truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
- Về phương hướng hoạt động, để thực hiện tốt chính sách tơn giáo theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng, trong những năm tới, theo tác giả cần làm
tốt những nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình
đầu tư phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quan
tâm đúng mức đối với các vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam
Bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân
trong đó có đồng bào các tơn giáo.
Hai là, nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm chỉ đạo của cấp ủy
Đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và đồn thể đối với cơng
tác tơn giáo. Trên cơ sở triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng
về tôn giáo, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ yêu cầu nhiệm vụ của công
tác tôn giáo trong tình hình mới.
Ba là, đẩy mạnh cơng tác tham mưu, từng bước hồn thiện cơ chế, chính
sách đối với cơng tác tơn giáo, tích cực tham gia xây dựng các văn bản pháp
luật về tôn giáo, đồng thời bổ sung kịp thời những chính sách đối với tơn giáo ở
những vùng, miền khác nhau.
Bốn là, thực hiện tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều
kiện giúp đỡ Đại hội, Hội nghị thường niên của các tổ chức tôn giáo, xem xét
cho đăng ký hoạt động một số tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Xử
lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín
ngưỡng, tơn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an
ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, các kết luận
của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ đối với cơng tác tơn giáo hiện nay. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
vững mạnh, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng đông tôn giáo.
Sáu là, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đồn thể chính trị xã hội phối
hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tuyên truyền sâu rộng các chủ trương,
chính sách tơn giáo của Đảng, Nhà nước trong chức sắc, tín đồ các tơn giáo.
Bảy là, công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tơn giáo
trong tình hình hiện nay, cần chủ động và tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa
các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành trong việc đối thoại và xử lý những vấn đề
tôn giáo nhạy cảm đang được các thế lực thù địch lợi dụng chiến lược “diễn
biến hịa bình” để xun tạc tình hình tơn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng,
tơn giáo ở Việt Nam, gây sức ép với Nhà nước về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân
quyền. Tám là, tiếp tục kiện tồn bộ máy làm cơng tác tơn giáo của Đảng ,
chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đồn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh cơng tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo Đồng thời xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi
cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
KẾT LUẬN
Trong những năm gần đây, hoạt động của các tơn giáo ở Việt Nam nói
riêng và thế giới nói chung diễn ra khá sôi động, diễn ra theo nhiều xu hướng.
Các tơn giáo đều có xu hướng mở rộng ảnh hưởng ra tồn cầu ; các tơn giáo
cũng có xu hướng dân tộc hố, bình dân hố, mềm hố các giới luật lễ nghi để
thích nghi, tồn tại, phát triển trong từng quốc gia dân tộc; các tôn giáo cũng tăng
các hoạt động giao lưu, thực hiện thêm các chức năng phi tơn giáo theo hướng
thế tục hố, tích cực tham gia các hoạt động xã hội để mở rộng ảnh hưởng làm
cho sinh hoạt tôn giáo đa dạng, sơi động và khơng kém phần phức tạp. Đó chính
là kết quả của sự vận dụng các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong
việc giải quyết vấn đề về tơn giáo .Qua đó, nhận thấy rằng Đảng và Nhà nước
Việt Nam đã hiểu được vấn đề tôn giáo rất quan trọng và đã đưa ra những nghị
quyết hợp lí để giải quyết vấn đề này. Việc giải quyết hợp lí vấn đề tơn giáo
giúp cho đất nước ta ổn định và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa được
thuận lợi hơn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp Việt Nam 2013, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội
2. Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước về dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2005
3. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2006
4. Giáo trình Triết học Mác - Lê nin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2006
5. />