Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

Hạu phương hương khê (hà tĩnh) trong cuộc kháng chiến chống pháp (1945 1954)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 117 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU HÒA

HẬU PHƯƠNG HƯƠNG KHÊ (HÀ TĨNH)
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
(1945-1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Trần Vũ Tài

Nghệ An-2017


i
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế khơng có sự thành cơng nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong
suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường Đại học Vinh đến nay, tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của q Thầy Cơ, gia đình và bạn bè.
Với lịng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Lịch sử –
Trường Đại học Vinh đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt
vốn kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc
biệt, trong luận văn này, nếu khơng có những lời hướng dẫn, dạy bảo của các
thầy cơ thì tơi nghĩ luận văn này rất khó có thể hồn thiện được. Một lần nữa,


tôi xin chân thành cảm ơn thầy, cô.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự tri ân đặc biệt tới PGS.TS.Trần
Vũ Tài-người đã nhiệt tình hướng dẫn hướng dẫn, góp ý và động viên tơi trong
suốt q trình nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Nhân dịp này, tơi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Bộ
chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh, Huyện đội huyện Hương Khê, Chi cục văn thư lưu
trữ Hà Tĩnh, Thư viện Quốc gia, thư viện Hà Tĩnh, Phòng văn hoa huyện Hương
Khê...đã cung cấp các nguồn tư liệu q báu và tạo điều kiện cho tơi hồn thành
luận văn .
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Nội vụ Hà Tĩnh, Sở GD-ĐT Hà Tĩnh, trường
THPT Hương Khê đã cho tôi cơ hội được đào tạo sau đại học.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã ln
tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tơi hồn thành cơng trình nghiên cứu này.
Trong q trình làm bài luận văn, khó tránh khỏi sai sót do trình độ lý
luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn cịn hạn chế. Rất mong được sự góp ý chân
thành từ các thầy cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hương Khê, ngày 5 tháng 8 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hòa


ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 3
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ....................................... 5
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ....................................................... 6
5. Đóng góp của luận văn ...................................................................................... 7

6. Bố cục luận văn ................................................................................................. 8
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HƯƠNG KHÊ VÀ SỰ RA ĐỜI HẬU
PHƯƠNG HƯƠNG KHÊ ..................................................................................... 9
1.1. Khái quát huyện Hương Khê ......................................................................... 9
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ...................................................................................... 9
1.1.2 . Điều kiện xã hội ....................................................................................... 14
1.1.3. Truyền thống đấu tranh của Hương Khê ..................................................... 16
1.2. Sự ra đời của hậu phương Hương Khê ....................................................... 29
1.2.1 Chủ trương xây dựng hậu phương Hương Khê ......................................... 29
1.2.2. Bước đầu xây dựng hậu phương Hương Khê ........................................... 31
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 39
Chương 2: CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG
HƯƠNG KHÊ ..................................................................................................... 40
2.1. Xây dựng hậu phương .................................................................................. 40
2.1.1. Về chính trị ................................................................................................ 40
2.1.2 Về kinh tế .................................................................................................. 46
2.1.3 Về quân sự. ................................................................................................ 62
2.1.4 Về văn hố xã hội. .................................................................................... 71
2.2. Cơng cuộc bảo vệ hậu phương ..................................................................... 75
Tiểu kết chương 2................................................................................................ 80


iii

Chương 3: VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG HƯƠNG KHÊ ............................ 81
3.1. Đối với tỉnh Hà Tĩnh ................................................................................... 81
3.2 Đối với Bình-Trị-Thiên ................................................................................ 83
3.3 Đối với Lào ................................................................................................... 87
Tiểu kết chương 3................................................................................................ 91
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 98
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 104


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử địa phương là một bộ phận của lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương
góp phần biểu hiện sinh động và cụ thể cho lịch sử dân tộc. Trong quá trình phát
triển, mỗi địa phương góp phần làm nên nét chung của lịch sử dân tộc, đó là
biểu hiện của lịch sử đa dạng trong thống nhất. Vì vậy nghiên cứu lịch sử địa
phương là quan trọng và cần thiết.
Hương Khê là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Hà Tĩnh (là khúc ruột
của miền Trung, có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng có thể nối liền cả nước
với nước ngoài bằng đường biển và đường bộ). Hương Khê được thành lập từ
năm 1867, từng nổi tiếng với Sơn phòng-căn cứ địa của vua Hàm Nghi, với Vụ
Quang căn cứ địa của Phan Đình Phùng, với cuộc biểu tình Roộc Cồn trong
những năm 1930-1931. Đặt biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (19451954), đây là căn cứ địa, hậu phương chủ yếu thuộc vùng tự do Thanh-NghệTĩnh, một An tồn khu (ATK) quan trọng của Uỷ ban hành chính Trung Bộ và
Liên khu IV. Trong kháng chiến chống Mỹ, Hương Khê là hậu phương trực tiếp
của tiền tuyến miền Nam, chiến trường Lào, nơi có “O du kích nhỏ gương cao
súng, thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu”. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp,
Hương Khê đã cùng với Hà Tĩnh và cả nước đã vượt qua mọi khó khăn gian
khổ, anh dũng chiến đấu để vừa kháng chiến vừa kiến quốc, góp phần xứng
đáng vào thắng lợi của kháng chiến chống Pháp. Thắng lợi đó là minh chứng
cho sự lãnh đạo sáng tạo, tài tình của Đảng, đặc biệt trong vấn đề xây dựng hậu
phương, thiết lập mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến. Bởi vì để giành
được thắng lợi, chiến tranh cách mạng nhất thiết phải có hậu phương vì “khơng
có một qn đội nào trên thế giới khơng có hậu phương vững chắc mà lại có thể
chiến thắng được” [26;144]. Vai trị của hậu phương được Lênin khẳng định: “

Hậu phương có tầm quan trọng bậc nhất đối với tiền tuyến. Chính hậu phương


2

và chỉ có hậu phương mới cung cấp cho tiền tuyến chẳng những các nhu cầu đủ
mọi loại mà còn cả binh lính và tình cảm lẫn tình thương nữa” [29;497]. Hậu
phương là nơi có thể triển khai, xây dựng và dự trữ tiềm lực của cuộc chiến
tranh về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoa và khoa học kỹ thuật, là nơi đứng
chân các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo quan trọng của chiến tranh, là nơi chi viện to
lớn sức người, sức của, động viện chính trị, tinh thần cho tiền tuyến, nơi rút lui
củng cố, làm bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang. Trong chiến tranh
cách mạng, hậu phương đóng vai trị quyết định cho thắng lợi.
Hậu phương Hương Khê trong kháng chiến chống Pháp chiếm vị trí quan
trọng trong mối quan hệ mật thiết hậu phương Thanh-Nghệ-Tĩnh đối với tiền
tuyến Bình -Trị -Thiên, với kháng chiến của nước bạn Lào.
Trên cơ sở nghiên cứu những hoạt động của hậu phương Hương Khê
(1945- 1954) luận văn sẽ đánh giá vai trò của hậu phương Hương Khê (Hà
Tĩnh), vai trò của nhân dân Hương Khê dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện,
Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp. Luận văn đồng thời cũng
góp phần bước đầu đánh giá mối quan hệ hậu phương Hương Khê trong mối
quan hệ hậu phương Thanh-Nghệ-Tĩnh đối với tiền tuyến Bình-Trị-Thiên với
Trung Lào, với Liên khu IV trong kháng chiến chống Pháp. Từ đó góp phần làm
rõ hơn lịch sử hậu phương của Quân khu IV, minh chứng quan điểm chiến tranh
nhân dân của Đảng ta trong thực tiễn lịch sử. Mặt khác, còn làm rõ hơn về kết
quả nghiên cứu hậu phương chung cả nước, về mối liên minh chiến đấu ViệtLào.
Từ nghiên cứu quá trình hình thành, xây dựng, phát triển hậu phương
Hương Khê, vai trò hậu phương và nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến của hậu
phương, góp phần rút ra bài học kinh nghiệm trong cơng cuộc xây dựng kinh tế,
chính trị, xã hội trong giai đoạn hiện nay của huyện nói riêng, của cả nước nói

chung, phục vụ cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay của đất


3

nước. Đồng thời luận văn còn là tài liệu giáo dục truyền thống yêu nước, lòng
biết ơn đối với các anh hùng liệt sĩ đã bảo vệ quê hương đất nước cho thế hệ mai
sau, đặc biệt là thế hệ trẻ học sinh. Chính vì tính cấp thiết và ý nghĩa khoa học
của đề tài nên tôi chọn vấn đề “Hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) trong cuộc
kháng chiến chống Pháp (1945-1954)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong chiến tranh hậu phương có vị trí chiến lược vơ cùng quan trọng, là
một trong những nhân tố quan trọng quyết định nhất tới thành bại của chiến
tranh nên được nhiều cơng trình khoa học đề cập tới. Đã có nhiều cơng trình
nghiên cứu về hậu phương kháng chiến chống Pháp (1945-1954) ở Thanh-NghệTĩnh nhưng vấn đề “Hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh), trong cuộc kháng chiến
chống Pháp (1945-1954)” thì chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc.
Vấn đề này chỉ được trình bày ở một số cuốn sách sử địa phương.
Hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) trong kháng chiến chống Pháp được
đề cập chung với hậu phương Hà Tĩnh trong luận án Sử học tác giả Ngô Đăng
Tri “Hậu phương Thanh- Nghệ- Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp 19451954”.
Trong cuốn “Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam”, T1 của Ban
khoa học hậu cần-Tổng cục hậu cần, đã đề cập đến vai trò của hậu phương
Hương Khê, song mới chỉ dừng lại tổng kết thành tựu sản xuất vũ khí, thành tựu
của An tồn khu của Trung Bộ tại Hương Khê về chi viện Hương Khê đối với
chiến dịch Trung Lào mà chưa đề cập đến các lĩnh vực khác hậu phương Hương
Khê 1945-1954.
Trong cuốn “Lịch sử kháng chiến chống Pháp Quân khu IV" của NXB
Quân đội nhân dân, năm 1990, đã đề cập đến một số chủ trương xây dựng, phát
triển hậu phương Hương Khê và một số thành tựu trên lĩnh vực hậu phương về



4

phát triển lực lượng vũ trang và bảo vệ an ninh quốc phịng đóng góp cho các
chiến trường: Bình-Trị-Thiên, Trung Lào,.. song chỉ dừng lại ở trình bày chung
với hậu phương Hà Tĩnh, hậu phương vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh.
Cuốn “Hà Tĩnh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954”
của Ban chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh, xuất bản năm 1997, đã đề cập đến vấn đề
hậu phương Hương Khê trong mối quan hệ chung hậu phương Hà Tĩnh trong
chương III “Xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện cho chiến trường BìnhTrị-Thiên và mặt trận phía Tây (1951-1954)”. Tuy vậy cuốn sách chỉ mới dừng
lại ở thống kê số liệu chi viện sức người, sức của chung cho chiến trường tập
trung vào những thành tựu xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, chưa có lý
giải và đánh giá đúng về vai trò hậu phương Hương Khê.
Vấn đề hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) trong kháng chiến chống Pháp
xâm lược và can thiệp Mỹ (1945-1954) còn được đề cập tới trong hai cuốn:
“Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh”, T1, NXB Chính trị quốc gia năm 2000 và “Lịch sử
Đảng bộ Hương Khê (1970-2000)”, NXB Chính trị quốc gia năm 2000. Cả hai
tác phẩm có đề cập tới xây dựng chính quyền thực hiện đấu tranh giai cấp và
làm tròn nghĩa vụ hậu phương chi viện cho tiền tuyến. Tuy vậy, về chính trị ở
đây chủ yếu là xây dựng Đảng, cịn chính quyền và các tổ chức mặt trận, các
đoàn thể chỉ được đề cập sơ lược. Trong nội dung của cuốn sách này thiếu hẳn
quá trình xây dựng lực lượng quân sự và các vấn đề kinh tế, văn hoa, giáo dục, y
tế. Quá trình làm nghĩa vụ hậu phương cũng chưa được trình bày đầy đủ mà chỉ
liệt kê về số liệu.
Cuốn “Hương Khê 135 năm (1867-2002)” tác giả PGS-TS Nguyễn Bá
Thành, NXB Văn hoa thông tin (2003) khái quát qua về các Đại hội Đảng bộ
Hương Khê và một số thành tựu đạt được trên lĩnh vực quân sự, chính trị. Tác
phẩm chưa chuyên sâu lĩnh vực nào của hậu phương Hương Khê và chưa đưa ra
đánh giá vai trò hậu phương.



5

Gần đây vấn đề hậu phương Hương Khê nói riêng và hậu phương ThanhNghệ-Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) nói chung được đề cập
nhiều hơn trong chuyên đề: “Một số vấn đề lịch sử kháng chiến chống thực dân
Pháp ở Liên khu IV” của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh-Viện lịch sử
Đảng, Hà Nội 2000. Chuyên đề mới tổng kết, tập hợp những đánh giá chung về
vai trị hậu phương của Liên khu IV, trong đó tổng kết khái quát nhưng chưa sâu
về mối quan hệ liên minh chiến đấu Việt-Lào qua một số trận đánh biên giới
Hương Khê và Lào, qua cung cấp sức người sức của cho chiến dịch Trung Lào,
một số khen thưởng trong kháng chiến chống Pháp của hậu phương Hương Khê
(Hà Tĩnh). Trong cuốn: “Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và
dân Liên khu IV (1945-1954) của Viện lịch sử Đảng (đề tài khoa học cấp nhà
nước) Hà Nội, năm 2000: đã đề cập đến một số thành tựu trên mặt trận quân sự
phát triển lực lượng vũ trang của hậu phương Hương Khê, chủ trương xây dựng
hậu phương đồng thời tác phẩm còn đề cập đến vai trò chung hậu phương Hương
Khê (Hà Tĩnh) trong mối quan hệ chung hậu phương Thanh-Nghệ-Tĩnh.
Qua một số tài liệu nói trên cho thấy cho đến nay chưa có một cơng trình
chuyên sâu về vấn đề này. Trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp những tài liệu thu
thập được, người viết mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào nghiên cứu một
cách toàn diện vấn đề: “Hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) trong cuộc kháng
chiến chống Pháp (1945-1954)”.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình xây dựng, bảo vệ và vai trị
của hậu phương Hương Khê trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược.



6

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động của hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) và những thành tựu
đóng góp cho kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở tư liệu chọn lọc, chính xác, khoa học để dựng lại bức tranh
tương đối toàn diện về hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) trong giai đoạn 19451954.
- Trên cơ sở đó góp phần đánh giá một cách khách quan về vai trò của hậu
phương Hương Khê (Hà Tĩnh ), vai trò của Đảng bộ và nhân dân Hương Khê
trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp 1945-1954.
- Đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng,
hoạt động của hậu phương Hương Khê phục vụ cho sự nghiệp đổi mới hiện nay
của cả nước và Hương Khê (Hà Tĩnh )…
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu đề tài "Hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) trong kháng
chiến chống Pháp 1945-1954" tôi sử dụng kết hợp nhiều nguồn tư liệu khác
nhau.
- Tài liệu gốc : Báo cáo, Nghị quyết và số liệu thống kê của Đảng bộ, Uỷ
ban kháng chiến hành chính, các ngành, các cấp của huyện Hương Khê (19451954), của tỉnh Hà Tĩnh, Liên khu IV. Nguồn tài liệu này là cơ sở xây dựng luận
văn.
- Tài liệu tham khảo gồm các cơng trình viết về hậu phương Hương Khê
trong kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mỹ và các tài liệu có liên quan.
- Các tác phẩm tài liệu Trung ương, địa phương viết về hậu phương
Hương Khê trong kháng chiến chống Pháp và các tài liệu có liên quan. Các
cơng trình Di tích lịch sử địa phương, Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh, Lịch sử Đảng


7


bộ Hương Khê, Lịch sử Đảng bộ các xã ở huyện Hương Khê....Các tạp chí
nghiên cứu: tạp chí lịch sử quân đội, tạp chí lịch sử, tạp chí nghiên cứu Trung
ương.....Các tư liệu từ một số trang Web có độ tin cậy cao.
- Tư liệu điền dã, tranh ảnh, bản đồ, hồi ký, nhân chứng lịch sử bổ sung
cho thiếu sót của tài liệu thành văn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về công tác xây dựng và bảo vệ hậu phương.
Khi nghiên cứu đề tài tôi kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó
sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lo gi là chính. Thực hiện nghiêm
túc tuần tự các bước tiến hành thu thập tài liệu, đính chính, chỉnh lý, so sánh để
rút ra bản chất vấn đề. Ngồi ra tơi cịn sử dụng phương pháp nghiên cứu loong,
so sánh, phân tích, tổng hợp vì “Lịch sử là hiện thân của hiện thực khách quan
phát triển với những hiện tượng muôn màu, muôn vẻ mà loong là bản chất của
hiện tượng đó do sự nghiên cứu lí luận vạch ra”. Ngồi ra tơi cịn sử dụng
phương pháp thuộc lĩnh vực khoa học -xã hội khác như : điều tra xã hội học,
điền dã, thống kê.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là cơng trình khoa học đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống,
toàn diện sâu sắc về đề tài : “Hậu phương Hương Khê (Hà Tĩnh) trong cuộc
kháng chiến chống Pháp(1945 -1954) ”.
- Từ những cơ sở đó luận văn góp phần đánh giá khách quan về vai trò
hậu phương Hương Khê, vai trò của Đảng bộ, nhân dân Hương Khê trong sự
nghiệp kháng chiến chống Pháp ở địa phương và trong cả nước.
- Luận văn đóng góp những tư liệu lịch sử để nghiên cứu, biên soạn giảng
dạy lịch sử địa phương Hương Khê.



8

- Luận văn còn là tư liệu giáo dục truyền thống yêu nước, giáo dục niềm
tin vào sự lãnh đạo của Đảng, niềm tin thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng
chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm lịch
sử trong xây dựng hậu phương Hương Khê thiết thực phục vụ sự nghiệp cơng
nghiệp hố, hiện đại hố và đổi mới, xây dựng Tổ quốc ở địa phương và cả
nước.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính
của luận văn gồm có 3 chương
Chương 1. Khái quát về huyện Hương Khê và sự ra đời của hậu phương
Hương Khê.
Chương 2. Công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương Hương Khê.
Chương 3. Vai trò của hậu phương Hương Khê


9

Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HƯƠNG KHÊ VÀ SỰ RA ĐỜI
HẬU PHƯƠNG HƯƠNG KHÊ
1.1. Khái quát huyện Hương Khê
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hương Khê có vị trí chiến lược cơ động: Hương Khê là một huyện miền
núi của tỉnh Hà Tĩnh, nằm ở toạ độ 18° 23’ vĩ Bắc, 105°27’ kinh Đơng.
Phía Bắc giáp huyện Đức Thọ và Vũ Quang.
Phía Tây tỉnh Khăm Muộn( nước CHDCND Lào, ngăn cách bởi núi
Giăng Màn (tên chữ là Khai Trướng) thuộc dãy Trường Sơn. .
Phía Nam giáp huyện Tun Hố tỉnh Quảng Bình.

Phía Đơng giáp huyện Can Lộc, Thạch Hà, phía Đơng Nam giáp huyện
Cẩm Xuyên.
Hương Khê có 21 xã và một thị trấn, thị trấn Hương Khê nằm trên trục
đường Hồ Chí Minh cách thành phố Hà Tĩnh khoảng 45 Km về phía Đơng.
Diện tích tự nhiên tồn huyện là 12.99,12 km2, (sau khi tách 5 xã về
huyện Vũ Quang), là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh. Trong đó núi chiếm 2/3
diện tích tự nhiên. Tồn huyện nằm gọn trong một thung lũng hình lịng máng
của hai dãy núi Trường Sơn và Trà Sơn, bao gồm nhiều đồi núi nhấp nhô lượn
sóng, xen giữa đồi gị là đồng ruộng bậc thang. Do có nhiều khe suối và các
sơng chảy xiết nên Hương Khê chia thành các lưu vực khác nhau. Hương Khê
có nhiều hang núi đá rất cao lớn ở Phúc Trạch, Hương Trạch, Phú Gia. Hương
Khê cịn có khu rừng nguyên sinh rộng lớn ở Vũ Quang. Địa thế hiểm trở đó đã
giúp cho việc bí mật gây dựng lực lượng cách mạng lúc đầu và trở thành địa bàn
hoạt động thuận lợi của lực lượng cách mạng kháng chiến.


10

Phía Bắc Hương Khê giáp với huyện miền núi Hương Sơn, là một điều
kiện tiếp tục để bảo toàn, giữ gìn, ni dưỡng lực lượng cách mạng trong khó
khăn.
Phía Nam giáp huyện Tun Hố (Quảng Bình). Đây là cầu nối Hương
Khê Hà Tĩnh với chiến trường Quảng Bình và Bình-Trị-Thiên. Hương Khê được
nối liền với Quảng Bình bằng tuyến đường sắt. Đây là con đường vận chuyển
của hậu phương tới chiến trường Bình-Trị-Thiên trong kháng chiến chống Pháp
và can thiệp Mỹ.
Phía Đơng Hương Khê giáp với huyện Can Lộc, huyện Thạch Hà, huyện
Cẩm Xuyên. Đây là những huyện đồng bằng, là nơi cung cấp lương thực chính
của tỉnh. Do đó gặp thời cơ thuận lợi, lực lượng cách mạng có thể tiến nhanh,
phát huy thế thắng lợi. Nếu gặp khó khăn lại có thể lui về dựa vào thế hiểm trở

núi rừng để bảo tồn lực lượng và có thể vẫn được tiếp tế lương thực, thực
phẩm.
Phía Tây Hương Khê giáp với nước Lào trên tuyến biên giới hơn 80 kim
với một của khẩu và hàng trăm lối mịn thơng thương khác. Đó là địa bàn thuận
lợi để tạo nên mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, cơ sở
tạo nên liên minh chiến đấu Việt-Lào.
Mặt khác Hương Khê cịn có vị trí giao thơng rất thuận tiện. Đường sắt
Bắc-Nam dài hơn 50 kim chạy qua địa bàn huyện, gần như hầu hết các xã, qua
các ga: Thanh Luyện, Chu Lễ, Hương Phổ, Phúc Trạch, La Khê, Tân Ấp. Đường
sắt Hương Khê nối với Quảng Bình từ đó vào Nam, nối liền ga Đức Thọ với ga
Vinh, nối liền với Thanh-Nghệ rồi ra Bắc. Đây là con đường vận chuyển thuận
lợi nối liền Nam-Bắc của cả huyện.
Hương Khê còn nằm trên con đường thượng đạo (một mạng đường mòn)
từ ngày xưa đã là đường chiến lược. Nó nối liền tỉnh Ninh Bình, Thanh Hố,
Nghệ An đến tỉnh Hà Tĩnh phải qua Hương Khê. Từ Hương Khê lại đi thẳng vào


11

Tun Hố (Quảng Bình) đến Tây Ngun hoặc sang Hạ Lào, Hiêng Khoảng,
Chia đến tận Thái Lan [ 36;39]. Các chiến sĩ cách mạng thời cận đại đã biết sử
dụng con đường này để xuất dương. Trong kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, con đường này trở thành đoạn đường Hồ Chí Minh lịch sử.
Hương Khê cịn có mạng lưới giao thông đường thuỷ hết sức thuận lợi:
theo hệ thống sông Ngàn Rươi, Ngàn Sâu, lưu vực sông Tiêm, lưu vực sơng Rào
Nổ có thể thơng thương với khắp các xã trong huyện, xuống tỉnh hoặc sang vùng
rừng núi Hương Sơn, Đức Thọ, từ đó sang Vinh. Mạng lưới giao thông đường
bộ, đường sông, đường sắt chằng chịt này là điều kiện thuận lợi để cách mạng có
thể di chuyển vùng bảo đảm bí mật đồng thời có thể vận chuyển vũ khí lương
thực, nhận tiếp tế.

Như vậy, Hương Khê có vị trí chiến lược rất cơ động: “Tiến có thể đánh,
lui có thể giữ”. Hương Khê có nền kinh tế tự cấp, tự túc phong phú. Thực dân
Pháp thống trị nước ta gần 1 thế kỉ, chúng đã kìm hãm nặng nề sự phát triển của
nền kinh tế nước ta, đặc biệt là ở miền núi. Hương Khê là huyện miền núi nên
kinh tế cịn khó khăn nhưng sau Cách mạng tháng Tám đã phát triển kinh tế tự
cung tự cấp phong phú.
Hương Khê là huyện miền núi, có nhiều tài nguyên phong phú. Rừng cho
nhiều loại gỗ quý: từ loại tứ thiết đinh, lim, sến, táu rồi đến gụ, trầm, pơ mu…
dùng để xây dựng các cơ xưởng trong kháng chiến, dùng để trao đổi hàng hoá
với tỉnh bạn tăng nguồn ngân sách huyện. Rừng còn cho mây, giang, tranh tre,
trúc, nứa… là một kho tài nguyên, là cơ sở cho sự phát triển nghề thủ công và
mĩ nghệ, sản xuất giấy, sản xuất đồ gia dụng, đến gậy tầm vông, chông tre, mũi
tên tẩm độc trong kháng chiến. Sản phẩm làm bằng thủ công từ Hương Khê
cung cấp cho tỉnh và tỉnh bạn, là nguồn thu nhập khá lớn đối với huyện miền núi
khi diện tích trồng trọt khá hẹp.


12

Hệ thống sơng ngịi, khe suối ở Hương Khê có độ dốc cao, nên hàng năm
về mùa mưa thường gây lũ lụt nghiêm trọng. Con sông dài nhất của huyện là
con sông Ngàn Sâu, dài gần 100km, sông được bắt nguồn từ sườn đông dãy
Giăng Màn (Trường Sơn), chảy từ phía tây nam ra đơng bắc của huyện, sau đó
chảy dọc huyện xuống Đức Thọ nhập với sông Ngàn Phố từ Hương Sơn về tại
Ngã ba Linh Cảm thành sông La, rồi đổ ra sông Lam, ra biển Nghi Xuân, Cửa
Hội. Sơng Ngàn Sâu có nhiều chi lưu như sơng Tiêm, sơng Ngàn Rươi, Rào
Hào, Rào Nổ, Hói Lung, Khe Đá Hàn, Khe Cây Trồi…
Sông Tiêm dài 40km, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn phía tây xã Hương
Vĩnh, là một trong những nhánh thượng lưu của sơng Ngàn Sâu. Cịn Rào Hào,
Rào Nổ bắt nguồn từ sườn đông dãy Trường Sơn ở phía tây xã Hương Hải và xã

Hương Hoa, là chi nhánh trung lưu của sông Ngàn Sâu, hợp điểm với sông Ngàn
Sâu tại chợ trúc (xã Hương Thanh). Sông Ngàn Rươi là chi nhánh hạ lưu của
sông Ngàn Sâu, bắt nguồn từ rừng Vụ Quang, chảy qua các xã Hương Điền,
Hương Đại, Hương Minh, Hương Thọ (huyện Vụ Quang), hợp điểm với sông
Ngàn Sâu tại Hương Thọ xuống huyện Đức Thọ. Hệ thống sơng ngịi, khe suối
Hương Khê khơng nhiều lắm song nó đã tạo thành một mạng lưới tưới tiêu và
cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong huyện. Thượng nguồn các sơng,
suối có thể xây dựng các đập nước và các trạm thuỳ điện vừa và nhỏ. Đồng thời
cũng tạo nên mạng lưới giao thông đường thuỳ khá thuận lợi cho phát triển kinh
tế và đặc biệt nhất là phục vụ quốc phòng. Trong cuộc chiến tranh phá hoại của
Đế quốc Mỹ (1965 - 1972), sông Ngàn Sâu đã trở thành tuyến trung chuyển
hàng bằng Sà lan và Ca nô chi viện cho chiến trường miền Nam, từ Bắc vào
Vinh, sau đó được phân chia nhiều nhánh (cả đường bộ và đường thuỳ) vào
Quảng Bình... tuy nhiên sơng, suối Hương Khê có độ dốc cao, nên hàng năm về
mùa mưa thường gây lũ lụt làm thiệt hại mùa màng và đời sống của nhân dân. ý
thức được điều nguy hại này, nên các xã hạ huyện Phương Điền, Phương Mỹ,


13

Hà Linh… cấp uy, chính quyền và nhân dân địa phương đều có các phương án
phịng chống lũ, mỗi gia đình đều có thuyền gỗ hoặc bè mỏng…
Hương Khê cịn có nhiều đồng cỏ chạy dọc các triền núi đến tận biên giới
Việt-Lào, thuận tiện cho chăn ni trâu, bị. Với nguồn lương thực phong phú đó
trong điều kiện kháng chiến nếu gặp khó khăn các lực lượng vũ trang có thể rút
vào đây và duy trì sản xuất tự cung tự cấp.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do địa thế cao, nên
vùng khí hậu gió mùa ở Hương Khê rất rõ nét. Gió đơng bắc kéo dài từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau thường mang theo mưa rét, nhiệt độ thấp nhất có năm dưới
100C. Từ tháng 4 đến tháng 8 có gió Tây Nam (thường gọi là gió Lào), gió Lào

là một trong những nhân tố tạo nên sự khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết ở
Hương Khê, nhiệt độ có ngày lên tới 41°C đến 42°C Như vậy, khí hậu của
Hương Khê có 4 mùa rõ rệt, trong đó mùa xuân thường có gió rét, mưa phùn,
mùa hè nóng oi bức, có gió Lào, mùa thu hay bị bão, lũ, mùa đơng khơ hanh.
Lượng mưa trung bình hàng năm 2.500mm, cao nhất là tháng 9 và tháng 10.
Về địa chất thổ nhưỡng Hương Khê có thể chia thành hai nhóm: Nhóm
đất đồng bằng, thung lũng và nhóm đất đồi núi. Trong đó nhóm đất đồi núi
chiếm phần lớn diện tích. Nhóm đất đồng bằng và thung lũng thường nghèo chất
dinh dưỡng, thiếu nước nên về mùa hạn đất khô. Lớp đất màu bề mặt thường rất
mỏng… nhìn chung đất đai của Hương Khê có rất nhiều loại, thích hợp với các
loại cây trồng khác nhau, các loại rau màu, cây ăn quả như bưởi, cam, cau, mít
đặc biệt là bưởi Phúc Trạch ngon nổi tiếng có giá trị xuất khẩu cao, cây lưu niên,
cây cơng nghiệp.
Về khống sản: Vùng đất này cội nguồn khoáng sản rất đa dạng: Sắt (Chu
Lễ), Hốt phát (Phú Lễ), mỏ vàng (Hồ Hải), mỏ than (Hương Đơ, (Hương Thuỷ,
Hương Giang), Đá vôi (Hương Trạch, Phúc Trạch). Với số lượng phong phú trữ
lượng lớn tài nguyên ấy không chỉ là nguồn thu nhập ngân sách cho huyện mà


14

cịn là cơ sở để sản xuất vũ khí, nguồn nguyên liệu cho phân xưởng cơ khí sản
xuất vũ khí của an toàn khu (ATK) trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Như vậy bằng sức lao động của mình và tài nguyên thiên nhiên phong
phú, nhân dân Hương Khê không những tạo cho mình một cuộc sống tạm đủ mà
cịn có thể nuôi được cán bộ lực lượng vũ trang và có thể tự chế tạo vũ khí trang
bị cho lực lượng vũ trang. Nếu bị quân thù bao vây uy hiếp về quân sự, về kinh
tế thì Hương Khê vẫn đứng vững bằng nền kinh tế tự cung tự cấp, hậu phương
vẫn có thể tồn tại và phát triển được.
1.1.2 . Điều kiện xã hội

Với đặc điểm là một huyện miền núi ở nơi thung lũng được bao bọc bởi
vùng rừng rậm đại ngàn, nên trước kia dân cư ở Hương Khê rất thưa thớt, lúc
mới thành lập huyện có khoảng 5.000 người, đến năm 1929 cũng mới chỉ có 3
vạn người. Làng mạc, trại ấp của cư dân thường ở dọc các thung lũng nhỏ hẹp,
bên bờ các sông suối và giữa rừng đại ngàn, có nơi ở cách xa nhau hàng chục
cây số. Theo sử sách còn ghi lại thì gốc gác nhân dân Hương Khê thường là
nơng dân các địa phương khác vì bị áp bức bóc lột, vì chiến tranh, đói khổ chạy
nạn lên kiếm cớ sinh nhai, khai cơ lập nghiệp. Trong các thời vua Minh Mạng,
Thiệu Trị, Tự Đức (đầu thế kỷ XIX) thì những xứ Quy Hợp, Trấn Ninh và Trấn
Tĩnh rất hoang vu, lính thú đóng giữ ở đây được xem như đi làm nhiệm vụ đặc
biệt, cứ sau hai tháng thì cho đổi chỗ khác. Tuy vậy, có nhiều người trong số đó
đã xây cơ lập nghiệp, sống gắn bó với vùng đất Ngàn Sâu và trở thành cư dân
bản địa. Có thể nói rằng, thành phần cư dân Hương Khê rất phong phú, chủ yếu
là dân tứ chiếng, dân góp từ các nơi, các nguồn, từ trong và ngoài tỉnh, kể cả
người Lào và người Xiêm, chủ yếu là người Kinh.
Hương Khê là huyện duy nhất của tỉnh Hà Tĩnh có dân tộc thiếu số cùng
cư trú, sinh sống với dân tộc Kinh. Đồng bào dân tộc thiểu số ở Hương Khê có
dân tộc Nhứt (cịn gọi là Mã Niềng), dân tộc Lào, dân tộc Mường (còn gọi là


15

người Nguồn) chiếm khoảng 0,9% dân số toàn huyện. Hầu hết các dân tộc đều
giữ được bản sắc văn hoa riêng, tuy có bị mai một, bị lãng quên nhiều, song một
số tập tục ma chay, cưới xin, sắc phục, lễ hội đặc trưng vẫn được duy trì. Dân
tộc Kinh chiếm đại đa số, phân bố khá đều trong toàn huyện. Về tơn giáo, tín
ngưỡng, từ lâu đời tư tưởng Nho giáo, Khổng giáo, Phật giáo đã được hình
thành. Đến thời Pháp thuộc, Thiên Chúa giáo được truyền bá mạnh vào Hương
Khê. Từ năm 1930, rải rác trong huyện có 13 xứ 62 họ đạo Thiên Chúa, chiếm
27% dân số toàn huyện. Dân cư thưa thớt tập trung dọc thung lũng nhỏ hẹp và

bên bờ các dịng sơng. Hương Khê là huyện duy nhất ở Hà Tĩnh dân tộc Kinh và
dân tộc thiểu số như dân tộc Nhứt, Mường, Lạo, Hoa chung sống suốt trên biên
giới Việt Lào như ở các xã Hương Lâm, Hương Liên, Hương Vĩnh, Phú Gia.
Trong quá trình sinh cơ, lập nghiệp đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
đã sống hoà đồng cùng dân tộc Kinh. Họ đều có chung một lịng u nước
chống ngoại xâm, thờ cúng tổ tiên và anh hùng dân tộc.
Bên cạnh đạo Phật cịn có đạo Thiên chúa giáo, giáo dân chiếm 10% dân số
huyện. Tín đồ theo đạo có mặt tại hầu hết thị trấn và các xã. Công giáo Hương
Khê phát triển rất sớm, nằm trong hạt Ngàn Sâu được thành lập từ năm 1865.
Thiên chúa giáo ở Hương Khê có 12 xứ, 60 họ, 59 nhà thờ trong đó có 12 nhà thờ
huyện, 47 nhà thờ họ, số giáo dân chiếm 25% dân số huyện [36;51]. Sự pha trộn
các dân tộc sự tồn tại đan xen của tôn giáo không làm ảnh hưởng đến tinh thần
đoàn kết cách mạng của nhân dân Hương Khê. Mặc dù thực dân Pháp tuyên
truyền chia rẽ đoàn kết dân tộc nhưng với truyền thống yêu nước và tinh thần
đoàn kết, hơn nữa lại có chính sách đúng đắn của Đảng nên phần lớn giáo dân của
huyện vẫn kiên quyết theo cách mạng, đồn kết chống chính sách chia để trị của
thực dân Pháp.
Hương Khê còn là mảnh đất nổi tiếng về truyền thống hiếu học, nhiều
ông Nghè, ông Cống vẫn cịn lưu danh trong nhân dân, trong đó nổi bật nhất là


16

vết tích của một ơng trạng ngun thời Nguyễn. Đó là đền thờ nguy nga gọi là
Đền Trạng, ở một làng cũ gọi là Làng Trạng (thôn Trung Định ngày nay là xã
Hương Thuỷ) [36;57]. Trước năm 1918 (thời điểm bãi bỏ chế độ thi cử chữ Hán
học), huyện Hương Khê có một trường Huấn đạo do quan Huấn đạo phụ trách.
Người đỗ đầu gọi là “Đầu huyện” chữ Hán gọi là “Tường nguyên”, tiêu biểu có
cụ Dương Thế Mỹ (Hương Bình), cụ Mai Viết Hồ…Thời kỳ Pháp thuộc Hương
Khê có nhiều nhà thơng ngơn nổi tiếng đó là Đức giám mục Trần Hữu Đức, Cao

Đình Thuyên (Lộc Yên) và nhiều trường dạy cả Hán học và Hương học phát
triển. Với truyền thống hiếu học, đó là cơ sở để huyện phát triển văn hoá-giáo
dục trong thời kỳ xây dựng hậu phương kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
1.1.3. Truyền thống đấu tranh của Hương Khê
Đặc điểm của miền đất Hương Khê nói riêng và đặc điểm của Hà Tĩnh
nói chung đã tạo nên tính cách của riêng của người Hương Khê, của người Hà
Tĩnh. Đó là sáng tạo trong lao động sản xuất, dũng cảm chiến đấu chống ngoại
xâm, chống áp bức bóc lột viết nên những trang sử hào hùng.
Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, nhân
dân Hương Khê đã có những đóng góp đáng kể. Từ xa xưa cho đến thời Đinh,
Lý, Trần, Lê, vùng đất “Trại” (Nghệ An) được coi là phên dậu thứ ba ở phương
nam của Quốc gia. Là điểm đầu của các cuộc tấn công từ Tây Nam, hoặc là
điểm cuối, điểm dừng chân của các cuộc tấn công từ phương Bắc. Bởi vậy nơi
đây thường phải đương đầu với quân giặc theo các hướng từ Bắc vào Nam hoặc
ngược lại. Từ quân Nguyên Mông đến quân Minh, quân Chiêm Thành, Chiêm
Lạp, Xiêm La… Từ thế kỷ XV trở đi, ý nghĩa phên dậu phương nam ấy khơng
cịn nữa, nhưng tính chất phên dậu phía Tây của Tổ quốc thì vẫn rất rõ nét bởi
Hương Khê tiếp giáp tỉnh Khăm-muộn (Lào), có biên giới dài 52,5km, là căn cứ
địa cho sự nghiệp bảo vệ vững chắc chủ quyền phía Tây.


17

Ngay từ đầu quan quân nhà Hán đặt chân lên Hà Tĩnh đã vấp phải sự
chống cự quyết liệt của nhân dân. Nhân dân Hương Khê đã tham gia khởi nghĩa
Mai Thúc Loan chống quân nhà Đường năm 722. Thế kỉ XV, phong trào chống
Minh xâm lược diễn ra quyết liệt. Đất Đồ Gia (Hương Sơn) và núi Trà Sơn,
nhiều vùng giáp giới Hương Khê, Hương Sơn đã trở thành bản doanh của Lê
Lợi. Lịch sử còn ghi lại Hương Khê là địa bàn quan trọng của nghĩa quân Lam
Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Nhân dân Hương Khê đã đóng góp sức

người, sức của tham gia cùng nghĩa quân Lê Lợi chống quân xâm lược nhà
Minh (1416 - 1427). Núi Vũ Kỳ (sau còn gọi là núi Phù Lê), nay là núi Phú Lễ ở
xã Hương Trạch là nơi đã xây dựng một kho lương thực lớn do nhân dân Hương
Khê đóng góp ni nghĩa qn Lê Lợi. Phong trào chống giặc Minh của nhân
dân Hương Khê, nhân dân Hà Tĩnh tạo thành một chỗ dựa vững chắc cho nghĩa
quân Lam Sơn. Sau khi thắng lợi, Lê Lợi đã nhận xét như một bản tổng kết
chiến cuộc: “Đất xứ Nghệ thắng địa, dân xứ Nghệ thắng binh”[ 26;38].
Đến thế kỉ XVIII, Quang Trung-Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc tiêu diệt
quân Thanh, đã dừng chân tại đất Hà Tĩnh. Nhân Hương Khê lại nô nức tham
gia vào nghĩa quân của Quang Trung, đã giúp vua lập công xuất sắc. Trong thời
kỳ khởi nghĩa Tây Sơn, khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh
(1789), nhân dân Hương Khê cùng với nhân dân cả tỉnh hết lịng giúp nghĩa
qn cả người và của cải. Ngồi ra, Hương Khê còn là địa bàn làm bàn đạp cho
đội quân Quang Trung khi tiến sang đất Lào đánh quân Xiêm. Nhiều địa danh ở
Hương Khê một thời phò Vua đánh giặc còn được nhắc mãi cho đến ngày nay:
Bến sơng Chợ Trúc, Chợ Sịng… là những nơi đón tiếp chiến thuyền quân
Quang Trung từ Đức Thọ lên. Đồn Quy Hợp (Hương Vĩnh) là nơi thực hiện sự
bang giao giữa quốc gia Đại Việt với Ai Lao và Xiêm thời kỳ này. Làng Vạn
Gia (Gia phố) là trạm đón tiếp đội quân của Quang Trung. Tại đây, đền thờ
Quang Trung trên nền đất mà trước đây nghĩa quân đứng chân có tượng các


18

tướng lĩnh và voi, ngựa tạc bằng gỗ mít, dân địa phương quen gọi là đền Voi
Ngựa. Trong đền còn lưu giữ câu đối nói lên cảm nhận cảnh sắc thiên nhiên,
sông núi và con người nơi đây mà tương truyền của vua Quang Trung:
Nhất ấy Sơn hà thiên lý vọng
Ức niên Hương hoa Vạn Gia thôn
Thực dân Pháp xâm lược nước ta, Hương Khê đã trở thành một địa bàn

chống Pháp quan trọng bậc nhất trong cả nước. Sau khi lên ngôi, ngày 4 tháng 7
năm 1895, Hàm Nghi đã lên đường và chọn Hương Khê làm đại bản doanh để
tiến hành chống Pháp lâu dài. Luỹ Voi Dựa ở Đá Đen (La Khê) và thành Sơn
Phòng (Hương Phú) là những chứng tích lịch sử ghi nhận nơi vua Hàm Nghi
dựng cờ chống Pháp trong những năm 1884 - 1885. Người dân sở tại Hương
Khê đã đóng vai trị chủ yếu trong việc đào đắp hàng vạn mét khối tường thành
(thành Sơn Phòng), đến việc xây dựng nhà trại, cầu đường… góp cơng, góp của
để hưởng ứng phong trào Cần Vương. Vua Hàm Nghi đã ban tặng báu vật là hai
con voi bằng vàng và ra chiếu phong thần cho đất Phú Gia để tạ ơn vùng đất đã
phò vua cứu nước:
“Công phù đại địa trung hưng Thánh
Danh trấn Nam thiên thượng đẳng thần”
Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất
trong phong trào Cần Vương. Tháng 10 năm 1885, được tin vua Hàm Nghi ra
tới Sơn Phịng, Phú Gia, Phan Đình Phùng đã lên yết kiến nhà vua và được vua
Hàm Nghi giao nhiệm vụ trở về xây dựng lực lượng đẩy mạnh phong trào chống
Pháp ở địa phương mình. Trong suốt 12 năm liền ông đã lấy vùng núi Vụ Quang
làm căn cứ và xây dựng được 15 quân thứ (cánh quân) hùng mạnh, trong đó
Khê Thứ (cánh quân Hương Khê) do Nguyễn Hữu Châu ở Thanh Luyện và
Nguyễn Thoại chỉ huy là cánh quân số một. Nhiều sách giáo khoa gọi cuộc khởi
nghĩa Phan Đình Phùng là khởi nghĩa Hương Khê, bởi vì cuộc khởi nghĩa ấy đã


19

thu hút nhiều người dân Hương Khê tham gia đồng thời cuộc khởi nghĩa ấy lại
nổ ra tại đất Hương Khê. Có rất nhiều nhân vật tham gia cuộc khởi nghĩa của
Phan Đình Phùng, tiêu biểu như ơng Lê Võ ở Tri Bản (nay là Hoa Hải). Ông
tham gia trong bộ máy kháng chiến của Phan Đình Phùng với chức “hầu” - chức
quan phụ trách hành chính quản trị một vùng. Địa bàn hoạt động của ông Hầu

Năm là vùng Trại Trá, Trại Guồi, Trại Cột nằm ven sông Rào Nổ. Hồi đó vùng
này là đồn trại, kho tàng, cơng xưởng đị máng của nghĩa qn. Sau khi Phan
Đình Phùng mất (tháng 12 năm 1895), phong trào kháng chiến tan rã, giặc Pháp
truy lùng ráo riết, nhưng vẫn hoạt động bí mật ở trong vùng đó. Người dân địa
phương kể lại rằng khi thế cùng kiệt lực, vào giữa năm 1896 ơng đã chọn một gị
đất đẹp rồi rút gươm tự sát. Dân địa phương đã xây mộ và sau đó lập đền thờ
ơng ở Trại Guồi gần Khe Cha Chả. Ông là một trong những nghĩa sĩ yêu nước
nổi tiếng ở Hương Khê trong cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng.
Phong trào Cần Vương và cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình
Phùng và Cao Thắng tuy thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội, nhưng đã
chứng minh tinh thần yêu nước, yêu quê hương của một bộ phận nho sĩ và đông
đảo nhân dân Hương Khê dũng cảm đứng lên trực tiếp chiến đấu chống giặc
ngoại xâm ngay tại mảnh đất của mình.
Đầu thế kỷ 20, cùng với các địa phương khác trong tỉnh, cuộc đấu tranh
chống đế quốc, phong kiến ở Hương Khê có những chuyển biến mới. Năm
1908, hưởng ứng phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh lãnh đạo, nhân dân
Hương Khê đã có nhiều cuộc đấu tranh chống sưu thuế. Đến năm 1919, do
Nguyễn Viết Lượng, giáo viên trường tiểu học Hương Khê cùng với đồng chí
Nguyễn Hậu, giáo viên trường tiểu học Gia Phố đã tìm gặp cụ Tú Phương, một
nhà nho yêu nước ở Hà Linh cùng thống nhất quyết định lập ra tổ chức “Hội Bài
Pháp”, chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp, xây dựng một nhà nước dân chủ.
Hội Bài Pháp ra đời đã thu hút được nhiều công chức, giáo viên, nhà nho tiến


20

bộ, xây dựng được tổ chức rộng rãi ở nhiều thôn xã trong huyện đứng lên đấu
tranh chống hào lý hà hiếp, nhũng lạm trong các vụ sưu thuế, đòi bồi thường
thiệt hại cho dân vùng ven tuyến đường sắt do mất đất đai, ruộng vườn, nhà
cửa… Hoạt động của Hội Bài Pháp tuy được nhân dân hưởng ứng, có đưa lại

một số quyền lợi cho nhân dân, song về cơ bản và lâu dài vẫn bế tắc về đường
lối và phương hướng hoạt động. Năm 1921, do không liên lạc được với tổ chức
cách mạng ở bên ngoài, một số giáo viên bị thuyên chuyển công tác, Hội gặp
lúng túng nên đã tự giải tán.
Năm 1922, đồng chí Nguyễn Hậu, một trong những người lập ra hội Bài
Pháp đã tìm gặp được một số người có tinh thần u nước, từng tham gia các
phong trào Đông Du, Duy Tân, tổ chức ra nhóm cách mạng mới lấy tên “Việt
Nam độc lập hội”, hay là nhóm Xn Thu (bí danh của đồng chí Nguyễn Hậu).
Hội hoạt động chưa được bao lâu thì đồng chí Nguyễn Hậu bị đổi đi dạy học ở
Nghi Xuân, nên Việt Nam độc lập hội cũng ngừng hoạt động. Hội Bài Pháp và
Việt Nam độc lập hội thực sự là những tổ chức yêu nước của Hương Khê, có
nhiều cố gắng trong việc truyền bá các tư tưởng mới, gây được một số hoạt động
tích cực trong quần chúng nhân dân những năm 1919 - 1925.
Phong trào yêu nước, cách mạng ở Hương Khê dưới sự lãnh đạo của Hội
Phục Việt và Tân Việt cách mạng Đảng tiếp tục phát triển mạnh, đến tháng 4
năm 1927 thành lập thêm một tiểu tổ của Hội Phục Việt trường tiểu học Hương
Khê gồm 8 hội viên, do đồng chí Lê Viết Lượng phụ trách chung. Các cuộc đấu
tranh do các hội viên Hội Phục Việt, sau đó là do các đảng viên Đảng Tân Việt
tổ chức vận động ở các trường học đã có ảnh hưởng tích cực đến các vùng nông
thôn. Trong những năm 1927 - 1928, các tiểu tổ Tân Việt ở các thôn đã vận
động nông dân đứng lên chống bọn hào lý, chức sắc hà hiếp, nhũng lạm trong
các vụ sưu thuế. Công nhân các đồn điền, các công trường làm đường, làm đá
cũng tích cực đấu tranh địi tăng lương, giảm giờ làm…


21

Tháng 9 năm 1926, nhóm Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đầu tiên ở
Hương Khê do đồng chí Nguyễn Hậu vận động được thành lập, gồm 15 hội
viên, ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào phong

trào yêu nước, phong trào công nhân ở huyện nhà. Việc tiếp thu được những chủ
trương cách mạng của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và sự ra đời của tổ chức Hội Việt
Nam cách mạng thanh niên, là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu cho sự mở
đầu để hình thành tổ chức Đảng cộng sản đầu tiên ở Hương Khê. Ngày 3 tháng 2
năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, tiếp đến cuối tháng 3 năm 1930,
Đảng bộ lâm thời Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh được thành lập. Theo
chủ trương chung của Đảng, Chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng Hà Linh được
chuyển thành Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Hương Khê. Một thời
gian ngắn sau đó Hương Khê phát triển thêm các chi bộ Trúc Lâm (Hương
Thanh), Đông ấp (Hương Thu), Phúc ẩm (Hương Long), Đô Khê (Hương Đô)…
Với sự xuất hiện của nhiều chi bộ đảng ở khắp các vùng trong huyện, Đảng bộ
Đảng cộng sản Việt Nam huyện Hương Khê hình thành trên thực tế với đầu mối
liên lạc chỉ đạo chung là các chi bộ Hà Linh và Trúc Lâm, trực thuộc Tỉnh uỷ
lâm thời Hà Tĩnh.
Tuy chưa lập được Huyện uỷ, nhưng về cơ bản, đến tháng 7 năm 1930
Đảng bộ huyện Hương Khê đã được hình thành với hơn 10 chi bộ và gần 100
đảng viên. Đảng bộ Hương Khê ra đời là bước ngoặt trọng đại trong lịch sử đấu
tranh cách mạng của nhân dân Hương Khê. Từ đây phong trào cách mạng ở
Hương Khê bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới, cùng với cả nước tiếp tục
đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931,
Đảng bộ chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân
huyện nhà lên một bước mới cao hơn. Đi đôi với việc lãnh đạo nơng dân địi
giảm tơ, hỗn nợ, giảm bớt nợ lãi, xoá lễ lạt, nhiều chi bộ đã vận động nông dân
đấu tranh giành ruộng đất công, tịch thu một số tiền, thóc gạo của những cường


×