Tải bản đầy đủ (.docx) (3 trang)

Sự khác nhau giữa CNDV của Mác và CNDV của phoiơbắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (50.02 KB, 3 trang )

Sự khác nhau giữa CNDV của Mác và CNDV của Phoi ơ bắc
Phoi- ơ- bắc là nhà duy vật chủ nghĩa hàng đầu vào những năm 40 của thế kỉ XIX.
Ông chống lại chủ nghĩa duy tâm, phê phán triết học Heghen, chống lại tơn giáo,
hữu thần. Ơng đã khơi phục lại chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần. Triết học của
Phoi-ơ- bắc mang tính chất nhân bản và nó trở thành tiền đề lý luận trực tiếp của
Mác. Tuy nhiên triết học của ơng vẫn có một số hạn chế.
Về vấn đề con người:
 CNDV Phoi-ơ- bắc cho rằng: “Con người là một thực thể sinh vật có cảm
giác, biết tư duy, có ham muốn, có ước mơ và xét theo bản chất của nó là
tình u thương. Ông cho rằng con người là sản phẩm của lịch sử, của thế
giới tự nhiên, ông đề cao mặt sinh học, coi nhẹ mặt xã hội. Con người của
ông chỉ là con người trừu tượng, phi xã hội mang những thuộc tính sinh học
bẩm sinh. Ơng coi ý thức tinh thần cũng là một thuộc tính đặc biệt của dạng
vật chất có tổ chức cao là óc người. Từ đó, ông khẳng định rằng giữa tồn tại
và tư duy có mói quan hệ khăng khít. Ơng chống lại cả CNDV tầm thường
quy hiện tượng tâm lý tinh thần về các q trình lý hóa, khơng thấy sự khác
nhau về chất giữa chúng, chẳng hạn như óc tiết ra tư tưởng cũng như gan tiết
ra mật. Phoi- ơ- bac cho rằng, bản tính con người là tình u, tơn giáo cũng
là một tình u. Ơng cịn lấy tình u giữa nam và nữ làm kiểu mẫu của bản
chất yêu thương. Cách nhìn nhận này mang tính trực quan, khơng hiểu được
vai trị của thực tiễn đối với nhận thức. Ơng muốn thay thế một thứ tôn giáo
tôn sùng một vị thần siêu nhiên thành một thứ tôn giáo mới phù hợp với con
người. Cần phải biến tình yêu thương giữa con người thành mối quan hệ chi
phối mọi mối quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội. Điều này chứng tỏ
triết học duy vật của Phoi-ơ- bắc vẫn chứa đựng yếu tố duy tâm.
 Quan niệm của Mác về con người: “là thực thể tự nhiên có tính chất người”.
Nghĩa là con người là sự kết hợp thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội.
Hai mặt này khơng đối lập nhau mà cịn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nếu như mặt sinh học là điều kiện cần thì mặt xã hội là điều kiện đủ để con
người trở thành Người theo đúng nghĩa của nó. Trong “Luận cương về Phoiơ- bắc”, C.Mác khẳng định: “Bản chất con người không phải là một cái trừu
tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất


con người là tổng hịa những mối quan hệ xã hội”.
Về tôn giáo:


 Phoi-ơ-bac chống lại các quan niệm tôn giáo đạo thiên chúa, phủ nhận
thượng đế, chống tôn giáo và thần học. Ơng muốn thay thế một thứ tơn giáo
tơn sùng một vị thần siêu nhiên thành một thứ tôn giáo mới phù hợp với con
người. Cần phải biến tình yêu thương giữa con người thành mối quan hệ chi
phối mọi mối quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội. Điều này chứng tỏ
triết học duy vật của Phoi-ơ- bắc vẫn chứa đựng yếu tố duy tâm.
 Theo CNDV Mác tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời từ rất sớm, là sản
phẩm tinh thần của con người. Bản chất tôn giáo là phản ánh sự bế tắc, bất
lực của con người trước tự nhiên và xã hội. Tơn giáo góp phần bù đắp những
hụt hẫng trong cuộc sống, xoa dịu nỗi đau tâm hồn của con người, tạo thêm
niềm tin cho con người vào cuộc sống. Tuy nhiên cũng cần có những biện
pháp linh hoạt để giải quyết những vấn đề nhạy cảm và phức tạp nảy sinh từ
tơn giáo đem lại.
Về lĩnh vực chính trị- xã hội:
 Trong lĩnh vực chính trị- xã hội, Phoi-ơ- bắc cịn rơi vào lập trường duy tâm.
Vì ơng đại diện cho tầng lớp tư sản nước Đức, căm ghét chế độ quân chủ
Phổ, đấu tranh cho nhà nước cộng hịa, khơng muốn xóa bỏ chế độ tư hữu
mà chỉ muốn mọi người đều có của riêng. Theo ơng muốn cải tao xã hội thì
cần phải chú trọng tới gia đình, đạo đức. Ơng chưa nhận thức được vai trị
thực tiễn của con người đối với sự phát triển xã hội.
 C. Mác thấy được thực tế xã hội, nhận rõ được vai trò và sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân, đưa nhân dân tới cuộc cách mạng xã hội thành công
và thấy được tầm quan trọng của kinh tế đối với sự phát triển của xã hội.
Về lập trường lý luận:
 Phoi-ơ- bắc luôn đứng trên lập trường CNDV, chủ nghĩa tự nhiên khi xem
xét mọi sự vật, hiện tượng và kịch liệt chống lại Hêghen nên ông phủ nhận

phép biện chứng của Heghen.
 Còn CNDV Mác đánh giá rất cao vai trò của phép biện chứng Heghen tuy
vẫn cịn những mâu thuẫn vì nó đã bao quát toàn bộ những vấn đề cốt lõi của
tự nhiên, xã hội và tư duy với cách lập luận lý giải rất sâu sắc.
Như Vậy, CNDV của Phoi-ơ- bắc còn mang tính chất siêu hình, nhận thức ln
mang tính trực quan, thụ động, chưa thấy được vai trị tích cực của con người, vai
trò của hoạt động sản xuất đối với nhận thức luận và sự phát triển của xã hội.
Nhưng ơng đã khẳng định được vị trí của CNDV trong triết học và còn CNDV


nhân bản của ơng cịn trở thành tiền đề lý luận trực tiếp của CNDV Mác. CNDV
Mác đã ra đời để khắc phục những hạn chế của CNDV Phoi-ơ-băc.



×