BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: LUẬT DÂN SỰ HP1
Câu hỏi: Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu
tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó.
Họ và tên: Nguyễn Đức Chiến
Lớp: Luật K1VB2 Bắc Giang
Mã SV: VB2BG1003
Bắc Giang, tháng 12 năm 2019
Câu hỏi: Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp? Sưu
tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di chúc đó.
Trả lời
1. Lý luận chung về di chúc
1.1. Khái niệm
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình
cho người khác sau khi chết. Theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố cơ
bản sau:
- Đó là sự thể hiện ý kiến của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể
nào khác;
- Mục đích của lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người
khác;
- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết.
Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di
chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và
điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng. Vì vậy, một người muốn định đoạt
tài sanrcuar mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về
thừa kế theo di chúc.
Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho
người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện
trong bản di chúc. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định thừa kế (
cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa
vụ tài sản…
1.2. Người lập di chúc
Người lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ
hưởng một phần hoặc tồn bộ tài sản của mình.
Nếu trong di chúc có nhiều người thì việc phân chia cho mỗi người được
hưởng bao nhiêu phụ thuộc vào ý chí chí của người có tài sản. Người có tài sản
thể hiện ý chí của mình nhưng ý chí đó có được thực hiện hay khơng phụ thuộc
vào hình thức biểu lộ ý chí.
Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi có các quyền sau
đây:
-Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế
Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức
nào, người được nhận di sản có thể là cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế theo
2
quy định của pháp luật hoặc cũng có thể là nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội…
Quyền định đoạt của người lập di chúccịn được thể hiện thơng qua việc
họ có thể truất quyền hưởng di sản của người thừa kế (như: cha, mẹ, vợ, chồng,
con, anh, chị, em ruột…) mà không nhất thiết phải nêu lý do, người lập di chúc
có thể chỉ định hay nhiều người thừa kế theo luật không được hưởng di sản thừa
kế của mình.
-Phân định phần di sản cho từng người thừa kế
Phân định di sản cho người thừa kế trong trường hợp có nhiều người cùng
được thừa kế. Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người không
nhất thiết phải ngang nhau và không cần nêu lý do. Nếu khơng phân định di sản
trong di chúc thì di sản được chia đều cho những người chỉ định trong di chúc.
-Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
-Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản
Người lập di chúc có quyền giao nghia vụ cụ thể cho người thừa kế (như
giao cho người thừa kế được hưởng một căn nhà nhưng để lại cho một bạn thân
bị tàn tật mà trước đây vẫn sống nương nhờ vào người để lại được ở một phần
căn nhà đó cho đến khi người này chết hoặc giao cho người thừa kế phải trả một
món nợ Nhà nước mà người để lại di sản chưa trả…)
Người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ cho một người mà không cho họ
hưởng di sản. Trường hợp này không bắt buộc người được giao nghĩa vụ phải
thực hiện nghĩa vụ đó. Nếu giao nghĩa vụ và cho hưởng di sản thì người được
giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản được hưởng đó.
-Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia tài
sản.
Bộ luật dân sự quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người giữ di
chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. Việc chỉ định người giữ di
chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản là hoàn toàn theo ý tự nguyện
của người lập di chúc. Người lập di chúc có thể cử một người vừa giữ di chúc
đồng thời vừa quản lý di sản và phân chia di sản. Nhưng người lập di chúc vẫn
có thể cử nhiều người, mỗi người làm một việc riêng.
1.3. Các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của người lập di
chúc, do đó để di chúc có hiệu lực pháp luật thì phải tn thủ các điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và phải tuân thủ các điều kiện được coi
là di chúc hợp pháp:
3
-Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể (Điều 625 BLDS 2015) ;
Người lập di chúc là người có tài sản muốn dịch chuyển tài sản của mình
cho người khác hưởng sau khi chết. Họ thể hiện ý chí của bản thân thơng qua
việc lập di chúc. Như vậy, người lập di chúc phải có năng lực chủ thể (năng lực
hành vi dân sự). Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chính là khả năng của cá
nhân bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng
lực pháp luật của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân được sinh ra nhưng năng lực
hành vi dân sự của cá nhân phát sinh đầy đủ khi người đó đạt đến độ tuổi nhất
định (đủ 18 tuổi); Năng lực pháp luật của cá nhân chấm dứt khi người đó chết
thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó bị mất năng lực
hành vi dân sự.
Vì vậy, một người được coi là có năng lực hành vi dân sự (có đủ điều kiện
để viết di chúc), khi người đó bằng khả năng của mình thực hiện hành vi, mà
bằng hành vi đó, người đó đã xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong quan hệ
pháp luật thừa kế, người lập di chúc bằng hành vi định đoạt tài sản thuộc sở hữu
của mình thơng qua việc lập di chúc đã xác lập quyền hưởng di sản cho người
được thừa kế theo di chúc. Cũng đồng thời xác lập nghĩa vụ cho người quản lý
di sản. Bằng hành vi lập di chúc, người lập di chúc đã thực hiện quyền định đoạt
đối với những tài sản của mình cho người thừa kế được chỉ định trong di chúc.
Quyền của người lập di chúc thể hiện ở chỗ: Người lập di chúc có quyền định
đoạt cho ai, cho bao nhiêu, chỉ cho sử dụng tài sản hay cho sở hữu tài sản…
Đối với những người đã thành niên nhưng bị bệnh tâm thần hoặc mắc các
bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì khơng
có quyền lập di chúc. Nếu họ lập di chúc, thì di chúc đó khơng được cơng nhận.
Điều 625 BLDS 2015 quy định người được quyền lập di chúc đó là:
Thứ nhất, là người thành niên minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;
không bị lừa rối, đe dọa, cưỡng ép lập di chúc thì có quyền lập di chúc để định
đoạt tài sản của mình.
Thứ hai, là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được
lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Tuy nhiên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc
nhưng với điều kiện phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc
người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc (khoản 2 Điều 630 BLDS). Sự đồng ý
ở đây là đồng ý cho họ lập di chúc còn về nội dung di chúc thì họ được tồn
quyền quyết địn
- Người lập di chúc tự nguyện;
4
Nguyên tắc tự nguyện trong việc tham gia các giao dịch dân sự là một
nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Bộ luật dân sự năm 2015. Trong giao lưu
dân sự, các bên đều phải hoàn toàn tự nguyện, khơng bên nào được áp đặt, cấm
đốn, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào.
Lập di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc. Vì vậy,
cũng như các giao dịch dân sự khác, việc lập di chúc cũng phải thể hiện ý chí tự
nguyện của người lập di chúc. Vì vậy, muốn xác định một di chúc có phải là ý
chí tự nguyện của người lập di chúc hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất
giữa ý chí của người lập di chúc và sự thể hiện ý chí đó trong nội dung của di
chúc. Chỉ khi nào di chúc phản ánh một cách trung thực, khách quan những
mong muốn của người lập di chúc thì sự định đoạt đó mới được coi là tự
nguyện. Trong trường hợp người lập di chúc bị đe dọa thì di chúc đó bị vơ hiệu,
khơng phát sinh hiệu lực pháp luật. Mọi hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép…
người lập di chúc đều bị coi là trái pháp luật.
-Nội dung di chúc không trái với pháp luật, đạo đức xã hội;
Theo quy định tại Điều 631 BLDS 2015, di chúc gồm các nội dung chủ
yếu sau đây: Một là ngày, tháng, năm lập di chúc; Hai là họ, tên và nơi cư trú
của người lập di chúc; Ba là họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
Bốn là Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngồi các nội dung trên thì di chúc cịn có thể có các nội dung khác như:
chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; xác định rõ các
điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Xác định ai là người
phụ trách quản lý di sản …
Có thể nói, nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc
về việc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế. Người lập di chúc
chỉ định người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, phân định di sản thừa
kế, đưa ra các điều kiện để chia di sản thừa kế… Ý chí của người lập di chúc
phải phù hợp với các quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội,
tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3
BLDS 2015.
-Hình thức của di chúc khơng trái quy định của pháp luật.
2.Các điều kiện về hình thức để một bản di chúc hợp pháp.
Hình thức của di chúc là phương thức biểu đạt ý chí của người lập di
chúc; là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc; là chứng cứ
để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc. Vì vậy di chúc phải
được lập dưới một hình thức nhất định. Pháp luật quy định có hai hình thức của
di chúc đó là hình thức văn bản, hình thức miệng.
5
2.1. Di chúc miệng:
Di chúc miệng hay còn gọi là chúc ngơn là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí
của người để lại di sản thừa kế lúc cịn sống trong việc định đoạt khối di sản của
mình cho người khác sau khi mình chết.
Di chúc miệng chỉ được công nhận là hợp pháp khi người lập di chúc ở
trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết
được ( bị bệnh nguy kịch sắp chết, bị tai nạn có nguy cơ chết..). Người lập di
chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và
ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ.
Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng
thì di chúc phải được cơng chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực
xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng (Khoản 5 Điều 630 Bộ luật
dân sự) Sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người lập di chúc còn
sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng hủy bỏ (khoản 2 Điều 629 Bộ luật
dân sự).
2.2. Di chúc bằng văn bản:
Là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết tay, đánh máy, in)
có chứng nhận hoặc khơng có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Theo quy định của pháp luật, tất cả các di chúc được thể hiện bằng hình
thức văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về nội dung, đồng thời mỗi hình
thức cụ thể của di chúc viết phải tuân theo một trình tự tương ứng. Để bản di
chúc thể hiện dưới hình thức bằng văn bản có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp
luật bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể, người lập di chúc cần phải đáp ứng
các yêu cầu về nội dung đối với mọi di chúc viết như sau:
- Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc
Đây là một nội dung hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong việc
xác định tính hiệu lực của di chúc, vì thơng qua ngày, tháng, năm lập di chúc sẽ
xác định được tại thời điểm đó người lập di chúc có năng lực hành vi dân sự,
minh mẫn, sáng suốt hay không… Mặt khác, trong trường hợp người quá cố để
lại nhiều bản di chúc thì sẽ căn cứ vào ngày tháng năm trong di chúc để chúng ta
xác định đâu là biểu hiện ý chí sau cùng của người chết và là di chúc có hiệu lực
pháp luật. Vì theo quy định của Bộ luật dân sự thì “khi một người để lại nhiều
bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp
luật” do vậy tất cả những bản di chúc lập trước đều bị hủy bỏ. Bản di chúc sau
cùng thể hiện ý chí sau cùng mới có hiệu lực pháp luật.
- Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc
Theo quy định của pháp luật thì địa điểm mở thừa kế, thẩm quyền giải quyết của
6
Tịa án khi có tranh chấp đều được xác định thông qua nơi cư trú của người lập
di chúc do đó di chúc phải xác định rõ nơi cư trú của người lập di chúc là một
yêu cầu quan trọng. Hơn nữa do di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của
một bên chủ thể trong một giao dịch dân sự nên cần phải ghi rõ họ tên đầy đủ
của người thể hiện ý chí đó.
-
Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di
sản
Khác với những người hưởng thừa kế theo pháp luật là những người nằm
trong diện, hàng thừa kế có quan hệ huyết thống, quan hệ ni dưỡng theo quy
định của pháp luật trong khi những người được hưởng thừa kế theo di chúc lại
không bị giới hạn phạm vi như trên. Những người được hưởng thừa kế theo di
chúc cũng có thể là tổ chức, cá nhân bất kì, bằng ý chí của mình lập di chúc có
thể định đoạt cho bất kì ai hưởng di sản của mình.
- Di chúc phải ghi rõ di sản và nơi có di sản: Di sản thừa kế chỉ là những
di sản thuộc sở hữu của người chết, và chỉ với những tài sản thuộc sở hữu của
mình thì người lập di chúc mới định đoạt người thừa kế. Do vậy nếu di sản được
ghi rõ ràng trong di chúc sẽ giúp chúng ta xác định được người lập di chúc họ có
những tài sản nào và được phân định ra sao.
- Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung
của nghĩa vụ:
Theo nguyên tắc chung, tất cả những người hưởng di sản thừa kế đều
phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trên cơ sở tương ứng với
kỉ phần tài sản mà họ được hưởng. Ngoài ra việc giao nghĩa vụ cho những người
thừa kế là một trong những quyền định đoạt của người lập di chúc. Vì vậy trong
di chúc, người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ riêng cho từng người được
hưởng thừa kế để họ thực hiện, người lập di chúc phải ghi rõ cơ quan cá nhân tổ
chức nào thực hiện nghĩa vụ mà người chết để lại. Tuy nhiên nếu trong di chúc
mà khơng có sự định đoạt nghĩa vụ riêng cho từng người thì tất cả những người
hưởng thừa kế sẽ cùng nhau thực hiện nghĩa vụ mà người lập di chúc để lại.
- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu; nếu di chúc gồm
nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ kí hoặc điểm chỉ
của người lập di chúc.
Do di chúc là sự thể hiện ý chí của người chết, vì vậy để di chúc được rõ
ràng cụ thể, tránh sự tranh cãi giữa những người thừa kế về sau này thì người lập
di chúc khơng được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu để biểu đạt ý chí của mình.
Ngồi ra pháp luật cịn quy định để đảm bảo tính khách quan và chính xác
cho bản di chúc và ý chí của người lập trong trường hợp bản di chúc có nhiều
7
trang thì pháp luật yêu cầu người lập di chúc phải đánh số trang theo thứ tự và
phải kí hoặc điểm chỉ vào từng trang của di chúc nhằm tránh tình trạng người
khác thêm, bớt, giả mạo hoặc thay thế từng trang của di chúc làm sai lệch ý chí
của người lập di chúc.
Di chúc bằng văn bản gồm các loại sau:
+ Di chúc bằng văn bản khơng có người làm chứng. Loại di chúc này
được quy định tại Điều 33 Bộ luật dân sự 2015: Người lập di chúc phải tự viết
và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản khơng có người làm chứng
phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này.. Di chúc gồm các nội dung
chủ yếu sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngồi các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các
nội dung khác.. Di chúc khơng được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc
gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm
chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người
tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa,
sửa chữa
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: “Trong trường hợp người
lập di chúc khơng tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc
nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai
người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc
trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký,
điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy
định tại Điều 631 và Điều 632 của Bộ luật này.
+ Di chúc có cơng chứng hoặc chứng thực: Người lập di chúc có thể u
cầu cơng chứng hoặc chứng thực bản di chúc (Điều 635)
+ Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân
dân cấp xã (Điều 636)
Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân
cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:
Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên
hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng
8
viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi
chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc
điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính
xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Cơng chứng viên hoặc người có thẩm
quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.
Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản
di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và
người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm
quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Cơng chứng viên hoặc người có
thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc
trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.
Người không được công chứng, chứng thực di chúc (Điều 637)
Cơng chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã
không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc
theo pháp luật.
Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được cơng chứng hoặc chứng
thực (Điều 638).
Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp
đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.
Xuất phát từ lí do do người lập di chúc là quân nhân đang làm nhiệm vụ,
đóng quân ở xa nơi công chứng, chứng thực hoặc do nhiệm vụ đặc biệt. Mặt
khác quyền lập di chúc là quyền luôn được pháp luật ưu tiên và đảm bảo thực
hiện vì vậy với những lí do chính đáng mà cá nhân không thể lập di chúc theo
thủ tục chứng thực thì di chúc của họ chỉ cần có xác nhận là vẫn có hiệu lực
pháp luật.
Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người
chỉ huy phương tiện đó.
Quy định này mang tính chất dự phòng do đặc thù của 2 loại phương tiện
trên khiến cho những hành khách trên phương tiện không có khả năng tiền hành
cơng chứng và chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền được khi mà hai phương
tiện này chưa cập cảng hoặc hạ cánh. Do vậy trong trường hợp cá nhân đang đi
lại hoặc làm việc trên 2 phương tiện này nếu có nhu cầu làm di chúc thì chỉ cần
9
cơ trưởng hoặc thuyền trưởng có thẩm quyền xác nhận di chúc trong lúc máy
bay chưa hạ cánh hoặc tàu biển chưa cập bến là bản di chúc đó cũng được thừa
nhận và có hiệu lực pháp luật.
Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều
dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.
Khi đã nằm viện hoặc ở trong cơ sở chữa bệnh thì họ có thể bị ốm đau
bệnh tật, vì vậy khi có nhu cầu lập di chúc thì dù cơ sở chữa bệnh hoặc bệnh
viện có gần cơ sở cơng chứng, chứng thực nhưng họ cũng không thể đến để yêu
cầu công chứng chứng thực di chúc được do vậy nếu di chúc trong hoàn cảnh
trên thì chỉ cần có xác nhận của người phụ trách bệnh viện hoặc cơ sở chữa bệnh
tại nơi họ đang điều trị.
Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở
vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.
Do yêu cầu công việc mà nhiều người đang phải làm việc ở những nơi mà
điều kiện cho việc công chứng, chứng thực gặp nhiều khó khăn. Cơng việc tại
vùng rừng núi hải đảo không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi, thuyền xuyên phải
đối mặt với nguy hiểm. Vì thế, pháp luật đã quy định trong điều kiện trên nếu cá
nhân muốn lập di chúc thì chỉ cần có xác nhận của Tổ trưởng tổ cơng tác hoặc
Trưởng nhóm nghiên cứu là được.
Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngồi có chứng nhận của cơ
quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.
Do yêu cầu công việc mà nhiều người đang phải làm việc ở những nơi mà
điều kiện cho việc công chứng, chứng thực gặp nhiều khó khăn. Cơng việc tại
vùng rừng núi hải đảo không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi, thuyền xuyên phải
đối mặt với nguy hiểm. Vì thế, pháp luật đã quy định trong điều kiện trên nếu cá
nhân muốn lập di chúc thì chỉ cần có xác nhận của Tổ trưởng tổ cơng tác hoặc
Trưởng nhóm nghiên cứu là được.
Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt
tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở
chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó
Do tính chất của hoạt động tố tụng nên những người đang bị tạm giam,
đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính
tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh khơng thể tự do đi lại được. Vì thế nếu
những người này
muốn lập di chúc thì chỉ cần trong di chúc có xác nhận của người phụ
trách cơ sở đó là có giá trị pháp lý.
10
3. Sưu tầm một bản di chúc và chỉ ra hình thức hợp pháp của bản di
chúc đó
Anh Hưng và chị Hồn là 2 vợ chồng có tài sản chung là 980 triệu, có 3
con chung là Trung (20 tuổi, đi làm và có thu nhập), Ngân (14 tuổi), Oanh (9
tuổi). trong một lần về quê thì 2 vợ chồng anh Hưng bị tai nạn làm anh Hưng và
chị Hoàn chết ngay sau đó. Trước khi chết anh Hưng có di chúc bằng miệng
trước sự chứng kiến của nhiều người là để lại toàn bộ tài sản cho 4 người là:
Trung, Ngân, Oanh và ông Hải - là bác của Hưng). Một trong số những người
chứng kiến đã ghi chép lại và mời thêm 2 người khác cùng chứng kiến ký tên
với các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc.
- Họ, tên anh Hưng, địa chỉ
- Họ, tên người được hưởng di sản: ồng 5 người
- Di sản để lại và nơi có di sản.
- Người ghi chép và người làm chứng ký tên.
Đến khi ông Hải là bác của anh Hưng đến nơi hiện trường nhứng người
chứng kiến đã trao bản ghi chép trên cho ông Hải và ông Hải đã đi chứng thực
trong ngày thứ 4 liền kề sau đó.
Di chúc của anh Hưng lập là di chúc miệng theo quy định tại Điều 651 Bộ
luật Dân sự: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh
tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể
di chúc miệng”. Điều 652 BLDS quy định tính hợp pháp của di chúc miệng như
sau: Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý
chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó
những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn
năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc
phải được công chứng hoặc chứng thực.
Theo quy định của pháp luật, di chúc miệng - di nguyện bằng lời
nói của người có tài sản trước khi chết để lại có giá trị pháp lý khi đáp ứng các
điều kiện sau:
Thứ nhất, người để lại di nguyện phải trong trường hợp tính mạng bị đe
dọa bởi cái chết do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác không để lại di chúc
bằng văn bản;
Thứ hai, người có tài sản phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt
ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại,
cùng ký tên hoặc điểm chỉ;
11
Thứ ba, trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện
ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực;
Thứ tư, sau ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng người di chúc khơng
cịn sống, khơng minh mẫn, sáng suốt.
Như vậy, đối với trường hợp của hình thức của bản di chúc trên là hợp
pháp, bởi khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm
trọng mà không thể lập di chúc viết được: bị bị tai nạn có nguy cơ chết.
- Di chúc miệng của Anh Hưng thể hiện ý chí cuối cùng có sự chứng kiến
của nhiều người đã thỏa mãn điều kiện:
+ Không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người
lập di chúc;
+ Không phải là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung
di chúc;
+ Không phải là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Ngay sau khi anh Hưng thể hiện ý chí cuối cùng đã được ghi chép lại
những người ghi chép và người làm chứng cùng kí tên. .. Đồng thời khi ghi chép
lại di nguyện cuối cùng của anh Hưng cũng đảm bảo các nội dung chủ yếu sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
- Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện
ý chí cuối cùng gia đình anh Hưng đã chứng thực xác nhận chữ ký của người
làm chứng.
12
13
/>
Tình huống 1:
Người cha mất để lại di chúc ủy quyền nhờ cơ quan pháp chứng phân
chia tài sản.người con và mẹ tưởng sẽ nhận được tài sản thì xuất hiện một
đứa con riêng của người chồng và di chúc cũng phân chia tài sản cho
người con. Hỏi: nếu ông để lại di chúc cho người con riêng mà 2 người kia
trước đó khơng biết này mà khơng để lại cho 2 mẹ con thì 2 mẹ con có
quyền được hưởng khơng,hình như có Điều luật nào đó quy định là người
mẹ có quyền nhận khơng phụ thuộc vào di chúc (người con không được
nhận này đã trên 18 tuổi)
Hỏi thêm: người con riêng này có ngang hàng với 2 mẹ con khi chia di
sản không?
Đáp án tham khảo:
Theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015. Người thừa kế không phụ thuộc
vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba
suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp
luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản
hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà khơng có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận
di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền
hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Vì vậy nếu người cha mất thì người vợ vẫn được hưởng theo quy định của
người kia, cịn người con đã thành niên và khơng thuộc khoản 2 Điều 644
thì khơng được hưởng vì người cha trong di chúc không cho người con
hưởng.
Theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 thì người con riêng có quyền đứng
ngang hàng thừa kế đối với việc phân chia di sản của người cha để lai.
Tình huống 2:
Ơng Khải và Bà Ba kết hôn với nhau năm 1947 và có 3 con là anh Hải, anh
Dũng, chị Ngân. Chị Ngân kết hơn với anh Hiếu và có con chung là Hạnh.
Năm 2018, Ơng Khải chết có để lại di chúc cho con gái và cháu ngoại được
hưởng toàn bộ di sản của ông trong khối tài sản chung của ông và bà Ba.
Một năm sau bà Ba cũng chết và để lại toàn bộ di sản cho chồng, các con
người em ruột của chồng tên Lương. Năm 2009, anh Dũng chết do bệnh
nặng và có di chúc để lại tất cả cho anh ruột là Hải. Sau khi Dũng chết thì
những người trong gia đình tranh chấp về việc phân chia di sản.
Hãy giải quyết việc tranh chấp, biết rằng bà Ba và ơng Khải khơng
cịn người thân thích nào khác, anh Hải có lập văn từ chối hưởng di sản của
bà Ba và anh dũng theo đúng qui định của pháp luật, chị Ngân cũng từ
chối hưởng di sản của anh Dũng, tài sản chung của ông Khải và bà Ba cho
đến thời điểm ông Khải chết là 1.2tỷ, sau khi ơng Khải chết, bà Ba cịn tạo
lập một căn nhà trị giá 300 triệu.
Đáp án tham khảo:
14
Tình huống của bạn có vài chỗ khơng ổn, này nhé:
– Thứ nhất, anh Dũng di chúc toàn bộ tài sản lại cho anh Hải, vậy có
nghĩa là khơng có tên chị Ngân trong di chúc của anh Hải, vậy tại sao lại
có chj chị Ngân từ chối hưởng tài sản anh Dũng để lại?
– Thứ hai,”các con người em ruột của chồng tên Lương”, chỗ này bạn viết
như thế người đọc dễ hiểu nhầm, theo P hiểu thì đó là các con của bà Ba
và
người
em
ruột
của
chồng
tên
là
Lương.
Rắc rối nhỉ. Theo P, khi ơng Khải chết đã di chúc lại tồn bộ tài sản của
mình trong khối tài sản chung của 2 ông bà cho con gái và cháu ngoại,
như vậy một số tài sản của ông Khải (tạm xác định là 1/2×1,2t tỷ) sẽ được
chia đều cho con gái vá cháu ngoại, mỗi người 300 triệu.
Vậy, sau khi thực hiện di chúc của ơng Khải, số tiền cịn lại thuộc tài sản
của bà Ba là 600 + 300 = 900 triệu. Bà Ba chết để lại tài sản cho các con
và người em ruột của chồng là Lương (tổng cộng 4 người), vậy số tiền 900
triệu sẽ được chia đều tiếp cho 4 người, mỗi người 225 triệu.
Anh Dũng thừa kế từ bà Ba 225 triệu, sau khi anh chết, di chúc toàn bộ tài
sản này cho anh Hải, vậy anh Hải được hưởng thêm số tài sản này. Do anh
Hải từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh Dũng, nên còn dư ra 500 triệu.
500 Triệu này theo P sẽ được chia tiếp theo pháp luật, theo hàng thừa kế
thứ nhất gồm chị Ngân, vợ con anh Hải (nếu có)
Tình huống 3:
Ơng A, bà B có con chung là C, D (đều đã thành niên và có khả năng lao
động). C có vợ là M có con X,Y. D có chồng là N có một con là K. Di sản của
A là 900 triệu. Chia thừa kế trong các trường hợp riêng biệt sau:
1. C chết trước A. A di chúc hợp pháp để lại toàn bộ di sản cho X.
2. C chết trước A. D chết sau A (chưa kịp nhận di sản)
3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di sản
Đáp án tham khảo:
Di sản ông A để lại là 900 triệu.
Trường hợp 1. C chết trước A. A di chúc để lại toàn bộ di sản cho X.
A làm di chúc để lại toàn bộ di sản cho X. Tuy nhiên, bà B (vợ ông A) là
người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều
644 BLDS 2015). Theo đó, bà B phải được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế
theo pháp luật (là 200 triệu). Theo đó, bà B sẽ được hưởng 200 triệu và
phần còn lại sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc (X được hưởng thừa
kế của ông A là 700 triệu).
Trường hợp 2. C chết trước A, D chết sau A. A chết không để lại di chúc.
A chết khơng để lại di chúc thì di sản của A sẽ được chia theo pháp luật.
Khi đó, bà B, D, C là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của A (Điều
651 BLDS 2015) nên mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau
là 300 triệu.
Do C chết trước A nên con của C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C
(theo Điều 652 BLDS 2015).
D chết sau A, nếu A để lại di chúc thì sẽ được thực hiện theo nội dung di
chúc. Cịn nếu A chết khơng để lại di chúc (hoặc phần tài sản mà D được
nhận từ di sản của ông A không được định đoạt trong di chúc) thì di sản A
15
để lại sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, bà B (mẹ D), anh N (chồng D), K
(con D) sẽ được chia theo pháp luật mỗi người một phần bằng nhau.
Trường hợp 3. A chết cùng thời điểm với C. A di chúc để lại cho K ½ di
sản.
Ơng A chết cùng thời điểm với anh C nên ông A sẽ không được hưởng thừa
kế từ di sản của anh C để lại (theo Điều 619 BLDS 2015).
Ông A chết để lại di chúc cho K hưởng ½ di sản của ơng. Theo đó, K được
thừa kế 450 triệu của ông A. Phần di sản không được ông A định đoạt trong
di chúc (450 triệu) được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015).
Theo đó, phần di sản này sẽ được chia cho bà B = C = D = 150 triệu. Anh
C đã chết nên con anh C là X, Y sẽ được hưởng thừa kế thế vị phần của
anh C.
Khi chia thừa kế trong trường hợp này, bà B là người được hưởng thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung di chúc (theo Điều 644 BLDS 2015). Phần di
sản không được ông A định đoạt trong di chúc khi chia theo pháp luật
không đảm bảo cho bảo cho bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp
luật nên phần thiếu (50 triệu) sẽ được lấy từ phần mà K được hưởng theo
nội dung di chúc.
Tình huống 4:
Năm 1950, Ơ A kết hơn với bà B. Ô bà sinh được 2 người con gái là chị X
(1953) & chị Y (1954). Sau một thời gian chung sống, giữa Ô A & bà B phát
sinh mâu thuẫn, năm 1959 Ô A chung sống như vợ chồng với bà C. A & C
sinh được anh T (1960) & chị Q (1963). Tháng 8/1979, X kết hôn với K, anh
chị sinh được 2 con là M & N (1979-sinh đôi). Năm 1990, trên đường về
quê chị X bị tai nạn chết. Năm 1993, Ô A mắc bệnh hiểm nghèo & đã qua
đời. Trước khi chết, Ơ A có để lại bản di chúc với nội dung cho anh T thừa
hưởng tồn bộ tài sản do ơng A để lại. khơng đồng ý với bản di chúc đó,
chị Y đã yêu cầu tòa án chia lại di sản của bố mình. Qua điều tra tịa án
xác định khối tài sản của Ô A và bà B là 500 triệu đồng. Hãy xác định hàng
thừa kế đối với những người được hưởng di sản thừa kế của chị X & Ô A?
Đáp án tham khảo:
Theo dữ kiện bài ta thấy năm 1959 ông A chung sống như vợ, chống với bà
C thì việc này pháp luật vẫn thừa nhận ơng A và bà C là vợ chồng hợp
pháp.
Năm 1990, chị X chết nhưng đề bài khơng nói tài sản của chị X là bao
nhiêu nên ta xem bằng 0.
Năm 1993 ông A mất và có lập di chúc để lại tồn bộ tài sản cho anh T.
Tài sản của ông A và bà B có được là 500 triệu
Tài sản của ông A và bà C đề bài không nêu nên ta xem như bằng 0.
Di sản của ông A là 500/2 = 250 triệu.
250 triệu chính là giá trị tài sản mà ơng A có quyền định đoạt.
Tài sản của anh T được hưởng là 250. Tuy nhiên theo quy định pháp luật thì
những người sau đây được hưởng thừa kế gồm bà B và bà C mỗi người
được hưởng 2/3 giá trị của một suất chia theo pháp luật.
16
Người được hưởng thừa kế chia theo pháp luật gồm bà B, bà C, anh T, Q, X,
Y: 250/6 = 41,6 triệu.
Như vậy
Bà B = bà C = 2/3 (250/6) = 27,7 triệu.
Tài sản của anh T còn lại là 250 – (27,7×2) = 194,6 triệu.
Các trường hợp cịn lại khơng được hưởng vì X đã mất, Y, Q đã thành niên
và khơng bị mất năng lực hành vi.
Tình huống 5:
Ơ A kết hơn với bà B sinh được 5 người con. Anh con cả đã chết để lại 2
con: 1 trai & 1 gái đã thành niên. Gia tài của Ơ bà gồm 2 ngơi nhà: 1 ngơi
nhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng. Trước khi chết Ô A
lập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng. Biết đứa con trai
út của Ô bà đã sinh được 1 cháu trai đã thành niên. Sau đó anh con trai út
này đã bị tai nạn & bị tâm thần. Anh (chị) hãy chia tài sản của ông A?
Đáp án tham khảo:
Theo đề bài ta thì tài sản chung của ơng A và bà B là 300 triệu.
Di sản của ông A là 300/2 = 150 triệu.
Ông A để lại cho bà B 100 triệu.
Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150 – 100 =
50 triệu.
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 người
con; do anh con cả mất nên theo Điều 652 BLDS 2015 thì 02 con của anh
cả sẽ được hưởng thừa kế kế vị.
Mỗi người được hưởng là 50/6 = 8,33
Mỗi người con của anh cả là 8,33/2 = 4,165.
Tình huống 6:
Ơng thịnh đã ly hơn với vợ và có 2 người con riêng là Hịa và Bình.
Bà Nguyệt (chồng chết) có 2 người con riên là Xuân và Hạ.
Năm 1993 ông thịnh kết hôn với bà Nguyệt và sinh được 2 người con là
Tuyết và Lê.
Để tránh sự bất hòa giữa mẹ kế và con chồng, ông Thịnh cùng bà Nguyệt
mua một căn nhà để bà Nguyệt cùng các con là Xuân, Hạ, Tuyết, Lê ở
riêng. Trong q trình chung sống, ơng Thịnh thương yêu Xuân và Hạ như
con ruột, nuôi dưỡng và cho 2 người ăn học đến lớn.
Hịa kết hơn với Thuận có con là Thảo.
Xn kết hơn với Thu có con là Đơng.
Hịa bị tai nạn chết vào năm 2016. Ông thịnh bệnh chết vào năm 2017.
Xuân cũng chết vào năm 2018.
Sau khi ơng thịnh qua đời gia đình mâu thuẫn và xảy ra tranh chấp về việc
chia di sản của ông thịnh
17
Qua điều tra được biết: Ơng thịnh có tài sản riêng là 220 triệu đồng. và có
tài sản chung với bà nguyệt (căn nhà bà nguyệt và các con đang sống) trị
giá 140tr đồng.Hịa và Thuận có tài sản chung là 120tr đồng. Xuân và thu
có tài sản chung là 100tr.
Hãy phân chia di sản của ông Thịnh.
Đáp án tham khảo:
– Tổng tài sản của Hịa có 120:2=60tr sẽ để lại cho Thịnh = mẹ của Hòa =
Thuận
=
Thảo
=
60:4
=
15tr
mà bà mẹ kế là Nguyệt khơng được thừa kế vì theo Điều 654 BLDS 2015
chưa có quan hệ như mẹ con.
– Thịnh xem con riêng của Nguyệt như con mình, chăm sóc, cho ăn học
đây là mối quan hệ giữa con riêng với bố dượng theo Điều 654 BLDS 2015,
thì Xuân và Hạ xem như trong hàng thừa kế thứ nhất.
– Ông Thịnh không để lại di chúc.
– Tổng tài sản ông Thịnh là 220 + 140:2 + 15(của Hòa) = 305 triệu
– Vậy những người thừa kế của ông Thịnh gồm 7 người : Nguyệt = Xuân =
Hạ = Tuyết = Lê = Hịa (Thảo kế vị) = Bình = 305:7 = 43.57 triệu.
– Tổng tài sản Xuân có 43.57 + 100:2= 93.57tr sẽ để lại cho Nguyệt = Thu
= Đông = 93.57:3 = 31.19 triệu.
Tóm lại là:
Nguyệt = 140:2 + 43.57 + 31.43=145 triệu
Hạ = 43.57 triệu
Thu = 100 : 2+ 31.19= 81.19 triệu
Đông = 31.19 triệu
Tuyết = 43.57 triệu
Lê = 43.57 triệu
Bình = 43.57 triệu
Thuận = 120 : 2 + 15 = 75 triệu
Thảo = 15 + 43.57 = 58.57 triệu
mẹ của Hịa = 15 triệu
Tình huống 7:
Du và Miên là 2 vợ chồng, có 3 con chung là Hiếu – 1982, Thảo và Chi sinh
đôi – 1994.
Do bất hòa, Du và Miên đã ly thân, Hiểu ở với mẹ còn Thảo và Chi sống với
bố.
Hiếu là đứa con hư hỏng, đi làm có thu nhập cao nhưng ln ngược đãi,
hành hạ mẹ để đòi tiền ăn chơi, sau 1 lần gây thương tích nặng cho mẹ,
hắn đã bị kết án.
Năm 2007 Bà Miên mất, trước khi chết bà miên có để lại di chúc là cho
trâm là e gái 1 nửa số tài sản của mình.
Khối tài sản chung của Du và Miên là 790 triệu
1.
Chia
thừa
kế
trong
tr
hợp
này
2. Giả sử cô Trâm khước từ nhận di sản thừa kế, di sản sẽ phân chia thế
nào.
18
Đáp án tham khảo:
Tài sản của bà miên = 790/2 = 395 triệu.
Do Hiếu bị tước quyền thừa kế nên những người thừa kế theo pháp luật
của bà Miên gồm: ông Du, Thảo, Chi
Chia theo di chúc: Trâm = 395/2 = 197.2 triệu cịn lại là 197.2 triệu khơng
được định đoạt trong di chúc nên Chia theo pháp luật như sau:
Ông Du = Thảo = Chi = 197.2/3 = 65.8 triệu.
Giả sử toàn bộ tài sản được chia theo pháp luật: 1 suất thừa kế theo pháp
luật = 395/3= 131.67 triệu.
1 suất thừa kế bắt buộc là = 131.67 * 2/3 = 87.78 triệu.
Vậy:
Ông Du = Thảo = Chi = 87.7 triệu.
Trâm = 131.66 triệu.
Nếu Trâm từ chối nhận tài sản thừa kế thì tồn bộ tài sản sẽ được chia theo
pháp luật.
Tình huống 8:
A, B kết hơn năm 1950 có 4 con chung C,D,E,F. Vào năm 1957, A – T kết
hơn có 3 con chung H,K,P. Năm 2017, A, C qua đời cùng thời điểm do tai
nạn giao thông. Vào thời điểm C qua đời anh đã có vợ và 02 con G,N. Sau
khi A qua đời để di chúc lại cho C ½ di sản, cho B,T mỗi người ¼ di sản.
Sau khi A qua đời B kiện đến tòa xin được hưởng di sản của A. Tòa xác định
tài sản chung A,B=720 triệu, A,T= 960 tr. Chia thừa kế trong trường hợp
trên?
Đáp án tham khảo:
Ông A mất năm 2017, di sản A để lại là 840 triệu (trong đó: 360 triệu trong
khối tài sản chung với bà B + 480 triệu trong khối tài sản chung với bà T).
Do cuộc hôn nhân của ông A với bà B, ông A với bà T được xác lập trước
thời điểm Luật hơn nhân gia đình năm 1959 có hiệu lực (13/01/1960 ở
miền Bắc, 25/03/1977 ở miền Nam) nên việc có nhiều vợ, nhiều chồng
khơng trái pháp luật (được coi là hợp pháp).
Ông A mất để lại di chúc cho C ẵ di sn (=420 triu); B,T mi ngi ẳ di
sản (B=T= 210 triệu). Do C chết cùng thời điểm với A nên phần di chúc A
để lại cho C khơng có hiệu lực pháp luật (điều 643, 619 BLDS 2015) và
được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015). Theo đó, B, C, D, E, F, T,
H, K, P là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A, mỗi người
một phần bằng nhau là 52,5 triệu (C đã mất nên con của C là G, N là người
được hưởng thừa kế thế vị của C (điều 652).
Ơng A chết cùng thời điểm với C nên ơng A không được hưởng thừa kế của
C (điều 619 BLDS 2015). Nếu C chết khơng để lại di chúc thì di sản mà C
để lại được chia theo pháp luật (điều 650, 651 BLDS 2015).
Tình huống 9:
Hãy chia tài sản thừa kế trong trường hợp sau.
19
Ông A và bà B kết hôn năm 1950 là có bốn người con chung là C, D, E, F.
Vào năm 1959 ông A kết hôn với bà T, và có ba người con chung là H, K, P.
Tháng 3 năm 2007 ông A và anh C chết cùng thời điểm do tai nạn giao
thông. Vào thời điểm anh C qua đời anh đã có vợ là M và hai con là G và N.
Ơng A qua đời có để lại di chúc cho anh C 1/2 di sản, cho bà B và T mỗi bà
1/4 di sản. Biết tài sản chung hợp nhất của A và B là 720 triệu đồng, của A
và T là 960 triệu đồng.
(Hôn nhân của ông A với bà T là hợp pháp)
Đáp án tham khảo:
Di sản của ông A là: 360 + 480 = 840 triệu.
Theo di chúc: bà B = bà T = 840/4 = 210
Do C chết cùng lúc với ông A nên C không được hưởng phần di sản mà ông
A định đoạt trong di chúc là 1/2 di sản.mà phần di sản còn lại sẽ chia theo
pháp luật.
Người thừa kế theo pháp luật của ông A là: B, C (G và N thế vị), D, E, F, R,
H, K, P
Di sản còn lại: 420 triệu.
Mỗi người được hưởng: 420/9 = 46,67 triệu.
Tình huống 10:
– Anh Hải và chị Thịnh kết hơn năm 2005, họ có 2 con là Hạ sinh năm 2011
và Long sinh năm 2014
– Do cuộc sống vợ chồng khơng hồ thuận, vợ chồng anh đã ly thân. Hạ và
Long sống với mẹ, còn anh Hải sống với cơ nhân tình là Dương.
– Ở q anh Hải cịn người cha là ơng Phong và em ruột là Sơn. Nhân dịp
lễ 30/4-1/5/2016 anh về quê đón cha lên chơi nhưng không may bị tai nạn.
Vài ngày trước khi chết trong viện, anh di chúc miệng (trước nhiều người
làm chứng) là để lại tồn bộ tài sản của mình cho cô Dương.
– 5 ngày sau khi anh Hải chết, ông Phong cũng qua đời.
– Chị Dương đã kiện tới toà án yêu cầu giải quyết việc phân chia di sản
thừa kế.
– Biết rằng :
Tài sản chung của anh Hải và chị Thịnh là 2400 triệu đồng
Tài sản của ông Phong ở quê là 600 triệu đồng.
– Giải quyết vụ việc trên?
– Giả sử :
Anh Hải có di chúc hợp pháp để lại tồn bộ tài sản của mình cho cô
dương
Cả anh Hải và ông Phong đều chết cùng thời điểm trong bệnh
viện(cái này khác với phía trên vì bài tập gồm nhiều phần nên em cứ
đánh cả phần ông P chết sau a Hải 5 ngày)
20
Tài sản của 2 người sẽ được phân chia như thế nào?
Đáp án tham khảo:
– Đầu tiên, di chúc của anh Hải hoàn toàn hợp pháp (Trong trường hợp này
là được những người làm chứng ghi chép lại và kí tên, trong thời hạn 5
ngày đã có cơng chứng khi di chúc miệng được người di chúc thể hiện ý chí
cuối cùng). Xét 2 trường hợp xảy ra:
Thứ nhất: Anh Hải chết trước ông Phong. Di sản chia theo di chúc nhưng
vẫn chia cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều
644 BLDS 2015)
Thì hàng thừa kế thứ nhất có 4 suất: Ơ Phong, chị Thịnh, Hạ và Long (Chưa
thành niên). Mỗi người sẽ nhận 2/3 mỗi suất = (2/3) x (1200/4) = 200 triệu
(Trích từ phần hưởng di sản của chị Dương)
Vậy di sản anh Hải sẽ chia như sau:
Phong = 200 triệu
Thịnh = 200 triệu
Hạ = 200 triệu
Long = 200 triệu
Dương = 1200 – 4×200 = 400 triệu
Sau đó Ơ Phong chết khơng có di chúc.
Thừa kế theo pháp luật phần di sản của Ô Phong gồm: Hải và Sơn.
Nhưng anh Hải chết trước Ô Phong thì 2 cháu nội là Hạ và Long sẽ nhận
thừa kế của anh Hải khi còn sống mà vợ Hải không được nhận thừa kế
(Điều 652 BLDS 2015).
Vậy tài sản Ô Phong 600 + 200 = 800 triệu sẽ chia như sau:
Sơn = 800/2 = 400 triệu
Hạ = 800/4 = 200 triệu
Long = 800/4 = 200 triệu
Tóm lại, trường hợp 1:
Thịnh = 1200 + 200 = 1400 triệu
Hạ = 200 + 200 = 400 triệu
Long = 200 + 200 = 400 triệu
Dương = 400 triệu
Sơn = 400 triệu
Thứ hai: Anh Hải và Ô Phong chết cùng lúc. Di sản của Ô Phong sẽ chia
thừa kế theo pháp luật, người thừa kế gồm: Hải và Sơn.
Nhưng anh Hải chết cùng lúc Ơ Phong thì 2 cháu nội là Hạ và Long sẽ nhận
thừa kế của anh Hải khi còn sống mà vợ Hải không dược nhận thừa kế
(Điều 652 BLDS 2015).
Vậy di sản Ô Phong 600tr sẽ chia như sau:
Sơn = 600/2 = 300 triệu
Hạ = 600/4 = 150 triệu
Long = 600/4 = 150 triệu
21
Phân chia di sản của anh Hải:
Di sản chia theo di chúc nhưng vẫn chia cho người thừa kế không phụ
thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015).
Thì hàng thừa kế thứ nhất có 3 suất: Chị Thịnh, Hạ và Long (Chưa thành
niên). Mỗi người sẽ nhận 2/3 mỗi suất = (2/3) x (1200/3) = 800/3tr (Trích
từ phần hưởng di sản của chị Dương)
Vậy di sản anh Hải sẽ chia như sau:
Thịnh = 800/3 triệu
Hạ = 800/3 triệu
Long = 800/3 triệu
Dương = 1200 – 3×800/3 = 400 triệu
Tóm lại, trường hợp 2:
Thịnh = 1200 + 800/3 = 4400/3 triệu
Hạ = 800/3 + 150 = 1250/3 triệu
Long = 1250/3 triệu
Dương = 400 triệu
Sơn = 300 triệu
Tình huống 11:
Ơng A kết hơn với bà B và có hai người con chung là C sinh năm 1976 và D
sinh năm 1980. C bị tâm thần từ nhỏ, D có vợ là E và có con là F,G,H. Vợ
chồng D khơng có tài sản gì và sống nhờ nhà của ơng bà A – B. Năm 2015,
bà B lập di chúc để lại cho D 1/3 tài sản của bà. Tháng 10/2016, D chết.
Tháng 01/2017, bà B chết.
Chia di sản của bà B biết rằng, căn nhà là tài sản chung của ông A, bà B trị
giá 1 tỷ đồng. Biết rằng, mẹ bà B là cụ G còn sống.
Đáp án tham khảo:
Di sản của Bà B là 500 triệu (trong khối tài chung với ông A). Năm 2015, B
lập di chúc để lại cho D 1/3 di sản của bà.
Do D chết (tháng 10/2016) trước bà B (tháng 1/2017) nên di chúc bà B để
lại cho D hưởng 1/3 di sản của bà khơng có hiệu lực (điểm a, khoản 2 Điều
643 BLDS 2015).
Khi đó, di sản bà B để lại được chia theo pháp luật (điều 650 BLDS 2015).
Khi đó, cụ G (mẹ bà B), ông A (chồng), C (con), D (con bà B nhưng đã chết
nên F+G+H được hưởng thừa kế thế vị của D theo Điều 652 BLDS 2015)
được hưởng thừa kế theo pháp luật của bà B (theo Điều 651 BLDS 2015).
Tình huống 12:
Ơng A kết hơn với bà B năm 1952 sinh ra anh C (năm 1954) chị D (1956).
Năm 1965, ông A và bà B phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn. họ thống
nhất thỏa thuận bà B nhận cả ngôi nhà đang ở (và nuôi chị D), ông A nhận
nuôi anh C và được chia một số tài sản trị giá là 20 triệu đồng. năm 1968
22
ông A dùng số tiền trên để xây dựng 1 căn nhà khác.Tháng 9/1970 ông A
kết hôn với bà T sinh ra được 2 người con là E (1972) vÀ F (1978). Hai ông
bà sống trong căn nhà mới này và ông A tuyên bố nhà là của riêng không
nhập vào tài sản chung.
Tháng 10/1987 ông A chết để lại di chúc hợp pháp cho anh C hưởng 1/2 di
sản của ông. Riêng ngôi nhà ông để lại cho bà T dùng làm nơi thờ cúng mà
không chia thừa kế. Tháng 1/1991, anh C yêu cầu bà T chuyển nhà cho
mình nhưng bà khơng chịu nên anh C đã hành hung gây thương tích cho
bà T.
Đến tháng 5/2001, chị D có đơn gửi tịa án u cầu chia di sản thừa kế của
bố. Qua điều tra xác định: ngôi nhà của ông A trị giá 30 triệu đồng, ông A
và bà T tạo lập được khối tài sản trị giá 60 triệu đồng. Hãy chia di sản thừa
kế trên.
Đáp án tham khảo:
Vì đây là chia tài sản của ơng A nên trước tiên bạn phải biết ơng A có bao
nhiêu tiền để chia.
Tính tại thời điểm năm 2001: Ơng A có 20 triệu tiền nhà (khơng nhập với
bà T). và 1/2 của 60 triệu (là 30 triệu) mà ông A và bà T có. => ơng A có
50 triệu.
Bắt đầu chia tiền nhé. Đầu tiên cần xác định là những ai được chia tiền đã.
Danh sách chia tiền gồm có Anh C, chị D, bà T, E và F.
Theo di chúc: Anh C được hưởng 1/2 tài sản của ông A => C được hưởng
60/2 = 30 triệu.
Như vậy là tài sản còn lại 60 – 30 = 30 triệu. Anh C khơng có quyền hưởng
tiếp trong phần này => địi bà T là sai.
Tình huống 13:
Ơng A, bà B kết hơn với nhau và có hai người con chung là C, D. Năm
2004, ông A bỏ nhà chung sống với bà H như vợ chồng và có con chung là
E sinh năm 2005 và F sinh năm 2007. Năm 2016, ơng A viết di chúc chia
cho bà B ½ di sản, bà H ¼ di sản. Năm 2017, ơng A chết. Tài sản chung
giữa A và B là 200 triệu, ơng A và bà H có tài sản chung là 600 triệu. Hãy
chia di sản của ông A
Đáp án tham khảo:
Tình huống 14:
Ơng Quảng có một người con duy nhất là ơng Đại, ơng Đại có vợ là bà
Tiểu. Hai người có với nhau được ba người con là anh Hảo, 34 tuổi, bị bệnh
down; anh Hiều 28 tuổi và anh Hạo 9 tuổi. Anh Hiều có vợ là chị Xiếu và có
được một người con gái 2 tuổi là Hiền. Ngày 24/01/2010 ông Đại lập di
chúc chia cho anh Hảo 1 tỷ 200 triệu đồng và cho anh Hiều 800 triệu đồng.
Ngày 28.07.2010 anh Hiều chết vì bị tai nạn giao thông. Một năm sau ngày
anh Hiều chết thì ơng Đại cũng qua đời vì bệnh ung thư. Anh chị hãy phân
chi di sản của ông Đại. Biết rằng di sản ông Đại để lại là 4 tỷ đồng tiền mặt
và di chúc mà ông Đại lập đủ Điều kiện đối với người lập di chúc,
đúng hình thức và hợp pháp.
23
Đáp án tham khảo:
Di sản ông Đại để lại là 4 tỷ đồng.
Ông Đại chết để lại di chúc cho anh Hảo: 1 tỷ 200 triệu, anh Hiều: 800
triệu. Tuy nhiên do anh Hiều chết trước ông Đại nên phần di chúc ông Đại
để lại di sản cho anh Hiều khơng có hiệu lực (điều 667 BLDS 2005).
Khi đó, phần di sản của ông Đại không được định đoạt, không có hiệu lực
trong di chúc là 2 tỷ 800 triệu đồng; phần di sản này được chia theo pháp
luật. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (theo Điều 676 BLDS 2005)
của ông Đại gồm: cụ Quảng, bà Tiểu, anh Hảo, anh Hạo, anh Hiều (anh
Hiều đã chết nên cháu Hiền – con anh Hiều sẽ được thừa kế thế vị (điều
677 BLDS 2005)). Theo đó, mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông
Đại sẽ được hưởng mỗi người 560 triệu đồng.
Trong trường hợp này, khi phần di sản của ông Đại không được định đoạt
trong di chúc và phần di chúc khơng có hiệu lực được chia theo pháp luật
thì cụ Quảng (bố ơng Đại), bà Tiểu (vợ ông Đại), anh Hạo (con ông Đại –
chưa thành niên) vẫn đảm bảo được hưởng 2/3 suất thừa kế nếu tồn bộ di
sản ơng Đại để lại được chia theo pháp luật (4 tỷ : 5) và anh Hảo – con ông
Đại đã thành niên, bị bệnh down không có khả năng lao động được
hưởng thừa kế theo di chúc và được hưởng lớn hơn 2/3 của một suất thừa
kế nếu tồn bộ di sản ơng Đại để lại được chia theo pháp luật nên không
thuộc trường hợp quy định tại Điều 669 BLDS 2005.
Tình huống 15
Vợ chồng A và B có 2 con chung là C và D. C có vợ là H và có 2 con chung
là E và F. A và C chết cùng thời điểm. Di sản của A là 720 triệu.
Trường hơp 1: chia di sản của A cho những người có quyền thừa kế
Trường hợp 2: A để lại di chúc truất quyền thừa kế của B,C,D và cho K
hưởng 2/3 di sản, 1/3 di tặng cho M. Bà B khởi kiện lên tòa xin thừa kế di
sản của A. Hãy chia di sản của A cho người có quyền thừa kế.
Đáp án tham khảo:
Di sản ông A để lại là 720 triệu đồng.
Trường hợp 1: Chia thừa kế cho những người có quyền thừa kế được thực
hiện theo pháp luật.
A chết không để lại di chúc, khi đó di sản A để lại sẽ được chia theo pháp
luật. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: B (vợ), D, C (C chết thì con của C là E + F
sẽ được hưởng thừa kế thế vị của C – theo Điều 652 BLDS 2015) (điều 651
BLDS 2015). Theo đó di sản của A sẽ được chia làm ba phần B = D = E+F
= 240 triệu.
Trường hợp 2: Nếu di chúc của A để lại là hợp pháp, thì sẽ có hiệu lực (K
được 2/3 di sản=480 triệu; M được 1/3 di sản = 240 triệu). Tuy nhiên, nếu
bà B không phải là người khơng có quyền hưởng di sản (theo quy định tại
khoản 1 Điều 621 BLDS 2015) thì bà B là đối tượng được hưởng thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 BLDS 2015. Theo đó,
bà B là người được hưởng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được
chia theo pháp luật.
24
Khi đó, để bà B được hưởng 2/3 suất thừa kế (=160 triệu) thì sẽ được lấy ra
từ phần của bà K được hưởng theo nội dung di chúc. Lưu ý, không lấy từ
phần di tặng theo quy định tại khoản 3, Điều 646 BLDS 2015.
Tình huống 16:
Ơng A kết với bà B sinh ra 3 người con C, D, E. Năm 2000, anh C kết hôn
với chị F; vào thời gian này 2 người tạo dự đc ngôi nhà 800 triệu. Anh C
bàn với chị F thuế chấp ngôi nhà lấy 100 triệu làm ao nuôi cá basa, nhưng
chị F khơg đồng ý. Sau đó anh C đi vay với hình thức tín chấp.
Năm 2009, anh C chết kơ để lại di chúc.
Năm 2010, ông A chết để lại tài sản 1 tỷ 6. Ơng có di chúc là cho anh C và
D mỗi người 200 triệu…
Hãy chia thừa kế trong thời điểm trên?
Đáp án tham khảo:
C chết, di sản để lại trị giá: (800tr : 2) – 100tr = 300tr (100tr tiền C trả nợ
vay tín chấp riêng)
C chết ko di chúc, di sản chia theo pháp luật (Điểm a khoản 1 Điều 650
BLDS 2015). Những ng` thừa kế di sản của C theo pháp luật gồm: A, B, F
(Điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015).
Giá trị mỗi suất thừa kế trên tổng di sản: 300tr : 3 = 100tr/suất
Hay A, B, F mỗi ng` nhận được 100tr từ di sản của C
A chết, di sản để lại trị giá: 1600tr + 100tr = 1700tr
A chết, di chúc cho C, D mỗi ng` 200tr. Nhưng C chết trước A, nên C khôg
được hưởng phần di sản mà
A định đoạt trong di chúc, mà phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật
(Điểm c khoản 2 Điều 650 BLDS 2015).
Phần di sản còn lại của A: 1700tr – 200tr = 1500tr
Phần di sản này chia theo pháp luật, những ng` thừa kế di sản của A theo
pháp luật gồm: B, D, E (Điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015).
Giá trị mỗi suất thừa kế trên tổng di sản: 1500tr : 3 = 500tr/suất
Hay B, D, E mỗi ng` nhận được 500tr từ di sản của A.
Tổng kết:
B : 100tr + 500tr = 600 triệu.
F : 100tr + 400tr = 500 triệu.
D : 200tr + 500tr = 700 triệu.
E : 500 triệu.
Tình huống 17:
Tháng 4 năm 2016, ông Nam đến phòng công chứng làm di chúc để định
đoạt số tiền gửi tiết kiệm là 200 triệu đồng mà ông được hưởng thừa kế từ
cha, mẹ ruột của ông. Theo di chúc, ông Nam để lại toàn bộ số tiền này
25