TƠN GIÁO THẾ GIỚI
1.1. Ảnh hưởng tích cực của tơn giáo tới hoạt động xã hội
1.1.1. Tạo cho con người niềm tin và lạc quan trong cuộc sống
Trong Ki-tô giáo, niềm tin gắn liền với ý Chúa và thiên đường. Trong Phật
giáo, niềm tin gắn với sức mạnh và sự che chở của Đức Phật tồn năng. Trong tín
ngưỡng, niềm tin gắn với sức mạnh siêu nhiên giúp con người vượt lên sợ hãi, đẩy
lùi tai họa, hướng tới an n. Cho dù mỗi tơn giáo, tín ngưỡng có những cách tạo
dựng niềm tin riêng, nhưng điểm chung là hướng con người về những niềm tin hư
ảo. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, niềm tin tơn giáo, niềm tin vào sức mạnh siêu
nhiên chính tồn tại là nơi con người bấu víu để vượt qua tâm lý sợ hãi, bất lực giúp
con người vượt qua và đối mặt với nhiều trớ trêu, nghịch cảnh.
1.1.2. Gắn kết con người trong xã hội
Trước hết, tơn giáo là văn hóa và là một bộ phận cấu thành của văn hóa mỗi
quốc gia nên tơn giáo có đóng góp đầu tiên là về văn hóa. Tơn giáo khi du nhập
vào mỗi quốc gia, nó đã đi trước vấn đề của tồn cầu hóa ngày nay là tạo ra sự giao
lưu văn hóa giữa các nước với nhau.
Chính nó góp phần làm phong phú văn hóa nước sở tại bằng những gì văn
minh tiến bộ mà tơn giáo ấy mang theo từ bên ngồi vào đồng thời cũng giới thiệu
được đất nước, con người, văn hóa của nước chủ nhà ra thế giới bên ngồi.
Chẳng hạn Việt Nam khi du nhập các tơn giáo như Khổng, Lão thì
mang theo những giá trị văn hóa của Trung Hoa vào nước ta.
Cịn khi đạo Cơng giáo vào từ châu Âu, nó cũng mang theo cả những
tiến bộ, văn minh của phương Tây lúc đó đến Việt Nam.
Các tác giả cuốn “Ảnh hưởng của các tư tưởng tôn giáo đối với con
người Việt Nam hôm nay” đã có nhận xét rất chính xác rằng: “Nói đến
những ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng phương Tây ở Việt Nam thì
chắc chắn đạo Thiên Chúa là nhân tố đầu tiên trong sự ảnh hưởng này.
Và như vậy, trong lịch sử, tơn giáo ln đóng vai trị những sứ giả đi
đầu trong những cuộc viếng thăm, tiếp xúc giao lưu văn hóa giữa các
dân tộc”
1.1.3. Là tiền đề và niềm cảm hứng cho các tác phẩm nghệ thuật
Mặc dù nhiều nghệ sĩ sử dụng chất liệu và kĩ thuật chưa từng xuất hiện trước
đây, tác phẩm của họ vẫn thường khai thác những chủ đề từ quá khứ đặc biệt là các
chủ đề liên quan tới tôn giáo. Rất nhiều tác phẩm ra đời để kể chuyện Kinh thánh
hoặc tạo ra tâm điểm cho người cầu nguyện hướng đến. Có một giai đoạn, nghệ
thuật hiện đại đã đẩy tôn giáo ra ngoại biên. Nhưng vài thập kỉ trở lại đây, tôn giáo
lại nổi lên như một đề tài quan trọng.
Tôn giáo là niềm cảm hứng bất tận, chủ đề luôn được nhắc tới trong các tác
phẩm thuật từ thời xưa tới nay đặc biệt trong các lĩnh vực cụ thể của nghệ thuật
như”
- Văn học:
Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học là mối quan hệ ảnh hưởng, tác
động qua lại lẫn nhau của hai hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng
tầng trong cấu trúc của một xã hội.
Các tư tưởng, giáo lý tôn giáo bên cạnh các phương thức tồn tại thông
thường như nghi thức, niềm tin hoặc kiến trúc, điêu khắc... cịn mượn
hình thức biểu hiện bằng chính ngơn ngữ, hình tượng văn học để tồn
tại, lưu truyền.
Trong số các nền văn học trên thế giới, có khơng ít các nền văn học có
quan hệ cực kỳ mật thiết với tôn giáo, chẳng hạn như văn học Ấn Độ,
văn học Trung Quốc, văn học Nga…
Do đó, khơng phải ngẫu nhiên mà Kinh Thánh, Kinh Coran, Kinh Veda,
những cuốn sách ghi triết lý nhà Phật, những lời dạy của Khổng tử,
Mạnh tử, những trước tác của Lão – Trang... ở một góc độ nào đó được
xem là những sáng tạo nghệ thuật đích thực, khơng chỉ trong thời kỳ
văn - sử - triết bất phân mà cả trong thời kỳ hiện đại.
- Hội họa:
Nếu nhìn từ góc độ lịch sử của các tơn giáo lớn trên thế giới, hầu như
tất cả các tôn giáo trong lịch sử đều trải qua giai đoạn cấm tôn thờ hình
tượng. Người ta nghiêm cấm mơ tả hình ảnh của Đấng thiêng liêng, để
tránh sự sùng bái thần tượng hoặc nhầm lẫn giữa thần thánh và biểu
tượng của thần thánh để giữ tính chân thực, trong mối quan hệ giữa cá
nhân và Đấng thiêng liêng.
trong mỹ thuật nguyên sơ của Thiên Chúa giáo và Phật giáo, sự hiện
diện của Đức Chúa và Đức Phật không mang dáng dấp con người mà
thay vào đó là các biểu tượng. Trong mỗi trường hợp, hình tượng được
sử dụng như một hình thức tơn kính. Biểu tượng nhân học, hoặc mơ tả
trong hình hài con người, chỉ mới trở nên phổ biến các thế kỉ về sau,
dưới ảnh hưởng của các truyền thống văn hóa lân bang.
Bữa ăn tối cuối cùng - Leonard da Vinci: Bức tranh có nội dung về sự
phản bội Chúa Giêsu và việc lập Bí tích Thánh Thể. Trong tranh là lúc
Chúa Giêsu mới nói cho các mơn đệ biết có một người trong nhóm 12
sẽ nộp Ngài. Da Vinci mô tả phản ứng của mỗi tông đồ trước tin đó.
Các tơng đồ được sắp thành bốn nhóm ba và Chúa Giêsu ở trung tâm
như điểm chính, với dáng người theo hình tam giác biểu trưng cho
Chúa Ba Ngơi. Ngài thể hiện sự bình tâm tĩnh tại, tương phản với
những biểu cảm kinh ngạc của các tơng đồ.
Đức Kitơ bị đóng đinh – Velázquez: Tác phẩm là hình ảnh tĩnh lặng của
Đức Kitơ sau khi chết, do nghệ sĩ người Sevilla Tây Ban Nha có tên là
Diego Velázquez thực hiện. Đức Kitơ bị đóng đinh của Velázquez mơ tả
Đức Kitơ với thân hình được vẽ theo tỉ lệ cổ điển, thể hiện dáng vóc
một người đàn ơng hồn hảo.
1.1.4. Tạo ra nhiều hoạt động đem lại lợi ích chung cho cộng đồng
- Tơn giáo là nhịp cầu giao lưu văn hóa giữa các quốc gia:
Tơn giáo là văn hóa và là một bộ phận cấu thành của văn hóa mỗi quốc
gia nên tơn giáo có đóng góp đầu tiên là về văn hóa.
Tơn giáo khi du nhập vào mỗi quốc gia, nó đã đi trước vấn đề của tồn
cầu hóa ngày nay là tạo ra sự giao lưu văn hóa giữa các nước với nhau.
Chính nó góp phần làm phong phú văn hóa nước sở tại bằng những gì
văn minh tiến bộ mà tôn giáo ấy mang theo từ bên ngoài vào đồng thời
cũng giới thiệu được đất nước, con người, văn hóa của nước chủ nhà ra
thế giới bên ngồi.
- Việc sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị của tôn giáo đem lại:
Cơ hội việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương,
Góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đồn kết giữa các
dân tộc, tơn giáo,
Khơi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia
cũng như toàn nhân loại
- Đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị nhân bản, góp phần tích cực
vào việc hồn thiện đạo đức cá nhân và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã
hội ngày càng thuần khiết
Tinh thần "từ bi" trong Phật giáo không chỉ hướng đến con người, mà
cịn đến cả mn vật, cỏ cây Phật giáo kêu gọi lòng nhân đạo, yêu
thương và bảo vệ sự sống
Những chuẩn mực của đạo đức Kitô giáo giúp con người hoàn thiện
đạo đức cá nhân trong quan hệ với cộng đồng
- Đem lại cho cộng đồng xã hội, cho mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
những biểu hiện độc đáo thể hiện trong cách ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán,
trong các yếu tố văn hóa vật chất cũng như tinh thần.
1.1.5. Tạo ra nhiều cơng trình kiến trúc vĩ đại
- Nhà thờ chính tịa của Tổng Giáo phận Milan ở Milan, Ý: Đây là nhà thờ phong
cách Gothic lớn nhất và là nhà thờ Công giáo lớn thứ hai trên thế giới. Mái của
cơng trình là một tổ hợp rất nhiều những tháp nhọn mà ở trên đỉnh mỗi tháp là một
bức tượng nhìn ra các phía của thành phố. Kiến trúc Gothic kỳ diệu này phải mất
gần sáu thế kỷ để hoàn tất.
- Đền Hang Hổ (Paro Taktsang) trong thung lũng Paro, Bhutan: Cơng trình Phật
giáo thiêng liêng này nằm ở rìa của một vách đá ở độ cao hơn 3.000m. Theo truyền
thuyết địa phương, một Guru Ấn Độ đã đến vách đá trên lưng của một con hổ cái.
“Taktsang” theo nghĩa đen có nghĩa là “hang hổ.”
- Thánh đường Hồi giáo Zayed Sheikh ở Abu Dhabi, Các tiểu vương quốc Ả Rập:
Thánh đường Hồi giáo này có thể cùng lúc chứa được hơn 40.000 tín đồ. Cơng
trình có 82 mái vòm theo thiết kế Ma-rốc và 1.000 cây cột, tất cả được trang trí
bằng đá cẩm thạch trắng và các loại đá bán quý khác. Tất cả phần sàn của phòng
cầu nguyện chính được khảm đá bằng tay, và đây cũng là tác phẩm khảm tay lớn
nhất thế giới.
- Nhà thờ Hallgrímskirkja ở Reykjavík, Iceland: Nhà thờ của Giáo hội Luther này
là nhà thờ lớn nhất ở Iceland và cũng là kiến trúc cao thứ sáu trong cả nước với
chiều cao 73m. Nhà thờ Hallgrímskirkja nằm ở trung tâm của Reykjavík và nó có
thể được nhìn thấy từ mọi nơi thành phố.
1.1.6. Tạo ra nền móng tư tưởng cho sự cai trị và ổn định trong một số xã hội ở
những giai đoạn nhất định
- Tôn giáo là nguyên nhân hình thành Nhà nước:
Trong lịch sử, rất nhiều nhà nước hình thành trên cơ sở tơn giáo. Bản
chất của vấn đề là từ hệ thống tín ngưỡng xuất hiện hệ thống quản lý xã
hội về mặt tinh thần. T
ừ hệ thống quản lý tinh thần đã phát triển và trở thành bộ máy quản lý
tồn diện. Và đó chính là sự hình thành nhà nước.
Ví dụ tiêu biểu nhất chính là Nhà nước Do Thái Israel. Ngồi ra, các
quốc gia cổ đại ở Châu Phi hình thành từ sự hợp nhất các bộ lạc cùng
một tôn giáo. Đầu tiên là hình thành các liên đồn giáo phái. Sau đó,
liên đồn giáo phái tiến tới thống nhất về mặt tổ chức chính quyền. Và
cuối cùng, Nhà Nước liên minh bộ lạc ra đời.
- Tôn giáo phân chia đẳng cấp xã hội:
Như đã nói, tơn giáo, với các giáo sĩ, tư tế… là nguyên nhân gây mất
công bằng trong xã hội ngun thủy, qua đó hình thành bộ máy nhà
nước. Như vậy, ngay từ đầu, chênh lệch đẳng cấp xã hội đã xuất hiện
với vai trị cực kì to lớn của tôn giáo.
Hơn nữa, từ khi nhà nước ra đời, tôn giáo đã góp phần hình thành và
kht sâu những khoảng cách giữa các tầng lớp trong xã hội.
- Tôn giáo trấn áp tư tưởng chống đối:
Nho giáo áp đặt tư tưởng số mệnh về giai cấp của từng cá nhân. Tức là,
mỗi người từ trước khi sinh ra đã có một cuộc sống, một số phận an bài
rồi. Cho nên, nếu sinh ra chịu kiếp bị trị, chịu áp bức bóc lột thì đó
cũng là số trời, khơng thể cưỡng được. Lúc đấy ta chỉ có thể cam chịu.
Phật giáo kêu gọi con người ta thoát tục rũ bỏ trần ai. Điều đó cũng có
nghĩa là khuyên con người ta đừng đấu đá tranh giành làm gì. Nếu quá
khổ đau thì tự biết chịu đựng và hướng đến một kiếp khác sống sung
sướng hơn.
Thiên Chúa giáo hướng đến sức mạnh tinh thần. Nó khuyên con người
ta cầu nguyện và tin vào Chúa khi gặp khó khăn hay đau khổ. Nhưng
nó khơng hề chỉ ra một hành động nào để phản kháng lại những sự bất
công ấy.
- Tôn giáo đặt ra các quy chuẩn xã hội:
Tôn giáo với vị trí của mình trong xã hội, đã đóng góp một phần lớn
hình thành nên những chuẩn mực đạo đức và cao hơn nữa chính là luật
pháp tại nhiều quốc gia hay nền văn hóa.
Đầu tiên, với những giáo lý và hoạt động tín ngưỡng, tơn giáo đã hình
thành trong mỗi con người những thói quen và suy nghĩ thống nhất.
Chính thói quen và suy nghĩ của giai cấp thống trị hay thậm chí là cả xã
hội trong quá trình phát triển và chọn lọc lâu dài đã trở thành những
quy chuẩn xã hội.
- Tơn giáo góp phần tạo nên bộ máy cai trị:
Với vai trị kiểm sốt tinh thần, tơn giáo còn là nơi xuất phát của hệ
thống quan lại, nhân viên bộ máy nhà nước.
Ở các nước Hồi giáo, các thành viên trong bộ máy lãnh đạo đồng thời
là Lãnh tụ về mặt tinh thần, tức là thủ lĩnh tôn giáo. Họ được tuyển
chọn từ bộ máy tôn giáo, là những người có tiếng nói và ảnh hưởng lớn
đến xã hội.
Nhà nước Vatican “đất thánh của Thiên Chúa giáo” được lãnh đạo bởi
Giáo hoàng và các Hồng y giáo chủ, chính là những Lãnh tụ tối cao của
Thiên chúa giáo trên tồn thế giới. Cịn ở các nước Thiên chúa giáo, các
giáo chủ cũng đóng 1 vai trị vơ cùng quan trọng trong chính quyền. Ở
Anh, nữ hồng chính là người đứng đầu Anh giáo, tức là cả lãnh đạo
Nhà nước lẫn Tôn giáo.
Ở phương Đông, thời phong kiến, hệ thống quan lại được tuyển chọn từ
tầng lớp Nho giáo, tức người đọc sách, qua thi cử mà thành. Tức là cả
bộ máy chính quyền phong kiến Phương Đông vận hành dưới tư duy và
chuẩn mực của Nho giáo.
1.2. Vai trị của tơn giáo trong hoạt động du lịch
1.1.7. Hoạt động của tôn giáo tạo ra hoạt động lữ hành
- Hoạt động tôn giáo tạo sức hút cho điểm đến:
Các hoạt động tôn giáo thu hút khách du lịch ghé thăm điểm đến và có
sự trải nghiệm văn hóa tại cùng với các hoạt động tơn giáo tại đó
Từ trước đến nay người ta vẫn thấy được thế mạnh của các điểm tơn
giáo, tín ngưỡng trong kinh doanh du lịch. Các điểm này luôn tiêu biểu
cho giá trị văn hóa của một quốc gia, dân tộc nên có sức hấp dẫn tự
nhiên đối với du khách từ nơi khác đến.
Cịn đối với người dân trong vùng, đó là nơi họ thường xuyên lui tới
cho những ước vọng về đời sống tinh thần.
- Tạo ra một lượng lớn khách du lịch cho hoạt động lữ hành:
Số lượng người tham gia vào các chuyến du lịch tôn giáo ngày càng
tăng lên và trở thành một nhu cầu thật sự
Việc khai thác các giá trị của tín ngưỡng, tơn giáo trong hoạt động du
lịch đã được nhiều nước trên thế giới khai thác dưới các hình thức
chẳng hạn như du khách Islam đi hành hương đến thánh địa Mecca ở Ả
Rập Saudi, tín đồ đạo Phật đến Nepal chiêm bái những thánh tích của
đạo Phật...
Khi cuộc sống của con người ngày càng đề cao các giá trị tinh thần thì
việc đi thăm viếng các cơng trình tơn giáo, tín ngưỡng để thưởng ngoạn
cảnh quan thanh bình, xa rời thế tục, tham gia vào các hoạt động tại đây
như nghe giảng kinh pháp, tọa thiền, ăn chay, làm từ thiện … đang trở
thành một xu hướng của cuộc sống hiện đại.
-> nhờ vào sự phát triển nhanh chóng của tơn giáo trong lịng xã hội mà các khách
du lịch biết tới điểm đến và tới thăm quan tạo điều kiện cùng nhiều cơ hội phát
triển hơn cho chính điểm đến và các dịch vụ liên quan đến du lịch. Chính các hoạt
động tơn giáo ấy đã tạo ra các hoạt động lữ hành
1.1.8. Tôn giáo tạo ra tài nguyên du lịch
Tôn giáo không chỉ là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể
mà cịn làm cho văn hố các dân tộc được bảo tồn. Thông qua sinh hoạt vật chất và
tinh thần của con người mà tín ngưỡng, tơn giáo đã tơ đượm cho văn hố dân tộc
nhiều sắc màu. Tơn giáo đã tạo ra các tài nguyên du lịch độc đáo như:
- Những cơng trình kiến trúc độc đáo
- Tranh chữ, tranh họa lấy tôn giáo làm chủ đề và các tác phẩm văn học phản ảnh
sự phát triển của tôn giáo tạo thành các bảo tàng địa điểm thu hút khách du lịch tới
điểm đến
1.1.9. Tôn giáo tạo ra các sản phẩm, loại hình du lịch
Tơn giáo tạo ra loại hình du lịch chính như:
Du lịch tâm linh: Du lịch tâm linh là dòng sản phẩm có tính bền vững
bởi nó gắn với đức tin và nhu cầu trở về nguồn cội, tìm hiểu và khám
phá thế giới thần bí của con người. Loại hình du lịch tâm linh đã hình
thành tự phát từ hàng ngàn năm về trước. Những cuộc hành hương về
đất Phật, về thánh địa Hồi giáo, về quê hương của thần thoại Hy Lạp,
về đất tổ vua Hùng...
Du lịch văn hóa: trải nghiệm sự khác biệt trong sự giao thoa giữa nền
văn hóa của địa phương và đặc điểm nổi bật của tôn giáo
Du lịch lễ hội: đặc trưng văn hóa của từng vùng miền, của mỗi địa
phương. Lễ hội nào cũng nhằm suy tơn, tỏ lịng thành kính với một đối
tượng cụ thể trong vũ trụ như: với thiên thần, nhân thần, với một anh
hùng, danh nhân văn hóa; với một truyền thuyết, một phong tục tập
quán tốt đẹp... Mục đích của lễ hội nhằm gắn kết cộng đồng, giúp con
người hướng về cội nguồn lịch sử, văn hóa, hướng thiện, sống nhân
hậu, xây dựng xã hội tốt đẹp.v.v...
1.1.10.
Các sản phẩm dịch vụ phù hợp với tư tưởng tôn giáo
– Dịch vụ tham quan các di tích, điển tích liên quan tới tôn giáo như:
Đền Hoa sen ở New Delhi - Ấn Độ
Nhà thờ của Sự tĩnh lặng (Kamppi Chapel) ở Helsinki, Phần Lan\
Đền Angkor Wat ở tỉnh Siem Reap, Campuchia
Giáo hội hành hương của Đức Mẹ Maria trên đảo Bled, Slovenia
– Dịch vụ cung cấp các tác phẩm liên quan tới tôn giáo
Tượng điêu khắc chân dung các thánh, phật,…
Tranh chữ, tranh họa
Bùa cầu bình an, bùa hộ mệnh, …
– Các dịch vụ kết hợp khác phục vụ khách du lịch trong quá trình đi:
Dịch vụ ăn uống
Dịch vụ lưu trú
Dịch vụ vận chuyển