Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Hoạt động nghiên cứu phê bình từ năm 2000 đến nay về thơ việt nam giện đại (qua khảo sát các tập tiểu luận phê bình tiêu biểu)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (977.93 KB, 97 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN LÊ THU HƢƠNG

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY VỀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(QUA KHẢO SÁT CÁC TẬP TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH TIÊU BIỂU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN LÊ THU HƢƠNG

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY VỀ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(QUA KHẢO SÁT CÁC TẬP TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH TIÊU BIỂU)

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học

PGS. TS. PHAN HUY DŨNG



NGHỆ AN - 2017


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát.................................... 9
4. Mục đìch và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 9
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 10
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 11
7. Cấu trúc của luận văn .............................................................................. 11
Chương 1. NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN, NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY ................................... 12
1.1. Nhu cầu đổi mới hệ hính tư duy trong lý luận, nghiên cứu - phê bình
văn học từ năm 2000 đến nay ...................................................................... 12
1.1.1. Sự bất cập của hệ hính tư duy cũ trong lý luận, nghiên cứu phê bính trước thực tiễn văn học sơi động .................................... 12
1.1.2. Sức gợi mở từ những tài liệu lý luận, nghiên cứu - phê bình
văn học hiện đại của thế giới ......................................................... 15
1.1.3. Áp lực từ những thể nghiệm, cách tân trong sáng tác ................... 17
1.2. Thành tựu và những hạn chế của hoạt động lý luận, nghiên cứu phê bính văn học từ năm 2000 đến nay ....................................................... 18
1.2.1. Việc giới thiệu những thành tựu lý thuyết văn học hiện đại
của thế giới..................................................................................... 18
1.2.2. Những nỗ lực khái quát thành tựu đã qua và xác định lộ trình
phát triển trước mắt........................................................................ 20
1.2.3. Sự lạnh nhạt bất thường đối với một số hiện tượng văn học
mang tính cách tân ......................................................................... 22



1.3. Nghiên cứu - phê bính thơ Việt Nam hiện đại - vùng sôi động của
đời sống văn học .......................................................................................... 25
1.3.1. Sự đông đảo, đa dạng của đội ngũ nghiên cứu - phê bính thơ ...... 25
1.3.2. Nghiên cứu - phê bính thơ - nơi thực hành hào hứng các lý
thuyết và phương pháp mới ........................................................... 27
Chƣơng 2. CÁC ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY VỀ THƠ
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI ................................................................................. 29
2.1. Mở rộng và đổi mới thang chuẩn đánh giá ........................................... 29
2.1.1. Việc thẩm định lại các mơ hình nghiên cứu - phê bính thơ
từng ngự trị lâu dài trong đời sống văn học................................... 29
2.1.2. Vận dụng lý thuyết thi pháp học, kí hiệu học ................................ 33
2.1.3. Vận dụng lý thuyết trò chơi ........................................................... 35
2.1.4. Vận dụng lý thuyết về chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại............ 37
2.2. Hướng đến quan hệ tương tác tìch cực giữa phê bình và sáng tác ....... 39
2.2.1. Hoạt động nghiên cứu - phê bình xoay quanh các hội thảo
khoa học ......................................................................................... 39
2.2.2. Việc hình thành các nhóm phê bình - sáng tác .............................. 42
2.2.3. Việc triển khai các cuộc tranh luận học thuật................................ 43
2.3. Đa dạng hóa kênh thơng tin .................................................................. 45
2.3.1. Nghiên cứu - phê bính thơ trên báo chí ......................................... 45
2.3.2. Nghiên cứu - phê bính thơ trong các sách tiểu luận - phê bình,
chuyên luận, chuyên khảo.............................................................. 46
2.3.3. Nghiên cứu - phê bính thơ với việc dịch thuật và quảng bá
quốc tế ............................................................................................ 51


Chƣơng 3. MỘT SỐ HIỆN TƢỢNG NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH

TIÊU BIỂU TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY VỀ THƠ VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI ...................................................................................................... 55
3.1. Đỗ Lai Thúy và xu hướng triết luận trong phê bính thơ ...................... 55
3.1.1. Đơi nét tiểu sử ................................................................................ 55
3.1.2. Phê bính thơ của Đỗ Lai Thúy ....................................................... 56
3.2. Inrasara với công việc “lập biên bản” hành trính thơ Việt Nam
đương đại ..................................................................................................... 64
3.2.1. Đơi nét tiểu sử ................................................................................ 64
3.2.2. Phê bính thơ của Inrasara............................................................... 65
3.3. Lê Hồ Quang và nỗ lực nhận diện các phong cách thơ cách tân.......... 74
3.3.1. Đôi nét tiểu sử ................................................................................ 74
3.3.2. Phê bính thơ của Lê Hồ Quang...................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 83


1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1. Lý luận văn học Việt Nam từ giữa thập niên 80 đến nay có sự
chuyển mính đáng kể. Hệ hình mỹ học Marx - Lenin khơng cịn giữ vai trị
độc tơn trong đời sống văn học như trước. Giới lý luận đã mở rộng biên độ
tiếp thu hệ thống lý thuyết nước ngoài, đáng chú ý là tư tưởng mỹ học mác
xít phi truyền thống đã được giới thiệu rất đa dạng.
Bên cạnh đó, hoạt động thực hành nghiên cứu, phê bính văn học từ
sau năm 1986 cũng có sự thay đổi tồn diện về quan niệm, phương pháp,
đồng thời có sự đánh giá lại các hiện tượng văn học quá khứ. Phương
pháp phê bình xã hội học mác xít dần bộc lộ nhiều bất cập. Thay vì kiểu

phê bình chỉ chú trọng tiêu chí chính trị - xã hội, phê bính văn học hiện
nay quan tâm rất nhiều tới các vấn đề thuộc về thi pháp của nhà văn, cấu
trúc nội tại của tác phẩm, tiếp nhận của người đọc, đặt cao tiêu chí thẩm
mĩ... Nếu trước đây, tiếng nói của nhà phê bình là tiếng nói đầy quyền
uy, đại diện cho một thứ chuẩn thẩm mĩ chung đã được mã hóa để phán
xét đúng, sai; khen chê hay, dở, rút ra bài học, qn triệt lập trường thì
ngày nay tiếng nói của nhà phê bình là tiếng nói đối thoại, dân chủ, bình
đẳng, bớt đi những nhận xét chủ quan, thậm chì là áp đặt, suy diễn, quy
chụp, cổ vũ cho những tìm tịi, cách tân… Rõ ràng, những đổi mới trong
hoạt động nghiên cứu lý luận và phê bính văn học như đã nêu trên là
hiện tượng rất cần được tìm hiểu, sơ kết, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn
nữa sự trưởng thành của lĩnh vực nghiên cứu - lý luận - phê bình trong
bối cảnh phát triển mới của văn học nước nhà.


2

2. Các hoạt động nghiên cứu, phê bính từ năm 2000 đến nay về thơ
Việt Nam hiện đại đã thể hiện được rõ nét vừa sự phân hóa phức tạp
trong quan niệm sáng tác của các thế hệ nhà thơ cùng những cách tân
mang tình đột phá, vừa sự nỗ lực của giới nghiên cứu, lý luận, phê bính
trong việc tím kiếm những thang chuẩn đánh giá tương thìch với các
hiện tượng thơ mang nhiều dấu hiệu cách tân. Thực tế cho thấy, giới phê
bính văn học sau một thời gian “loạn chuẩn” đã tím cho mính những
hướng tiếp cận tác phẩm khoa học hơn; văn hóa phê bính, văn hóa tranh
luận được khơi phục, thể hiện sự trưởng thành của các nhà phê bính về
tư tưởng lý luận, phương pháp đánh giá…
3. Chọn đề tài Hoạt động nghiên cứu, phê bình từ năm 2000 đến nay
về thơ Việt Nam hiện đại (qua khảo sát các tập tiểu luận - phê bình tiêu
biểu), chúng tơi khơng chỉ muốn khái qt về hoạt động nghiên cứu, phê

bính thơ Việt Nam hiện đại mà thơng qua đó muốn giới thiệu với người
đọc những cách thức tiếp cận thơ mới. Chúng tôi cũng hi vọng luận văn sẽ
mang tới một cái nhìn có hệ thống và rõ nét hơn về một thời kì nghiên cứu
- phê bính văn học nhiều chuyển động tích cực.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động nghiên cứu, phê bình từ năm 2000 đến nay về thơ Việt
Nam hiện đại vừa bám sát thực tiễn sôi động vừa nhận thức lại khách
quan hơn nhiều hiện tượng văn học trong q khứ; diễn ngơn phê bình gia
tăng tình lý thuyết và tính chun nghiệp, góp phần tích cực vào q trình
dân chủ hóa xã hội, thúc đẩy sáng tác… Khái niệm thơ Việt Nam hiện đại
được sử dụng trong luận văn được hiểu theo nghĩa rộng (tính chất, chủ
nghĩa). Theo đó, hiện đại khơng phải là khái niệm chỉ thời gian, mà là một


3

phạm trù chỉ hệ thống thi pháp mới, khu biệt với phạm trù thơ cổ điển (thi
pháp trung đại), bao gồm nhiều loại hính thơ (từ thơ lãng mạn, tượng
trưng, siêu thực đến thơ ca cách mạng, kháng chiến), nhiều khuynh hướng
thơ (thơ trong vùng tạm chiếm trước 1975 ở miền Nam và thơ đổi mới từ
1975 đến nay).
2.1. Đánh giá chung về nghiên cứu, phê bình văn học sau năm 2000
Ở ta, phê bính văn học khơng chỉ là hoạt động phẩm bính, đánh
giá, giải thích các hiện tượng văn học (tác phẩm, tác giả, khuynh
hướng…) của các nhà chun mơn, mà cịn là lĩnh vực đấu tranh tư
tưởng. Do vậy, tham gia phê bính văn học, khơng chỉ có giới hàn lâm
ở các viện nghiên cứu, các giảng viên đại học, mà cịn có sự tham gia
của giới quản lý văn hóa văn nghệ. Trong q trình mở rộng dân chủ
hóa, bên cạnh tiếng nói phê bình của giới nghệ sĩ, cịn có kiểu phê
bình của giới truyền thơng báo chí.

Ngay từ những năm đầu của thế kỉ XXI, xuất phát từ đòi hỏi của
thực tiễn sáng tác và từ chức năng của nhiều chủ thể trong đời sống văn
nghệ, đã có nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo được tổ chức, nhằm đánh giá, lý
giải về những vấn đề cốt yếu của lý luận phê bính văn học đương đại nói
chung, trong đó bao gồm cả hoạt động của phê bính thơ.
Khảo sát 6 cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học do Hội Nhà văn Việt
Nam, Viện Văn học, Hội đồng Lý luận, phê bính văn học nghệ thuật trung
ương tổ chức từ năm 2003 đến nay [131], [98], chúng tôi nhận thấy, các ý
kiến, tham luận (phần lớn được cơng bố trên báo chí và in thành sách/kỷ
yếu) tập trung đánh giá về phê bính văn học như sau:
Thứ nhất, gắn liền với sự phát triển của văn học, sự vận động của đời


4

sống, phê bính đương đại đã đổi mới về quan niệm, vai trò, vị thế, chức
năng của hoạt động phê bính. “Sự thay đổi lớn nhất trong tư duy phê bính
là các nhà phê bính đã quan tâm nhiều hơn đến tính nghệ thuật của văn
chương bên cạnh nội dung tư tưởng của tác phẩm. Tinh thần nhận chân lại
các giá trị văn học cũng góp phần làm thay đổi bản chất của phê bính văn
học, khiến cho nhiều tác phẩm phê bình thốt khỏi lối mịn của khuynh
hướng xã hội học dung tục” [12, 1037].
Thứ hai, phê bính văn học từ Đổi mới tiếp thu nhiều lý thuyết triết
học, mỹ học, lý luận văn học phương Tây hiện đại, và lý thuyết mác xít phi
truyền thống. Nền phê bình từ chỗ mang tính tập trung chuyển mạnh mẽ
sang nền phê bình mang tính phân hóa cao về đội ngũ, phương pháp, lối
viết, phong cách; từ chỗ về cơ bản mang tình độc thoại sang tình đối thoại,
có tình tương tác cao với sáng tác văn học [23, 64].
Thứ ba, phê bính văn học từ sau 1986 mở rộng đường biên cho hoạt
động, đời sống phê bính văn học hướng dần vào quỹ đạo học thuật hơn là

dựa trên các tiêu chí chính trị.
Sự chuyển đổi từ lối phê bình nhân danh lập trường chính thống
trước kia, sang lối phê bình học thuật nghiêm túc như trên cũng đang địi
hỏi một sự chung tay kiến thiết mơi trường phê bình tự do, dân chủ, bình
đẳng, cởi mở, trung thực, có trách nhiệm… [61, 977].
Thứ tư, phê bính văn học từ Đổi mới, “tiếp cận và tiếp nhận nhiều
chuẩn mực mới” [18], [126],hoan nghênh những đổi mới, tơn trọng tìm tịi
thể nghiệm của nhà thơ. Có thể nói, chính sự đổi mới về lý thuyết phê bình,
sự thay đổi về cách nhín và phương pháp đã tạo ra sự đa dạng về cách đọc,
cách lý giải, sự phong phú về chuẩn mực, tiêu chì đánh giá, hính thành nên


5

một cục diện hồn tồn khác trước - khơng có tiếng nói cuối cùng, khơng
có sự độc quyền trong diễn giải, định giá, khơng có tình trạng định hướng
thơ thiển, duy ý chí và cứng nhắc như trước - tình trạng này có người gọi là
“thiếu chuẩn mực hoặc lệch chuẩn” [62, 1027] của phê bình. Nền phê bình
văn học phát triển phải là nền phê bình có nhiều tiếng nói, nhiều phương
pháp, nhiều cách đọc, cách diễn giải, tơn trọng sự đổi mới, tìm tịi, thử
nghiệm của nhà văn, chấp nhận nhiều lối viết, nhiều phong cách…
Hạn chế chung của phê bính văn học từ 1986 trở về sau được giới
nghiên cứu phê bình khái quát thành mấy điểm sau: cịn tình trạng cảm tính
trong phê bình; vì chịu ảnh hưởng của báo chí truyền thơng và kinh tế thị
trường nên có nhiều trường hợp tạo dư luận giả, nhà phê bính chưa làm
trịn nhiệm vụ định hướng thẩm mỹ cho người đọc, độc giả nghi ngờ sự
trung thực của văn bản phê bính; trong văn hóa tranh luận có nhiều tác giả
cịn tái diễn lối cắt xén, quy chụp, thay ví đi vào những vấn đề học thuật đã
chuyển văn bản phê bình vào những vấn đề cá nhân và hướng tới những
vấn đề, mục đìch phi văn học, phi học thuật; sự vênh lệch giữa thực tiễn

sáng tác và lý thuyết du nhập gây nên tình trạng áp đặt, gò ép…
2.2. Đánh giá về nghiên cứu, phê bình sau năm 2000 về thơ Việt
Nam hiện đại
Đầu những năm 2000, một trong những tác giả sớm có những đánh giá
khái quát về phê bính thơ là Nguyễn Hữu Sơn, Lưu Khánh Thơ. Trong bài
Thực trạng phê bình thơ, Nguyễn Hữu Sơn đặt câu hỏi, “thực trạng tình hình
phê bính thơ đang diễn ra thế nào? Liệu có phải chúng ta đang khủng hoảng
về lý luận, loạn chuẩn, và rối loạn về tiêu chì đánh giá?....” [83, 1049]. Theo
tác giả này, cùng với sự tự do in thơ, trên báo chì hoạt động bính điểm thơ vẫn


6

được duy trí đều đặn, “đời sống phê bính thơ ca sơi động”, “diễn đàn phê bín
thơ đã trở nên sôi động và dân chủ hơn”. Lưu Khánh Thơ trong bài Thơ và
phê bình thơ cho rằng, từ những năm 90 “người phê bính đã hết vai trị là
người hướng dẫn, hoặc đại diện cho ai”, phê bính khó bao quát được diện
mạo thơ ví số người làm thơ, in thơ rất đơng; cũng “khó tím được sự nhất trí
trong giới phê bình và bạn đọc” [109, 1060].
Phạm Xuân Nguyên, khác với các tác giả Nguyễn Hữu Sơn, Lưu
Khánh Thơ, qua trường hợp phê bình hiện tượng Vi Thùy Linh, đã nhận
định rằng, phê bính đương thời “thiếu một khơng khí phê bình cho các ý
kiến khác nhau, thậm chì đối lập nhau, được nói ra cơng khai, tự do, bình
đẳng… ” và trước những hiện tượng văn học mới, cái yếu của phê bính văn
học hiện nay bộc lộ ra là thuyết văn học, những sáng tác mới cần được soi
sáng bằng lý thuyết mới [73, 1083]. Phạm Xuân Nguyên cảnh báo không
nên độc quyển thầm định, nhân danh cách viết cách đọc này mà bài trừ phủ
nhận cách viết cách đọc khác.
Năm 2013, trong bài Một vài suy nghĩ về phê bình văn học hơm qua
và hơm nay, Hà Minh Đức nhận định: “chúng ta khơng có một Hồi Thanh

hơm nay nhưng có cả một đội ngũ những nhà thơ tham gia phê bính thơ
như một hoạt động chính của mình… [19, 62]. Cũng năm 2013, Lưu
Khánh Thơ có bài Giới hạn của sự đọc và phê bình thơ hôm nay. Bài viết
này một mặt là sự tiếp nối quan điểm của bài Thơ và phê bình thơ năm
2003 của tác giả, mặt khác đã có thêm những nhận định đáng lưu ý: theo
người viết, có tình trạng loạn chuẩn trong phê bính thơ; hoạt động phê bình
thơ chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống thơ ca, “nó khơng làm được
trách nhiệm hướng dẫn người đọc, càng không làm được chức năng xác lập
những hệ thống thẩm mỹ mới cho việc đánh giá thơ”. Phê bính thơ trong


7

bối cảnh mới có nhiều thách thức, “Phê bính thơ bây giờ rất khó. Ít có nhà
phê bình chun tâm với thơ… Một số nhà phê bình hiện nay cịn yếu cả
về hai mặt: khả năng cảm thụ nghệ thuật và kiến thức về kĩ thuật làm
thơ”[110, 235].
Cùng quan điểm với Lưu Khánh Thơ, tác giả Vũ Quần Phương trong
Về chuẩn mực thẩm định thơ khẳng định, việc luận bàn về thơ, tiêu chì
đánh giá rất phân tán. “Tính trạng thẩm định thơ đang ở mức báo động, có
người gọi là tình trạng loạn chuẩn… Hay ở chỗ nhiều chuẩn thí hơn một
chuẩn, cịn ở là nhiều nhưng loạn” [82, 190].
Cho đến nay, theo khảo sát của chúng tôi, tác giả theo dõi sát sao và
có những nghiên cứu nghiêm túc, khái quát có hệ thống đầu tiên về hoạt
động phê bính thơ đương đại, có lẽ, là Đặng Thu Thủy. Từ năm 2010,
Đặng Thu Thủy công bố bài viết cơng phu bàn về Một vài khuynh hướng
phê bình thơ từ giữa thập kỉ 80- thế kỉ XX đến nay [120] trên Tạp chí Khoa
học của Đại học Sư phạm Hà Nội. Tiếp nối bài viết đó, năm 2011, Đặng
Thu Thủy cho in tiểu luận Vài nét về phê bình thơ từ 1986 đến nay [121]
như một cách đào sâu hơn vấn đề đã đặt ra. Nội dung của hai bài viết cũng

là quan điểm chính của mục Phê bình thơ giai đoạn 1996 - 2005 do Đặng
Thu Thủy đảm nhận biên soạn, in trong cơng trình Phê bình văn học Việt
Nam 1975-2005 (Nguyễn Văn Long chủ biên) [63].
Các nghiên cứu của Đặng Thu Thủy tập trung chủ yếu vào hoạt động
phê bính thơ nửa cuối thập niên 80 của thế kỉ XX đến 5 năm đầu thế kỉ XXI.
Theo Đặng Thu Thủy, phê bính thơ từ giữa thập niên 80 đến 2005 đã được
thể hiện ở nhiều cấp độ: phê bình tác giả, vấn đề, hiện tượng văn học. Chủ
đề chính của phê bình là: truyền thống và hiện đại, thơ và tình dân tộc, chữ


8

và nghĩa, thơ và sex. Phê bính thơ càng về sau càng cởi mở, bám sát thực
tiễn sáng tác, gia tăng tình học thuật, tình đối thoại và dân chủ, màu sắc cảm
tính có chiều giảm đi, ủng hộ, cổ vũ những cách tân… Hạn chế của phê bình
thơ sau 1986 là: tình chất nghiệp dư, chưa đáp ứng được nhu cầu của sáng
tác. Có hai bộ phận phê bính thơ cơ bản: phê bình hàn lâm và phê bình
truyền thơng. Loại trước có các khuynh hướng phê bình thi pháp học, phê
bình phân tâm học, phê bính văn hóa học, tác giả tiêu biểu của các khuynh
hướng này là Trần Đính Sử, Chu Văn Sơn, Đỗ Lai Thúy, Inrasara, Nguyễn
Đăng Điệp… Loại sau, phương pháp chủ yếu dựa vào trực giác, thiên về
cảm nhận, và nhiệt tình khẳng định ngợi ca, phần đơng nhà phê bính thuộc
loại này là các nhà thơ như Dương Tường, Hoàng Hưng, Nguyễn Trọng
Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Lê Thiếu Nhơn, Nguyễn Hữu Hồng Minh…
Qua khảo sát những bài viết, tiểu luận tiêu biểu trên đây có thể rút ra
mấy nhận xét sau:
- Hoạt động lý luận phê bính văn học nói chung từ năm 1986 đến nay
được thảo luận thường xuyên trên nhiều diễn đàn (các tọa đàm, hội thảo,
hội nghị, báo chí). Những thành cơng và hạn chế của lý luận phê bính đã
được ghi nhận, phân tìch, đánh giá và báo động trong rất nhiều bài viết.

Các vấn đề về phương hướng phát triển, giải pháp nâng cao chất lượng của
lý luận phê bính văn học cũng đã được bàn bạc rất sôi nổi, được nhấn mạnh
trong nhiều báo cáo tổng kết. Nhận thức chung của giới chuyên môn là: lý
luận phê bính văn học từ 1986 đến nay đã có sự đổi mới, tuy nhiên cũng
như bao hiện tượng văn hóa xã hội khác, sự đổi mới của lý luận phê bình
dường như vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của đời sống, của giới sáng tác,
giới quản lý văn hóa văn nghệ và của chính bản thân những người làm
nghề lý luận phê bính khi đứng trước địi hỏi hội nhập.


9

- Hoạt động nghiên cứu phê bính thơ nói chung và thơ Việt Nam
hiện đại nói riêng, từ năm 1986 đến nay đã được giới chun mơn nhìn lại,
song mới dừng lại ở những khảo sát, ghi nhận bước đầu về đội ngũ, khuynh
hướng, về sự đổi mới và giới hạn của phê bính thơ... Số bài sơ kết, tổng kết
chặng đường nghiên cứu phê bính thơ Việt Nam hiện đại giai đoạn từ sau
Đổi mới còn rất mỏng; chưa có bài viết nào tập trung sơ kết bức tranh
nghiên cứu phê bính thơ 15 năm đầu thế kỉ XX.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc ý kiến của các nhà nghiên cứu đi
trước, luận văn của chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát những đặc điểm nổi bật
trong hoạt động nghiên cứu phê bình từ năm 2000 đến nay về thơ Việt
Nam hiện đại. Đồng thời sẽ chỉ ra những gương mặt nổi trội trong phê bình
thơ những năm đầu thế kỉ XXI.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu - phê bình từ năm 2000 đến nay về thơ Việt
Nam hiện đại.
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát
Các tập tiểu luận, phê bình tiêu biểu dành cho việc nghiên cứu, đánh

giá (hoặc có phần nghiên cứu, đánh giá) về thơ Việt Nam hiện đại được
xuất bản từ năm 2000 đến nay..
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Nhận diện được đường nét vận động của hoạt động nghiên cứu - phê
bính văn học hiện nay, trong đó có nghiên cứu - phê bính thơ Việt Nam hiện đại.


10

- Chỉ ra được sự tương tác tìch cực giữa hoạt động sáng tác văn học
(cụ thể ở đây là sáng tác thơ) với hoạt động nghiên cứu - phê bình.
- Khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của việc đổi mới quan niệm và
phương pháp nghiên cứu - phê bính văn học.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1. Tìm hiểu khái quát về hoạt động lý luận, nghiên cứu - phê bình
văn học Việt Nam hiện nay với tư cách là phơng cảnh rộng của hoạt động
nghiên cứu - phê bính thơ Việt Nam hiện đại (tính từ mốc năm 2000).
4.2.2. Đánh giá những chuyển động của nghiên cứu - phê bính thơ
Việt Nam hiện đại trong hơn thập niên đầu của thế kỷ XXI trên các phương
diện: đổi mới quan niệm, tiêu chì và phương pháp đánh giá; xốy sâu vào
các hiện tượng cách tân; gia tăng tình triết luận trong sản phẩm nghiên cứu
- phê bình.
4.2.3. Phân tích sâu một số tác giả, tác phẩm nghiên cứu - phê bình
tiêu biểu xuất hiện sau năm 2000 về thơ Việt Nam hiện đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương
pháp sau:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: được sử dụng để xem xét, đánh
giá hoạt động nghiên cứu phê bính thơ một cách có hệ thống, xem nó như

một hệ thống trong cấu trúc văn hóa đương đại.
- Phương pháp loại hính: được sử dụng để khái quát hoạt động
nghiên cứu phê bính thơ thành các loại hình nghiên cứu phê bính đặc trưng
của thời đổi mới, hội nhập văn hóa


11

- Phương pháp phân tìch, tổng hợp: được sử dụng đánh giá, khái quát
những đặc điểm, sự vận động… của nghiên cứu phê bính thơ cũng như
những cơ sở, yếu tố góp phần làm nên diện mạo đó.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng để chỉ ra sự giống
và khác nhau về hoạt động nghiên cứu phê bính trước và sau Đổi mới, thời
Đổi mới và những năm đầu thế kỉ XXI.
6. Đóng góp của luận văn
Thứ nhất, phác họa được diện mạo cơ bản của nghiên cứu phê bình
về thơ hiện đại từ năm 2000 đến nay trên mấy phương diện: đội ngũ, điểm
tựa lý thuyết, sự đổi mới tiêu chuẩn đánh giá và sự thực hành nghiên cứu
phê bính thơ Việt Nam hiện đại;
Thứ hai, chỉ ra được những khuynh hướng nổi bật, đi sâu phân tìch
những đóng góp của một vài hiện tượng nghiên cứu phê bình tiểu biểu từ
năm 2000 đến nay về thơ Việt Nam hiện đại.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1. Nghiên cứu - phê bính thơ Việt Nam hiện đại trong hoạt
động lý luận, nghiên cứu - phê bính văn học Việt Nam
từ 2000 đến nay.
Chương 2. Các đặc điểm nổi bật của hoạt động nghiên cứu - phê
bình từ 2000 đến nay về thơ Việt Nam hiện đại.

Chương 3. Một số hiện tượng nghiên cứu - phê bình tiêu biểu từ
2000 đến nay về thơ Việt Nam hiện đại.


12

Chƣơng 1
NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN, NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

1.1. Nhu cầu đổi mới hệ hình tƣ duy trong lý luận, nghiên cứu phê bình văn học từ năm 2000 đến nay
1.1.1. Sự bất cập của hệ hình tư duy cũ trong lý luận, nghiên cứu phê bình trước thực tiễn văn học sôi động
Từ giữa thập niên 80, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chủ trương
đổi mới sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực hoạt động. Đại hội VI của
Đảng đánh dấu sự đổi mới về tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm. Tinh
thần của đổi mới thể hiện trong quan niệm đề cao thái độ nhìn thẳng vào sự
thật, đánh giá đúng sự thật, nó rõ sự thật, phát huy quyển làm chủ của nhân
dân, chống sức ỳ và tính bảo thủ của quan niệm cũ, chống giáo điều rập
khn, chống chủ quan nóng vội, tạo điều đề cho sự giải phóng sức sáng
tạo của mọi tầng lớp nhân dân…
Xét riêng lĩnh vực văn nghệ, Đảng cũng ban hành nhiều nghị quyết,
chỉ thị đòi hỏi văn hóa văn nghệ phải đổi mới tư duy, thể hiện tiếng nói
trung thực, tự do; khuyến khìch văn nghệ sĩ tím tịi, u cầu có những thể
nghiệm táo bạo và rộng rãi trong các sáng tác… Sự thay đổi về cơ chế, về
thiết chế văn nghệ như vậy, đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học Việt
Nam có một bước phát triển mới, đáp ứng nhu cầu thưởng thức và thị hiếu
đa dạng của các tầng lớp xã hội.



13

Đời sống văn học Việt Nam từ năm 1986 trở đi trở nên sơi động, đa
sắc diện. Các trí thức văn nghệ sĩ nhiệt tính hưởng ứng phong trào đổi mới
do Đảng phát động, một mặt góp phần mở rộng và làm sâu sắc thêm q
trình dân chủ hóa mọi mặt đời sống, mặt khác làm cho văn chương có một
bước ngoặt mới.
Trước hết, ở văn xuôi. Ký là thể loại đứng ở tuyến đầu trong cuộc
đấu tranh chống cái cũ, cái xấu. Có nhiều bài ký gây chấn động xã hội.
Những bài như Câu chuyện về một ông "vua lốp", Lời khai của bị can, Cái
đêm hôm ấy... đêm gì?, Nỗi oan khuất của cây dâu, Tiếng kêu cứu của một
vùng văn hóa.... thể hiện tiếng nói cơng dân trung thực, dám nhìn thẳng vào
sự thật, nói rõ sự thật về, lên án những bất công ngang trái ở đời. Người
viết giờ đây khơng cịn sắm mai minh họa, tạo ra những tấm gương điển
hính để mọi người soi chung như văn học trước 75.
Tiểu thuyết, truyện ngắn từ Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng,
Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Khải đến
Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, rồi sau này là những Bùi
Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái,
Thuận, Nguyễn Bính Phương, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đồn
Minh Phượng, Đặng Thân… đã có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy, giọng
điệu và lối viết.
So với các thể loại khác, thơ đổi mới chậm hơn. Từ cuối thập niên
80, bước sang thập niên 90, nhất là từ đầu những năm 2000 trở đi, thơ có
nhiều đột phá với sự tham gia của nhiều thế hệ. Bên cạnh Hoàng Cầm, Hữu
Loan, Trần Dần, Lê Đạt đã có Ý Nhi, Dư Thị Hồn, Hồng Hưng, Dương
Tường, Thảo Phương, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quyến, Nguyễn


14


Lương Ngọc, Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, nhóm Ngựa
trời, Ly Hồng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh… Thơ đổi mới ngày càng táo
bạo, quyết liệt về cách nói, ngơn ngữ...
Khơng chỉ người viết phải tự đổi mới mình, mà cả người đọc cũng
thay đổi. Trước kia người đọc quen tiếp nhận cái anh hùng, cái đẹp lý
tưởng do nhàn văn hư cấu ra thì nay họ muốn được tiếp xúc với sự thật trọn
vẹn. Thay vì sùng mộ cái anh hùng, cái đẹp lãng mạn như trước, người đọc
đón nhận cái bi, cái xấu… Văn học ngàng càng gần hơn với đời sống,
khoảng cách giữa nhà văn và người đọc ngàng càng gần lại, thay ví độc
thoại, nhà văn trở thành người đối thoại với người đọc.
Kiểu tác giả, thể loại, đề tài, cái nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ, lối
viết… của văn chương từ năm 2000 đến nay về cơ bản đều đã có thay đổi
lớn. Trước thực tiễn văn học đổi mới sơi động, có nhiều tìm tịi, thể
nghiệm táo bạo như thế, hệ hính tư duy cũ trong lý luận, nghiên cứu - phê
bình bộc lộ nhiều bất cập.
Một thời gian dài nhà nghiên cứu phê bính văn học làm thay cơng
việc của nhà chính trị, hoạt động nghiên cứu phê bình chủ yếu xoay quanh
vấn đề tư tưởng lập trường chính trị, đấu tranh giai cấp… Nhà phê bình trở
thành người có quyền uy, được trao cho sứ mệnh định hướng dư luận,
hướng dẫn và điều chỉnh sáng tác, tiếng nói của anh ta vì thế có ảnh hưởng
đến từng sinh mệnh văn học (tác giả, văn bản tác phẩm). Đúng như Lê
Ngọc Trà nhận xét: “Mấy chục năm qua đất nước chúng ta sống chủ yếu
bằng đời sống chính trị. Cách mạng, chiến tranh, các sự kiện chính trị, sinh
hoạt chính trị đi vào cuộc sống hàng ngày. Mọi thứ đều được đo bằng
chính trị. Từ đánh giá con người đến xem xét tác phẩm, tất cả chủ yếu đều


15


quy về lập trường, quan điểm,… Bây giờ lịch sử nước nhà hính như đang
chuyển sang một trang khác. Tình hình khơng phải chỉ cho phép mà cịn có
nhu cầu bắt phải "đổi mới tư duy", tức là nghĩ lại, nghĩ khác đi… ” [1240,
24], phải loại bỏ tình trạng mất dân chủ trong tranh luận phê bình, loại bỏ
lối phê bính độc đốn, độc quyền, quy chụp, thành kiến…
Tư duy nghiên cứu phê bính văn học cũ đề cao phương pháp sáng
tác hiện thực (xã hội chủ nghĩa), đặt tiêu chì văn học phản ánh hiện thực
lên hàng đầu, coi nhẹ hoặc phủ nhận các phương pháp sáng tác khác…
Bây giờ ngữ cảnh văn hóa xã hội đã khác trước, nhiều hiện tượng văn học
mới, nhiều vấn đề mới nảy sinh… địi hỏi nhà nghiên cứu phê bình phải
thay đổi quan niệm, thay đổi phương pháp tiếp cận, thay đổi tiêu chí, tiêu
chuẩn đánh giá văn học…
Đành rằng nhà nghiên cứu phê bính văn học cần quan tâm đến nhà
văn, tới con người tiểu sử, ý đồ sáng tác của anh ta nhưng nếu chỉ dừng
lại ở đó như cách làm trước 75, mà bỏ qua hoặc coi nhẹ văn bản thì xem
như đã đánh mất đối tượng đìch thực của phê bính văn học. Hệ hính tư
duy cũ đề cao bản chất xã hội của văn học, coi nhẹ bản chất thẩm mỹ, chỉ
thấy cái được phản ánh mà chưa chú ý đến bình diện nghệ thuật thể hiện;
nhấn mạnh chức năng nhận thức, phản ánh, coi nhẹ chức năng giao tiếp,
chưa thấy phương diện chủ quan của phản ánh và đặc biệt chưa biết đến
tính tích cực sáng tạo của người đọc…
1.1.2. Sức gợi mở từ những tài liệu lý luận, nghiên cứu - phê bình
văn học hiện đại của thế giới
Trước 1986, khung tri thức chủ yếu của hoạt động nghiên cứu phê
bính văn học ở miền Bắc là lý luận văn học mác xít chính thống (Marx-


16

Lenin), hạt nhân trong hệ thống lý luận đó là phản ánh luận của Lenin. Mỹ

học mác xít chính thống xoay quanh mấy vấn đề cơ bản sau: văn học là
hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, văn học phản ánh hiện thực,
tính giai cấp, tình đảng và tính nhân dân của văn học, thế giới quan, điển
hnh văn học; trong quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn
học thì nội dung giữ vai trò chủ đạo và quyết định; cơ sở tạo nên đặc điểm
các thể loại là phương thức phản ánh hiện thực, phương pháp hiện thực xã
hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác tốt nhất…
Từ sau 1986, đặc biệt là từ năm 2000 trở về sau này không gian tư
tưởng của người làm lý luận, nghiên cứu - phê bính văn học được mở rộng.
Những vùng lý thuyết bị cấm hoặc bị xem là chủ nghĩa xét lại, bị lên án
trước kia, giờ được giới thiệu và tiếp thu, tham khảo rộng rãi. Một số cơng
trình lý luận phương Tây ở miền Nam được tái bản… Đó là nhu cầu của
người đọc, là nỗ lực nhận chân các giá trị.
Lý luận thể loại của M. Bakhtin gợi cho chúng ta một cách hiểu mới
mẻ về bản chất và vị trí của thể loại trong lịch sử văn học, khác hẳn với quan
điểm của các nhà lý luận Marx - Lenin. Các nhà lý luận Marx - Lenin coi
trọng phương pháp sáng tác, xem sự khác nhau giữ các thể loại chẳng qua
chỉ là khác nhau về phương thức phản ánh. Bakhtin cho rằng, thể loại mới là
nhân vật chính của lịch sử văn học, mỗi thể loại thể hiện một cách cảm thụ,
nhìn nhận, giải thích về thế giới và con người; mỗi thời đại có một hệ thống
thể loại của mình… Thi pháp học hiện đại mở ra những khám phá về các
quy luật hình thức nghệ thuật, khác về quan niệm và đối tượng với phê bình
xã hội học trước 1975 ở ta. Phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng
học… đem lại cho người nghiên cứu một cách lý giải khác về bản chất của
sáng tạo văn học. Phê bình mới, chủ nghĩa cấu trúc cho thấy, đối tượng của


17

phê bình khơng phải là tác giả tiểu sử hay những điều kiện kinh tế xã hội mà

là nội tại văn bản. Kí hiệu học đem lại cách hiểu có tình đột phá về ngơn
ngữ: ngơn ngữ là một hệ thống ký hiệu dùng để biểu đạt tư tưởng và từ đây
nảy sinh nhiệm vụ nghiên cứu các mã. Mỹ học tiếp nhận mở ra một cách
hiểu khác vai trò của người đọc, về sự tiếp tồn tại của tác phẩm, nó từ chơi
các chuẩn mực kinh điển vốn dùng làm tiêu chuẩn phê bính văn học. Lý
luận văn học so sánh đưa đến việc nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền
văn học dân tộc hay các nền văn học quốc gia; chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ
nghĩa hậu cấu trúc đem lại một cảm quan mới về thế giới… Nói chung các
thành tựu lý luận, nghiên cứu phê bính văn học hiện đại trên thế giới có sức
thu hút rất lớn đối với người làm nghiên cứu văn học sử và phê bính văn học
trong nước bởi vì chúng có thể đem lại những phát hiện mới, những hệ vấn
đề mới, có thể tạo ra hệ thống các thuật ngữ, khái niệm công cụ mới, những
phương pháp, cách lý giải mới mẻ hơn trước.
1.1.3. Áp lực từ những thể nghiệm, cách tân trong sáng tác
Từ năm 2000 đến nay đời sống văn học khá ồn ào trước nhiều hiện
tượng cách tân, thể nghiệm mới mẻ, táo bạo. Những hiện tượng này vừa
mời gọi sự tham gia đánh giá, lý giải của giới lý luận, nghiên cứu, phê bình
chuyên nghiệp vừa cho thấy những giới hạn của các công cụ lý thuyết cũ.
Những hiện tượng văn học mới địi hỏi phải lựa chọn một hệ hình nghiên
cứu văn học tương thìch với nó.
Chẳng hạn như sự nở rộ và đổi mới của văn học nữ (thơ nữ, văn xuôi
nữ) đang từ chối cách đọc văn từ quan điểm đạo đức, từ tâm lý học thông
thường, vốn mang đầy định kiến, thiên kiến. Nó địi hỏi người làm phê
bình phải có tri thức về nữ quyền luận, các lý thuyết về giới, xã hội học,


18

văn hóa học, phân tâm học, thậm chí cả những tri thức về chính trị… tức là
nó địi hỏi một tri thức liên ngành.

Thuộc về văn học thể nghiệm, cách tân đầu thế kỉ XXI cịn có văn
học hậu hiện đại. Ở đây luận văn khơng bàn về việc có hay khơng một
dịng/khuynh hướng văn chương hậu hiện đại, mà chỉ đề cập đến những
dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong một số tác phẩm văn học đương
đại. Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Đặng Thân, Lê
Anh Hoài, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bính Phương… mang
tính cách tân rõ rệt, nó cho thấy một lối trần thuật phân mảnh và có sự pha
trộn nhiều thể loại, nó thể hiện một cảm quan giải thiêng, giễu ngại, một
thế giới đa cực, phi trung tâm, hỗn độn… Để hiểu và lý giải được các sáng
tác đó, địi hỏi người nghiên cứu phê bình phải thay đổi cách tư duy, quan
niệm, thay đổi cách đọc…
1.2. Thành tựu và những hạn chế của hoạt động lý luận, nghiên
cứu - phê bình văn học từ năm 2000 đến nay
1.2.1. Việc giới thiệu những thành tựu lý thuyết văn học hiện đại
của thế giới
Trước 1975 miền Bắc chủ yếu tiếp nhận lý luận văn học Xô viết và
tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông được thể hiện qua Bài nói chuyện ở
Diên An. Ngồi bộ sách Ngun lý Mỹ học Mác - Lênin, Nguyên lý lý luận
văn học của Timofeev, các ý kiến bàn về văn nghệ của các nhà mác xít
kinh điển (Marx, Engels, Lenin)… giới nghiên cứu ở ta cũng giới thiệu
quan điểm văn nghệ của Mao Trạch Đông, và kinh nghiệm sáng tác của
một số nhà văn như Mao Thuẫn, Lão Xá… Trong hai thập niên 70 (từ khi
thống nhất đất nước), 80, việc giới thiệu lý luận văn học của Xô viết - Nga


19

vẫn được tiếp tục thực hiện thông qua kênh dịch thuật, nổi bật có Cá tính
sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học của M.B. Khrapchenco,
Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực của B. Xuskov, Dẫn luận nghiên

cứu văn học của G.N Pospelov, Tâm lý học nghệ thuật của L.X.Vygotsky,
Lý luận văn học của N.A.Gulaev… Từ năm 1990, việc du nhập lý luận văn
học hiện đại của thế giới vào Việt Nam có sự chuyển hướng. Bên cạnh việc
tiếp nhận, giới thiệu lý luận văn học của Pháp thế kỉ XX (nổi bật là sách
của R.Barthes, J.P.Sartre…), giới chuyên môn bắt đầu quan tâm, nghiên
cứu các quan điểm mỹ học, triết học của M.Bakhtin. Chỉ trong hai năm
1992, 1993, đã có hai cơng trính của M.Bakhtin được xuất bản: Lý luận và
thi pháp tiểu thuyết, Những vấn đề thi pháp Dostoievski.
Từ năm 2000 đến nay, việc giới thiệu thành tựu lý thuyết văn học
hiện đại của thế giới diễn ra rất phong phú, đa dạng. Nhiều trào lưu,
khuynh hướng triết học, mỹ học, lý luận văn học của phương Tây như phân
tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, thi pháp học, chủ nghĩa hính thức Nga, ký
hiệu học, giải thích học, mỹ học tiếp nhận, phê bình mới, chủ nghĩa cấu
trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu cấu trúc, văn học so sánh… có
ảnh hưởng đến khoa học văn chương nước ta qua hai kênh dịch thuật và
nghiên cứu giới thiệu: Bàn về tiểu thuyết (Kundera), Chủ nghĩa cấu trúc và
văn học (Trịnh Bá Đĩnh), Cấu trúc văn bản nghệ thuật (Lotman), Logic
học của các thể loại văn học (K.Hambuger), Thi pháp huyền thoại
(E.Melintinski), Thi pháp văn xuôi (Tz.Todorov), Các khái niệm và thuật
ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Au và Hoa Kỳ thế kỉ
XX (I.P.Ilin, E.A.Tzurganova), Những huyền thoại (R.Barthes), Hình thái
học của nghệ thuật (M.Cagan), Tương lai văn học (F.Badre), Hoàn cảnh
hậu hiện đại (J.F.Lyotard), Phân tâm học nhập môn (S.Freud), Thi học và


20

ngữ học (Jakobson), Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại (Liviu Petrescu),
Tuyển tập A.I.A.Propp (hai tập), Lý luận văn học (R.Wellek, A.Warren), Sự
đỏng đảnh của phương pháp (Đỗ Lai Thúy biên soạn), Nghệ thuật như là

thủ pháp (Đỗ Lai Thúy biên soạn), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật,
Phân tâm hộc và văn hóa tâm linh, Phân tâm học và tình yêu (Đỗ Lai Thúy
biên soạn), Văn học hậu hiện đại thế giới - những vấn đề lý thuyết (Lại
Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến tổ chức biên soạn), Sáng tác của F.Rabelais
và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng (M.Bakhtin), Chủ nghĩa
Marx và triết học ngôn ngữ (V.N.Voloshinov), Lý luận văn học hiện đại,
những vấn đề hiện đại (Lã Nguyên tuyển dịch), Kí hiệu học văn hóa
(I.U.Lotman), Xã hội học văn học (Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương
Ngọc, Phùng Kiên nghiên cứu, dịch), Chủ nghĩa hình thức Nga (Huỳnh
Như Phương), Tư tưởng văn hóa văn nghệ của chủ nghĩa Mác phương Tây
(Phương Lựu), Lý luận văn học so sánh, Phương pháp luận nghiên cứu văn
học (Nguyễn Văn Dân), Tác phẩm như là quá trình (Trương Đăng Dung),
Từ chủ nghĩa hiện sinh đến thuyết cấu trúc (Trần Thiện Đạo), Quan niệm
văn chương Pháp, Lý luận phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, hai tập (Lộc
Phương Thủy), Tự sự học, một số vấn đề lý luận và lịch sử, hai tập (Trần
Đính Sử chủ biên)… Như vậy, từ năm 2000 đến nay, việc du nhập lý
thuyết văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam diễn ra chuyên nghiệp hơn, với
tốc độ nhanh, khơng khí cởi mở và cũng nhờ đó gương mặt lý luận hiện đại
thế giới được nhìn nhận dần rõ nét hõn.
1.2.2. Những nỗ lực khái quát thành tựu đã qua và xác định lộ
trình phát triển trước mắt
Song song với sự dịch thuật, giới thiệu, tiếp thu tinh hoa tri thức
nhân loại, giới chuyên môn ở ta từ năm 2000 đến nay cũng hướng đến tổng


×