1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nguyễn Thiếp là nhà thơ mà cuộc đời và sự nghiệp vừa có những
điều bình thờng vừa có những điều khác thờng. Khi đang có điều kiện làm
quan, Nguyễn Thiếp lại bỏ về ở ẩn. Ông đợc Chúa Trịnh mời ra làm quan
khi đà ngoài 60 tuổi. Sau ba lần khớc từ Nguyễn Thiếp lại hợp tác với Tây
Sơn vốn bị coi là ngụy triều. Theo lẽ thờng, những cách hành xử đó không
đợc đề cao trong xà hội đơng thời, tuy nhiên Nguyễn Thiếp vẫn đợc tôn xng
là phu tử (nghĩa là bậc thầy của thiên hạ). Thơ văn của một tác giả nh vậy
rất đáng đợc nghiên cứu.
1.2. Nguyễn Thiếp sống trong thời kỳ lịch sử có những biến động dữ
dội ảnh hởng mạnh mẽ đến t tởng tình cảm nhà thơ. Nghiên cứu thơ ông sẽ
hiểu thêm về đời sống tinh thần của Nho sĩ, của thời đại đầy biến động và
góp phần nhận thức văn học đơng thời.
1.3. Nguyễn Thiếp đợc tôn xng là La Sơn phu tử nghĩa là đợc coi nh
một mẫu ngời điển hình của nhà nho Việt Nam. Vì vậy nghiên cứu thơ ông
không chỉ hiểu về thơ một tác giả mà còn góp phần hiểu thêm về thơ của
nhà nho Việt Nam nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp, đầu tiên phải kể đến
công trình La Sơn phu tử của Hoàng Xuân HÃn. Đây là một công trình
nghiên cứu khá đầy đủ và tỉ mỉ về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Thiếp.
Tác giả ®· tiÕp cËn ®ỵc víi nhiỊu ngn t liƯu gèc. Trong công trình này có
thơ văn chữ Hán của Nguyễn Thiếp đợc dịch, tuy nhiên cách bố cục và sắp
xếp thời gian cũng nh cách đánh số các bài thơ không thống nhất. Đây là
công trình rất có giá trị trong việc nghiên cứu về Nguyễn Thiếp.
Công trình La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp của tác giả Nguyễn Sỹ Cẩn
(Nxb nghệ An, 1998) cũng bàn đến sự nghiệp thơ của Nguyễn Thiếp. Công
trình này có bổ sung một số tài liệu mới đợc phát hiện.
2
Công trình Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp ba bậc thầy
của nền giáo dục Việt Nam của Trần Lê Sáng (Nxb Giáo dục, 1990) nêu
những đóng góp của Nguyễn Thiếp trên lĩnh vực giáo dục cùng những bổ sung
về các giai thoại trong dân gian về Nguyễn Thiếp còn lu lại đến ngày nay.
Trong Lịch sử xà Nam Kim, (Nxb Nghệ An, 2003), tác giả Phạm Hồng
Phong đà viết về vùng đất có thể coi là quê hơng thứ hai của Nguyễn Thiếp.
Nơi ông gắn bó những năm tháng cuộc đời và là nơi yên nghỉ vĩnh hằng của
nhà thơ này.
Ngoài ra còn có nhiều công trình về Nguyễn Thiếp đợc đăng tải trên
một số sách báo hay tạp chí nh:
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá
Thế (1992), Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh.
Hồ sơ di tích và danh thắng (1993), Mộ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp,
Sở văn hóa và thông tin Nghệ An.
Hồ sơ di tích lịch sử danh nhân (1993), Đền thờ La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp, Sở văn hóa và thông tin Hà Tĩnh.
Nghệ An ký, Bùi Dơng Lịch (1993), Nxb Khoa học XÃ hội, Hà Nội.
Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, Nguyễn Lơng Bích, Phạm
Ngọc Phụng (1996), Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội.
Lịch sử và văn hóa Việt Nam những gơng mặt trí thức (tập 1), Nguyễn
Quang Ân (1998), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Danh nhân Hà Tĩnh tập I, Nhiều tác giả (1998), Sở Văn hoá Thông
tin Hà Tĩnh.
Nam Đàn xa và nay, Nhiều tác giả (2000), Nxb Văn hóa Thông tin.
Danh tíng ViƯt Nam (tËp 3) – Danh t Danh tớng trong chiến tranh nông dân
thế kỷ XVIII và phong trào Tây Sơn, Nguyễn Khắc Thuần (2001), Nxb Giáo
dục.
Bản sắc văn hóa của ngời Nghệ Tĩnh, Nguyễn Nhà Bản (2001), Nxb
NghÖ An.
3
Tạp chí văn hóa Hà Tĩnh, số 64-65, tháng 11 và 12 năm 2003.
Can Lộc một vùng địa linh nhân kiệt, Nhiều tác giả (2005), Nxb Chính
trị quốc gia Hà Nội.
Nghệ An lịch sử và văn hoá, Ninh Viết Giao (2005), Nxb Nghệ An.
Nguyễn Huệ với Phợng Hoàng Trung Đô, Chu Trọng Huyến (2005),
Nxb Nghệ An.
Những công trình này chỉ giới thiệu sơ lợc về danh nhân Nguyễn Thiếp
hay bàn luận về việc Nguyễn Thiếp cộng tác với Tây Sơn.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những bài thơ chữ Hán của La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp đà đợc dịch ra tiếng Việt và đợc công bố rộng rÃi.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu thơ chữ Hán của La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp trong hai công trình: Thơ La S¬n phu tư Ngun ThiÕp cđa Ngun SÜ
CÈn (1998) do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành và công trình Tác phẩm đợc
tặng giải thởng Hồ Chí Minh (phần La Sơn phu tử) của tác giả Hoàng Xuân
HÃn (2003), Nhà xuất bản Khoa học XÃ hội.
4. Mục đích nghiên cứu
4.1. Khái quát những giá trị nổi bật nhất trong t tởng tình cảm của
Nguyễn Thiếp với lý tởng sự nghiệp
4.2. Nhận thức đợc tình cảm của nhà thơ dành cho mảnh đất và con
ngời Hoan Châu, ngày nay là Nghệ Tĩnh.
4.3. Làm rõ đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi luôn gắn chặt sự nghiệp thơ Nguyễn Thiếp với hoàn cảnh xà hội
Việt Nam đơng thời. Đây là thời kỳ xà héi ViƯt Nam cã nhiỊu biÕn ®éng lín, ý
thøc hƯ phong kiến và giới nho sĩ bộc lộ nhiều hạn chế. Trong hoàn cảnh đó
những trí thức có tài năng và lơng tri không thể chỉ hành xử theo các chuẩn mực
truyền thống.
Luận văn sử dụng những phơng pháp nghiên cứu văn học phổ biến nh
phơng pháp phân tích, phơng pháp tổng hợp... chú trọng phơng pháp lịch sử
và phơng pháp so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu những phơng diện cơ bản nhất của thơ chữ Hán
của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, nhìn nhận thơ chữ Hán của tác giả trong
4
mối liên hệ với các sự kiện của đời sống cá nhân thi sĩ và hoàn cảnh lịch sử
xà hội đơng thời.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn đợc trình
bày trong 3 chơng:
Chơng 1: Hình tợng trữ tình trong thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp
Chơng 2: Bức tranh đời sống trong thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp
Chơng 3: Nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp
Chơng 1
Hình tợng trữ tình trong thơ chữ Hán
của Nguyễn Thiếp
1.1. Khái niệm hình tợng nhân vật trữ tình
Hình tợng là sự phản ánh hiện thực bằng nghệ thuật với những hiện tợng cụ thể, sinh động và điển hình, đợc nhận thức bằng cảm tính. Hình tợng
văn học là bức tranh sinh động của cuộc sống đợc xây dựng bằng ngôn từ,
nhờ sự sáng tạo và đánh giá của ngời nghệ sĩ.
150 thuật ngữ văn học viết: Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ
thuật, nó mang tính ớc lệ, không thể bị đồng nhất với con ngời có thật, ngay
khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật
[5,250]. Tác giả đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tác thơ ca, là yếu tố
nằm ngoài hệ thống các mối liên hệ nghệ thuật. Còn con ngời trữ tình trong
5
thơ là một hình tợng nghệ thuật, đợc khái quát hãa theo quy lt cđa nghƯ
tht, kh¸c con ngêi t¸c giả ở ngoài đời.
Tác giả luôn để lại dấu ấn của mình, trong quá trình sáng tác. Dù có
vai trò rất quan trọng nhng tác giả vẫn là yếu tố nằm ngoài hệ thống các
mối liên hệ nghệ thuật. Hình tợng tác giả có mối quan hệ biện chứng với
hình tợng nhân vật trữ tình trong thơ, giữa chúng tồn tại một khoảng cách
giữa thực tế và sáng tạo, h cấu.
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Nhân vật trữ tình là hình tợng
chủ thể tác giả trong loại trữ tình mà thơ là thể loại biểu hiện tập trung nhất
của loại trữ tình. Nhân vật trữ tình trong thơ thực ra là hình tợng nhà thơ và
nhân vật trữ tình là con ngời đồng dạng của tác giả...nhng không nên đồng
nhất đơn giản nhân vật trữ tình với tác giả, bởi trong thơ trữ tình, nhà thơ xuất
hiện nh ngời đại diện cho xà hội và cho nhân loại nhà thơ tự nâng mình
lên một tầm khác với cái tôi tầm thờng cá biệt [20, 201].
Hình tợng nhân vật trữ tình là một kiểu hình tợng nhân vật đặc biệt
trong tác phẩm trữ tình và là một trong những phơng tiện nghệ thuật để tác
giả chiếm lĩnh hiện thực đời sống. Hình tợng nhân vật trữ tình đợc nhà thơ
xây dựng nên trong tác phẩm nhằm thể hiện quan niệm, t tởng, tình cảm
riêng về con ngời và thế giới. Hình tợng nhân vật trữ tình trong tác phẩm chủ
yếu đợc miêu tả qua cảm xúc, tâm trạng, qua sự suy ngẫm về bản thân và
đời sống. Vì thế, ngời đọc chỉ có thể hình dung ra hình tợng nhân vật trữ
tình thông qua cách nhìn nhận đời sống, qua giọng điệu, qua tâm trạng đợc
bộc lộ trong tác phẩm. Cảm xúc, tâm trạng nhân vật trữ tình chính là nội
dung tác phẩm trữ tình, phân tích tác phẩm trữ tình là phân tích cảm xúc, tâm
trạng của con ngời bộc lộ trong đó. Tâm trạng, cảm xúc của con ngời làm
thành nội dung cơ bản của tác phẩm trữ tình, điều ấy cho thấy tác phẩm văn
học nào cũng trực tiếp đi vào khám phá và bày tỏ cảm xúc, suy t của tác giả
về hiện thực cuộc sống. Đây không chỉ là cảm xúc riêng của cá nhân nhà thơ
mà là cảm xúc đợc kết tinh cao độ, mang tính đại diện và phổ quát cao.
Không nên đồng nhất hình tợng trữ tình với cái tôi trữ tình trong thơ.
Cái tôi trữ tình là sự thể hiện cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và
con ngời thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức
các phơng tiện của thơ trữ tình. Thơ là một thể loại mà ở đó tác giả trực tiếp
tự trình diễn mình thông qua thế giới nội tâm của chính mình. Cái tôi cùng với
thế giới tri giác bằng cảm giác, cảm xúc và ấn tợngbộc lộ một cách hoànbộc lộ một cách hoàn
toàn công khai hơn bất cứ ở thể loại nào [40, 128]. Cái tôi trữ tình không chỉ
6
là cái tôi nhà thơ, nó là cái tôi thứ hai hoặc cái tôi đợc khách thể hoá, đợc
thăng hoa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật. Cái tôi nhân cách (hay còn
gọi là cái tôi của nhà thơ trong cc sèng) lµ sù ý thøc vỊ con ngêi vµ cuộc
sống, tính cách riêng biệt của ngời này so với ngời khác. Trong đời sống,
cái tôi cá nhân có sự chi phối đến mọi hoạt động, lời nói, t tởng, tình cảm,
thái độ của ngời đó. Khi đi vào thơ ca, cái tôi nhân cách là nền tảng, là cốt
lõi để tạo nên cái riêng biệt, độc đáo của nhà thơ này so với nhà thơ khác.
Cái tôi cá nhân trong sáng tác của nhà thơ tạo nên đợc một thế giới nghệ
thuật riêng, một cái nhìn riêng về cuộc đời, gắn với một hệ thống phơng
thức, phơng tiện biểu hiện độc đáo.
Lý luận văn học của nhóm tác giả Trần Đình Sử, Phơng Lựu,
Nguyễn Xuân Nam đa ra cách hiểu cụ thể hơn về nhân vật trữ tình: Nhân
vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể nh nhân
vật tự sự và kịch. Nhung nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc,
trong cách cảm, cách nghĩ. Qua những trang thơ ta nh bắt gặp tâm hồn ngời, tấm lòng ngời. Đó chính là nhân vật trữ tình [38, 359].
Theo Lại Nguyên Ân trong công trình 150 thuật ngữ văn học, Nhân
vật trữ tình là kẻ song sinh đồng dạng với tác giả và quan hệ nhân thân
xà hội của nhà thơ một cá nhân có tiểu sử xác định với nhân vật trữ tình của
anh ta cũng giống nh quan hệ giữa nguyên mẫu trong đời thực với điển hình
nghệ thuật [5, 252].
Tác phẩm trữ tình làm sống dậy thế giới chủ thể của hiện thực khách
quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy t, tâm trạng, nỗi niềm.
Những tâm trạng, cảm xúc trong tác phẩm trữ tình đợc bộc lộ một cách trực
tiếp kiểu tự bạch, tự thuật. Và mặc dù những rung động, tình cảm này
đợc nảy sinh trong những hoàn cảnh có tính cá biệt, gắn liền với những đặc
điểm đời sống cá thể. Trong thơ, nhân vật trữ tình luôn cảm xúc thực tại
trên t cách phổ quát, động chạm đến những cái chung nhất của sự tồn tại
con ngời. Nói cách khác, đó là những cảm xúc mang tính kết tinh cao, do
vậy tiếng nói trữ tình có thể trở thành tiếng lòng thầm kín của con ngời.
Hình tợng nhân vật trữ tình là đối tợng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là
nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả.
Nhân vật trữ tình thờng hiện lên dới hai dạng thức, một là dạng tác
giả tự thuật tâm trạng, hai là con ngời tác giả nhập vai đối tợng miêu tả để
bày tỏ tâm trạng. Sự bày tỏ suy ngẫm và cảm xúc một cách trực tiếp, chân
7
thực, có độ tin cậy cao, khiến ngời đọc luôn tin vào nhân vật trữ tình nh một
con ngời có thực.
Trần Đình Sử nhận xét: Thực ra, thơ trữ tình đích thực thờng nói đến
những điều phổ quát của mọi tâm hồn, và điều đó đà làm cho mọi tâm hồn
tìm đến nhau [55, 165]. Trong tác phẩm trữ tình cũng có thể bắt gặp những
bức tranh thiên nhiên, những sự vật, sự việc trong đời sống và cả hình tợng
con ngời với những đờng nét tạo hình độc đáo. Tuy nhiên, tất cả những điều
đó chỉ nhằm phục tùng nhiệm vụ trữ tình. Nói cách khác, những bức tranh
thiên nhiên, những sự vật, hiện tợng và cả đờng nét tạo hình về con ngời ấy
chỉ đóng vai trò nguyên cớ để thổi bùng lên cảm xúc của tác giả.
Nội dung của tác phẩm trữ tình đợc thể hiện thông qua hình tợng
nhân vật trữ tình. Đó là hình tợng con ngời đang trực tiếp thổ lộ những suy
nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm [55, 184].
Tác phẩm văn học nào cũng chứa đựng những quan niệm, t tởng, tình
cảm riêng của nhà văn đối với con ngời và cuộc sống. Tuy nhiên, mỗi loại
tác phẩm có những phơng thức, phơng tiện biểu hiện khác nhau. Do nhu
cầu phản ¸nh hiƯn thùc ®êi sèng trong tÝnh kh¸ch quan cđa nó, nên trong
tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân
vật có đờng đi và số phận của chúng. Trong kịch, bằng đối thoại và độc
thoại, tác giả thể hiện tính cách và hành động con ngời thông qua những
mâu thuẫn xung đột. Tác phẩm trữ tình, đặc biệt thơ trữ tình trực tiếp đi vào
khám phá thế giới chủ quan của con ngời, trực tiếp thể hiện những t tởng,
tình cảm, tâm trạng, suy nghĩ của chủ thể trữ tình. Trong thơ trữ tình, hiện
thực khách quan đợc tái hiện thông qua lăng kính cảm xúc chủ quan của
nhà thơ.
Nh vậy, hình tợng nhân vật trữ tình là những bộ phận của hình tợng
cái tôi nghệ thuật, mà nhờ nó hình tợng cái tôi nghệ thuật đợc biểu hiện một
cách sinh động, sáng rõ, cụ thể hơn. Thông qua những cảm xúc vui, buồn,
giận hờn, hạnh phúc hay đắng cay của nhân vật trữ tình đợc lặp đi lặp lại
một cách bền vững và độc đáo mà tạo nên hình tợng trong hình tợng cái tôi
nghệ thuật. Nói cách khác, nhân vật trữ tình chính là sự khách quan hóa
hình tợng cái tôi trong thơ ca. Do đó khi đi vào nghiên cứu hình tợng nhân
vật trữ tình trong thơ thực chất đi vào nghiên cứu hình tợng cái tôi nghệ
thuật ở cấp độ nhỏ, cụ thể.
Hình tợng cái tôi nghệ thuật là hình tợng trung tâm trong tác phẩm
thơ. Nó chỉ những nét riêng biệt, sự độc đáo trong sáng tạo giữa nhà thơ này
8
với nhà thơ khác. Nghiên cứu nhân vật trữ tình thực chất là nghiên cứu hình
tợng cái tôi nghệ thuật trong những kết cấu văn bản cụ thể, gắn liền với
những hệ thống hình ảnh, hình tợng sinh động. Hình tợng thơ là bức tranh
sinh động và tơng đối hoàn chỉnh về cuộc sống đợc xây dựng bằng hệ thống
các đơn vị ngôn ngữ có vần điệu với trí tởng tợng sáng tạo và cách cảm
nhận của nhà thơ.
Hình tợng trữ tình không chỉ phụ thuộc vào thể loại mà trong mỗi thể
loại còn có dấu ấn của thời đại. Hình tợng trong thơ trung đại chịu ảnh hởng
của quan niệm về tự nhiên, xà hội và con ngời của đơng thời.
1.2. Hình tợng ẩn sĩ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Thiếp
1.2.1. Những phẩm chất phổ quát của hình tợng ẩn sĩ trong văn học
trung đại Trung Quốc
Trong xà hội Trung Quốc cổ đại và trung đại, thơ ca đà thâm nhập
rộng rÃi vào đời sống con ngời. Mỗi trí thức trớc hết là một thi nhân. Thơ ca
làm cho tâm hồn ngời thêm thanh khiết, giải toả đợc cả nỗi bất hoà của con
ngời với hiện thực đen tối của xà hội, làm xúc động bản tính lÃng mạn của
con ngời, làm cho họ vợt lên trên đời sống trần thế đầy những phức tạp, làm
cho ngời kết bạn với nhau, cao hơn nữa có thể trở thành tri kỷ, tri âm. Tình
bạn dựa trên thơ ca không phân biệt sang hèn, tuổi tác.
Lòng yêu thiên nhiên tràn trề trong thơ Trung Quốc là một di sản tinh
thần quan trọng, là một trong những cội nguồn sản sinh hồn thơ ẩn sĩ cùng
với một đời sống rất bình dị chốn thôn dÃ, không đua chen danh lợi. Thơ ẩn
sĩ phản ánh một cuộc sống lý tởng hài hoà với ngời lao động, hoà nhập với
thiên nhiên của ẩn sĩ.
Ngời ta đi ở ẩn ban đầu là do bất mÃn với thời cuộc không muốn sự
nhiễu nhơng đồi bại của xà hội làm vấy bẩn khí tiết, cốt cách thanh cao, lý
tởng sống và để bảo toàn sinh mệnh. Về sau, ẩn dật đợc xem là hành động
không ham công danh, không phụng sự quyền quý, đợc mọi ngời thừa nhận
là cao sĩ, vẻ vang hơn ngời làm quan [54, 108]. ẩn sĩ còn gọi là u nhân,
dật nhân, cao sĩ... ẩn sĩ là ngời có học vấn hữu danh mµ ë Èn” [2, 18], “lµ
ngêi vèn cã häc thức và tài năng nhng đau lòng về những đảo lộn chính trị
của thời đại bèn lánh khỏi xà hội để ẩn náu trong thiên nhiên [41, 53].
Tác phẩm ẩn sÜ Trung Hoa cđa Hµn TriƯu Kú (Cao Tù Thanh dịch
sang tiếng Việt, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001) đà cung cấp một cái nhìn
về đời sống của ẩn sĩ Trung Hoa khá toàn diện. Công trình nghiên cứu từ
nguồn gốc của ẩn sĩ, nguyên nhân ở ẩn, diện mạo muôn hình muôn vẻ của
ẩn sĩ, ẩn sĩ trong mối quan hệ với chính trị đơng thời, tình hình cơm ¸o, c
9
trú, quan hệ gia đình, xà hội của ẩn sĩ và sở thích ngao du sơn thủy, thởng
trà nếm rợu, dỡng sinh đặc biệt là năng khiếu nghệ thuật.
Theo lời ngời dịch tác giả đà bớc đầu phác họa một cách khá toàn
diện về diện mạo của đội ngũ ẩn sĩ suốt mấy ngàn năm ở Trung Quốc
[31, 09]. Lịch sử ẩn sĩ cũng lâu đời nh lịch sử quan lại với những con ngời
nh Sào Phủ, Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề, Vơng Nghệbộc lộ một cách hoàn họ là những bậc đại
danh, việc làm và khí tiết của họ đà trở thành những điển tích, điển cố, giai
thoại cho văn học đời sau.
Thế giới ẩn sĩ Trung Hoa muôn hình muôn vẻ với nhiều kiểu ẩn sĩ vì
nhiều lý do khác nhau, nguyên nhân ở ẩn phức tạp. Chung quy là các trờng
hợp sau : Chính trị hắc ám, thế đạo hỗn loạn; tránh loạn rời xa sự nguy hại,
để cầu sự an toàn của bản thân và gia đình; một số ngời ở quan trờng đÃ
nhiều lần lận đận, sau cùng đụng độ tới sứt đầu mẻ trán, lửa lòng nguội
lạnh; hoặc có kẻ vốn cha đụng độ, nhng vì ở quan trờng quá lâu, nhìn thấy
quá nhiều, vì thế sau cùng rời khỏi chốn thị phi, trở thành ẩn sĩ; tính tình
vốn đạm bạc, không màng danh lợi, không muốn chịu sự ràng buộc chốn
quan trờng hoặc yêu thiên nhiên sơn thuỷ. Tóm lại, muốn tiêu dao nhàn tản,
tự do tự tại; có tài thức, có chí tiến thủ công danh mÃnh liệt, nhng do cha
gặp cơ duyên nên đành tạm thời ẩn nhẫn; muốn trực tiếp cầu quan mà
chẳng đợc, bèn rẽ ngoặt sang đờng tắt Chung Nam.
Trong mối quan hệ với chính trị - xà hội đơng thời, các ẩn sĩ có
những cách hành xử khác nhau. Có thể khái quát thành hai loại: một loại
không hợp tác với chính trị - xà hội đơng thời và một loại hợp tác.
Kiểu ẩn sĩ không hợp tác với chính trị xà hội đơng thời là những ngời
không làm quan nớc loạn, không phục vụ dị tộc. Những ẩn sĩ này bộc lộ
một thái độ đối kháng mạnh mẽ với kẻ thống trị đơng thời. Kiên quyết rời
bỏ quan trờng, không nhận bổng lộc của kẻ thống trị, không chịu hòa mình
vào dòng đục của quan trờng đen tối [31, 50-51]. Cũng có ẩn sĩ vì lo nghĩ
về cục diện chính trị của triều đình, bất mÃn với chính sách của quốc gia,
tức dận bất bình với hệ thống bộ máy cầm quyền từ trung ơng đến địa phơng, nhng tự mình lại cảm thấy không đủ sức xoay chuyển thời thế nên
đành giữ minh triết bản thân [31, 53].
Hợp tác với chính trị - xà hội đơng thời là những ẩn sĩ không ở trong
quan trờng nhng lại là kẻ có thể giảm bớt phiền toái cho triều đình, hóa giải
kịp thời nhiều mâu thuẫn ở cấp cơ sở. Đây là những ẩn sĩ tài cao, đức trọng
chuyên dạy học, đóng cửa viết sách, tuyên tryền lối sống đạo đức, đề cao
10
trung hiếu tiết nghĩa của Nho gia. Đặc biệt có những ẩn sĩ lúc thời thế lâm
vào hoàn cảnh nguy cấp, tình thế lịch sử gay cấn đà trở thành quân s bày mu tính kế giúp đỡ kẻ thống trị. Song trong số những ẩn sĩ hợp tác với chính
trị xà hội đơng thời có kẻ mợn danh nghĩa ẩn sĩ để đi tắt vào đờng quan lộ.
Loại này rất xu phụ chính trị đơng thời.
Đời sống kinh tế cđa Èn sÜ cịng cã kh¸c nhau : cã ngêi nghèo khổ, có
ngời d dả, không lo lắng cơm áo. Tuy nhiên, với hạng ẩn sĩ nghèo khổ, họ
chấp nhận an bần lạc đạo, nghèo khó nhng trong sạch thanh cao, a thích
tự nhiên, không ham danh lợi. Với ẩn sĩ có đời sống khá giả, tuy sống một
đời vô u, phóng khoáng nhng không tỏ ra xa hoa, lÃng phí; họ đợc nhiều ngòi
quý trọng không phải vì họ giàu sang mà vì thông đạt, tự tại an nhiên; tháng
ngày trôi qua đối với họ là tháng ngày tiêu dao, đọc sách ngâm thơ, đánh
đàn, uống rợu, đi đó đây để thởng ngoạn cảnh đẹp của núi sông, trời nớc
hoặc vui cùng mảnh vờn, miếng ruộng, luống hoa chậu cảnh.
Trong các mặt nh hoạt động của đời sống tinh thần nh ngao du sơn
thuỷ, ứng xử với thơ, với trà, với rợu, với học thuật và nghệ thuật, với việc
dỡng sinh, các ẩn sĩ Trung Hoa cũng đà để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp của một
đời sống phong phú tích cực, có giá trị cho việc đối sánh giữa ẩn sĩ Trung
Hoa và ẩn sĩ Việt Nam.
Điều đáng nói ở đây là những ẩn sĩ có cống hiến rất lớn trong sự
nghiệp văn học. Các tác phẩm của họ là những ký thác, dòng tâm t, nỗi đau
đờibộc lộ một cách hoàn Không chỉ dừng lại ở những xúc cảm mà các tác phẩm của nhiều
trong số các ẩn sĩ đà có giá trị nghệ thuật cao đợc coi là một di sản văn hóa
quan trọng.
ẩn sĩ Trung Hoa có rất nhiều diện mạo, có những mặt đáng ngợi ca
và cũng có những điều cần phê phán. Nhng trên hết vẫn là những cái đẹp về
một lối sống, cách hành xử, sự xuất chúng về tài năng, trí tuệ mÃi còn đợc
ngợi ca.
1.2.2. Những phẩm chất phổ quát của hình tợng ẩn sĩ trong văn học
trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam lu danh khá nhiều hình tợng ẩn sĩ. Vì chịu
ảnh hởng sâu sắc từ nền văn hóa Trung Hoa nên hình tợng ẩn sĩ trong văn học
trung đại Việt Nam cũng có nhiều điểm tơng đồng, bên cạnh đó cũng có
những điểm riêng biệt do đặc thù lịch sử và truyền thống văn hoá.
Văn học trung đại Việt Nam có rất ít kiểu ẩn sÜ tiªu cùc nh Èn sÜ
Trung Hoa (kiĨu Èn sÜ lời biếng, ăn hang ở lỗ, ăn mày ăn xin, bộ dạng nh
ngời điên). ẩn sĩ Việt Nam trung đại đa phần là lớp ngời có tri thức và tinh
11
thần yêu nớc. Họ thờng lui về ở ẩn khi gặp hoàn cảnh bất đắc chí, loạn li,
giai cấp thống trị chuyên quyền sa đọa, mục nátbộc lộ một cách hoàn Những lý t ởng sống cao
đẹp không có khả năng thực hiện, họ tìm đến cuộc sống ẩn dật tìm về với
thiên nhiên lánh đục, minh triết bảo thân. Loại ẩn sĩ này vừa tích cực vừa
tiêu cực, một mặt vừa thể hiện phơng châm xử thế độc thiện kỳ nhân của
Nho giáo, vừa thể hiện triết lý xuất thế của Phật, LÃo, nhng không hoàn
toàn quên đời [38, 567].
Sống đời ẩn sĩ không phải là sự sáng tạo, là một phát minh mới mẻ
của nhà nho Việt Nam nào mà là một ứng xử khá phổ biến trớc thực tại bế
tắc. Đó là một sự hòa hoÃn với hiện thực đen tối của xà hội để giữ đạo. ẩn sĩ
Việt Nam chọn lối sống nhàn nhng không biếng nhác. Họ thờng sống đời
nhàn dật nơi thôn dà và lấy đó làm vui. Họ vui với niềm vui thật bình dị hồn
nhiên, trong sáng, vui với đời sống lao động ở nông thôn, vui với hoa, rợu
nhng không đắm mình trong hoa trong rợu, say nhng không chìm đắm mà để
tiêu sầu; để ngắm nhìn nhân thế, để thấy đời nh giấc mộng, phú quý tựa
chiêm bao. Họ chán chờng thế sự nhng không quên trung với vua, không
quên nỗi thơng nớc lo đời, luôn mong có một đấng minh quân để tôn thờ, để
đem tài lơng đống phục vụ nhân dân, phục vụ đất nớc.
Trần Đình Hợu trong công trình Đến hiện đại từ truyền thống có viết:
Nho giáo trang bị cho mỗi nhà nho một quan niệm thế giới, một phơng pháp
suy nghĩ, một quan niệm làm ngời. Mục đích cả cuộc đời họ là học, thi đỗ,
làm quan. Đó là con đờng duy nhất trong xà hội phong kiến nớc ta trớc đây
làm cho họ thỏa mÃn đợc ớc mong, nói một cách văn hoa, lý tởng là an dân,
giúp vua, mà nói một cách thật thà là no ấm, vinh hoa, phú quý. Thái độ của
nhà nho đối với cuộc đời là tích cực, hữu vi nhng đối với ngời cầm quyền họ
lại không nhập cuộc gắn bó hoàn toàn. ở vị trí tầng lớp trung gian, họ xử sự
theo phơng châm dụng nhi tắc hành, xả chi tắc tàng - vua dùng thì đem
đạo ra hành, vua bỏ không dùng thì cất giấu cho mình. Quan niệm hành tàng,
xuất xử đó làm cho nhà Nho thành hai mẫu ngời: hành đạo và ẩn dật. Hành
đạo và ẩn dật vốn là hai mặt không thể tách rời trong mỗi nhà nho: nhập thế
mà vẫn xấu hổ, xấu hổ vì tham luyến công danh, xuất thế mà vẫn băn khoăn
vì không làm tròn trách nhiệm.
Điểm lại các nhà nho trong lịch sử và văn học dân tộc ta có thể kể tên
các ẩn sĩ nổi tiếng nh: Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Trần Quang Triều,
Hồ Tông Thốc, Nguyễn TrÃi, Nguyễn Hàng, Nguyễn Dữ, Nguyễn Bỉnh
12
Khiêm, Nguyễn Khuyến. Chân dung của các ẩn sĩ đó cho ta cái nhìn tổng
quan về những ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.
Chu Văn An là ngời chính trực, đà từng đỗ Thái học sinh nhng không
ra làm quan, mà mở trờng dạy học. Ông có công lớn trong việc truyền bá,
giáo dục t tởng đạo đức Khổng giáo vào Việt Nam.
Đời vua Dụ Tông quần thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất
trảm sớ xin chém bảy tên gian thần nhng vua không nghe. Ông chán nản từ
quan về ở núi Phợng Hoàng (Chí Linh- Hải Dơng), dạy học, viết sách. Ông
để lại cho lịch sử văn học dân tộc hai tập thơ biểu lộ t tởng tình cảm của ẩn
sĩ : Tiều ẩn thi tập và Tiều ẩn quốc ngữ thi tập. Hai tập thơ này đến nay
không còn, chỉ còn 12 bài trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Cuộc
đời thanh bạch tiết tháo của ông là tấm gơng sáng của thời phong kiến. Ông
là một trong số ít bậc thánh hiền nho đợc thờ ở Văn Miếu. Có câu đối thờ
ông :
Trần văn thử hà thời, dục vịnh đại phi hiền giả lạc,
Phợng sơn tồn ẩn xứ, trĩ lu trờng ngỡng triết nhân phong.
(Cuối đời Trần là thời nào, ngâm vịnh rong chơi há chẳng phải là thú
vui của bậc hiền giả,
Núi Phợng vẫn còn dấu vết ở ẩn, đỉnh non vẫn mÃi mÃi ngỡng mộ
phong thái kẻ triết nhân.)
Trần Nguyên Đán, hiệu là Băng Hồ, dòng dõi nhà Trần, đà giữ chức
quan dới đời Trần Dụ Tông, sau đó từ quan về ở ẩn. Năm 1307 ông lại ra
giúp Trần Nghệ Tông dẹp loạn Dơng Nhật Lễ, sau đó đợc phong chức T đồ
coi ngang hàng với tể tớng. Ông can ngăn Trần Nghệ Tông trong việc giao
hết binh quyền cho Hồ Quý Ly nhiều lần không đợc, bèn xin thôi quan về
Côn Sơn ở ẩn. Tâm sự khi về quê ở ẩn là nỗi niềm lo nớc thơng đời. Ông
cảm thấy xót xa thân phận, nhiều đêm không ngủ, sách vở thánh hiền đọc
nhiều nhng chẳng đủ tài sức giúp dân, giúp nớc. Nếu thơ Chu An thể hiện
niềm cảm khái trớc tình trạng suy vi của triều đại nhà Trần hồi cuối thế kỷ
XIV thì thơ Trần Nguyên Đán phản ánh rõ tình trạng khủng hoảng của xÃ
hội phong kiến khi ấy [28, 108]. Bài thơ Nhâm Dần lục nguyệt tác viết về
tình trạng đó:
Niên lai hạ hạn hữu thu lâm,
Hòa cảo miêu thơng hại chuyển thâm.
Tam vạn quyển th vô dụng xứ,
Bạch đầu không phụ ái dân tâm.
Dịch nghĩa: Mấy năm liền mùa hè bị hạn, mïa thu bÞ lơt,
13
Lúa khô mạ thổi tai hại rất nhiều.
Đọc ba vạn sách mà thành vô dụng,
Đầu bạc tuổi già rồi, luống phụ lòng yêu dân.
(Thơ làm ngày tháng sáu năm Nhâm Dần)
Cháu ngoại của Trần Nguyên Đán là Nguyễn TrÃi làm quan với nhà
Hậu Lê về sau cũng ở ẩn. Nguyễn TrÃi không tu phật, tu tiên để thành phật
thành tiên, xa lánh cõi đời, ông không là cao sĩ nhất định giấu mình để độc
thiện kỳ thân, ông là một ngời trí thức Việt Nam yêu nớc thơng dân, chỉ
muốn cứu nớc yên dân, nhng trí tuệ thật rộng mở, đón nhận ánh sáng từ bốn
phơng để làm cho lòng yêu nớc thuơng dân của mình càng sáng rỡ, càng
cao vót, và trong quan niệm nhân sinh của mình, phong cách sống của
mình, vừa làm việc hết mình cho dân cho nớc, nhng lòng bao giờ cũng sạch,
nhẹ nh kẻ xuất gia, không hề nặng danh lợi của kiếp trần, mà cũng vừa biết
sống lành mạnh, vui tơi, giữa cuộc sống nông thôn lao động, với mọi cảnh
vật thiên nhiên. Không hiểu lòng thơm của ông nh vậy, thì ông đang sống
ẩn tại Côn Sơn, mà đợc vời ra làm việc trở lại, cái vui mừmg hớn hở nh trút
đợc gánh nặng nghìn đời, cái vui mừng tởng nh làm ngời ta trẻ lại, cái hớn
hở gần nh vồ vập ở con ngời ngoài sáu mơi lấy gì mà cắt nghĩa đợc? [71,
65].
Việc về Côn Sơn quy ẩn của øc Trai lµ sù kÕ thõa tinh hoa cđa Nho
häc trong một vấn đề nhân sinh cơ bản: Xuất thế, nhập thế. Với Nguyễn
TrÃi, giữa hồn thơ quy ẩn và con ngêi thËt cha cã sù thèng nhÊt cao ngay cả
khi ông về ở ẩn, đó cũng là một cách ẩn đặc biệt, điển hình, không có sự
nhẹ nhõm, h tâm, không có sự an bần lạc đạo, độc thiện kỳ thân, mà luôn
trăn trở, bồn chồn, khắc khoải vì đất nớc, vì cật chng hồ hải đặt cha an.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho nhập thế hành đạo, mang tấm
lòng tiên u đến già cha thôi. Nhng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là một ngời nhàn dật, một c sÜ cao khiÕt”, víi “hai quan niƯm, hai c¸ch sèng đối lập
nhau đà hội tụ tạo nên một nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhân cách
đa dạng, phong phú, khác ngời nhng nhất quán. Theo đánh giá của Trờng
Chinh, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những thiên tài, một trong những
ngôi sao sáng nhất trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi [9,
34].
Thế kỷ XVI còn có Nguyễn Dữ là bậc ẩn sĩ cuối đời Hồng Đức, đọc
rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tởng lấy văn chơng nối nghiệp nhà. Khi thi
14
cử đỗ đạt, ra làm quan đợc bổ làm tri huyện, nhng chỉ đợc một năm do bất
mÃn với thời cc, viƯn cí nu«i mĐ tõ quan vỊ ë Èn.
Trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đà bộc lộ rõ t tởng
ẩn dật của mình thông qua nhân vật ngời tiều phu núi Na : ta là kẻ dật dân
trốn đời, ông lÃo già lánh bụi, gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinh
nhai trong búa gió rìu trăng; ngày có lối vào làng say, cửa vắng vết chân
khách tục, bạn cùng ta là hơu nai tôm cá, quẩn bên ta là tuyết gió trăng hoa;
chỉ biết đông kép hè đơn, nằm mây mà ngủ khói, múc khe mà uống, bới núi
mà ăn [60, 139].
Nguyễn Công Trứ là một nhà nho thành đạt, thỏa chí nam nhi, tài
hoa và tài tử, có cuộc đời làm quan với bao nỗi thăng trầm. Chất ẩn sĩ của
Nguyễn Công Trứ thể hiện ở những bài thơ ca ngợi cuộc sống ngoài vòng cơng tỏa, đậm màu tài tử , bất cần đời, ngông nghênh thỏa chí vì một ngời
luôn tự hào về tài năng của mình và sống theo những sở thích của bản thân
nh vậy thì làm sao trọn đợc đạo vua tôi, bởi những đạo lý ấy luôn đòi hỏi sự
hi sinh vô điều kiện, đến mức quân sử thần tử, thần bất tử bất trung [66,
119].
Nguyễn Khuyến, là ngời mang ơn sâu nặng của chế độ xà hội đÃ
đào tạo và tôn vinh mình và đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang cũng
là lúc nhận ra mặt trái đen tối của xà hội mà mình nguyện đem hết sức
mình ra phụng sự tôn thờ [58, 12]. Trên hoạn lộ, Nguyễn Khuyến là ngời
thành đạt, công danh phú quý đà trải qua. Là một nhà nho có phẩm hạnh,
thời thế không cho phép ông trí quân trạch dân. Vua bấy giờ là bù nhìn,
tay sai của thực dân Pháp, nhân dân trong cảnh nớc mất lâm vào cảnh lầm
than. Sở đắc không dụng đợc thì tốt nhất là dừng chân hoạn lộ, buông bỏ
mà quay về. Nguyễn Khuyến chọn con đờng của Đào Uyên Minh, hy vọng
làm một ẩn sĩ để giữ trọn tiết sạch giá trong [3, 292], những ngày tháng
nơi quê nhà là những năm tháng ông tiếp tục góp phần làm rạng rỡ nền văn
học dân tộc. Nguyễn Khuyến là một mẫu ẩn sĩ đẹp đẽ nhng đó cũng là ngời ẩn sÜ ci cïng cã thĨ cã” [14, 40].
“Khi nhµ nho ẩn dật đà trở nên một định hớng tồn tại độc lập, văn chơng ẩn dật trở thành bộ phận của văn chơng nho giáo. Khác với sáng tác
của các nhà nho hành đạo, sáng tác của ngời ẩn dật không bị ràng buộc vào
yêu cầu giữa giáo hóa trực tiếp. Cũng vẫn chịu sự chi phối của những quan
điểm văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí, tuy nhiên ở ngời ẩn dật chí lại
thờng đồng nghĩa với bất đắc chí và chính vì thế ta tìm thấy ở hä nh÷ng
15
tâm sự, những cảm xúc thành thực hơn mang sắc thái chiêm nghiệm của
con ngời cá nhân một cách rõ ràng hơn [67, 68].
Những phẩm chất phổ quát về hình tợng ẩn sĩ trong văn học trung đại
Trung Quốc và Việt Nam có những nét tơng đồng nhng đồng thời cũng có
những điểm khác biệt. Song điều đọng lại cuối cùng là hình ảnh đẹp đẽ của
hình tợng ẩn sĩ, những ngời trốn đời, lánh bụi.
1.2.3. Những phẩm chất đặc thù của hình tợng ẩn sĩ trong thơ chữ Hán
của Nguyễn Thiếp
Hình tợng ẩn sĩ là hình tợng văn học đợc xây dựng trên nguyên mẫu
là ngời sống ẩn dật, lánh đời do bất mÃn với thời thế. Điều này thể hiện rõ
trong các sáng tác thơ văn của các ẩn sĩ. Những bài thơ, những trang văn là
những tâm sự, suy nghĩ, cách nhìn cuộc đời của ẩn sĩ. Nó là hình ảnh phản
chiếu con ngời ẩn sĩ.
Nguyễn Thiếp (1723 - 1804), ngêi con cđa x· Ngut Ao, tỉng Lai
Thạch, huyện La Sơn (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi từ
quan về ở ẩn gần núi Lạp Phong, ông lấy hiệu là Lạp Phong c sĩ. Nguyễn
Thiếp ở am đặt trên núi Bùi Phong nên còn cã hiƯu lµ Bïi Phong c sÜ. Tõ
quan vỊ ë ẩn, Nguyễn Thiếp tự gọi mình là Cuồng ẩn hay Điên ẩn. Ông xng
hô khiêm tốn nh thế là để giấu đi thân phận thật của mình.
Nguyễn Thiếp còn có hiệu là Hạnh Am. Tập thi văn của ông còn đợc
gọi Hạnh Am thi cảo và ngời đời gọi ông là Hạnh Am tiên sinh. Ngọn núi
Nguyễn Thiếp ở ẩn nằm cạnh thành Lục Niên của Lê Lợi dùng để chống
quân Minh, vì thế ngời ta thờng gọi nhà thơ là Lục Niên tiên sinh hay Hầu
Lục Niên. Lúc tiếng tăm của Nguyễn Thiếp nổi khắp thiên hạ. Ngời ta tôn
xng ông là La Giang phu tử (La Giang là tên huyện của quê Nguyễn Thiếp
đời chúa Trịnh Giang). Khi Ngun H viÕt th mêi Ngun ThiÕp ra gióp
m×nh gäi cụ là La Sơn phu tử (phu tử quê huyện La Sơn). Nguyễn Huệ tặng
Nguyễn Thiếp hiệu La Sơn tiên sinh. Còn Nguyến Thiếp tự xng là Khải
Xuyên khi viết th trả lời Nguyễn Huệ.
Có nhiều ngời lấy tên làng mà gọi Nguyễn Thiếp là Nguyệt Ao tiên sinh.
Tên gọi nào cũng thể hiện sự tôn kính, ngỡng mộ tài năng, đức độ của ngời đơng thời dành cho Nguyễn Thiếp. Từ điển nhân vật xứ Nghệ Ninh Viết Giao
viết: Đơng thời và cả sau này vẫn trọng vọng ông là ngời học rộng hiểu sâu óc
chứa kinh luân mang tài kinh tế, thờng ngâm nga câu:
Văn chơng ta chẳng gặp thời, bốn dân trăm họ suốt đời nghèo xơ
[17, 458].
16
Song đó chỉ là cách nói khiêm tốn của bậc cao nhân. Nguyễn Thiếp là
ngời nổi tiếng thông minh, lại từng trải, theo học nhiều thầy lỗi lạc. Thơ văn
gắn bó với Nguyễn Thiếp nh một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Đọc
thơ ông ta thấy rõ một hình tợng ẩn sĩ thanh cao mà giản dị gần gũi.
Nguyễn Thiếp từ bỏ con đờng quan lộ đầy hứa hẹn, khi mà mới hai
mơi tuổi thi lần đầu đà đậu Hơng giải. Thật bất thờng khi phút chốc bỗng
từ bỏ ®êng cư nghiƯp, quay sang theo chÝ Èn dËt. “Nh÷ng thập niên loạn lạc,
mối rờng đổ nát ở thế kỷ XVIII đà chặn đứng khát vọng kinh bang tế thế
của Nguyễn Thiếp. Và nỗi thất vọng hiền minh về hiện thực đà đa ông đến
quyết định khó khăn: từ bỏ con đờng cử nghiệp để làm một ẩn sĩ [32, 19].
Trong Hạnh Am ký, Nguyễn Thiếp bộc bạch rằng vì bệnh cũ nên
phải tự bỏ, từ biệt việc đời mà ẩn trong rừng núi, kẻo sợ bệnh không thôi
hẳn [21, 466]. Đi ở ẩn, để lại cho đời một phong cách sống, bản lĩnh sống
đầy khí tiết nhà nho thì đó là một việc làm cho đạo nghĩa muôn đời. Tinh
thần xuất thế mà nhập thế là ở đó, tích cực của ẩn sĩ cũng là ở đó. Chẳng
hơn thời loạn, mang tâm ng khuyển mà phục vụ cho hôn quân vô đạo để
chuốc lấy ô nhục muôn đời. Ham muốn, dục vọng, vinh thân phì gia, giàu
sang phú quý, danh väng chèn quan trêng chØ nhÊt thêi ®Ĩ råi mai một, để
rồi nát với cỏ cây quả không sánh đợc với việc làm ẩn sĩ, sống đúng với đạo
lý nho gia. Con ngời tự do, tự tại chính là con ngời La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp trong những ngày ẩn dật ở Hạnh am.
Bài thơ Sĩ các hữu chí cho ta hiểu đợc phần nào lẽ xuất xử của
Nguyễn Thiếp :
Đa thiểu anh hùng sản vực trung,
Kỳ vi chí dà bất tơng đồng.
Xuất t kiêm thiện công quang thế,
Xử tất thâm tàng đạo tuẫn cung.
Mục DÃ nhất nhung khai đại nghiệp,
Lô Sơn ngũ liễu kích thanh phong.
Thời tai thân khuất phơng vi chính,
Thị đạo d tơng miễn dụng công.
Dịch thơ: Trong cõi anh hùng sinh lắm kẻ,
Mỗi ngời một chí phải đâu chung.
Ngời ra đức cả công lừng thế,
Kẻ ẩn danh cao đạo thuận lòng.
Mục DÃ mảnh nhng gây đại nghiệp,
Lô Sơn chồi liễu nổi thanh phong.
17
Tùy thời co duỗi âu là phải,
Đạo ấy ta đây rắp gắng công.
(Kẻ sĩ mỗi ngời một chí hớng)
Nguyễn Thiếp ®· nãi râ chÝ híng cđa ngêi anh hïng trong thiên hạ.
Ngời thỏa chí nam nhi vẫy vùng phải có danh gì với núi sông, kẻ lui về
giữ tấm lòng trong sạch không nhuốm bụi trần, tránh chốn thị phi, tranh
giành đấu đá. Đó là nơi Chu Võ Vơng dấy binh (Mục DÃ) đánh bại vua Trụ
bạo ngợc lập nên đại nghiệp, tỏ mặt nam nhi. Hay chọn con đờng chốn Lô
Sơn nơi Đào Tiềm ở ẩn, trồng năm cây liễu trong vờn tự xng là Ngũ liễu
tiên sinh.
Đối với Nguyễn Thiếp, cách sống không phải là khuôn mẫu, phải tùy
thời cuộc yên - loạn tùy thời mà co duỗi. Xuất xử - ra làm quan hay
không ra làm quan vốn là một vấn đề lớn thờng làm các nhà Nho băn
khoăn, suy nghĩ. Nó không chỉ là chuyện quyết định nhận hay không nhận
một chức vụ mà là lựa chọn một thái độ sống [24, 204]. Nguyện ớc đạo
ấy ta đây rắp gắng công chứng tỏ Nguyễn Thiếp có cái nhìn không cực
đoan về lẽ xuất xử. Nếu gặp thời, gặp minh quân sẽ hết lòng phò tá xây
nghiệp lớn, phải buổi loạn li, thời thế nhiễu nhơng nên ẩn mình giữ trọn tiết
tháo. Lẽ sống này thể hiện râ trong viƯc Ngun ThiÕp tõ quan ë Èn lóc bốn
phơng bất ổn, cơ đồ bị xâu xé trong tay cả một bè lũ chuyên quyền sa, sa
đọa. Nhng rồi ông hợp tác với Tây Sơn, một lực lợng chính trị tiến bộ vì lợi
ích của dân bấy giờ để ®ỵc cèng hiÕn gióp ®êi.
Bá nghiƯp khoa cư, Ngun ThiÕp bớc vào vui thú lâm tuyền. Ông
ngao du sơn thủy khoảng năm năm núi sông miền Nam Châu, dấu chân có
gần khắp.
Vùng Hồng Lam với nhiều danh thắng làm say lòng du khách, nơi có
nhiều núi non hùng vĩ, đền đài, thành lũy, chiến trận xa khiến Nguyễn
Thiếp tới đâu cũng có thơ đề vịnh. Trèo lên núi Nghĩa Liệt ngắm cảnh:
Liệt sơn sơn thợng tối cao phong,
Tứ cố vân yên nhập vọng trung.
Anh Quốc thành hoang phơng thảo lục,
Nghĩa Vơng kiều tại tịch dơng lầu.
Dịch thơ: Liệt Sơn chót vót, đứng cao trông,
Bốn mặt mây bao, thấy mịt mùng.
Anh Quốc thành hoang, làn cỏ biếc,
Nghĩa Vơng cầu cũ, ánh chiỊu hång.
(Lªn nói NghÜa LiƯt)
18
Cảnh sắc phong cảnh làm ngời du khách luống ngâm ngùi. Một vẻ đẹp
trầm buồn trong ánh chiều chạy dài trên thành hoang, cỏ biếc.
Bao nhiêu cảnh đẹp bấy nhiêu cảm xúc, nỗi xúc động về sự trôi chảy
của thời gian. Lên đỉnh Hồng Lĩnh viếng cảnh chùa Hơng, đến núi Gia
Hanh ghé thăm nhà cũ Hoàng Dật Danh t một kẻ tài hoa, đức hạnh, hiềm nỗi
không gặp thêi, tøc chÝ tõ quan. NgËm ngïi ngêi mµ ngÉm việc mình.
Việc ngao du sơn thủy, thởng lÃm danh lam thắng cảnh đà giúp cho
Nguyễn Thiếp sự chiêm nghiệm về thế thái nhân tình, và quyết định dứt khoát
về việc là một ẩn sĩ. Hơn nữa việc trải nghiệm này, sống giữa không gian vũ trụ
bao la làm cho con ngời không chỉ cảm thấy mình trong vũ trụ mà còn cảm
thấy trong con ngời mình có cả vũ trụ [63, 66].
Cã ý kiÕn cho r»ng “NguyÔn ThiÕp sèng Èn dật mà thơ ông không có
tính chất ẩn dật mấy [45, 95], nhng đọc thơ Nguyễn Thiếp ta thấy rõ chÝ híng Èn dËt, c¶m høng Èn dËt thÊm thÝa trong thơ ông.
Chí hớng ẩn dật của Nguyễn Thiếp lộ rõ ở việc ông chọn núi Bùi
Phong nơi có gềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu. Núi trồng cây đợc, khe đánh cá đợc, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ giữ. Ta mừng thay! Muốn
chọn đất này để ở [21, 510].
Sau 13 năm lu lạc chốn quan trờng, lấy cớ tuổi cao sức yếu, năm Mậu
Tuất (1786), Nguyễn Thiếp cáo quan về nhà, mà lòng nhẹ nhõm:
Diện tiền nguyên hữu địa,
Tâm ngoại cách vô thiên.
Dịch thơ: Trớc mắt có đất rộng,
Ngoài tâm không gì hơn.
(Đợc nghỉ việc)
Trớc mắt nhà thơ không còn công danh bổng lộc nhng đổi lại, là tự do, là
sự nhẹ nhõm, thanh thản của kẻ trợng phu khỏi phải thấy cảnh đấu đá, tranh
dành quyền lực.
Hai năm sau khi từ quan, Nguyễn Thiếp chính thức bắt đầu cuộc sống
ẩn dật. Ông mang theo cả gia quyến lên núi, ngày ngày cùng các con lập
trại khai hoang trồng trọt. Cuộc sống trên núi vất vả, nghèo nàn nhng
Nguyễn Thiếp vẫn duy trì lối sống thanh tao của một bậc danh nho. Trên
nhà ông ở có vọng Vân Đình (Đình ngắm mây), có Giới Thạch Trai (nhà đá
vững), có Thận Tật am (am dỡng bệnh). Ông tự xng là Cuồng ẩn. Trong
nhà có thờ Khảo Đình tiên sinh, tức Chu Hy, một vị Tống nho có công lớn
về truyền bá đạo Khổng. Sĩ phu trong nớc gọi Nguyễn Thiếp là Hầu Lục
Niên hay Lục Niên tiªn sinh.
19
Hình tợng ẩn sĩ trực tiếp bộc lộ qua việc cảm hứng trớc thiên nhiên tơi
đẹp, tức cảnh sinh tình, giÃi bày những tâm sự của kẻ lánh bụi trần. Trong
Đăng nghĩa Liệt Sơn Nguyễn Thiếp bộc bạch:
Nhân lai nhân khứ phi trần ngoại,
Thuỳ thị thuỳ phi thệ thuỷ đông.
Tảo v·n phi mao thµnh tiĨu Èn,
M·n giang minh ngut nhÊt phàm phong.
Dịch thơ: Kìa ngời qua lại đờng không bụi,
Mặc kẻ hay chăng nớc thuận dòng.
Sớm tối lều tranh, ta tạm ẩn,
Ngắm buồm theo gió, nguyệt đầy sông.
(Lên núi Nghĩa Liệt)
Nhà thơ lên đỉnh núi Nghĩa Liệt, phóng tầm mắt nhìn trông bốn phía
thấy cảnh núi vừa thật hùng vĩ với điểm nhìn cao nhất mây bay khói phủ,
thật nên thơ với cỏ thơm xanh và bóng trời chiều đỏ ối. Phu tử nhìn dòng
ngời mà ngẫm ai đúng ai sai mặc dòng nớc chảy tự mình sẽ:
Sớm tối lều tranh, ta tạm ẩn,
Ngắm buồm theo gió, nguyệt đầy sông.
Cảnh thanh bạch với lều tranh, vui với gió trăng. Lòng phu tử đÃ
quyết. Đời ẩn sĩ thanh đạm, không bận lẽ đúng sai.Trong mối quan hệ với
thiên nhiên, ẩn sĩ thờng trong vai trò của ngời biết khám phá, chiếm lĩnh,
thởng thức, đồng thời cũng gửi gắm, bày tỏ những tâm t hoài bÃo và luôn
canh cánh bên lòng những lo âu thế cuộc. Đó chính là cách sống nhàn tản
của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Nhàn là sự từ chối công danh để không
làm trái với lơng tâm mình. Nh vậy nhàn là một thái độ chính trị, đợc ứng
xử một cách đúng đắn trớc thời suy thế loạn. Chọn cách sống, thái độ nh
thế trớc thời cuộc, làm một ẩn sĩ giúp phu tử giữ đợc lơng tâm thanh khiết
của mình. Đó cũng là điều mà phu tử khẳng định trong bài thơ Bạc Nam
Ngạn tự:
C thân ngô chí định,
Trờng ức Lạp Phong am.
Dịch thơ:
Chí ta quyết ẩn dật,
Nhớ mÃi am Lạp Phong.
(Đỗ thuyền ở chùa Nam Ngạn)
Neo thuyền ở chùa Nam Ngạn, cùng s cụ trò chuyện trong tiết thu
lạnh lẽo, sau ba năm vất vả ở phủ đờng, để mà nhớ am Lạp Phong nơi
chí ta quyết ẩn dật. Theo Nguyễn Khắc Viện, trong mỗi trÝ thøc xa ®Ịu
20
hỗn hợp hai luồng t tởng xuất và xử, vừa muèn ra lµm quan kinh bang tÕ
thÕ, võa muèn trung thành với đạo lý nhân bản gần dân [61, 187]. Đây
cũng là tâm trạng của Nguyễn Thiếp trong thời gian này. Ông phân vân bởi
bao năm tháng quan trờng mệt mỏi, để rồi quyết chí ở ẩn.
Không chỉ nghĩ việc mình mà trong bài Ký Bình Hồ ch hữu, Nguyễn
Thiếp cũng thẳng thắn bộc lộ rõ quan điểm khi khuyên nhủ:
Tuy nhiên tễ lạo minh hành chỉ,
Vị tất trì khu thợng ẩn luân.
Dịch thơ: Rõ tùy ma nắng đi hay nghỉ,
Giong ruổi chi bằng ẩn lại hay.
(Gửi các bạn ở Bình Hồ)
Đạo chỉ có một mà thôi, khi nên ra làm quan thì làm, khi nên nghỉ thì
nghỉ. Ngời quân tử phải tìm cái chỗ đúng nhất của nghĩa này [58, 214]. Đó
chính là cái lý của phu tử.
Bài thơ Phục Đặng Điền Phạm Thạch Động của La Sơn phu tử nh sau:
Khảo đình sinh hậu đạo di chơng,
Cửu bả chi lan dụ giác hơng.
Lu thủy mỗi đa thanh lý trọc,
Hảo ngân tối phạ bạch trung thơng.
ẩn tàng hạnh ngà nắng trì tỉnh,
Hủy vặn hoàn tha tự ức dơng.
Hồi tởng nghi đình ng hữu phận,
Bất phờng Thiên Nhẫn độc cao tờng.
Dịch thơ:
Từ thời nghiên bút đạo thêm tinh,
Quen thú chi lan hơng vị thanh.
Nớc chảy thờng e trong có đục,
Bạc ròng chỉ sợ trắng hoen xanh.
ẩn tàng ta dễ bề trì tỉnh,
Bôn tẩu ngời luôn thế gập gềnh.
Nghĩ lại nghi đình âu có phận,
Hề chi Thiên Nhẫn sống riêng mình.
(Đáp thơ ông Phạm Thạch Động ở Đặng Điền)
Sự ngợi ca cái thú ở ẩn đợc bộc lộ với bạn một cách tự nhiên, không
dấu diếm. Hơn nữa theo Nguyễn Thiếp, việc ở ẩn chính là để ẩn tàng hạnh
ngà năng trì tỉnh (ẩn tàng may ta dễ bề giữ mình). Đó là nỗi lòng chân thật,
bộc lộ chí ẩn mình của La Sơn phu tử.
La Sơn phu tử làm thơ kể việc phu tử vẽ lại ngôi nhà ở ẩn cđa m×nh: