Tải bản đầy đủ (.docx) (5 trang)

Quan điểm của Công tơ về ba giai đoạn phát triển tri thức và vấn đề phương pháp khoa học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (42.68 KB, 5 trang )

Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Họ và tên: Nguyễn Thị Tuyết
Lớp: Triết K37
Mơn: Triết học ngồi Mác-xit hiện đại

Vấn đề tự chọn
Đề số 2: Phân tích (có đánh giá) quan niệm của Công-tơ về ba giai đoạn phát triển
tri thức và vấn đề phương pháp khoa học.
Bài làm
Triết học thực chứng ra đời khi khoa học kĩ thuật phát triển hết sức
mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu khoa học lớn nên triết học này đề cao
sự thực nghiệm, kiểm chứng. Đặc biệt triết học thực chứng còn nhấn mạnh
vai trò của nhận thức và khả năng vận dụng khoa học thực chứng để cải tạo tự
nhiên và xã hội.
Đại diện nổi bật nhất của triết học thực chứng phải kể tới triết gia người
Pháp August Comte (1789-1857). Ông là người sáng lập ra triết học thực
chứng và ngành xã hội học. Ông sinh ra trong một gia đình viên chức tơn giáo
theo đạo thiên chúa nhưng khi 14 tuổi ông đã tuyên bố không muốn theo đạo
và đã có tư tưởng chính trị rất sớm và muốn theo phái cộng hịa. Năm 1814,
ơng học tại trường tổng hợp Pari. Năm 1817- 1824, ông là nhà thư kí cho nhà
khơng tưởng Xanh-xi-mơng vì thế triết học của ông ít nhiều bị ảnh hưởng tư
tưởng của Xanh-xi-mông. Năm 1826, ông mở trường dạy triết học thực chứng
nhưng không thành và phục hồi trở lại vào năm 1829. Năm 1833, ông dạy


tốn tại trường tổng hợp Pari và từ đó ơng quan niệm cần phải xây dựng một
hệ thống triết học thực chứng có ý nghĩa thời đại. Đến năm 1848, ông thành
lập Hội nghiên cứu triết học thực chứng.
Có thể thấy Công-tơ rất lên án tôn giáo nhưng lại tôn sùng khoa học,
nghiên cứu các quy luật của khoa học tự nhiên và ông luôn lấy triết học là cơ
sở cho hệ thống lý luận của mình. Vì vậy mà triết học thực chứng của ông đã


đem lại những tri thức xác định, chính xác. Ngồi ra ơng cịn đề xuất ra
phương pháp nghiên cứu cho khoa học cụ thể.
Triết học thực chứng của Công-tơ nổi bật với quy luật ba giai đoạn
phát triển. Nó được xem như là cơ sở lý luận cơ bản trong toàn bộ hệ thống
triết học của ơng, đồng thời nó là phương pháp luận trong nghiên cứu khoa
học trước đấy của ông. Xuất phát từ sự phát triển tri thức khoa học tự nhiên
mà theo ông khoa học tự nhiên phát triển là do sự tiến bộ của tư tưởng loài
người và toàn bộ sự phát triển trí tuệ của nhân loại như những quy luật, quan
điểm của mỗi bộ môn tri thức đều phải trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn thần
học, giai đoạn lý luận siêu hình, giiai đoạn thực chứng.
Trơng đó, giai đoạn thần học là do ảo tưởng con người muốn đi tìm cái
bản chất, cội nguồn của vạn vật, cái nguyên nhân cuối cùng của nó và muốn
đạt được các tri thức tuyệt đối.
Giai đoạn siêu hình, trừu tượng: lúc này con người đã dùng đến khái
niệm trừu tượng thay thế sức mạnh siêu tự nhiên (Thượng đế, thần linh) và
mong muốn có được tri thức tuyệt đối cịn được gọi là chân lý tuyệt đối.
Giai đoạn thực chứng: dùng khoa học thực chứng, kiểm nghiệm lại quy
luật của tự nhiên và con người thừa nhận không thể thu được tri thức tuyệt


đối, chân lý tuyệt đối vì thế Cơng- tơ khơng đi tìm nguồn gốc và bản chất của
sự vật mà chỉ quan sát quan hệ bất biến bề ngoài giữa các sự vật.
Về mối quan hệ giữa ba giai đoạn thì Cơng-tơ cho rằng: giai đoạn thần
học là xuất phát điểm tất nhiên, giai đoạn siêu hình xây dựng niềm tin để phê
phán giai đoạn thần học và làm tiền đề cho giai đoạn thực chứng, giai đoạn
thực chứng là giai đoạn cao nhất của sự phát triển tư tưởng khoa học. Và sự
phát triển ba giai đoạn tri thức này tương ứng với sự phát triển của các mơ
hình đời sống xã hội. Giai đoạn thần học tương ứng với trật tự xã hội châu Âu
cổ đại và trung cổ. Giai đoạn siêu hình tương đương với chế độ chính trị thời
kì Khai sáng Châu Âu. Giai đoạn thực chứng tương ứng với mơ hình xã hội

chủ nghĩa và là giai đoạn phát triển cao nhất của tư tưởng lồi người, trong đó
lấy đời sống kinh tế là trung tâm, nhà khoa học là nhà tri phối xã hội, làm xã
hội có trật tự, tiến bộ.
Qua ba giai đoạn phát triển tri thức của Công- tơ, ta thấy được tư tưởng
về sự phát triển từ thấp đến cao trong tiến trình phát triển của lồi người trong
lịch sử. Sự xuất hiện của thần học và siêu hình là các giai đoạn lịch sử tất
nhiên và giai đoạn thực chứng đã giải quyết mâu thuẫn giữa lý luận và thực
tiễn trong giai đoạn siêu hình. Tuy nhiên, quy luật 3 giai đoạn phát triển của
tri thức cịn mang tính phiến diện, ông chỉ xem xét hiện tượng ở vẻ bề ngồi
(các hiện tượng phải chứng thực được) mà khơng thấy được bản chất bên
trong của nó. Điều đó khiến triết học của ông rơi vào chủ nghĩa bất khả tri,
siêu hình. Sự phát triển của tư tưởng: từ thần học đến siêu hình thiếu căn cứ
hiện thực nên khơng phản ánh đúng logic của sự phát triển, hay nói cách khác
Công-tơ muốn bắt thực tế phải phục tùng lý luận. Trong khi đó nguyên tắc cơ
bản của triết học thực chứng là phê phán khái niệm trừu tượng và phải xuất
phát từ thực tế, con người phải phục tùng tự nhiên.


Cơng-tơ cịn có những quan điểm về phương pháp khoa học cũng như
pương pháp luận cho chính triết học thực chứng của ông và cả những bộ môn
khoa học khác. Ông có ý tưởng xây dựng một hệ thống triết học tổng hợp, từ
đó đề ra phương pháp luận cho khoa học. Trước hết, Công-tơ đã phân loại các
bộ môn khoa học, chỉ ra vị trí, vai trị và nhiệm vụ của mỗi bộ môn.
Theo ông, các bộ môn khoa học đặc thù nằm trong chỉnh thể các bộ
môn khoa học.mỗi bộ mơn lại có đối tượng riêng và mục tiêu tìm hiểu các
quy luật riêng. Triết học thực chứng để đối chứng sự khác nhau và giống
nhau.
Ông chia khoa học ra thành 6 bộ mơn: Thiên văn học, tốn học, vật lý,
hóa học, sinh học, xã hội học. trong đó, thiên văn, vật lý, hóa học thuộc lĩnh
vực tự nhiên vơ cơ, cịn sinh vật học và xã hội học thuộc lĩnh vực tự nhiên

hữu cơ. Toán học là cơng cụ tư duy nhưng có vai trị giúp cho các khoa học
khác tìm hiểu những quy luật tự nhiên.
Theo ông, khoa học xuất phát xuất phát từ cái đơn giản, đơn thuần, trừu
tượng và chung nhất đến khoa học cụ thể hơn nhưng phức tạp hơn. Trong đó,
tốn học có sớm nhất, đơn giản nhất nhưng trừu tượng nhất. Cịn xã hội học là
khoa học mang tính chất cụ thể về con người và đời sống con người nhưng
quan hệ lại vô cùng phức tạp. ông được coi là ông tổ của ngành Xã hội học.
Ông cho rằng, phương pháp khoa học của bộ môn sau phải dựa vào
phương pháp khoa học của bộ môn ra đời trước. Thứ hai, khi quan sát sự vật,
hiện thực phải dựa vào hiện thực, phải sử dụng các phương pháp như phương
pháp diễn dịch và phương pháp kiểm chứng. Đây là phương pháp luận chung
cho các khoa học. Thứ ba, theo ông thế giới là một chỉnh thể, phương pháp
luận chung của Cơng-tơ cịn đề xuất phương pháp hệ thống- chỉnh thể để cho


cách hiểu chỉnh thể về sự vật. Chẳng hạn, muốn hiểu một hiện tượng xã hội,
phải liên hệ nó với đặc điểm xã hội.
Như vậy, Công tơ đã đề ra phương pháp khoa học mới là phương pháp
thực chứng có ý nghĩa tích cực, phê phán lối tư duy siêu hình, tư biện, trừu
tượng trước đó. Phương pháp khoa học của ông phù hợp với sự phát triển của
khoa học khi ông chia khoa học ra thành các lĩnh vực khác nhau, nhằm phá vỡ
sự kìm hãm, xóa bỏ triết học siêu hình, tư biện. Tuy nhiên, ơng có tư tưởng
chủ quan khi giới hạn các bộ môn khoa học chỉ ở hiện tượng chứ không phải
bản chất và đặc biệt khi bàn đến trật tự phát triển khoa học thì khơng dựa vào
hiện thực khách quan.
Tóm lai, thơng qua quy luật ba giai đoạn phát triển của tri thức và
phương pháp khoa học của Công-tơ, ta thấy triết học thực chứng rất tích cực
khi phê phán, phản đối, siêu hình, trừu tượng. Quy luật ba giai đoạn phát triển
của tri thức, sự phát triển từ thấp đến cao vẫn cịn đúng với tiến trình phát
triển và đến nay phương pháp khoa học của ơng vẫn có ý nghĩa lớn, vẫn được

áp dụng cho các ngành khoa học khác, đặc biệt bộ môn xã hội học. Mặc dù
vậy, triết học của Cơng- tơ vẫn cịn phiến diện, rơi vào chủ nghĩa hiện tượng
khi không xem xét bản chất bên trong của sự vật.



×