Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

1.1 Học thuyết hình thái kinh tế xã hội với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (181.16 KB, 18 trang )

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đi vào
cuộc sống. Trong đường lối đó, vấn đề phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã
hội chủ nghĩa (ĐHXHCN) là vấn đề được đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện.
Chủ trương trên, được triển khai trong thực tiễn, đã thu được những thành tựu quan
trọng. Tuy nhiên, đây là một hướng đi rất mới của con đường chủ nghĩa xã hội
(CNXH). Con đường đó chưa có tiền lệ trong lịch sử. Do tính mới mẻ của nó, hướng
đi này sẽ có những khó khăn, thách thức và cũng chứa đựng những nguy cơ, trong đó
nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nổi lên hàng đầu. Rõ ràng vấn đề
ĐHXHCN cần được xem xét và khẳng định rõ hơn trong điều kiện mới. Vì vậy,
ĐHXHCN trở thành vấn đề vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn cấp bách cần
được nghiên cứu, làm sáng tỏ.
ĐHXHCN ở Việt Nam được khẳng định dựa trên những cơ sở khoa học,
trong đó cơ sở lý luận có tầm quan trọng đặc biệt là học thuyết Mác - Lênin về hình
thái kinh tế - xã hội (HTKT-XH). Tuy vậy từ sau khi CNXH hiện thực ở một số nước
tan rã, sụp đổ thì học thuyết Mác - Lênin nói chung, HTKT-XH nói riêng đang bị
xun tạc và cơng kích từ nhiều phía. Kẻ thù của CNXH đang lớn tiếng cho rằng lý
luận HTKT-XH đã lạc hậu lỗi thời, cần được thay thế. Các phần tử cơ hội dưới mọi
màu sắc, tìm mọi cách phủ nhận học thuyết. Vì vậy việc khẳng định những giá trị
khoa học đích thực của học thuyết, từ đó mà có phương hướng vận dụng đúng đắn và
sáng tạo vào trong thực tiễn xây dựng CNXH là vấn đề đang được đặt ra.
Xuất phát từ nhận thức trên, tơi chọn đề tài "Học thuyết hình thái kinh tế xã hội với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay" làm nội
dung nghiên cứu trong tiểu luận này.
2. Mục đích nghiên cứu:
Góp phần nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề lý luận cơ bản về học thuyết
HTKT-XH, đồng thời vận dụng lý luận đó vào sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu


1


2

Tiểu luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
luận giải các nội dung đặt ra, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp lơgíc - lịch
sử, phân tích - tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tế v.v...
4. Kết cấu nội dung:
Phần I: Những nội dung cơ bản của học thuyết HTKT – XH.
Phần II: Giá trị của học thuyết HTKT - XH đối với con đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
PHẦN NỘI DUNG
1. Những nội dung cơ bản của học thuyết HTKT – XH
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết HTKT-XH giữ
một vị trí đặc biệt quan trọng. Học thuyết khơng những là cốt lõi, nền tảng cho một
thế giới quan mới - chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà còn là cơ sở khoa học vững chắc
cho toàn bộ các khoa học về xã hội nói chung.
Học thuyết HTKT-XH là một hệ thống các quan điểm lý luận có liên hệ chặt
chẽ hữu cơ với nhau của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm vạch ra cơ cấu và các quy luật
phát triển cơ bản và phổ biến của xã hội lồi người. Sự xuất hiện của học thuyết
khơng phải là ngẫu nhiên hay là sản phẩm thuần túy chủ quan của C.Mác, như một số
người nào đó nhận định, mà là kết quả hợp quy luật của một quá trình nhận thức dựa
trên sự khái quát thực tiễn hoạt động cách mạng, sự kế thừa mang tính phê phán các
nguồn tri thức nhân loại và một khả năng tư duy thiên tài của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Xuất phát từ quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận cho rằng xã hội không
phải là tổ hợp ngẫu nhiên của các mặt, các yếu tố riêng biệt, khơng phải là tổng số
máy móc của các nhân riêng rẽ mà là một chỉnh thể của các quan hệ xã hội, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khám phá ra các quy luật của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, từ quan
điểm xuất phát đến chỗ vạch ra được các quy luật phát triển xã hội là khơng đơn giản.

Nói một cách khác là để làm được điều đó phải chọn lựa được con đường nghiên cứu
đúng đắn, khác về chất với tất cả các quan điểm trước đó. Trước C.Mác và
Ph.Ăngghen, Hêghen cũng có quan điểm xuất phát tương tự nhưng ông lại luận giải
sự thống nhất, tính chỉnh thể của xã hội dựa trên một bản nguyên tinh thần. Do vậy,
2


3

tuy có những đóng góp vào việc mở ra con đường nghiên cứu lịch sử nhưng Hêghen
không thể đi đến những quy luật lịch sử đích thực. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi theo
con đường khác hẳn, đó là con đường dựa trên một nền tảng thế giới quan và phương
pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu xã hội.
Xuất phát từ tiền đề đầu tiên của lịch sử là những con người cụ thể, C.Mác đã
khám phá ra một chân lý hiển nhiên là con người có nhiều hoạt động nhưng hoạt
động đầu tiên phải là hoạt động để duy trì sự sống của con người. Nghĩa là con người
trước hết phải lao động sản xuất để tạo ra thức ăn, nhà ở, nước uống, quần áo v.v...
trước khi có những hoạt động khác. Do đó có thể khẳng định: hành động lịch sử đầu
tiên của con người là hành động sản xuất ra của cải vật chất. Chính trong quá trình
sản xuất vật chất đã buộc những con người, dù có nguyện vọng khác nhau, phải tham
gia vào các mối quan hệ với nhau mà trước hết là quan hệ với nhau trong sản xuất vật
chất. Và đến lượt nó, sự vận động của nền sản xuất vật chất lại quy định diện mạo và
sự vận động của các quan hệ xã hội. Với quan điểm đó, học thuyết HTKT-XH đã đi
đến kết luận sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã hội, là cơ sở của tính thống
nhất, tính chỉnh thể của xã hội. Nghiên cứu lịch sử trước hết phải xuất phát từ cơ sở
thực tại đó.
Cơ sở thực tại đó là do con người tham gia vào và tạo ra. Tuy nhiên, con
người tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và đồng thời là vào các quan hệ xã hội,
không phải với tư cách là những cá nhân trừu tượng mà với tư cách là những cá nhân
hiện thực đã đạt đến một trình độ nhất định của LLSX. Các mối quan hệ xã hội, trước

hết là QHSX, cũng do con người tạo ra, nhưng không phải tạo ra một cách tùy tiện mà
là trên một trình độ nhất định của LLSX. Đến lượt mình, các quan hệ xã hội lại quy
định nhu cầu của con người và sự vận động của nền sản xuất. Với lập luận đó, lý luận
HTKT-XH đã chỉ rõ nhân tố cốt lõi, quyết định trong nền sản xuất vật chất của xã hội
là PTSX với hai mặt gắn bó hữu cơ là LLSX và QHSX. C.Mác nghiên cứu sâu sắc
hơn các mặt của PTSX và đã chỉ rõ giữa LLSX và QHSX luôn luôn tồn tại trong mối
quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó LLSX bao giờ cũng giữ vai trị quyết định sự
hình thành, phát triển của QHSX và QHSX có sự tác động trở lại LLSX. Do sự vận
động của LLSX, một khi đạt đến trình độ mới, nó sẽ mâu thuẫn với những QHSX
hiện đang tồn tại và, dù sớm hay muộn, mâu thuẫn đó sẽ được giải quyết bằng cách
3


4

thay thế QHSX cũ bằng một QHSX mới cao hơn phù hợp với trình độ đã phát triển
của LLSX. Khi đó cũng có nghĩa là PTSX cũ đã bị thay thế bởi một PTSX mới cao
hơn. Cứ như vậy, PTSX mới tới một chừng mực nào đó, lại bị thay thế bởi một PTSX
cao hơn nữa... Đó chính là quy luật phát triển phổ biến của lịch sử xã hội.
Không dừng lại ở đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sâu sắc hơn về quy luật
bằng các tiếp tục xem xét sự tác động của nó trong các xã hội có giai cấp đối kháng.
Các ông đã chỉ rõ rằng trong các xã hội có đối kháng giai cấp thì việc giải quyết mâu
thuẫn giữa LLSX với QHSX vẫn là nguyên nhân sâu xa quyết định sự thay thế PTSX
và sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, trong các xã hội đó, việc giải quyết mâu thuẫn giữa
LLSX và QHSX bao giờ cũng được giải quyết thông qua mâu thuẫn giai cấp, qua đấu
tranh giai cấp mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã hội.
Từ nghiên cứu về PTSX, C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp tục xem xét tới các mặt
khác của xã hội. Các ông chỉ rõ bất kỳ xã hội cụ thể nào cũng có những QHSX hợp
thành cơ sở kinh tế của xã hội đó và tương ứng với nó là một KTTT xã hội phù hợp.
KTTT là một khái niệm có nội dung rộng lớn bao quát các tư tưởng xã hội, các thể

chế xã hội và mối quan hệ qua lại giữa chúng. KTTT bao giờ cũng được hình thành trên
một cơ sở hiện thực, đó là CSHT của xã hội.
Như vậy theo quan niệm HTKT-XH thì giữa CSHT và KTTT có mối quan hệ
biện chứng với nhau, trong đó CSHT bao giờ cũng giữ vai trị quyết định. Tuy nhiên
cần phải nói thêm rằng luận điểm về vai trò quyết định của cơ sở kinh tế, mà sau này
C.Mác và Ph.Ăngghen đã lưu ý, phải được hiểu là "xét cho đến cùng" chứ không
phải là tuyệt đối hóa vai trị của kinh tế mà khơng thấy vai trò to lớn của các nhân tố
trong KTTT. Các nhân tố trong KTTT có tính độc lập tương đối và ln ln có sự
tác động trở lại tới sự vận động của cơ sở kinh tế.
Việc xem xét xã hội như một chỉnh thể đã cho phép C.Mác và Ph.Ăngghen xây
dựng nên một học thuyết HTKT-XH hoàn chỉnh. Do đó, có thể hiểu, hình thái kinh
tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng
giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù
hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng
tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.

4


5

HTKT-XH là khái niệm bao quát các xã hội cụ thể ở những mặt cơ bản
nhất là LLSX, QHSX và KTTT, ở những quy luật cơ bản nhất là quy luật về sự
phù hợp của QHSX với trình độ LLSX và quy luật về mối quan hệ biện chứng
giữa CSHT với KTTT.
Việc phát hiện các quy luật chi phối sự vận động của HTKT-XH đã bao hàm
quan điểm về "quá trình vận động lịch sử - tự nhiên" của nó. Mỗi một HTKT-XH đều
là một chỉnh thể tồn vẹn ln luôn vận động và phát triển. Sự vận động phát triển
của các HTKT-XH, xét đến cùng là do sự phát triển LLSX quy định và luôn luôn
tuân theo những quy luật khách quan. Do sự tác động của các quy luật khách quan,

trong đó quyết định nhất là quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình
độ của LLSX, mà các HTKT-XH vận động như một quá trình lịch sử tự nhiên. Tức là
xuất phát từ sự vận động của LLSX, khi đạt tới một trình độ mới, sẽ làm thay thế
QHSX hiện tồn đã trở thành lạc hậu bằng một QHSX mới cao hơn và khi có QHSX
mới, nó sẽ tác động làm cho KTTT xã hội mới ra đời phù hợp. Khi đó cũng có nghĩa
một HTKT-XH cao hơn đã bắt đầu xuất hiện. Con đường phát triển đó vừa là kết quả
của hoạt động con người, vừa tuân theo những quy luật khách quan. Chính con
đường phát triển lịch sử - tự nhiên của HTKT-XH đã tạo ra xu thế phát triển liên tục
của xã hội từ hình thái thấp lên hình thái cao hơn theo cả hai khuynh hướng, trình tự
hoặc rút ngắn, tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia.
Như vậy có thể thấy học thuyết HTKT-XH là một học thuyết hoàn chỉnh, đưa
lại một cách tiếp cận về xã hội hoàn toàn mới. Sự ra đời của học thuyết đã đưa lại
một thế giới quan và phương pháp luận mới, mang bản chất khoa học và cách mạng
trong nhận thức và cải tạo xã hội.
Với nội dung như vậy, học thuyết "hình thái" có một giá trị khoa học và cách
mạng sâu sắc. Giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết gắn liền với nhau, không
thể tách bạch. Trong tính khoa học đã bao hàm tính cách mạng và ngược lại. Giá trị
khoa học và cách mạng của học thuyết bao hàm nhiều vấn đề, song có thể nhận thức
giá trị của nó ở những điểm chính.
Một là: Học thuyết đã đưa lại một cách tiếp cận khoa học và cách mạng
trong nhận thức về xã hội.

5


6

Trước khi học thuyết HTKT-XH xuất hiện, tất cả các quan điểm giải thích về
lịch sử đều lúng túng trước tính phức tạp của đời sống xã hội và vì vậy đã đi vào cắt
nghĩa lịch sử hoặc từ những nguyên nhân tinh thần ý thức, hoặc từ một vài yếu tố

riêng lẻ nào đó. Do đó tất cả các quan điểm nghiên cứu về xã hội trước đó, hoặc rơi
vào lập trường duy tâm chủ nghĩa, hoặc rơi vào quan điểm duy vật siêu hình, trong đó
lập trường duy tâm chủ nghĩa thống trị. Với sự xuất hiện của học thuyết "hình thái",
lần đầu tiên đã đưa lại một cách giải thích lịch sử duy vật khoa học, đã đẩy chủ nghĩa
duy tâm ra khỏi "cái hầm trú ẩn" cuối cùng của nó, đã đem lại một cuộc cách mạng
trong nhận thức về lĩnh vực xã hội. Học thuyết đã đưa ra một cách nhìn khoa học về
nguyên nhân, động lực của sự phát triển lịch sử, về sự phân loại các chế độ xã hội và
sự phân kỳ lịch sử nói chung.
Phương pháp duy vật khoa học của học thuyết được biểu hiện ngay ở việc
xác định căn cứ xuất phát đầu tiên để nghiên cứu lịch sử. Nếu như các quan điểm
trước đó xuất phát từ những tiền đề tinh thần, từ những cá nhân trừu tượng phi hiện
thực thì C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định tư tưởng về xã hội của mình dựa trên
một tiền đề vững chắc. Đó là con người hiện thực, đang sống, đang hoạt động trong
thực tiễn.
Xuất phát từ tiền đề hiện thực đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét vai trị
của nền sản xuất xã hội, chỉ ra cơ cấu cơ bản và phổ biến của nó, chỉ ra những quan
hệ tất yếu, những quy luật chi phối sự vận động của nó. Ở đây các ơng đã rút ra
những kết luận khoa học về vai trò của các yếu tố LLSX và QHSX, về quy luật
QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX.
Từ quan niệm về vai trò nền tảng của nền sản xuất vật chất, C.Mác và
Ph.Ăngghen tiếp tục xem xét quan hệ của nó tới các mặt khác của xã hội, chỉ ra vai
trò của các nhân tố trong KTTT xã hội và quan hệ biện chứng giữa các nhân tố đó với
cơ sở kinh tế.
Như vậy, nhất quán với cách tiếp cận duy vật biện chứng C.Mác và
Ph.Ăngghen đã phát hiện ra những mặt cơ bản của HTKT-XH và các quy luật cơ bản
chi phối sự vận động phát triển của nó. Những phát hiện đó cho phép C.Mác và
Ph.Ăngghen đã xây dựng nên một hệ thống quan điểm hoàn chỉnh, phản ánh quan hệ
nội tại giữa LLSX, QHSX và đời sống chính trị, tư tưởng, từ đó chỉ ra kết cấu và các
6



7

quy luật chung của sự vận động xã hội. Hệ thống quan điểm hồn chỉnh đó đã đem
lại một quan niệm mới trong nghiên cứu xã hội. Quan điểm đó xem xét xã hội như
một chỉnh thể, một hệ thống toàn vẹn của các lĩnh vực và các quan hệ xã hội. Trong
các lĩnh vực và các quan hệ xã hội đó thì lĩnh vực kinh tế và các quan hệ vật chất bao
giờ cũng giữ vai trò quyết định các lĩnh vực và các quan hệ xã hội khác. Trong lĩnh
vực kinh tế và các quan hệ vật chất của xã hội thì LLSX và QHSX là những nhân tố
cốt lõi tạo thành nền tảng của xã hội. V.I.Lênin đã cho rằng bằng cách "đem quy
những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản
xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất", C.Mác đã tạo ra một cơ sở khoa học
vững chắc trong nghiên cứu về xã hội. Cách nhìn mới đó địi hỏi xem xét xã hội phải
đánh giá đúng vị trí, vai trị của các nhân tố hợp thành nó nhưng lại khơng được tuyệt
đối hóa một nhân tố riêng lẻ nào. Việc tách LLSX, QHSX ra là để thấy cái chi phối
nhưng phải hiểu chúng trong sự tương tác biện chứng với các nhân tố, các mặt xã hội
khác. Trong đời sống xã hội, chỉ xét đến cùng nhân tố kinh tế mới có vai trị quyết
định. Cách nhìn mới đó địi hỏi phải nhận thức được các quan hệ cơ bản của xã hội,
đánh giá đúng đắn vai trò của các chiều tác động trong từng quan hệ, khơng được
tuyệt đối hóa một quan hệ nào đó, hoặc tuyệt đối hóa một chiều riêng biệt của một
quan hệ nào đó. Mọi sự tuyệt đối hóa một nhân tố riêng lẻ, một mối quan hệ đến mức
khơng thấy hết vai trị của các nhân tố, quan hệ khác đều có thể dẫn đến những nhận
thức sai lầm về xã hội.
Với những phát hiện này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển chủ nghĩa duy
vật và phép biện chứng, vốn là tinh hoa của tư tưởng nhân loại, lên một trình độ mới,
khác về chất trong nhận thức xã hội. Có thể nói rằng chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã
là người đầu tiên đưa ra một phương pháp tiếp cận hồn tồn mới, có tính cách mạng
về xã hội, vượt lên mọi tư tưởng đương thời. Phương pháp mới đó địi hỏi phải nhận
thức xã hội trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng - Tức là xem xét xã hội
phải xuất phát từ những cơ sở vật chất hiện thực của nó. Trên cơ sở đó mà đánh giá

đúng vị trí, vai trị của các nhân tố, liên hệ đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Ngày nay có những quan điểm phản đối C.Mác, phủ nhận lý luận HTKT-XH, nhưng
thực ra vẫn khơng vượt ra ngồi khn khổ tiếp cận mà C.Mác đã vạch ra. Chúng ta
thừa nhận, do sự vận động của thực tiễn, có một số vấn đề cụ thể của học thuyết cần
được phát triển, chẳng hạn về vị trí và vai trị của khoa học - cơng nghệ đối với sự
7


8

phát triển của sản xuất nói riêng, xã hội nói chung; chẳng hạn hiểu về LLSX hiện nay
cần thấy vị trí ngày càng chủ yếu của lao động trí tuệ và do vậy phải nhấn mạnh chiều
sâu trong sự phát triển của nó; chẳng hạn hiểu về chế độ sở hữu cần thấy vị trí của sở
hữu trí tuệ v.v... Tuy nhiên với tính cách là phương pháp tiếp cận, học thuyết vẫn giữ
nguyên giá trị, vẫn là cách tiếp cận khoa học nhất trong thời đại hiện nay. Thực ra
chính những quan điểm phê phán học thuyết lại chỉ xuất phát từ một nhân tố đơn lẻ
mà bỏ qua những mặt cơ bản khác, chẳng hạn chỉ thấy vai trị của khoa học cơng
nghệ mà bỏ qua QHSX, quan hệ giai cấp. Quan điểm đó chỉ nhấn mạnh một chiều
quan hệ mà bỏ qua sự tác động biện chứng của các nhân tố của xã hội, chẳng hạn
tuyệt đối hóa một chiều quan hệ từ khoa học cơng nghệ tới kinh tế, xã hội mà không
thấy đầy đủ chiều ngược lại. Thực chất, quan điểm đó vẫn ở trong quỹ đạo tiếp cận
"hình thái" nhưng phiến diện hơn, thiếu tính khoa học hơn.
Hai là: Học thuyết HTKT-XH đã chỉ rõ những động lực cơ bản của sự phát
triển lịch sử.
Dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử, bằng sự phân tích khoa học, học thuyết
"hình thái" đã chỉ rõ những động lực cơ bản và phổ biến của sự phát triển lịch sử xã
hội. Học thuyết đã khẳng định rằng lịch sử xã hội là lịch sử vận động trải qua các giai
đoạn từ thấp đến cao và tương ứng với từng giai đoạn ấy là một HTKT-XH nhất định.
Xu hướng vận động của các HTKT-XH là xu hướng ngày càng văn minh, tiến bộ
hơn. Nguồn gốc để tạo nên xu hướng phát triển ấy là sự phát triển của các nhân tố cơ

bản trong HTKT-XH và mối quan hệ nội tại của chúng.
Học thuyết HTKT-XH, trước hết coi động lực chung nhất, phổ biến nhất của
sự phát triển xã hội là hoạt động thực tiễn của con người. C.Mác viết: "Chính con
người, khi phát triển sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm biến
đổi, cùng với sự tồn tại hiện thực của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình"
[39, tr. 38]. Mác nhấn mạnh rằng trong những nhân tố tham dự vào sự phát triển lịch
sử, thì trước hết đó là con người vì họ phải lao động để tạo ra các tư liệu sinh hoạt
cho mình, phải tái tạo ra đời sống của mình và thế hệ kế tiếp mình.
Rõ ràng nếu khơng có con người và hoạt động thực tiễn của con người thì
khơng có xã hội, khơng có lịch sử. Con người là một nhân tố năng động, sáng tạo.
Hoạt động thực tiễn của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức. Chính con
8


9

người là nhân tố hàng đầu trong LLSX, là chủ thể trong tồn bộ q trình sản xuất và
mọi hoạt động xã hội. Hoạt động thực tiễn của con người trên tất cả các lĩnh vực, trải
qua các thế hệ, các thời đại đã tạo ra dòng chảy liên tục của lịch sử xã hội, tạo ra sự
phát triển của lịch sử. Với những khẳng định đó, học thuyết "Hình thái" đã chỉ rõ
động lực vĩnh hằng của sự phát triển lịch sử xã hội là hoạt động thực tiễn của con
người. Điều đó cho thấy tính chất vơ lý của các luận điểm phê phán học thuyết cho
rằng học thuyết chỉ thấy vai trò của yếu tố kinh tế mà bỏ qua con người, khơng thấy
vai trị của con người trong sự phát triển xã hội. Trái lại, thông qua cách đánh giá
đúng về hoạt động của nhân tố đó, học thuyết đã nhấn mạnh vai trị to lớn của nhân tố
con người, đề cao vị trí của con người đối với sự vận động của lịch sử. Học thuyết đã
thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao cả và một giá trị khoa học không thể phủ nhận
được.
Đồng thời và gắn bó khăng khít với hoạt động thực tiễn. Học thuyết "Hình
thái" đã chỉ ra vai trị chi phối có tính quyết định của các quy luật lịch sử khách quan.

Sự phát triển của xã hội không phải hiện tượng ngẫu nhiên, không phải do thượng đế
quyết định, khơng tn theo ý chí chủ quan của một lực lượng xã hội nào đó mà ln
tn theo các quy luật khách quan. Trong đó, những quy luật có vai trò quan trọng
nhất là quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất, trình độ của LLSX và quy
luật về quan hệ giữa CSHT với KTTT xã hội. Học thuyết đã chỉ rõ LLSX và QHSX
vốn được hình thành trong quá trình sản xuất của con người nhưng bản thân chúng lại
khơng phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những cá nhân con người. Giữa chúng có
mối quan hệ biện chứng khách quan và quan hệ đó đã tạo thành quy luật khách quan
chi phối mọi quá trình sản xuất. Chính quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính
chất và trình độ của LLSX là một quy luật khách quan cơ bản của mọi PTSX, mọi
thời kỳ lịch sử. Quy luật đó là một động lực quan trong nhất chi phối sự phát triển của
lịch sử xã hội. C.Mác chỉ rõ rằng, do sự vận động có tính cách mạng hơn, nên đến
một chừng mực nào đó LLSX của xã hội sẽ mâu thuẫn với QHSX hiện đang tồn tại,
và theo tính tất yếu, những QHSX đó sẽ bị thay thế bởi một QHSX cao hơn, phù hợp
với LLSX đã phát triển. Tuy quá trình giải quyết mâu thuẫn đó là khơng đơn giản mà
phải thơng qua nhiều nhân tố xã hội khác, song đó chính là nguồn gốc sâu xa của sự
phát triển lịch sử. C.Mác đã viết: Như vậy là theo quan điểm của chúng tôi, tất cả mọi
xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và
9


10

hình thức giao tiếp. Ngồi ra, hồn tồn khơng cần thiết là mâu thuẫn đã phải đẩy đến
cực độ trong một nước, mới gây ra những cuộc xung đột trong nước ấy. Sự cạnh
tranh với những nước phát triển hơn về công nghiệp... cũng đủ gây ra những mâu
thuẫn loại đó, ngay cả nước kém phát triển hơn về mặt cơng nghiệp.
Q trình giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX sẽ làm thay đổi cơ sở
kinh tế của xã hội và khi đó sẽ làm cho chính trị, pháp quyền và các mặt xã hội khác
biến đổi theo. Tức là xã hội đã quá độ sang một giai đoạn mới, cao hơn. Rõ ràng các

quan hệ giữa LLSX với QHSX, giữa CSHT với KTTT là những quy luật khách quan
của sự vận động xã hội và là những động lực khách quan của sự phát triển lịch sử.
Khơng có một xã hội cụ thể nào, khơng có một giai đoạn lịch sử nào không chịu sự
chi phối của các quy luật đó.
Thực tiễn lịch sử đã và đang chứng minh vai trò của các quy luật trên đối với
sự vận động của một xã hội cụ thể, cũng như của từng giai đoạn lịch sử. Việc nhận
thức các động lực nói trên cùng với các động lực xã hội khác có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với hoạt động xã hội. Đó là một giá trị khoa học cịn mãi soi đường cho
hoạt động cải tạo có tính cách mạng xã hội. Giá trị đó khơng thể phủ nhận được.
Ba là: Học thuyết HTKT-XH đã chỉ ra tiêu chuẩn khách quan để phân biệt
các chế độ xã hội và sự phân kỳ lịch sử.
Xã hội là một cơ thể hết sức phức tạp bao gồm các hiện tượng xã hội và các
quan hệ xã hội đan xen, chồng chéo lên nhau. Đó chính là lý do để hầu hết các quan
điểm về xã hội trước Mác không thể phát hiện ra tiêu chuẩn khách quan của sự phân
kỳ lịch sử và phân loại các chế độ xã hội. Sự ra đời của học thuyết HTKT-XH đã đem
lại một cách nhìn hồn tồn mới. Từ vơ số các quan hệ xã hội, học thuyết đã phân
thành hai loại quan hệ cơ bản là quan hệ vật chất và các quan hệ tinh thần tư tưởng.
Trong các quan hệ vật chất - những quan hệ hình thành một cách khách quan đối với
ý thức con người - Học thuyết đã làm nổi bật quan hệ vật chất đầu tiên, tất yếu đó là
QHSX. QHSX tồn tại một cách khách quan, khơng tùy thuộc vào ý chí chủ quan của
bất kỳ một giai cấp, cá nhân nào. QHSX tồn tại trong sự thống nhất của cả hai chức
năng: chức năng kinh tế và chức năng xã hội. Ở chức năng kinh tế, QHSX bao giờ
cũng tồn tại gắn liền với những LLSX nhất định, là môi trường, điều kiện và là một
trong những động lực cho LLSX phát triển. Ở chức năng xã hội, QHSX là quan hệ
10


11

nền tảng quy định các quan hệ chính trị và tinh thần của xã hội, là cơ sở của các mối

quan hệ xã hội. Ở những xã hội có giai cấp, QHSX mà xét cho tới cùng là chế độ
chiếm hữu tư liệu sản xuất quyết định sự chiếm hữu và chi phối quyền lực chính trị,
và sau đó là các lĩnh vực tinh thần, tư tưởng của xã hội. QHSX chính là cái "tạo thành
cơ sở nền tảng cho tính chỉnh thể", "cho sự cố kết, thống nhất các bộ phận, yếu tố cấu
thành và các mối liên hệ của xã hội". Với ý nghĩa đó, V.I.Lênin cho rằng việc Mác
phát hiện ra QHSX là đã tìm ra một quan hệ cơ bản nhất của cơ thể xã hội. Với chức
năng và vị trí như vậy, QHSX, thống nhất với một trình độ LLSX nhất định, trở thành
tiêu chuẩn khách quan để xem xét sự tiến bộ của lịch sử, để phân biệt tính chất xã hội
của các thời kỳ lịch sử khác nhau, các chế độ xã hội khác nhau. Căn cứ vào tiêu
chuẩn khách quan đó mà xem xét tính lặp lại, tính quy luật của lịch sử. Từ tiêu chuẩn
khách quan đó mà học thuyết "Hình thái" đã đưa ra sự phân kỳ lịch sử một cách khoa
học: lịch sử bao gồm các thời kỳ là xã hội cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến, TBCN và cộng sản chủ nghĩa. Mỗi thời kỳ đó được biểu hiện tập trung
trong một HTKT-XH. Mỗi thời kỳ đó có QHSX đặc trưng riêng phù hợp với một
trình độ phát triển của LLSX, có chế độ, tính chất chính trị và các tư tưởng xã hội
riêng. Rõ ràng phương pháp tiếp cận "Hình thái" khơng chỉ giúp ta thấy sự khác nhau
giữa các HTKT-XH mà còn thấy sự khác nhau giữa các xã hội trong một hình thái.
Phương pháp tiếp cận theo nền văn minh và một số quan điểm đối lập khác có lẽ
cũng nhận ra tính chất quan trọng của phát hiện này, nhất là nó lại khơng phù hợp với
mục đích chính trị của họ, cho nên đã cố tình lờ đi vấn đề QHSX trong luận giải của
mình hoặc, bằng mọi cách phủ nhận quan niệm về QHSX của học thuyết.
Bốn là: Học thuyết đã chỉ ra xu thế phát triển tất yếu của lịch sử xã hội. Trên
cơ sở phát hiện các quy luật khách quan chi phối sự vận động của các HTKT-XH,
học thuyết đã chỉ ra xu thế phát triển tất yếu của tồn bộ lịch sử. Xu thế đó chính là
xu thế tiến lên khơng ngừng từ trình độ thấp đến cao hơn. Xu thế ấy được quyết định
từ sự tác động biện chứng của các nhân tố khách quan trong chính ngay HTKT-XH.
Xu thế đó là bắt nguồn từ sự vận động của các mâu thuẫn nội tại trong
HTKT-XH, trong đó mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX là quyết định nhất. Xuất phát
từ sự giải quyết mâu thuẫn đó mà các mặt của xã hội khơng ngừng phát triển, mà tạo


11


12

ra xu thế cho sự ra đời của hình thái mới cao hơn. Xu thế đó là khách quan, tất yếu,
khơng một lực lượng xã hội nào kìm hãm nổi.
Như vậy, khi nghiên cứu một HTKT-XH nhất định, học thuyết khơng chỉ có
giá trị trong xem xét cái hiện tồn mà cịn chỉ ra xu thế chuyển hóa của nó lên một
hình thái mới, trật tự xã hội mới cao hơn. Hình thái cao hơn ra đời bao giờ cũng có
tiền đề từ hình thái đang tồn tại, là sự phủ định có kế thừa và phát triển những nhân tố
hợp lý, tích cực của cái đang tồn tại, tóm lại là kết quả vận động của những tiền đề
hiện đang tồn tại.
Như vậy cũng có thể nói rằng, khi chứng minh tính tất yếu của một trật tự xã
hội hiện đang tồn tại, Học thuyết "Hình thái" cũng chứng minh ln tính tất yếu của
sự diệt vong của nó, chứng minh ln tính tất yếu của một trật tự khác mà trật tự hiện
tồn tại nhất định phải đi tới. Học thuyết HTKT-XH nghiên cứu trật tự TBCN và chỉ ra
rằng CNTB là một chế độ xã hội tiến bộ của lịch sử. Sự xuất hiện của nó khơng phải
từ hư không mà từ những tiền đề do xã hội phong kiến tạo ra, đồng thời trật tự tư sản
cũng không thể tồn tại vĩnh hằng mà do những quy luật của chính nó, những mâu
thuẫn nội tại của nó, những tiền đề mà nó bắt buộc phải tạo ra, nó sẽ bị thay thế bằng
một trật tự xã hội cao hơn là chủ nghĩa cộng sản. Những dự đốn của C.Mác về điều
đó đang được lịch sử hiện đại chứng minh. CNTB càng tìm cách phát triển LLSX thì
lại càng thúc đẩy tính xã hội hóa về sở hữu, quản lý, phân phối, càng thúc đẩy xu thế
toàn cầu hóa đời sống nhân loại. Đó chính là những đặc trưng của một xã hội khác
cao hơn hình thái TBCN. CNTB đang tiến dần đến giới hạn cuối cùng của nó, đến sự
diệt vong tất yếu của nó.
Rõ ràng học thuyết HTKT-XH đã thể hiện tính khoa học và cách mạng sâu
sắc. Giá trị khoa học và cách mạng thống nhất chặt chẽ với nhau ở chỗ "nó giải thích
rõ những quy luật đặc thù chi phối sự phát sinh, tồn tại, phát triển và diệt vong của

một trật tự xã hội nhất định và sự thay thế nó bằng một cơ thể khác cao hơn".
Mặt khác, giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết còn được thể hiện ở
chính chức năng phương pháp luận của nó. Học thuyết khơng chỉ giải thích sự tiến
lên của lịch sử mà còn là phương pháp chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong xây dựng
một xã hội cụ thể một cách tự giác hơn. Học thuyết đòi hỏi sự vận dụng nó khơng
phải như một bản thiết kế có sẵn mà phải với tinh thần linh hoạt, sáng tạo, gắn với
12


13

những điều kiện lịch sử cụ thể. Mọi sự áp dụng giáo điều, rập khn, máy móc đều
xa lạ với tính phương pháp, tính cách mạng của học thuyết.
2. Giá trị của học thuyết HTKT - XH đối với con đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
2.1. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội với nhận thức về định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và giữ vai trò lãnh đạo cách mạng,
nước ta đã bước những bước dài từ xã hội tăm tối tới bến bờ sáng lạn hôm nay. Đất
nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngay từ buổi đầu đã xác định hướng đi cho mình
một cách sáng rõ: hồn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên
CNXH. Chính mục tiêu đó đã kết thành đường lối độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH xuyên suốt mọi thời kỳ cách mạng và đã tạo nên những thắng lợi thần kỳ của
dân tộc ta. Ngay sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Bắc
(1954) nửa nước đã bắt đầu bước vào con đường xây dựng CNXH. Khi cả nước hoàn
thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1975) thì mục tiêu CNXH đã được
triển khai rộng khắp trên cả đất nước ta. Có thể nói rằng mục tiêu CNXH là một mục
tiêu được Việt Nam lựa chọn từ rất sớm và nhất quán. Mục tiêu CNXH đã được triển
khai trong thực tiễn một thời gian đủ để ghi nhận những thành tựu và cả những khiếm
khuyết của nó.

Tuy nhiên trong tồn bộ thời gian trước đây, trên cả lý luận và thực tiễn chúng
ta chưa sử dụng thuật ngữ "định hướng xã hội chủ nghĩa". Thuật ngữ ĐHXHCN chỉ
mới xuất hiện trong thời gian gần đây trong bối cảnh đổi mới của đất nước. Trong các
văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã
chính thức đưa ra thuật ngữ này. Đại hội VII đã nêu phải "vận hành nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa", phải "xây dựng đồng bộ cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" . Đặc
biệt, thuật ngữ ĐHXHCN được khẳng định trong "Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" là "phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa". Đây là sự nhận thức mới và vận dụng sáng tạo của Đảng ta bắt
nguồn từ cơ sở lý luận của học thuyết HTKT – XH.
13


14

2. 2. Vận dụng sự phát triển lịch sử - tự nhiên các HTKT-XH để xác định
"bỏ qua" và "sử dụng" CNTB một cách đúng đắn
C.Mác khi nghiên cứu về các HTKT-XH cụ thể trong lịch sử đã chỉ rõ sự phát
triển của các HTKT-XH là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Quan điểm đó khơng chỉ
có ý nghĩa trong nhận thức sự vận động và phát triển của xã hội nói chung, mà cịn có
ý nghĩa cực kỳ to lớn trong việc thực hiện con đường phát triển "bỏ qua" ở Việt Nam.
Có thể nói quan điểm về sự phát triển lịch sử - tự nhiên của các HTKT-XH đề
cập đến hai khía cạnh cơ bản:
Một là: quan điểm đã chỉ ra con đường và khuynh hướng phát triển tất yếu
của lịch sử xã hội.
Xã hội, trong bất kỳ giai đoạn phát triển lịch sử nào, cũng đều phải có một
nền sản xuất vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Và xã hội, cho dù
tồn tại trong thời gian bao lâu cũng luôn vận động theo xu hướng tiến lên. Nguyên

nhân tạo nên xu hướng đó chính là do sự vận động của nền sản xuất vật chất. Một khi
LLSX của xã hội đã phát triển tới một trình độ mới, QHSX mới phù hợp với nó sẽ ra
đời và khi đó KTTT xã hội mới sẽ nảy sinh. Khi có LLSX mới, QHSX mới, KTTT
xã hội mới, cũng có nghĩa xã hội đã bước sang một HTKT-XH mới cao hơn, xã hội
bước sang một giai đoạn phát triển mới cao hơn. Khuynh hướng đó là khuynh hướng
tiến lên khơng ngừng từ hình thái thấp tới hình thái cao mà khơng một lực lượng xã
hội nào ngăn cản được. Khuynh hướng đó trong những xã hội cụ thể, có thể diễn ra
nhanh chậm khác nhau, phải trải qua những quanh co khác nhau nhưng là khuynh
hướng khách quan tất yếu của lịch sử. Do sự vận động của các xã hội cụ thể khác
nhau cho nên khuynh hướng đó thể hiện ra ở các xã hội cũng khơng hồn tồn giống
nhau. Có xã hội cụ thể phát triển theo con đường tuần tự, lần lượt trải qua các hình
thái từ cộng sản nguyên thủy cho đến cộng sản chủ nghĩa, nhưng cũng có những quốc
gia, dân tộc có thể phát triển rút ngắn bỏ qua một hình thái nào đó. Cho dù phát triển
theo con đường nào - tuần tự hay rút ngắn, thì khuynh hướng trên là khơng thể đảo
ngược.
Nhận thức như trên có một ý nghĩa to lớn đối với những nước, do những điều
kiện riêng, mà phát triển chậm hơn so với trình độ chung của thời đại. Nó cho phép
14


15

các nước đó nhận rõ xu thế chung của lịch sử để lựa chọn mục tiêu, con đường phát
triển cho mình một cách đúng đắn. Nó cho phép tránh được cách vận dụng giáo điều,
máy móc trong xác định hướng đi, bước đi, đồng thời nó cho phép nhận định đúng về
cái có thể bỏ qua, bước có thể bỏ qua.
Hai là: Quan điểm chỉ ra các bước đi tất yếu, các giai đoạn tất yếu của quá
trình phát triển sản xuất nhân loại.
Trong sự phát triển của các HTKT-XH, xét cho tới cùng là do sự phát triển
của LLSX quy định. Sự phát triển của LLSX liên quan tới nhiều yếu tố và bao giờ

cũng tuân theo những quy luật kinh tế khách quan. Do sự chi phối của các quy luật
kinh tế khách quan mà quá trình phát triển của LLSX bao giờ cũng có những bước đi
có tính tất yếu, phổ biến chung cho mọi quốc gia, dân tộc, khơng kể tới xu hướng hay
chế độ chính trị - xã hội của quốc gia dân tộc đó. Chẳng hạn sự phát triển của sản
xuất bao giờ cũng đi từ sản xuất nông nghiệp, tới công nghiệp, tới sản xuất tri thức;
sự phát triển của công cụ sản xuất đi từ thủ cơng - nửa cơ khí - cơ khí - cơng cụ trí
tuệ; hay bước chuyển từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn bao giờ cũng phải trải qua
thời kỳ cơng nghiệp hóa... Điều đó cho thấy con đường phát triển của sản xuất xã hội
bao giờ cũng tuân theo những trình tự, bước đi nghiêm ngặt mà con người phải nhận
thức và tuân theo. Con người chỉ có thể thực hiện các bước đi đó một cách nhanh
hơn, rút ngắn hơn chứ khơng thể phủ định sạch trơn, bỏ qua hoàn toàn và tuyệt đối
các bước đi đó.
Với cách hiểu về quan điểm "lịch sử - tự nhiên" ở cả hai khía cạnh như trên
đã cho phép chúng ta có cơ sở khoa học để lựa chọn mục tiêu CNXH và xác định các
nguyên tắc chỉ đạo q trình thực hiện mục tiêu đó. Một nguyên tắc quan trọng của
sự vận dụng quan điểm trên trong thời đại hiện nay là phải kết hợp đồng thời giữa bỏ
qua và sử dụng CNTB một cách đúng đắn.
Việt Nam là một nước đang phát triển, tiềm lực về kinh tế, khoa học công
nghệ, quản lý kinh tế - xã hội còn một khoảng cách lớn so với các nước tư bản phát
triển. Việt Nam lựa chọn con đường CNXH là chủ động và tự giác nhận thức, vận
dụng quy luật khách quan của lịch sử, xu thế của thời đại. Sự lựa chọn đó là sự lựa
chọn con đường phát triển rút ngắn, đi tắt, đón đầu sự phát triển lịch sử. Sự lựa chọn
đó địi hỏi chúng ta phải không ngừng phát triển quan hệ hợp tác quốc tế nhằm thu
15


16

nhận những tinh hoa của thời đại, trong đó một phần rất quan trọng là của các nước
TBCN. Sự lựa chọn đó là sự lựa chọn bỏ qua CNTB nhưng không phải là sự bỏ qua

tất cả, sự phủ định sạch trơn HTKT-XH TBCN, mà là sự bỏ qua những mặt tiêu cực,
xấu xa, lạc hậu của CNTB và biết tiếp thu tất cả những thành tựu mà nhân loại đã đạt
được trong giai đoạn lịch sử TBCN. Nói một cách khác, Việt Nam lựa chọn con đường
phát triển bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua một HTKT-XH mà CNTB thống trị, nhưng
phải khai thác triệt để và hiệu quả tất cả những ưu điểm và tích cực của nó. Để có được
nhận thức đó chúng ta đã phải trải qua một quá trình lâu dài với những bài học, kinh
nghiệm được rút ra từ thực tiễn. Ngày nay chúng ta đã có nhận thức rõ ràng vấn đề bỏ
qua CNTB phải được đối xử đúng với tinh thần của phép biện chứng khoa học. Sự
phát triển lịch sử - tự nhiên của các HTKT-XH cho thấy bỏ qua CNTB khơng phải là
sự bỏ qua hồn tồn, tất thảy, tuyệt đối giai đoạn TBCN mà là sự bỏ qua phù hợp với
quy luật lịch sử, tôn trọng các bước đi tất yếu của lịch sử. Việt Nam lựa chọn
ĐHXHCN, xét cho tới cùng cũng là nhằm xây dựng một xã hội phát triển cao về cả
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội làm cơ sở cho sự giải phóng con người, phát triển
tồn diện con người. Vì vậy phép biện chứng của q trình thực hiện ĐHXHCN địi
hỏi chúng ta không được biệt lập, quay lưng lại với CNTB mà phải vừa biết bỏ qua,
vừa biết sử dụng CNTB nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu CNXH ở nước ta.
2.3. Vận dụng các quy luật của HTKT-XH để đổi mới toàn diện, phát triển
đồng bộ các lĩnh vực của xã hội theo ĐHXHCN
Lý luận HTKT-XH đã khẳng định mỗi một HTKT-XH bao giờ cũng tồn tại
như một chỉnh thể của các yếu tố, các mặt, các quan hệ nội tại tạo thành nó. HTKTXH bao gồm các mặt cơ bản là LLSX, QHSX, KTTT và các quan hệ biện chứng giữa
các mặt đó. Mặc dù mỗi mặt đó có vị trí, vai trị riêng nhưng điểm chung của chúng
là đều phản ánh trình độ của một hình thái, mang chất của một hình thái và ràng buộc
nhau trong phạm vi một hình thái. Giữa các mặt đó ln ln có quan hệ chặt chẽ,
thống nhất với nhau, tác động và ảnh hưởng tới nhau theo quy luật về sự phù hợp
QHSX với tính chất, trình độ của LLSX và quy luật về quan hệ giữa CSHT với
KTTT.

16



17

Sự vận động và phát triển của một HTKT-XH bao giờ cũng là kết quả của sự
vận động và phát triển đồng thời của các mặt, các yếu tố hợp thành nó. Sự phát triển
đó do chính các quy luật nói trên quy định. Sự phát triển của một HTKT-XH không
bao giờ chỉ do sự phát triển của riêng một mặt nào đó mang lại. Trong trường hợp
như vậy, sớm muộn sự tương tác nội tại cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của mặt ngừng
trệ, hoặc là mặt ngừng trệ sẽ kéo theo sự ngừng trệ của các mặt khác.
Ngay trong sự tồn tại và vận động của từng mặt trong HTKT-XH cũng diễn
ra theo tính thống nhất và chỉnh thể như vậy. Bất kỳ một mặt nào của HTKT-XH
cũng khơng chỉ có một yếu tố duy nhất mà bao hàm nhiều yếu tố hợp thành. Sự vận
động, phát triển của một mặt cũng chính là kết quả vận động và phát triển của tất cả
các yếu tố hợp thành mặt đó. Chẳng hạn sự vận động phát triển của LLSX bao giờ
cũng là kết quả đồng thời của sự phát triển công cụ lao động, các tư liệu lao động
khác và con người lao động với kỹ năng, trình độ khoa học kỹ thuật của họ; sự phát
triển QHSX bao giờ cũng là kết quả đồng thời của quan hệ sở hữu, quản lý và phân
phối. Sự phát triển của KTTT bao giờ cũng là kết quả đồng thời của các yếu tố như
đảng chính trị, nhà nước, các tư tưởng về xã hội v.v...
Điều đó cho thấy rõ vai trò của các quan hệ nội tại, các quy luật khách quan
trong HTKT-XH. Do những quan hệ nội tại chi phối mà bất kỳ HTKT-XH nào cũng
là một chỉnh thể thống nhất, luôn luôn vận động và phát triển. Nhận thức đúng về các
quy luật, về tính chỉnh thể của HTKT-XH là hết sức cần thiết để từ đó có sự vận dụng
đúng đắn trong thực tiễn xây dựng xã hội. Nhận thức về tính chỉnh thể của HTKTXH đã bao hàm trong đó sự thừa nhận vai trò của các quy luật khách quan và các
quan hệ nội tại khác trong bản thân nó. Nhận thức về tính chỉnh thể của HTKT-XH
cũng có ý nghĩa to lớn đối với quá trình thực hiện mục tiêu CNXH của Việt Nam. Sự
nhận thức đó cho phép chúng ta xác định và thực hiện đúng nguyên tắc: phải xây
dựng và phát triển đồng bộ, toàn diện các mặt của xã hội theo mục tiêu CNXH trên
từng bước đi của mình. Nếu khơng đổi mới tồn diện và phát triển đồng bộ các mặt
của xã hội sẽ dẫn đến hậu quả mặt này kìm hãm mặt kia, và như thế sẽ kìm hãm sự
phát triển của tồn xã hội.


17


18

KẾT LUẬN

Trong giai đoạn hiện nay, việc khẳng định những giá trị khoa học và cách
mạng của học thuyết HTKT-XH sẽ làm sáng tỏ hơn xu thế tất yếu lên CNXH của thời
đại hiện nay. Khẳng định giá trị của học thuyết càng làm sáng rõ hơn tính đúng đắn
của sự lựa chọn con đường tiến lên CNXH và định hướng quá trình xây dựng CNXH
ở Việt Nam.
Vận dụng học thuyết HTKT-XH trong nhận thức và thực hiện ĐHXHCN ở
nước ta là một vấn đề rất lớn và phức tạp. Ở đây, Tơi chỉ đề cập được một số khía
cạnh của vấn đề đó, mà chưa có điều kiện đi sâu và đề cập toàn diện mọi mặt của vấn
đề . Tuy nhiên, nếu nhận thức đúng đắn vấn đề nêu trên sẽ góp phần hiểu học thuyết
HTKT – XH nói riêng, chủ nghĩa Mác – Leenin nói chung một cách sâu sắc hơn, đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.

18


19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê (1998), Một số vấn đề về định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội.
2. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã
hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội.

3. Lê Duẩn (1986), Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội.
4. Phạm Ngọc Quang (1999), "Định hướng và giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa - một số vấn đề lý luận", Sinh hoạt lý luận, (1), tr. 20-22.
5. Nguyễn Duy Quý (1998), 150 năm tuyên ngôn của Đảng cộng sản - lý luận và
thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Trần Phúc Thăng (1993), Đặc trưng xã hội chủ nghĩa của hệ thống chính trị ở
nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đề tài KX 05-04, (tập
1), tr. 64.
7. Đồn Quang Thọ (1995), Lý luận hình thái kinh tế - xã hội với công cuộc đổi mới
kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Tóm tắt luận án phó tiến sĩ triết học, Hà Nội.
8. Trần Xuân Trường (1996), Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Một số vấn
đề lý luận cấp bách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

19



×