MỤC LỤC
PHẦN I : GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI THÁI......................................1
1.1
: Tổng quan về người Thái......................................................................1
1.2
: Các giá trị văn hoá của người Thái......................................................2
1.2.1
: Văn hoá vật chất...............................................................................2
1.1.2 : Văn hố phi vật chất............................................................................8
PHẦN II : VẬN DỤNG VĂN HỐ TỘC NGƯỜI THÁI TRONG HOẠT
ĐỘNG DU LỊCH
2.1:Vận dụng văn hoá tộc người Thái với vai trò là tài nguyên du lịch
2.1.1 : Tài nguyên du lịch
2.1.2 : Các hoạt động khái thác nguồn tài nguyên du lịch của tộc người Thái
2.2 : Vận dụng văn hóa tộc người Thái với vai trò dịch vụ du lịch
2.3 : Vận dụng văn hóa tộc người Thái trong ứng xử du lịch
PHẦN III : KẾT LUẬN
PHẦN I : GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI THÁI
1.1 : Tổng quan về người Thái
1
Tên gọi khác: Tày Khao (Thái Trắng), Tày Đăm (Thái Đen), Tày Mười, Tày
Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường), Pu Thay, Thổ Đà Bắc. Họ đã có
mặt ở miền Tây Bắc Việt Nam trên 1200 năm, là con cháu người Thái di cư từ
vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc bây giờ.
Nhóm ngơn ngữ: Nhóm ngơn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái-Kadai.
Dân số : Tại Việt Nam, năm 2009 người Thái có số dân là 1.550.423 người, cư
trú tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hịa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.
Ngồi ra cịn có chừng 20.000 người Thái gốc Việt Nam sinh sống tại nước
ngoài, chủ yếu là Pháp và Hoa Kỳ.
Cư trú :
Gồm có các nhóm sau:
Nhóm Thái Trắng (Táy Đón hay Táy Khao) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai
Châu và một số huyện tỉnh Sơn La (Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên).
Nhóm Thái Đen (Táy Đăm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và 2 huyện Điện
Biên, Tuần Giáo)của tỉnh Lai Châu .
Nhóm Thái Đỏ, gồm nhiều nhóm khác nhau cư trú chủ yếu ở một số
huyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hà Sơn Bình) và các huyện miền
núi Mường Khng (Thanh Hóa) và Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương
Dương (Nghệ An).
1.2 : Các giá trị văn hoá của người Thái
1.2.1 : Văn hoá vật chất
a) Trang phục của phụ nữ
Trang phục nữ Thái chia làm 2 loại phân biệt khá rõ theo hai ngành Thái Tây
Bắc là Thái Trắng (Táy khao) và Thái Đen (Táy đăm)
2
Thái Trắng: Thường nhật, phụ nữ Thái Trắng mặc áo cánh ngắn (xửa cóm), váy
màu đen khơng trang trí hoa văn. Áo thường là màu sáng, trắng, cài cúc bạc tạo
hình bướm, ve, ong… Cái khác xửa cóm Thái Đen là cổ áo hình chữ V. Thân áo
ngắn hơn áo cánh người Kinh, tạo dáng ôm chặt lấy thân, khi mặc cho vào trong
cạp váy. Váy là loại váy kín (ống), màu đen, phía trong gấu đáp vải đỏ. Khi mặc
xửa cóm và váy phụ nữ Thái cịn tấm chồng ra ngồi được trang trí nhiều màu.
Khăn đội đầu khơng có hoa văn mà chỉ là băng vải chàm dài trên dưới 2 mét…
Trong các dịp lễ tết họ mặc áo dài màu đen. Đây là loại áo đầu thụng thân thẳng,
khơng lượn nách, được trang trí bằng vải ‘khít’ ở giữa thân có tua vải phủ từ vai
xuống ngực, nách áo trang trí theo lối đáp hai mảng hoa văn trong bố cục hình
tam giác. Phụ nữ chưa chồng hay có chồng khơng có dấu hiệu quy định nhận
biết… . Họ có loại nón rộng vành.
Thái Đen: Thường nhật phụ nữ Thái Đen mặc áo ngắn (xửa cóm) màu tối (chàm
hoặc đen), cổ áo khác Thái Trắng là loại cổ tròn, đứng. Đầu đội khăn gọi là
“piêu” thêu hoa văn nhiều mơ-típ trang trí mang phong cách từng mường. Váy là
loại giống phụ nữ Thái Trắng đã nói ở trên. Lối để tóc kkhi có chồng búi lên
đỉnh đầu gọi là “Tằng cẩu”;khi chồng chết có thể búi tóc thấp xuống sau gáy ;
chưa chồng khơng búi tóc. Trong lễ, tết áo dài Thái Đen đa dạng với các loại xẻ
nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và màu mà mơ-típ hơn Thái
Trắng.
Đơi chút về khăn Piêu : Ngoài sức hấp dẫn của trang phục, khăn Piêu của phụ
nữ Thái mang một nét riêng thật hấp dẫn, độc đáo: “Em xe sợi thành vóc hoa
dâu. Em dệt cửi thành gấm vân chéo. Em dệt tơ thành đóa hoa vàng. Người các
bản các phường muốn khóc. Đều ước ao được em thêu khăn” (Dân ca Thái).
Nếu chỉ trừ một bộ phận phụ nữ tộc Thái trắng đội nón tát thì đa số phụ nữ Thái
Mường Thanh (Lai Châu), Mường La (Sơn La), Mường Lò (Lào Cai), đều đội
khăn vải. Khăn vải dùng để đội trên đầu người Thái gọi là Piêu. Piêu có nhiều
loại khác nhau, có loại được thêu hoa văn bằng chỉ màu sặc sỡ, có loại chỉ là
3
một tấm vải bông nhuộm chàm, tùy từng vùng, từng địa phương mà Piêu có
những sắc thái riêng của nó. Piêu có tác dụng che đầu khi nắng gió, làm ấm đầu
khi mùa đơng giá lạnh… Piêu cịn là vật trang sức quan trọng của các cô gái
Thái trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong lúc đi chơi hay dự lễ hội…
Đồng bào Thái làm Piêu từ loại vải bông tự dệt. Trước khi thêu, miếng vải được
chọn làm khăn đội đều phải nhuộm chàm. Chàm là màu nền để trên đó người
phụ nữ Thái thêu lên các họa tiết, hoa văn bằng các loại chỉ màu (xanh, đỏ, tím,
vàng, da cam….) ở hai đầu khăn. Để có một chiếc Piêu hoàn chỉnh, người phụ
nữ Thái phải mất thời gian từ hai đến bốn tuần.
Piêu Thái không phải trang trí ở tồn bộ diện tích của nó mà được tập trung đồ
án trang trí ở hai đầu. Trước khi thêu các đồ án trang trí ở hai đầu khăn, phụ nữ
Thái ghép mảnh vải đỏ làm viền. Các viền đỏ bọc cho sợi ở các đầu khăn khỏi bị
xổ ra, vừa như là giới hạn diện tích trang trí ở đầu khăn. Đường viền vải đỏ bọc
ở ba mép đầu khăn rộng trên dưới 1 cm. Phụ nữ Thái dùng lối khâu luồn rất
khéo léo để hạn chế tới mức tối đa đường chỉ lộ ra ngoài để cho đường viền màu
đỏ và nền chàm của khăn liền làm một. Trước khi thêu, chị em làm những chiếc
cút để đính vào Piêu, có thể làm nhiều cút Piêu một lúc rồi dùng dần. Cút Piêu
được làm từ một mảnh vải đỏ rộng khoảng 1 cm, bên trong bọc lõi chỉ rồi cuộn
tròn lại. Cuộn vải tròn được khâu vắt thành một hình trịn rồi quấn dây vải lại
theo hình trơn ốc, sau đó được quấn thêm các loại chỉ màu thành các múi trong
hình trịn. Đối với các cút Piêu địi hỏi phải tỷ mỷ, cầu kỳ, chỉ có những người
thành thạo mới biết làm. Các cút sau khi làm xong được ghép lại rất khéo léo
vào đầu Piêu. Các loại chỉ màu được sử dụng như vậy vừa mang chức năng kỹ
thuật, vừa mang giá trị thẩm mỹ. Nhìn vào chiếc cút được dính vào đầu Piêu, ta
rất khó đốn nhận ra được mạch chỉ khâu ghép các đường trang trí với nhau.Các
loại đường khâu đều do phụ nữ Thái tự sáng tạo, có nhiều kiểu: móc xích, chân
rết, xương cá…
4
Con gái Thái từ 6,7 tuổi phải làm quen với bông, sợi, dệt vải; mười hai, mười ba
tuổi bắt đầu làm quen với công việc thêu thùa. Thành viên nữ của cộng đồng
Thái phải biết nhìn vào mẫu Piêu, biết nhận ra bố cục của đồ án hoa văn… Học
thêu Piêu với các cơ gái Thái là một q trình nhận thức và rèn luyện đôi bàn tay
khéo léo của mình để chuẩn bị bước vào đời. Lúc đầu các cơ gái chỉ thêu được
những đường thẳng hoặc những mơ-típ hoa văn đơn giản, dần dần tiến tới biết
xử lý đồ án, bố cục, biết xử lý màu sắc ở nhiều mơ-típ hoa văn trong những bố
cục phức tạp. Việc học dệt vải và học thêu khăn Piêu là bài học phổ thông, tất
yếu của mọi thành viên nữ trong nếp sống của cộng đồng dân tộc Thái, bởi vậy
Piêu còn là một tiêu chuẩn xã hội để đánh giá một phụ nữ. Qua chiếc Piêu có thể
biết được chủ nhân của nó là người tài hoa, siêng năng, chịu khó hay là người
lời nhác, vụng dại. Khăn Piêu của phụ nữ Thái không chỉ mang giá trị thẩm mỹ
mà cịn mang tính xã hội, cùng với váy, áo, nón đội, thắt lưng, Piêu góp phần tạo
nên một nét đẹp, một sắc thái riêng, hấp dẫn về trang phục truyền thống của dân
tộc Thái.
b) Ẩm thực
Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn hóa ẩm thực. Dân tộc
Thái ưa cái hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng của món nướng. Món thịt
trâu hoặc bị, cá, gà nướng được người Thái tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ. Gia vị để
5
ướp là tiêu rừng hay còn gọi là “mắc khén”, ớt, tỏi, gừng, muối... Trước khi đem
ướp với thịt, các gia vị cũng được nướng lên cho chín, tỏa mùi thơm. Trong
mâm cơm của người Thái có nhiều món ăn, mỗi món đều có hương vị đặc trưng.
Các loại thịt gia súc, gia cầm, hay thủy sản đều có thể nướng. Thịt thái miếng,
ướp gia vị, dùng xiên hoặc kẹp tre tươi đặt lên than hồng; hoặc thịt băm nhỏ,
bóp nhuyễn với trứng, gói lá chuối, lá dong, kẹp lại, nướng trên than đỏ hoặc vùi
tro nóng; khi chín, thịt rất thơm, ăn khơng ngán. Món cá nướng hấp dẫn bởi
hương thơm của cá, vị cay của ớt. Món “pỉnh tộp” cũng là cá nướng, nhưng
thường dùng cá to như chép, trôi, trắm... mổ lưng, để ráo nước, xoa một lớp
muối rang nổ; tẩm ớt tươi nướng, nghiền nát, mắc khén, để cá ngấm gia vị, cứng
thịt lại rồi đặt lên than hồng. Cá chín có vị thơm hấp dẫn, dùng để uống rượu rất
độc đáo. Sản phẩm cá được người Thái chế biến ra nhiều món ăn khác nhau, đặc
trưng và ngon: cá hấp trong chõ gỗ, người Thái gọi là cá mọ; món “pa giảng” là
cá hun khói.
Do đặc thù vùng cao, người Thái thường để dành cá sấy trong bếp. Khi có
khách, nhà xa chợ, chưa làm kịp món ăn thì bỏ cá ra nướng lại cho thơm, rót
rượu mời khách nhâm nhi. Và ở bếp, người nhà tiếp tục chế biến món ăn, tiếp
từng món lên đãi khách. Đây là cách giữ chân khách, thể hiện sự hiếu khách của
đồng bào vùng cao.
Bên cạnh các món nướng, người Thái cịn có tài chế biến gia vị để ăn với các
món luộc, món hấp, hương vị thơm ngon. Lên tỉnh Điện Biên, du khách sẽ được
thưởng thức món gà “đi bộ” - gà ni thả trên đồi, luộc lên chấm với gia vị chéo
rất ngon, không ngấy, uống với rượu Mông pê hoặc lẩu sơ rất thú vị. Từ thịt, cá,
người vùng cao cịn có các món lạp, luộc, canh chua... với vị ngon đặc trưng.
Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái. Người Thái có phương pháp
đồ xơi cách thủy bằng chõ gỗ rất kỹ thuật. Xơi chín bằng hơi, mềm, dẻo nhưng
khơng dính tay. Xơi được đựng vào ép khẩu hoặc giỏ cơm đậy kín, ủ ấm, giữ
cho cơm dẻo lâu. Cơm lam là đặc sản của dân tộc Thái thường được sử dụng vào
6
dịp lễ, tết hay đãi khách. Với các chuyến du lịch, du khách có thể mang theo ép
khẩu xơi, vài khúc cơm lam để ăn dọc đường hoặc khi nghỉ ngơi tại các điểm
tham quan sẽ rất tiện lợi.
Mùa nào thức nấy, người Thái đãi khách bằng sản vật, như: măng đắng, măng
ngọt, rau cải ngồng, rau dớn... chấm với gia vị chéo, đậm đà vị cay của ớt, riềng,
mặn của muối rang, hương thơm của rau làm biết bao du khách phải ngẩn ngơ
khi đã một lần nếm thử.
Người Thái rất thích uống rượu. Đối với họ uống rựu là phong tục cho nên họ tự
chế biến lấy để tiêu thụ. Rượu của người Thái có ba loại chính: Lảu xiêu (cất
hay trắng), Lảu xả (Rượu cần), Lảu vang (rượu nếp cái). Người Thái xem rượu
là cáicớ để cởi mở niềm vui, sự hân hoan mang tính văn hóa lành mạnh, không
bê tha. Với người Thái, rượu cần là thức men thú vị mỗi khi có đình đám. Sinh
hoạt ẩm thực của người Thái có cung cách giờ giấc nhất định. "Kín lảu mi ngan,
đa pan mi pựa", tức là ăn có bữa, rượu có giờ. Người Thái hút thuốc lào bằng
ống điếu tre, nứa và châm lử bằng mảnh đóm tre ngâm, khơ nỏ.
c) Kiến trúc nhà ở
Bộ khung nhà Thái có hai kiểu cơ bản là khứ tháng và khay điêng. Vì khay
điêng là vì khứ kháng được mở rộng bằng cách thêm hai cột nữa. Kiểu vì này
dần gần lại với kiểu vì nhà người Tày-Nùng.
Nhà ở truyền thống của người Thái ở tất cả các vùng đều là nhà sàn làm bằng
gỗ, đẹp và chắc chắn, các ngôi nhà đều dựng theo những quy định chặt chẽ. Nhà
sàn của người Thái Đen thường là 3-5 gian, cột chơn, hình khum mai rùa, hai
đầu nóc hồi được trang trí khau cút - biểu tượng mang ý nghĩa chỉ vai trò, địa vị
của các tầng lớp trong xã hội (vùng Tây Bắc), hình voi, hình đầu mèo (vùng
Thanh Hóa, Nghệ An). Khau cút là hai tấm ván đóng chéo nhau hình chữ X trên
địn nóc, những gia đình q tộc xưa cịn làm thêm bơng sen cách điệu ở giao
điểm hai tấm ván và tám hình trăng khuyết hướng vào nhau so le trên khau cút.
7
Nơi thờ tổ tiên của người Thái Đen chỉ có chủ nhà và thầy mo mới được phép
vào, còn những người khác kể cả con dâu cũng không được đến.
Nhà sàn của người Thái Trắng ở Lai Châu, Sơn La có hai mái phẳng, có góc
giao tuyến rõ rệt, có các lan can bằng gỗ ở phía trước hoặc bao quanh nhà. Một
điều rất dễ phân biệt nhà sàn của người Thái Trắng là ngồi mái phẳng cịn ở hai
đầu hồi khơng có khau cút. Khác với người Thái Đen, nơi thờ tổ tiên của người
Thái Trắng ai cũng có thể ra vào.
Trong nhà sàn của người Thái, cầu thang dành riêng cho nam giới gọi là tang
quản ở đầu nhà, thường có 7 bậc ứng với 7 vía. Cịn cầu thang ở cuối nhà, bên
trái dành cho phụ nữ, gọi là tang chan. Ngồi ra cịn có Chan – là phần sàn nhà
được nối dài ra ngoài trời, nơi phụ nữ Thái thường múa hát, thêu thùa... Gầm sàn
vừa là nơi giã gạo, vừa để nhốt gia súc.
Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà người Thái khá độc đáo: các gian
đều có tên riêng. Trên mặt sàn được chia thành hai phần: một phần dành làm nơi
ngủ cho các thành viên trong gia đình, một nửa dành cho bếp. Mỗi nhà của
người Thái thường có 2 bếp.
Có thể thấy, nghệ thuật trang trí hoa văn đến cách bố trí, sắp xếp sinh hoạt của
gia đình đều được duy trì theo truyền thống dù đã có ít nhiều thay đổi cho phù
hợp với đời sống mới.
1.1.2 : Văn hố phi vật chất
a) Ngơn ngữ - chữ viết
Ngơn ngữ
Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngơn ngữ gốc Thái của ngữ hệ TháiKadai. Trong nhóm này có tiếng Thái của người Thái (Thái Lan), tiếng
Lào của người Lào, tiếng Shan ở Myanmar và tiếng Choang ở miền nam Trung
8
Quốc. Tại Việt Nam, 8 sắc tộc ít người gồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán
Chay, Tày, Thái được xếp vào nhóm ngơn ngữ Thái.
Chữ viết
Người Thái là một trong số rất ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viết, có
nguồn gốc từ vùng miền Nam Trung Quốc ngày nay và nhiều nhà ngôn ngữ học
đã đưa ra những bằng chứng về mối liên hệ với các hệ ngôn ngữ Nam Á, Nam
Đảo, hoặc Hán Tạng. Đây là một hệ thống mẫu tự theo hệ Sanscit. Sự phối hợp
thanh điệu, quy tắc chính tả phức tạp, các chữ viết gần giống với chữ Lào, Thái
Lan nhưng ngày nay đã bị mai một. Tuy chưa xác định được cụ thể thời điểm
xuất hiện nhưng hàng ngàn năm nay Ngôn ngữ và Bộ chữ viết đã được người
Thái ở Việt Nam, cũng như cộng đồng người Thái sống ở nước ngồi sử dụng,
giữ gìn và bảo tồn. Bộ chữ Thái là một công cụ để ghi nhận và phản ánh đầy đủ,
phong phú và tế nhị tư tưởng, tình cảm và tâm hồn trong sáng lành mạnh của
dân tộc Thái. Thể hiện trong văn hoá nghệ thuật thơ, ca, tục ngữ, truyện, các
phong tục tập quán
b) Đời sống và quan hệ xã hội
Đời sống
Dân tộc Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng
lấy nước làm ruộng. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp.
Dân tộc Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác.
Từng gia đình chăn ni gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ
gốm… Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn
độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.
Quan hệ xã hội
Về mặt tổ chức xã hội, người Thái sống định cư, cư trú thành bản ở các thung
lũng màu mỡ ven các sông, suối, cánh đồng giữa núi. Họ cư trú trong các nhà
sàn thành từng cụm, vài cụm thành một bản có khoảng 40 đến 50 nóc nhà. Mỗi
bản của người Thái đều có nhiều gia đình, dịng họ khác nhau, có đất thổ canh,
9
thổ cư, bãi cỏ chăn nuôi. Bản của người Thái thường lui vào chân núi, nơi có độ
dốc thoải. Các bản nằm trên đường vành đai các thung lũng, nhiều bản hợp
thành mường. Người Thái quy định các ngôi nhà trong một bản phải được thiết
kế sao cho địn dơng của mỗi nhà chạy theo một hướng nhất định, tối kị địn
dơng nhà này đâm thẳng vào mặt nhà kia. Mọi nhà trong bản đều quay mặt
xuống cánh đồng và quay lưng vào núi. Về mặt xã hội, bản là một lãnh thổ của
một cộng đồng tộc người, mường là một lãnh thổ của nhiều cộng đồng tộc người
nhưng trong đó người Thái chiếm đa số. Đơn vị hạt nhân cấu thành nên bản
người Thái là gia đình, gia đình người Thái là gia đình nhỏ phụ hệ,chủ yếu là hai
thế hệ với chế độ mộtvợ một chồng.
b) Tín ngưỡng
Vũ trụ quan của người Thái gồm ba thế giới, một thế giới ở trên trời cao và hai
thế giới cùng tồn tại ở mặt đất, một bên là thế giới của những người sống và một
bên là thế giới của ma. Thế giới trên trời có Then Lng là đấng tối cao nhất cai
quản trời đất, loài người và vạn vật, Then Luông được các quần thần giúp việc.
Dưới trần gian, bất cứ ở nơi nào cũng có các ma (phi) cai quản. Muốn lập bản,
khai phá ruộng, phát nương, đánh cá, săn thú đều phải xin phép các ma ruộng,
ma nương, ma rừng, ma suối… Những vị thần trên trời, các ma dưới trần kể trên
cùng với ma nhà (phi hươn), ma họ (phi đẳm), những ông, bà, cụ kỵ đã khuất
(pú pầu) là những lực lượng phù hộ, bảo vệ người.
Người Thái quan niệm, trên thân thể con người, những hồn (khuân) ở đầu người
tập trung thành một ma (phi) và lên trời. Trời là thế giới bên trên - nơi ngự trị
của Then. Các hồn ở tứ chi tập trung thành ma nhà (phi hươn) và nương tựa nơi
bàn thờ người chết trong nhà. Ma nhà cũng tồn tại với người sống, trong thế giới
của người sống. Các hồn ở thân cây cũng họp lại thành một ma để về Mường Pú
Pẩu ở trong rừng, nơi chôn người chết, Mường Pú Pẩu ứng với Mường
Ma. Người Thái cũng thờ tơng tộc, dịng họ và có nơi thờ riêng, có thể là một
cánh rừng cấm, một hịn đá hay một gốc cây. Các họ hàng cùng thờ chung và
10
liên kết với nhau qua việc thờ chung con ma của dịng họ, cịn gia đình quần tụ
nhau qua việc thờ chung ma nhà. Người Thái cũng có các ơng mo làm thầy cúng
và vai trò của những người này khá quan trọng. Mo vừa là thầy cúng vừa là thầy
chữa bệnh như kiểu mỡi của người Mường. Người Thái cũng tin nhiều vào các
sức mạnh của ma, quỷ, thần… theo quan niệm vạn vật hữu linh truyền lại từ xa
xưa. Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội, những hiện tượng này đã giảm bớt
rất nhiều. Cũng như vậy, việc bùa, yểm, chài, điềm lành, điềm dữ… vẫn còn là
nỗi lo lắng trong tâm thức dân gian.
c) Phong tục , tập quán
Cưới hỏi: Gia đình người Thái theo gia đình phụ hệ, nhưng trước kia người
Thái có tục ở rể nên lấy vợ lấy chồng phải qua nhiều bước,trong đó có 2 bước cơ
bản: Cưới lên (đong hưn): đưa rể đến cư trú nhà vợ là bước thử thách phẩm giá,
lao động của chàng rể. người Thái đen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu (tẳng
cau) cho người vợ sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm, sau đó thời gian ít
dần cịn vài ba năm khi đó đơi vợ chồng đã có con mới về ở bên nhà chồng, bây
giờ vẫn còn giữ tục lệ nhưng khá ít, chỉ khi trường hợp gia đình bên gái khó
khăn thì sẽ ở rể, q trình sau này gọi là cưới xuống Cưới xuống (đong lơng)
đưa gia đình trở về với họ cha Ngồi cưới hỏi theo truyền thống thì người Thái
cịn có tục “Trộm vợ”, khi đôi trai gái yêu nhau, muốn lấy nhau nhưng điều kiện
khơng cho phép thì người con trai sẽ trộm cô gái về để tránh khỏi nhiều hủ tục
rườm rà, tốn kém khi hỏi cưới. (chàng trai đến nhà cô gái trộm về trong đêm và
đặt một chai rượu, trầu cau lại nhà cô gái để sáng ra bố mẹ biết là con gái đã bị
trộm vợ, nhà trai sẽ đem lễ vật đến chịu thú và xin cưới ngay. Ngày nay một số
người lợi dụng phong tục này để “bắt vợ” mặc dù không yêu nhau, làm biến
tướng và mất đi cái hay của bản sắc dân tộc và phải chịu sự trừng phạt của pháp
luật nhà nước).
Ma chay: Đối với người chết, người Thái quan niệm chết là tiếp tục “sống” ở
thế giới bên kia vì vậy đám ma là lễ tiễn người chết về với “mường trời”. Đám
tang thường có nhiều lần cúng viếng để linh hồn được lên với mường trời. Lễ
11
tang có 2 bước cơ bản: Pơng: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư
vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái trắng), thiêu (Thái đen). Xống: đưu đồ tang lễ
ra bãi tha ma và kết thúc bẵng lễ gọi ma trở về ngụ tại gian thờ cúng tổ tiên ở
trong nhà.
d) Nghệ thuật và lễ hội
Nghệ thuật
Về văn học nghệ thuật, do người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn học
dân gian như truyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca… và một số luật
lệ còn được lưu giữ và truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giấy
bản hoặc trên lá cây. Một số tác phẩm truyện thơ nổi tiếng như “Xống chụ xon
xao”, “Khun Lú, Nàng ửa”…
Người Thái có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng.
Về dân ca,
có làn điệu khắp phổ biến ở hầu hết các địa phương. Khắp là lối ngâm thơ hoặc
hát theo lời thơ, có thể đệm đàn và múa. Làn điệu khắp nổi tiếng là khắp “Tiễn
dặn người yêu” (sống chụ son sao), tản chụ siết sương; hát đối đáp trai gái
(khắpbáo sao); hát lên nhà mới (khắp khửn hươm mớ); hát mừng đám cưới
(khắp hặp đoong); hát mừng mùa vụ (khắp chôm). Việc khắp đối thể hiện khả
năng, hiểu biết, độ nhạy bén và linh hoạt của người trong cuộc.
Về dân vũ của người Thái thì nổi tiếng nhất là múa xịe.
Nói tới xịe Thái là phải nói tới các điệu xòe cổ:
+ Điệu “khắm khen” – quanh đống lửa, mọi người nắm tay nhau nhảy múa. Đây
là điệu múa mang tính sơ khai, biểu lộ sự gắn kết cộng đồng, mong ước một
cuộc sống ấm no, hạnh phúc vẹn tròn.
+ Điệu “khắm khăn mơi lẩu” – nâng khăn mời rượu. Đây là điệu múa đầy chất
trữ tình và ấm áp tình người, thể hiện lịng hiếu khách.
12
+ Điệu “phá xí” – bổ bốn, diễn tả tình đoàn kết của cộng đồng, hướng về tổ tiên,
quê hương của mỗi thành viên.
+ Điệu “đổi hôn” – múa tiến lùi, như muốn khẳng định dù đất trời có đổi thay,
cuộc sống có như thế nào thì tìnhngười vẫn ln sắt son bền chặt.
+ Điệu “nhôm khăn” – tung khăn,
là điệu xòe tưng bừng nhất, hay dùng khi mùa vụ bội thu, đám cưới, lên nhà
mới...
Dần dần, từ các điệu xòe cổ, các nghệ nhân dân gian xây dựng được tới 32 điệu
xịe mang bóng dáng sinh hoạt thường ngày: “xe cúp” – múa nón, “xe tẳng chai”
– múa chai, “xe kếp phắc” – hái rau, “xe cáp” – múa sạp... Các điệu xịe nhịp
nhàng, sơi động trong tiếng trống, chiêng, khèn, pí, tính tẩu, đơi khi có cả các lời
hát phụ họa cho thêm phần sinh động. Các điệu xịe vịng sơi nổi bao nhiêu thì
các bài xịe điệu lại tinh tế, duyên dáng bấy nhiêu. Triết lí âm – dương, đất –
trời, lửa – nước và ý nghĩa nhân sinh cao cả luôn ẩn chứa trong các điệu xịe.
Người Thái có câu ca: “Khơng xịe khơng tốt lúa/ Khơng xịe thóc cạn bồ”.
Vịng xịe có thể có số lượng lớn người tham gia, có những vịng đại xịe với số
lượng đông tới hàng trăm người và vô cùng sôi động.
Theo truyền thống của dân tộc Thái vào những ngày lễ, tết, ngày vui của dịng
họ, gia đình, nhất là nhà đón khách q...vịng xịe thường được tổ chức như
một nghi lễ dân gian để đón mừng, bên ánh lửa bập bùng, tay trong tay tình cảm,
thể hiện nét đẹp truyền thống nhân văn sâu sắc.
Về nhạc :có các loại sáo (pí), nhị (xi xo), đàn mơi (hưn mư), đặc biệt là khèn bè
(khen pe). Ngồi ra, cịn có nhac khua loỏng (quánh loòng), dùng những chiếc
chày giã gạo xếp thành đôi diễn tấu thành giai điệu khác nhau.
13
Hạn khuống là một trong những nét đặc trưng văn hóa nổi tiếng của ngườiThái
Tây Bắc. Đây là sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo, với hình thức diễn xướng
mang tính sân khấu sơ khai mang tính cộng đồng. Người ta dựng cái sàn ở nơi
đất trống của bản, hài hòa giữa thiên nhiên và cộng đồng. Hạn khuống thường
được tổ chức vào tiết thu đông, công việcđồng áng đã nhàn rỗi.
Lễ hội
10 lễ hội đặc trưng của người Thái :
Lễ hội Cầu mùa (người Thái)
Lễ hội Cầu mưa (người Thái)
Lễ hội Gội đầu
Lễ hội Hạn Khuống
Lễ hội hoa ban
Lễ hội Kin Pang Then
Lễ hội xang khan
Lễ hội xên bản, xên mường
Lễ hội Xíp xí
Lễ hội xịe chiêng
Dưới đây là những phần trình bày chi tiết về 2 lễ hội trong 10 lễ hội chính :
Lễ hội Hoa Ban hay còn gọi là lễ hội Xên Mường được người Thái ở Tây Bắc
tổ chức vào dịp tháng 2 âm lịch, khi hoa ban bắt đầu nở trắng cả núi rừng Tây
Bắc. Lễ hội thể hiện tấm lịng tơn kính tri ân của nhân dân tưởng nhớ cơng lao to
lớn của các vị nhân thần tiền bối và cầu cho quốc thái, dân an, bản mường no
ấm, quanh năm mưa thuận gió hịa, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc…
14
Lễ hội Hoa Ban thể hiện nét văn hóa tâm linh trong đời sống tinh thần của đồng
bào dân tộc Thái với tâm nguyện thỉnh bái “Then” – vị thần tối cao trong hàng
ngũ thánh thần theo quan niệm của người Thái; thỉnh bái “nàng Ban” – một nữ
nhân vật huyền thoại biểu thị cho sự trinh trắng của người thiếu nữ Thái và tình
u đơi lứa thuỷ chung; thỉnh bái ma trời, ma mường, ma núi, ma sông… phù hộ
cho mưa thuận gió hồ, mùa màng tươi tốt, vạn vật đơm hoa, kết trái, cho lứa
đôi hạnh phúc và phù hộ cho cuộc sống của dân bản luôn đầm ấm, yên vui.
Chuyện kể rằng, nàng Khôm (tiếng Thái là nghèo, cay đắng) và chàng Tào Lu
(nghĩa là giàu có) u nhau nhưng khơng được gia đình chấp thuận. Mùa xuân,
hai người rủ nhau lên chơi hang Thẩm Đông Ngoạng (hang rừng ve, tức hang
Thẩm Lé bây giờ). Ít lâu sau, chàng cảm chết, biến thành con Tô Mánh Lú (màu
đen, to hơn con ve). Nàng Khôm không muốn bị ép duyên với chàng trai khác
đã bỏ trốn vào rừng. Nàng chạy, chạy mãi, kiệt sức rồi chết ở trong rừng. Nơi
nàng nằm xuống mọc lên một loại cây có hoa trắng, có hương thơm, mật ngọt.
Người dân gọi đó là hoa Ban.
Loài hoa ban ấy nở đúng vào mùa xuân, thời gian mà chàng Lu và nàng Khôm
cùng nhau đi chơi hang. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, hoa ban lại nở trắng núi
rừng Tây Bắc.
Phần lễ
Họ mang lễ vật lên hang Thẩm Lé cúng. Lễ gồm một con lợn, mấy cành ban,
hoa ban, chai rượu, hai bát gạo, hai bát cơm, vài nén hương cùng với trầu
cau. Thầy mo làm lễ cúng thần hang, thần rừng, cầu cho dân chúng có suộc sống
ấm no, sung túc.
Phần hội
Thanh niên trai gái bắt đầu vui hội hái hoa, sôi nổi với những trò diễn độc đáo.
Âm vang nhộn nhịp của tiếng pí , tiếng khèn, tiếng trống chiêng. Con trai thổi
khèn, con gái dập dìu múa điệu Thẩm Lé, điệu múa dành riêng cho việc đi hái
hoa ban. Các chàng trai thi nhau trèo lên các cây ban hái hoa. Một cây có khi 5,
15
6 người trèo lên. Ở bên dưới, các cô gái lấy cái ớp (gần giống cái giỏ) đón
những bơng hoa thả xuống. Anh chàng nào có ý với cơ gái nào thì thả vào chỗ
cơ đó. Các cơ cũng vậy, ưng anh nào thì cố mà đón lấy hoa của anh đó.
Kết thúc hội
Kết thúc cũng là lúc trai gái chia tay nhau để xuống đồng cày cấy, mùa xuân
cũng là mùa làm nương. Cho nên, ai cũng cố giắng động viên nhau đi chơi. Dân
ca Thái co đoạn rằng:
Muốn chơi thì chơi lúc ban cịn hoa
Đùa thì đùa thời hoa ban cịn nhiều
Lát nữa hoa sẽ tàn
Con gái có chồng thì bị xích đeo tay, gơng đeo cổ, khơng được đi nữa…
Sự mai một của lễ hội
Không gian dành cho lễ hội bị thu hẹp nhiều, do các đặc thù phát triển kinh tế
vùng. Nhiều rừng ban bị chặt nhiều phục vụ cho phát triển, sinh hoạt theo đặc
thù. Thế hệ trẻ càng ít biết đến, khi lễ hội khơng được tổ chức liên tục hàng năm.
Lễ hội xịe chiêng là một lễ hội của đồng bào dân tộc Thái, là một trong những
lễ hội ngày xuân về trên các bản làng.
Thời gian
Dân tộc Thái ăn tết từ mồng 1 đến 15 tháng giêng âm lịch hàng năm. Trong
vòng 15 ngày tết, họ tổ chức rất nhiều lễ hội để vui chơi, sinh hoạt mang tính
cộng đồng, trong đó có lễ hội xịe chiêng. thường được tổ chức vào ngày 11
tháng giêng âm lịch.
16
Tổ chức
Mọi người đốt một đống lửa to đủ để soi sáng mặt người. Các thiếu nữ mặc các
bộ áo, váy cóm. Tiếng chiêng, tiếng trống thúc giục, các dân tộc khác cũng như
du khách ghé thăm cũng được mời vào hội. Mở đầu, đội gái xòe các bản biểu
diễn 36 điệu múa xòe cổ của dân tộc Thái như: Xịe hoa, xịe vịng, xịe nón, xịe
quạt, xịe khăn … Cùng múa nón, múa khăn, múa quạt, múa sỏng...
Từng tốp người cùng nắm tay nhau vòng quanh đống lửa để cùng nhau nhảy
theo điệu.
Kết thúc
Lễ hội xòe kéo dài đến 2 – 3 giờ sáng, các chàng trai cô gái lại kéo nhau ra bờ
suối tâm tình, kết duyên lành đầu xuân.
PHẦN II : VẬN DỤNG VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI THÁI TRONG HOẠT
ĐỘNG DU LỊCH
2.1:Vận dụng văn hoá tộc người Thái với vai trò là tài nguyên du lịch
2.1.1 : Tài nguyên du lịch
Theo “ Giáo trình địa lý du lịch ” :Tài nguyên du lịch là các đối tượng tự nhiên ,
văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu
cầu xã hội và khá năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch .
Theo “ Luật du lịch Việt Nam” : tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên ,yếu
tố tự nhiên , di tích lịch sử - văn hóa , cơng trình lao động sáng tạo của cin người
và các ggias trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch , là
yếu tố căn bản để hình thành các khu du lịch , điểm du lịch, tuyến điểm du lịch,
đô thị du lịch .
Với kho tàng giá trị nhân văn thì tộc người Thái có rất nhiều nguồn tài ngun
nhân văn đa dạng và phong phú , đặc sắc để phát triển du lịch.Từ những văn hóa
17
vật chất đên phi vật chất . Bao gồm : nhà sàn , trang phục , ấm thực, tín ngưỡng,
lễ hội , nghệ thuật...
Như văn hóa của người Thái trắng tại bản Vàng Pheo lại lưu giữ nét văn hóa đặc
sắc với 36 điệu xịe . Cùng với đó là nhiều lễ hội văn hóa đặc trưng như : Nàng
Han ( 15/2 âm lịch ) , Then Kin Pang ( 10/3 âm lịch ) hay Cơm mới ( 15/9 âm
lịch ). Văn hóa dân tộc Thái khơng thể thiếu hương vị ẩm thực đặc sắc từ những
món ăn truyền thống ; cá suối nướng , thịt trâu sấy ... Đặc biệt hơn người Thái
còn bro tồn nguyên vẹn giá trị văn hóa phi vật chất từ ngơi nhà sàn truyền thống
đến bộ váy , áo cóm , khăn piêu , áo chàm đen.
2.1.2 : Các hoạt động khái thác nguồn tài nguyên du lịch của tộc người Thái
Xây dựng , nhân rộng làng văn hóa du lịch cộng đồng nhằm nhân cao đời sống ,
bảo tồn , giữ gìn abrn sắc văn hóa các dân tộc . Góp phần bảo tịn và phát huy
những giá trị văn hóa của các đồng bào dân tộc thiểu số đồng thời thông qua
hoạt động khai thác nguồn tài nguyên du lịch của tộc người Thái để nâng cao
đời sống vật chất , tinh thần của người dân địa phương và phát triển bền vững .
Người Thái có những nếp nhà sàn có thể làm địa điểm tham quan và lưu trú cho
khách du lịch . Đối với nhữn g bộ trang phục truyền thống thi có thể cho khách
du lịch thuê để chụp ảnh lưu niệm . Mở ra những nhà hàng với các món ăn
truyền thống đậm nét của tộc người Thái .
2.2 : Vận dụng văn hóa tộc người Thái với vai trò dịch vụ du lịch
Dưới đây là 1 tour du lịch với mục đích giúp vận dụng văn hóa tộc người Thái
với vai trò là dịch vụ du lịch :
Thông tin tour
Thời gian
Điểm đến : Hà Nội - Mai Châu - Bản Lác
18
Thời gian : 2 ngày 1 đêm
Chi phí : 750.000 VND
Lịch trình
Ngày 1: Hà Nội - Mai Châu (Ăn trưa, tối):
+ 06h30 : Xe và HDV của MaiChautourist sẽ đón quý khách tại điểm hẹn ở Hà
Nội để bắt đầu tour du lịch Mai Châu 2 ngày 1 đêm.
+ 08h30 : Q khách đến Lương Sơn – Hịa Bình, nghỉ dừng chân, chụp ảnh
cùng bạn bè. Lương Sơn là cửa ngõ đi vào Hịa Bình. Ở Lương Sơn q khách
có thể chiêm ngưỡng những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi,
những hang động..…tất cả đều tạo nên một cảnh sắc rất thơ mộng.
+ 10h00 : Quý khách tiếp tục dừng chân nghỉ ngơi và chụp ảnh tại đèo Thung
Khe – Hịa Bình. Khi tới đèo Thung Khe quý khách sẽ thấy một khung cảnh đẹp
hết sức bình dị như là biển mây và…ngơ luộc, mía tía, cơm lam, cải mèo. Ở
Thung Khe – Hịa Bình một ngày như có bốn mùa. Sáng trong trẻo, trưa chói
chang, chiều dìu dịu và khi màn đêm bng xuống là sương mù dày đặc.
+ 11h00 : Quý khách đặt chân đến bản Lác – Mai Châu. Bản Lác được mệnh
danh là thủ đô của người Thái. Quý khách nghỉ ngơi, dùng bữa trưa với những
món ăn truyền thống mang hương vị của núi rừng.
+ 14h00 – 17h00 : Quý khách tham gia chương trình khám phá thung lũng Mai
Châu, thăm những ngôi nhà sàn nhỏ xinh của người Thái để tìm hiểu những nét
văn hóa, phong tục tập qn độc đáo của họ. Nhà sàn ở bản Lác được dát bằng
tre, rộng, cao ráo, sạch sẽ và giữ được truyền thống kiến trúc cổ, bên trong có
đầy đủ chăn, đệm, gối được gấp ngăn nắp, gọn gàng. Sát cạnh sàn ngủ - nghỉ là
sàn ngồi để ăn cơm và uống trà. Ghé thăm bản Lác, du khách không thể bỏ qua
những món ăn đặc sản như gà bản, xiên thịt rừng nướng, nếp Mai Châu, bát
19
canh rau rừng cùng chai rượu Mai Hạ... Hướng dẫn viên sẽ đưa bạn tới thăm
những gian hàng thổ cẩm, cùng học cách dệt thổ cẩm, quý khách có thể tự do
mua sắm quà tặng lưu niệm cho người thân và chụp hình cùng người dân bản
địa.
+ 18h30 : Quý khách dùng bữa tối tại nhà sàn truyền thống của người Thái.
+ 19h30 – 20h30 : Quý khách tham gia các hoạt động, chương trình giao lưu
văn nghệ, múa hát của các chàng trai, cô gái dân tộc Thái, uống rượu cần, đốt
lửa trại, thưởng thức ngô nướng và không gian Mai Châu về đêm (chi phí tự túc)
- Quý khách ngủ đêm tại nhà sàn truyền thống của người Thái.
Ngày 2: Mai Châu – Hà Nội (Bữa sáng, trưa)
+ 7h00 : Quý khách thức dậy ngắm cảnh bình minh, tận hưởng những giây phút
tĩnh lặng, yên bình trước khi có điểm tâm nhẹ
+ 8h30 – 11h00 : Hướng dẫn viên sẽ đưa quý khách thăm khu chợ địa phương
trong thị trấn Mai Châu. Thăm hang Chiều với 1200 bậc đá.
+ 12h00 : Quý khách quay trở lại bản Lác dùng bữa, sau đó tự do khám phá, du
lịch Mai Châu trước khi ra về.
+ 15h00 : Quý khách lên xe, tạm biệt Mai Châu n bình, đồn trở về Hà Nội.
+ 19h00 : Xe đưa quý khách về tới Hà Nội, HDV chào tạm biệt, chia tay quý
khách, kết thúc hành trình tour du lịch Mai Châu 2 ngày 1 đêm
20
2.3 : Vận dụng văn hóa tộc người Thái trong ứng xử du lịch
- Khi đến nhà, đi đường, du khách cần chủ động chào hỏi bằng thái độ chân
thành, nụ cười thật thà sẽ xoá đi mặc cảm bất đồng ngơn ngữ. Khi chia tay có
thể bắt tay, khơng cần nói lời tạm biệt, hẹn gặp lại nhưng ln nở nụ cười.
- Tuyệt đối không xoa tay lên đầu trẻ em người Thái,... Vì theo quan niệm của
họ, hồn người trú ngụ ở đầu, người lạ sờ vào, hồn hoảng sợ bỏ trốn, làm cho trẻ
hay bị ốm đau.
- Bạn cũng không nên huýt sáo khi dạo chơi ở bản bởi những người dân tộc
quan niệm việc huýt sáo là gọi ma quỷ về.
- Lưu ý khi vào nhà dân
Trước khi đến nhà người dân, việc đầu tiên bạn cần làm là quan sát xem ở trước
cửa nhà, ở đầu cầu thang có cắm hoặc treo một cành lá xanh, một cành gai, tấm
phên đan hình mắt cáo hay khơng. Nếu thấy những dấu hiệu đó, đừng nên bước
chân vào nhà vì đó là dấu hiệu kiêng kỵ khơng muốn người lạ vào.
Nhà người Thái thường có 2 đầu cầu thang, phụ nữ chỉ được lên cầu thang bên
trái, khơng được lên cầu thang bên phải.
Mỗi dân tộc có quan niệm khác nhau về vị trí chỗ ngồi. Vì vậy, cần lưu ý khơng
ngồi vào một số vị trí đặc biệt.. Nhà người Thái, nơi giáp cửa sổ, gia chủ đặt hai
chén con có ý giành cho tổ tiên về tiếp khách, du khách cũng không ngồi ở vị trí
đó.
Ở vị trí quan trọng nhất trong nhà (vách nhà ở gian giữa hoặc góc đầu nhà sàn,
là nơi thờ tổ tiên. Trang trí nơi thờ tổ tiên mỗi dân tộc có khác nhau, nhưng đều
chung một quan niệm: Nơi thờ tổ tiên là chốn linh thiêng nhất. Du khách khơng
được đặt mũ, nón, tư trang cá nhân và bất cứ đồ dùng nào ở nơi đó. Tuyệt đối
khơng được sờ tay lên các đồ thờ cúng. Khi ngồi không được quay lưng vào nơi
thờ.
21
Bếp lửa vừa là nơi nấu nướng vừa là nơi tiếp khách của đồng bào các dân tộc,
đồng thời là nơi thiêng liêng thờ vua bếp, thần lửa. Do đó có nhiều điều kiêng kị
liên quan đến bếp lửa, ngồi cạnh bếp lửa sưởi không đặt chân lên hoặc làm xê
địch hịn đá kê làm kiềng, vì theo quan niện của một số dân tộc thì các hịn đá
này là nơi trú ngụ của thần lửa. Khi ngồi gần bếp, du khách không quay lưng và
giẫm chân vào bếp.
- Lưu ý khi ăn uống
Khi ăn cơm, nên chú ý và tôn trọng sự sắp đặt của chủ nhà, không được ngồi
ngang hàng với người già nhất trong mâm. Quan niệm về chỗ ngồi của mỗi dân
tộc khác nhau. Người Thái, tùy thuộc vị trí đặt mâm cơm hoặc gần cửa sổ gia
chủ đặt hai chén con có ý giành cho tổ tiên về tiếp khách, khách khơng ngồi ở vị
trí đó.
Khi có người mời rượu, hoặc mời mọi người xung quanh mới được uống, không
nên cầm ly uống ngay. Uống được bao nhiêu do khả năng của mình, bạn khơng
nên từ chối và không dùng từ "uống hết" mà nên dùng "uống cạn". Nhiều dân
tộc quan niệm nếu dùng từ “uống hết” nghĩa là chủ và khách khơng cịn tình
cảm gì.
Bạn cũng khơng được rót rượu, gắp thức ăn trước chủ nhà. Đặc biệt, khi dùng
cơm xong không được úp bát, chén xuống mâm, chỉ thầy cúng mới được phép
làm như vậy để đuổi tà ma.
Khi ngồi uống rượu cần, giao lưu, chuyện trị cùng gia chủ khơng được vừa nói,
vừa chỉ trỏ ngón tay ra phía trước.
- Lưu ý khi ngủ
Bạn cần lưu ý chỗ ngủ tuân theo sự bố trí của gia chủ, khơng nằm để chân về
phía bàn thờ. Ở một số vùng người Thái... bà con kiêng không mắc màn màu
trắng trong nhà.
22
PHẦN III : KẾT LUẬN
Văn hóa là bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân cư. Hoạt động du lịch, đặc biệt
là hình thức du lịch cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống . Nhờ du lịch, người dân nhận thấy
những giá trị văn hóa cốt lõi mang bản sắc quê hương không chỉ là niềm tự hào
mà còn mang lại nguồn thu nhập khá lớn cho đồng bào dân tộc Thái. Do vậy,
người dân sẽ ý thức sâu sắc hơn trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn
hóa truyền thống bản địa như: nếp sống, sinh hoạt văn nghệ, ẩm thực, trang phục
truyền thống… Bên cạnh đó, các mối quan hệ giữa những người dân địa phương
với nhau và với khách du lịch khơng những được duy trì ổn định mà cịn trở nên
thân thiện hơn, gắn bó chặt chẽ với nhau hơn để xây dựng môi trường sống lành
mạnh, xanh, sạch.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
/>
%C3%A1i_(Vi%E1%BB%87t_Nam)
2. />3.
/>
hoa-dan-toc-thai-tay-bac/
24