Tải bản đầy đủ (.docx) (89 trang)

Khóa luận tốt nghiệp Triết học nhân bản Phoiơbắc và ý nghĩa hiện thời của nó

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (390.39 KB, 89 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ TUYẾT

TRIẾT HỌC NHÂN BẢN PHOIƠBẮC VÀ Ý NGHĨA
HIỆN THỜI CỦA NÓ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Triết học

Hà Nội, 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRIẾT HỌC NHÂN BẢN PHOIƠBẮC VÀ Ý NGHĨA
HIỆN THỜI CỦA NÓ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH



: TRIẾT HỌC

MÃ SỐ

: 7229001

CHUYÊN NGÀNH

: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS TRẦN HẢI MINH
Sinh viên thực hiện

: NGUYỄN THỊ TUYẾT

Hà Nội, 2021


LỜI CẢM ƠN!
Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả học tập của tôi trong suốt 4 năm trên
giảng đường Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đạt được kết quả như ngày
hơm nay, ngồi sự nỗ lực của bản thân, cịn có rất nhiều sự giúp đỡ khác. Vì
vậy, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến mọi người.
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo Trần Hải Minh – người trực
tiếp hướng dẫn, nhiệt tình, chỉ bảo, giúp đỡ tơi rất nhiều trong thời gian hồn
thành khóa luận.
Nhân dịp này tơi cũng xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành tới cơ giáo chủ
nhiệm ThS. Trần Thị Giang cùng tồn thể các thầy, cơ giáo trong khoa Triết học
đã tận tình dạy dỗ và tạo điều kiện học tập cho tôi trong suốt những năm tháng

vừa qua, đã cho tôi một nền tảng kiến thức vững chắc nhất định.
Cuối cùng, đây cũng là dịp để tơi cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân
và bạn bè lớp Triết học K37 đã đồng hành và luôn ủng hộ, cổ vũ tôi trong suốt 4
năm học qua và trong q trình hồn thành khóa luận.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên

Nguyễn Thị Tuyết

1


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Khóa luận
được hồn thành dưới sự dẫn dắt khoa học của PGS.TS Trần Hải Minh. Các
số liệu và kết quả nêu trong khóa luận là chính xác, trung thực, bảo đảm tính
khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, tin cậy.
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2021
Tác giả

Nguyễn Thị Tuyết

2


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..............................................................................................................4
NỘI DUNG.........................................................................................................11
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC NHÂN BẢN

PHOIƠBẮC.......................................................................................................11
1.1 Bối cảnh lịch sử hình thành nên chủ nghĩa duy vật nhân bản ở Phoiơbắc. 11
1.2 Giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp Lút- vích Phoiơbắc...........................20
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC NHÂN
BẢN PHOIƠBẮC..............................................................................................28
2.1 Quan niệm của Phoiơbắc về tự nhiên.........................................................28
2.2 Quan niệm của Phoiơbắc về nhận thức......................................................31
2.3 Quan niệm của Phoiơbắc về con người và bản chất con người.................35
2.4 Quan niệm của Phoiơbắc về nguồn gốc và bản chất tôn giáo....................41
2.5 Quan niệm của Phoiơbắc về đạo đức.........................................................48
2.6 Quan niệm của Phoiơbắc về chính trị- xã hội............................................52
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA HIỆN THỜI CỦA TRIẾT HỌC NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC.......................................................................................................55
3.1 Vài nét khái quát về bối cảnh hiện nay......................................................55
3.2 Ý nghĩa của Triết học nhân bản Phoiơbắc đối với việc giải quyết những
vấn đề lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay........................................66
KẾT LUẬN........................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................82

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử triết học có ý nghĩa, vai trị rất quan trọng trong sự phát triển của xã
hội. Nó ra đời và ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Lịch sử
triết học cho chúng ta khả năng hiểu biết và khái quát sự phát triển của lịch sử tư
tưởng triết học của nhân loại, nắm bắt được quá trình hình thành và phát triển
của những phương pháp nhận thức khoa học, cho ta biện pháp hữu hiệu để
nghiên cứu, đánh giá một học thuyết triết học trong lịch sử, từ đó góp phần hình

thành, phát triển phương pháp tư duy khoa học, chống lại những quan điểm phản
tiến bộ để tạo điều kiện cho việc cải tạo thế giới ngày càng phong phú, sinh
động và có sức sống hơn. Như vậy, lịch sử triết học không chỉ là môn khoa học
về tinh hoa, trí tuệ của nhân loại, là sự tổng kết các tư tưởng triết học trong lịch
sử mà cịn có vai trị định hướng sự phát triển của nhân loại trong tương lai. Hơn
nữa, Ph.Ăng-ghen cho rằng: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của
khoa học thì khơng thể khơng có tư duy lý luận”, “nhưng tư duy lý luận chỉ là
một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thơi. Năng lực ấy
cần phải được phát triển hồn thiện, và muốn hồn thiện nó thì cho tới nay,
khơng có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [25;
tr. 14]. Theo như quan điểm trên của Ph.Ăng-ghen thì tư duy lý luận chính là
thước đo trình độ khoa học của mỗi quốc gia nên cần phải nắm được tư duy lý
luận trước đó để từng bước phát triển và hoàn thiện tư duy lý luận trong điều
kiện mới, thời đại mới, để đạt tới đỉnh cao của khoa học. Vì vậy việc nghiên cứu
lý luận, lịch sử triết học là rất cần thiết.
Triết học Mác- Lênin ra đời trên cơ sở kế thừa một cách sáng tạo những giá
trị tích cực của các triết học trước đó, qua các thời kì cơ bản là triết học phương
Đông cổ, trung đại; triết học phương Tây cổ đại; triết học phương Tây thời trung
đại; triết học phương Tây thời kì Phục Hưng; triết học phương Tây thời cận đại;
Triết học cổ điển Đức. Trong đó, Triết học cổ điển Đức là giai đoạn gần nhất, có
ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất tới Mác và Ăng-ghen. Nước Đức đã sản sinh
4


ra những con người vĩ đại và các đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức
không thể không kể đến đó là Kant, Hêghen và Phoiơbắc. Nếu như Kant là
người mở đầu cho triết học Đức với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm, thì Hêghen
đã đưa nền triết học đạt tới đỉnh cao bởi phép biện chứng duy tâm của mình và
cuối cùng L.Phoiobắc đã kết thúc nền triết học ấy bằng chủ nghĩa duy vật nhân
bản.

Trong đó, có thể nhận thấy rằng triết học của Phoiơbắc mới mẻ và khác biệt
hơn so với các giá trị triết học trước đó ở tính nhân bản và mang ý nghĩa nhân
văn sâu sắc nhất. Triết học của ông luôn lấy con người là trung tâm và xuất phát
từ chính con người để nghiên cứu mọi lĩnh vực khác. Triết học Phoiơbắc khơng
chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với đất nước Phổ, hay là tiền đề lý luận cho sự ra đời
triết học Mác mà nó cịn mang những ý nghĩa hiện thời.
Chúng ta đang sống trong những năm 20 của thế kỉ XXI, một giai đoạn lịch
sử đầy biến động. Cùng với đó là sự phát triển như vũ bão của khoa học công
nghệ và sự hội nhập quốc tế đã làm cho con người ngày càng cần đổi mới. Yếu
tố con người và việc phát huy con người trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Muốn phát triển xã hội thì phải phát triển con người, chưa bao giờ vị thế và
vai trò của con người trong thế giới lại được nâng cao như hiện nay. Chính vì
vậy, tính nhân bản đang trỗi dậy mạnh mẽ và lúc này, chúng ta mới thấy được
những giá trị quý báu trong triết học nhân bản Phoiơbắc đối với hiện nay. Nó
hướng chúng ta trở thành những con người tốt đẹp, sống hạnh phúc và biết yêu
thương đồng loại. Và một lần nữa triết học nhân bản Phoiơbắc giúp chúng ta tự
ý thức về chính bản thân mình một cách sâu sắc nhằm phát triển xã hội trong
tương lai.
Đó cũng là tồn bộ lí do vì sao, tơi chọn đề tài khóa luận là Triết học nhân
bản Phoiơbắc và ý nghĩa hiện thời của nó.
2. Tình hình nghiên cứu

5


Việc nghiên cứu triết học nhân bản Phoiơbắc đã trở nên phổ biến ở cả
phương Đông lẫn phương Tây. Nhiều học giả trên thế giới đã nghiên cứu thành
những công trình lớn về chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc, chỉ ra được ý
nghĩa lịch sử, tìm thấy những tư tưởng tiến bộ và cách mạng để hình thành nên
tư duy lý luận.

Ở Việt Nam cũng vậy, đã có nhiều sách, tạp chí, luận văn, luận án nghiên
cứu về triết học nhân bản Phoiơbắc. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hệ thống triết
học nhân bản Phoiơbắc và chỉ ra ý nghĩa của nó trong bối cảnh hiện thời, có thể
nói, vẫn cịn ít. Cụ thể, một số cơng trình tiêu biểu nghiên cứu về Phoiơbắc ở
Việt Nam như:
+ Cơng trình Lịch sử triết học (2001) do GS, TS. Nguyễn Hữu Vui chủ
biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản, từ trang 458 đến trang 465, tác
giả đã giới thiệu một cách vắn tắt thân thế, sự nghiệp của Phoiơbắc, phân tích
thế giới quan duy vật mà Phoiơbắc xây dựng trên cơ sở nhân bản học, trình bày
và luận giải quan điểm của Phoiơbắc về bản chất con người, bản chất tơn giáo.
+ Cơng trình Đại cương lịch sử triết học phương Tây (2006) của tập thể tác
giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn, do Nhà xuất bản Tổng
hợp TP. Hồ Chí Minh xuất bản. Trong cuốn này, các tác giả đã trình bày những
tư tưởng, những quan điểm của chủ nghĩa duy vật nhân bản L.Phoiơbắc một
cách cơ bản và chủ yếu nhất.
+ Cơng trình Lịch sử triết học phương Tây (tập 2- triết học phương Tây
cận hiện đại) năm 2014 của PGS,TS. Đỗ Minh Hợp do Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia - Sự thật, Hà Nội xuất bản. Cơng trình này, tác giả Đỗ Minh Hợp trình
bày khá đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp của Phoiơbắc, trình bày một cách hệ
thống những quan niệm triết học của Phoiơbắc, đặc biệt luận giải chi tiết về bản
chất con người, bản chất tôn giáo và chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong
triết học nhân bản Phoiơbắc.

6


+ Cơng trình Lịch sử triết học phương Tây (2015) của tác giả Nguyễn
Tiến Dũng, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản đã trình bày hồn cảnh,
điều kiện nước Đức cho sự ra đời triết học của Phoiơbắc, đôi nét khái quát về
thân thế, sự nghiệp của Phoiơbắc, trình bày các quan niệm triết học của

Phoiơbắc về thế giới, nhận thức luận, con người và bản chất con người, quan
niệm phê phán tôn giáo, quan niệm về ln lí một cách có hệ thống.
+ Cơng trình Lịch sử triết học (2015) của tác giả Trần Đăng Sinh chủ biên,
do Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm xuất bản cũng đã trình bày những nét cơ bản
nhất về Phoiơbắc và triết học nhân bản của ơng.
Ngồi các cơng trình kể trên, các cuốn giáo trình về lịch sử triết học hoặc
đề tài khoa học cấp cơ sở của Học viện báo chí và Tuyên truyền đã ít nhiều đề
cập đến L.Phoiơbắc, với tư cách là bậc tiền bối của triết học Mác, là một triết gia
nổi tiếng của nền triết học cổ điển Đức như:
+ Cơng trình Khái lược lịch sử triết học (2011) của 2 tác giả Bùi Thị Thanh
Hương – Nguyễn Văn Đại, Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản đã trình bày
khái lược nhất về triết gia Phoiơbắc và quan điểm triết học duy vật nhân bản của
ơng.
+ Cơng trình Giáo trình Lịch sử triết học cổ điển Đức (2014) của tác giả
Bùi Thị Thanh Hương và Nguyễn Đình Trình do Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội xuất bản đã trình bày khá đầy đủ về điều kiện ra đời triết học cổ điển
Đức nói chung và triết học Phoiơbắc nói riêng, giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp
Phoiơbắc, trình bày chi tiết và luận giải những quan niệm trong triết học nhân
bản của Phoiơbắc.
+ Cơng trình Giá trị của triết học cổ điển Đức trong thế giới đương đại, Đề
tài khoa học cấp cơ sở năm 2019, HVBCTT của TS. Vũ Thị Hồng Nhung đã đề
cập đến Phoiơbắc, nêu được những nét nổi bật nhất trong triết học Phoiơbắc và
còn đánh giá những giá trị và hạn chế của nó.

7


Trên một số Tạp chí Triết học, Tạp chí Khoa học xã hội đã có rất nhiều bài
viết hay về Phoiơbắc và đề cập đến tư tưởng triết học nhân bản của ông như:
+ Bài viết L.Phoiơbắc và triết học nhân bản của ông của tác giả Phạm Thị

Ngọc Trầm (Tạp chí Triết học, số 10, 2004).
+ Bài viết Mối quan hệ giữa triết học Phoiơbắc và triết học của trường
phái Hêghen trẻ của tác giả Nguyễn Kim Lai (Tạp chí Triết học, số 10, 2004).
+ Bài viết Quan điểm của L.Phoiơbắc về văn hóa và con người của tác giả
Nguyễn Huy Hồng (Tạp chí Triết học, số 5, 2006).
+ Bài viết Đánh giá của C.Mác và Ph.Ăng- ghen về vấn đề con người trong
triết học L.Phoiơbắc qua Hệ tư tưởng Đức của tác giả Lê Cơng Sự (Tạp chí
Triết học, số 11, 2006).
+ Bài viết Triết học Phoiơbắc dưới nhãn quan của các nhà sáng lập của
chủ nghĩa Mác của tác giả Nguyễn Phương Nam (Tạp chí Khoa học xã hội, số
11, 2004).
Ở nước ngồi đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về Phoiơbắc một cách hệ
thống nhưng do những điều kiện không thuận lợi về mặt thời gian, sự rào cản về
ngôn ngữ nên tôi chỉ kể tới một số cơng trình nghiên cứu sau:
+ L.Phoiơbắc - lịch sử triết học (1990) gồm ba tập, Nhà xuất bản
Mátxcơva.
+ L.Phoiơbắc - tuyển tập các tác phẩm triết học (1995), gồm hai tập, Nhà
xuất bản Mátxcơva.
+ C. Mác, “Luận cương về Phoiơbắc” trong C.Mác và Ph.Ăng- ghen toàn
tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
+ C.Mác và Ph.Ăng- ghen, “Hệ tư tưởng Đức” trong C.Mác và Ph.Ăngghen tồn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.

8


+ Ph.Ăng- ghen, “Lút- vích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ
điển Đức” trong C.Mác và Ph.Ăng- ghen tồn tập, tập 21, NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 1995.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: phân tích các quan điểm tư tưởng trong triết học nhân bản

Phoiơbắc để từ đó thấy được ý nghĩa của nó đối với hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lịch sử hình thành triết học nhân bản Phoiơbắc
- Phân tích, làm rõ nội dung triết học nhân bản Phoiơbắc qua các quan niệm
về tự nhiên, nhận thức, tôn giáo, đạo đức, đặc biệt là về con người và bản
chất con người
- Chỉ ra ý nghĩa của nó đối với hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Triết học nhân bản Phoiơbắc
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu những tư tưởng quan niệm cơ bản, chủ
yếu trong triết học Phoiơbắc như quan niệm về tự nhiên, quan niệm về tôn giáo,
về đạo đức và đặc biệt là quan niệm về con người và bản chất con người.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: khóa luận dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa MácLênin, vận dụng Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào
nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: khóa luận dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, ngồi ra cịn sử dụng các
phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ
thống hóa và khái quát hóa, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp so sánh,

6. Đóng góp mới của khóa luận

9


- Về mặt lý luận:
+ Khóa luận đã trình bày một cách có hệ thống về triết học nhân bản
Phoiơbắc, khơng những chỉ rõ tính nhân bản trong quan niệm về con người và
bản chất con người mà còn làm rõ tính nhân bản trong các quan niệm triết học
khác của ơng.

+ Chỉ ra những đóng góp về mặt tư tưởng của Phoiơbắc đối với thực tiễn
xã hội, ý nghĩa của triết học nhân bản Phoiơbắc trong bối cảnh hiện nay, khẳng
định vai trò của triết học Phoiơbắc đối với sự hình thành và phát triển của Chủ
nghĩa Mác- Lênin
- Về mặt thực tiễn:
Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo nhằm phục vụ việc nghiên cứu về
lịch sử triết học nói chung, nghiên cứu về triết học cổ điển Đức, triết học nhân
bản Phoiơbắc nói riêng. Hơn nữa khóa luận cịn hữu ích với những ai quan tâm
đến vấn đề con người, về chủ nghĩa nhân bản, nhân đạo và muốn phát triển nó.
7. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung của khóa luận cơ bản gồm 3 chương và 10 tiết.

10


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC NHÂN BẢN
PHOIƠBẮC
1.1 Bối cảnh lịch sử hình thành nên chủ nghĩa duy vật nhân bản ở Phoiơbắc
1.1.1 Những điều kiện kinh tế- xã hội của sự hình thành triết học Phoiơbắc
Cũng giống như mọi triết học khác, triết học cổ điển Đức nói chung và triết
học duy vật nhân bản của L.Phoiơbắc nói riêng đều được xây dựng trên những
nền tảng kinh tế- xã hội nhất định.
Từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, Chủ nghĩa tư bản phát triển
hầu hết ở các nước Tây Âu như: Ý, Anh, Pháp, v.v … đem lại một nền sản xuất
phát triển chưa từng có trong lịch sử. Các cuộc cách mạng tư sản nổ ra hàng loạt
để đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, dẫn đầu là cuộc
cách mạng tư sản Hà Lan (1566- 1609), tiếp đó là cuộc cách mạng tư sản Anh
(1640- 1649), cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789- 1794)… Nắm bắt thời cơ xã

hội phong kiến ngày càng suy yếu, giai cấp tư sản đã đứng lên giành lại chính trị
thơng qua cuộc cách mạng công nghiệp Anh diễn ra mạnh mẽ vào những năm
1760, không chỉ trong ngành dệt mà còn lan rộng cả những ngành sản xuất khác.
Chỉ sau vài chục năm, nước Anh từ một nước công nghiệp nhỏ bé, dân cư thưa
thớt, chủ yếu là nông dân, đã phát triển thành một nước tư bản chủ nghĩa lớn
mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn về cả kinh tế lẫn chính trị trên thế giới. Cuộc cách
mạng cơng nghiệp Anh đã khẳng định được sức mạnh và sự ưu việt của phương
thức sản xuất mới so với tất cả xã hội trước đó. Cùng với nó, ở nước Pháp, cách
mạng tư sản đã nổ ra làm rung chuyển cả châu Âu, phá vỡ những quan hệ phong
kiến cũ, làm cho chế độ chính trị bị sụp đổ và thiết lập nên chủ nghĩa tư bản. Các
phong trào chính trị ngày càng lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia,
ủng hộ nhằm thủ tiêu quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội phong kiến, xây
dựng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự thống trị chính trị của giai cấp tư
sản.
11


Các cuộc cách mạng công nghiệp Anh, Pháp nổ ra mạnh mẽ, Tây Âu đang
có những bước nhảy vọt mới trong khi nước Đức vẫn là nước nửa phong kiến
kém phát triển cả về kinh tế lẫn chính trị. Nước Đức được thành lập năm 843, là
một liên bang có 31 tiểu vương quốc tách biệt nhau và 4 thành phố tự trị. Liên
bang Đức lúc ấy chỉ tồn tại về mặt hình thức, trên thực tế là một giang sơn
phong kiến điển hình, gồm khoảng 300 tiểu vương quốc cát cứ với những tàn
tích của chế độ nơng nơ, chúa đất. Mỗi tiểu vương quốc là một lãnh địa cha
truyền con nối. Tình trạng phân quyền cát cứ đó gây nhiều trở ngại đối với sự
phát triển của nước Đức. Sự tồn tại của nhiều tiểu vương quốc phụ thuộc lẫn
nhau với chế độ chính trị phản động khơng chỉ kìm hãm sự phát triển của nước
Đức mà cịn làm tăng thêm mức độ lạc hậu của nước này so với các nước đã
phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế nước Đức lúc ấy còn lạc hậu, bảo thủ, khơng có sự thay đổi, quan

hệ sản xuất phong kiến vẫn chiếm ưu thế. “Năm 1822, nước Đức mới chỉ có 2
máy hơi nước. Nơng nghiệp bị đình đốn. Nền kinh tế cơ bản vẫn là nền kinh tế
thủ cơng, lạc hậu, trình độ thấp kém” [25; tr. 129]. Do giai cấp quý tộc phong
kiến nắm quyền thống trị cả kinh tế và chính trị, chi phối mọi hoạt động trong
nước nên kinh tế Đức chuyển biến chậm chạp so với các nước Tây Âu khác. Tuy
nhiên, nền kinh tế tư bản bao trùm khắp Tây Âu, vẫn le lói xuất hiện phần nào ở
nước Đức và cũng làm kinh tế trở nên thay đổi tích cực từng chút một. Cụ thể là
sự áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong ngành kinh tế vận tải, xuất hiện tàu thủy chạy
bằng hơi nước, con đường xe lửa xây dựng đầu tiên năm 1835, một bộ phận
ruộng đất nông thôn được chuyển sang kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa,
cơng nghiệp khai thác mỏ, cơng nghiệp hóa chất tương đối phát triển, các trung
tâm công nghiệp xuất hiện ở vùng sơng Ranh, Vétxphalen, Xắcxơni,…Tuy
nhiên, do vị trí địa lí khơng thuận lợi, nằm cách xa Đại Tây Dương - con đường
giao lưu, buôn bán quốc tế chủ yếu lúc đó nên giao thương khơng thể phát triển,
sự chia cắt lãnh thổ, thiên tai, khủng hoảng kinh tế luôn diễn ra khiến nước Đức
lâm vào tình trạng hoang tàn, cùng cực. Từ nông nghiệp, thủ công nghiệp, công
nghiệp đến thương nghiệp đều khó khăn, cuộc sống của người nơng dân, thợ thủ
12


cơng, chủ xí nghiệp nghèo đói và phải chịu khổ cực từ sự ăn bám của chính
quyền.
Về mặt chính trị- xã hội, nước Đức bộc lộ rõ những hạn chế và tiêu cực của
chế độ phong kiến. Triều đình quân chủ Phổ Phriđrích Vinhem (1770-1840)
thống trị nước Đức vẫn ngoan cố tăng cường quyền lực và duy trì chế độ phong
kiến thối nát, cản trở đất nước phát triển. Xã hội phân chia thành nhiều giai cấp
và tầng lớp khác nhau.
Đứng đầu là giai cấp quý tộc phong kiến, họ giữ vị trí cao nhất trong xã hội
và thống trị bộ máy nhà nước.
Thứ hai, là tầng lớp giáo hội, họ có thế lực rất lớn, là chỗ dựa cho chế độ

phong kiến.
Giai cấp quý tộc phong kiến và tầng lớp giáo hội cấu kết chặt chẽ với nhau,
hoàng đế Đức như bù nhìn, bị chi phối bởi các thế lực tơn giáo và có được sự
hậu thuẫn của Giáo hồng, triều đình phong kiến Đức cùng bè lũ q tộc, giáo sĩ
ra sức vơ vét của cải, ăn bám dân nghèo, ngoan cố duy trì chế độ quân chủ
chuyên chế, làm cho kinh tế và xã hội Đức trì trệ, khơng thể phát triển.
Vị trí cuối cùng của xã hội bao gồm giai cấp tư sản mới hình thành, giai
cấp nông dân, tầng lớp tiểu tư sản, tầng lớp trí thức, sinh viên…Họ chiếm số
đơng trong xã hội và bị áp bức nặng nề nhất.
Trong đó, giai cấp tư sản Đức ra đời cùng sự phát triển của công, thương
nghiệp, mục tiêu của họ là chống lại chế độ phong kiến, thống nhất đất nước,
thiết lập thị trường tư bản chủ nghĩa. Nhưng do sự phân bố rải rác ở các lãnh địa
phong kiến tách biệt nhau, họ đã khơng thống nhất được giai cấp mình thành
một tổ chức được, còn rời rạc, lẻ tẻ, chưa phát huy được sức mạnh kinh tế. Hơn
nữa, họ cũng là giai cấp mới hình thành nên so với giai cấp quý tộc phong kiến
thì họ vừa nhỏ bé hơn về số lượng, vừa yếu kém về kinh tế, địa vị chính trị của
họ cũng thấp kém nên không đủ sức tiến hành một cuộc cách mạng trong thực
tế. Cho nên, đứng trước cuộc cách mạng tư sản Pháp diễn ra khốc liệt, trực tiếp
13


chứng kiến được khí thế cách mạng của giai cấp công nhân diễn ra sôi nổi
nhưng họ không đủ can đảm để tham gia cách mạng. Giai cấp tư sản Đức bộc lộ
rõ sự nhút nhát, hèn yếu của mình khi nhượng bộ, thỏa hiệp với giai cấp quý tộc
phong kiến. Mác đã nhận xét về giai cấp tư sản Đức rằng: “giai cấp tư sản Đức
phát triển một cách lờ đờ, nhát gan và chậm chạp, thành thử vào đúng cái lúc nó
đứng lên đối lập một cách hăm dọa với chủ nghĩa phong kiến và chế độ quân
chủ chun chế, thì bản thân nó cũng lại thấy rằng đứng đối lập một cách hăm
dọa trước mặt nó là giai cấp vô sản và tất cả mọi tầng lớp thị dân mà lợi ích và
tư tưởng là giống với giai cấp vô sản” [17; tr. 9].

Ở giới tri thức, sinh viên thì có thái độ cấp tiến hơn, mong muốn thiết lập
một nền dân chủ thật sự. Nhiều cuộc biểu tình do họ tổ chức để địi bình đẳng
chính trị xã hội, xóa bỏ đặc quyền phong kiến. Đơng đảo nông dân phải chịu
gánh nặng tô thuế và các nô dịch phong kiến đã nhiều lần vùng lên đấu tranh
chống lại quý tộc phong kiến nhưng đều thất bại vì chưa có một tổ chức lãnh
đạo sáng suốt.
Xã hội Đức khi đó xảy ra mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là quý tộc địa
chủ phong kiến, cố duy trì trật tự xã hội cũ với một bên là đẳng cấp thứ ba theo
khuynh hướng cách mạng. Ở nước Đức thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Phổ đã
kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khơng có điều kiện
để phát triển và lớn mạnh. Chính thực tại đau buồn này của nước Đức và tấm
gương đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản các nước Tây Âu đã thức tỉnh
tinh thần phản kháng của giai cấp tư sản và nhân dân lao động Đức. Đặc biệt là
cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 - 1794 đã có ảnh hưởng lớn đến các nhà
tư sản Đức, nó khiến họ khơng chỉ mong muốn, mà cịn đưa ra mơ hình về một
nhà nước Đức lý tưởng theo ước vọng của mình. Cách mạng Pháp chính là hậu
thuẫn thực tiễn cho giai cấp tư sản Đức trong cuộc đấu tranh vì một trật tự xã hội
mới. C.Mác đã coi cách mạng tư sản Pháp là một trong những tiền đề cho sự
hình thành và triết học cổ điển Đức, là “lý luận của người Đức” trong đó có cả
triết học Phoiơbắc. Tuy nhiên, giai cấp tư sản Đức chưa tích cực tham gia đấu
14


tranh chống phong kiến, họ chỉ dám đấu tranh trong tư tưởng, suy nghĩ về con
đường phát triển chủ nghĩa tư bản trong hồ bình, thậm chí có thái độ thỏa hiệp
với chính trị phong kiến một cách nhu nhược. Họ cũng luôn giữ lập trường cải
lương trong việc giải quyết những vấn đề nhằm phát triển đất nước. Chính điều
này đã quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức: nội dung cách mạng dưới
hình thức duy tâm, kể cả L.Phoiơbắc cũng vậy, ông luôn duy tâm về mặt xã hội.
Đây là thời kì khổ cực bao trùm lên khắp nước Đức, sự bất bình giữa quý

tộc phong kiến với đông đảo quần chúng không thể điều hòa được. Ph. Ăngghen
coi đây là một trong những thời kì hèn kém nhất trong lịch sử nước Đức “vì dân
tộc thậm chí khơng cịn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết
rồi” [5; tr. 754].
1.1.2 Những tiền đề lý luận đối với sự hình thành triết học Phoiơbắc
Sự hình thành triết học nhân bản Phoiơbắc không chỉ bị ảnh hưởng bởi
những điều kiện về kinh tế- xã hội mà nó cịn chịu sự quy định của các tư tưởng
lý luận trước đó.
Tuy nước Đức thời kỳ này còn lạc hậu về kinh tế - chính trị nhưng ngược
lại những tư tưởng về triết học, văn hóa và nghệ thuật thì rất phát triển và đạt
được nhiều thành tựu to lớn. Nước Đức là cái nôi sản sinh ra những nhà tư
tưởng lớn, nhà văn, nhà thơ, những triết gia nổi tiếng như: Hecđơ, Gothe, Sinlơ,
Letxinh, Kant, Phichtơ, Senlinh, Hêghen,…L.Phoiơbắc đã tiếp thu những di sản
tư tưởng của văn hóa Đức truyền thống và kế thừa tinh hoa của triết học Tây Âu
trước đó.
L.Phoiơbắc kế thừa tư tưởng của các nhà triết học cổ điển Đức như I.Kant,
Gi.Phichtơ, Senlinh, Ph.Hêghen. Thời gian đầu tiên, Phoiơbắc bị ảnh hưởng bởi
triết học duy tâm, nhất là triết học Hêghen. Lúc đó, Hêghen là một triết gia có
tiếng ở Đức, triết học của ơng được nhiều người theo học và trong đó có cả
Phoiơbắc. Triết học duy tâm Hêghen luôn mang tinh thần Cơ đốc giáo, ông coi
toàn bộ thế giới hiện thực chỉ là sự tha hóa, sự hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Ở
Đức khi đó, triết học tơn giáo và các khái niệm “Tinh thần tuyệt đối” đang thống
15


trị mọi tư tưởng và chiếm vị trí tối cao. Nhưng chính Phoiơbắc lại là người đầu
tiên chống đối lại quan điểm triết học của thầy mình. Ơng nhận thấy được tác
hại và sự cản trở của triết học duy tâm Hêghen đối với sự phát triển của khoa
học và xã hội Đức. Ông cho rằng, triết học duy tâm Hêghen theo tinh thần Cơ
đốc giáo chính thống, mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo không được giải

quyết triệt để, vi phạm nguyên tắc tổng hợp giữa lý tính và niềm tin tơn giáo,
tinh thần tuyệt đối trở thành xiềng xích ngăn cản sự phát triển tư duy của con
người. Chính vì vậy, L.Phoiơbắc tự nhận thấy phải có nhiệm vụ khơi phục lại
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần của các bậc tiền bối, phải rũ bỏ mọi cái
lỗi thời là chủ nghĩa duy tâm Hêghen và tôn giáo của “bọn thầy tu” [15; tr. 28].
Phoiơbắc còn nhận thấy những hạn chế của Hêghen trong quan niệm về con
người. Theo ông Hêghen đã sai khi quan niệm bản chất con người về tự ý thức,
coi toàn bộ thế giới chỉ là hiện thân của “Tinh thần tuyệt đối”, của lực lượng siêu
nhiên. Từ đó, Phoiơbắc khẳng định: “Triết học Hêghen chính là nơi ẩn náu cuối
cùng, là chỗ dựa cuối cùng của thần học” [15; tr. 28, 29].
Ngồi Hêghen, Phoiơbắc cịn tiếp thu triết học của I.Kant. Từ lập trường
duy tâm tiên nghiệm, với thái độ phê phán vốn có, Kant đã xây dựng học thuyết
về con người. Ông cho rằng, nhiệm vụ hàng đầu của triết học là phải xác định
bản chất con người là gì? Kant là người đầu tiên khẳng định con người là một
thực thể độc nhất vơ nhị, có khả năng suy tư một cách riêng biệt và độc đáo.
Con người là khách thể bí ẩn và hấp dẫn đến tột cùng của sự tư biện triết học.
Theo ông, để khám phá bí ẩn của con người cần phải có những cơng cụ khơng
tầm thường và độc đáo. Vì vậy, I.Kant đã coi triết học nhân học là một ngành có
đối tượng riêng, có phương pháp nghiên cứu riêng của nó. Quan điểm nhân bản
học này của Kant đã có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng nhân bản của L.Phoiơbắc.
Từ quan điểm đó của Kant cùng với những thành tựu của khoa học tự nhiên
đương đại, Phoiơbắc đã dự định thiết lập một nền triết học mới- triết học tương
lai, lấy con người và đời sống tâm- sinh lý của con người làm đối tượng nghiên
cứu duy nhất, phổ biến và cũng là đối tượng tối cao để qua đó biến nhân bản học
thành khoa học phổ quát.
16


Triết học cổ điển Đức nói chung, triết học nhân bản Phoiơbắc nói riêng đã
kế thừa những tư tưởng khai sáng của các đại biểu lỗi lạc thế kỉ XVIII như

Hơnbách, Đ.Điđrơ, Gi.Rút-xơ,…Đó là những tư tưởng cho rằng, giới tự nhiên có
tính vật chất, tồn tại khách quan, khơng do ai sáng tạo ra và tồn tại vĩnh viễn, vô
cùng vô tận, tuân theo quy luật khách quan của nó. Các nhà triết học khai sáng
Pháp đã quan niệm vật chất là những vật thể có quảng tính, có hình thức và ln
vận động, con người và mọi sinh vật chỉ là kết quả tiến hóa lâu dài của giới tự
nhiên. Những quan niệm đó của các nhà khai sáng Pháp đã bác bỏ nguồn gốc
thần bí của ý thức và kịch liệt phê phán chủ nghĩa duy tâm cũng như những tín
điều tơn giáo về linh hồn bất tử. Họ cho rằng, ý thức chỉ là đặc tính của vật chất
có tổ chức cao, khơng có con người sẽ khơng có ý thức. Thượng đế khơng tạo ra
con nguời mà chính con người đã tạo ra Thượng đế theo hình ảnh của mình.
Những tư tưởng này thực sự tác động mạnh mẽ đến L.Phoiơbắc, giúp ông giải
quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật, thừa nhận giới tự
nhiên là cái có trước, là thực thể duy nhất sinh ra con người và ý thức con
người, cịn ý thức là thuộc tính đặc biệt của vật chất. Theo ông, giới tự nhiên
cảm giác được, nó là tổng hợp tất cả những yếu tố vật chất, là cái tồn tại hiện
thực. Chính sự kế thừa những quan điểm của các nhà triết học khai sáng,
Phoiơbắc càng có động lực chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, chống lại tôn
giáo, đặc biệt là xây dựng triết học mới - triết học nhân bản.
L. Phoiơbắc còn kế thừa những tư tưởng về văn hóa- nghệ thuật nước Đức
thế kỉ XVIII. Văn hóa- nghệ thuật nước Đức phát triển mạnh hơn bao giờ hết,
những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như Sinlơ, Let-xinh, Gothe,…không chỉ đưa
áng văn, vần thơ hay đến cho độc giả, trong các tác phẩm của họ còn chứa đựng
những tư tưởng triết học mới mẻ. Trong những vở kịch của Sinlơ như “Những
tên cướp”, “Âm mưu và tình yêu”, “Gian giảo và ái tình” đã lên án đời sống trụy
lạc bọn quan lại quý tộc, đề cao tình yêu, sự tự do của con người và thể hiện tình
cảm, sự đồng cảm với tầng lớp thứ ba trong xã hội (những người dân Đức cùng
cực). L.Phoiơbắc đã thấm nhuần chủ nghĩa nhân đạo đó và sau này triết học của

17



ông chứa đựng những giá trị nhân văn, chống lại phong kiến và ủng hộ phái cấp
tiến.
Còn Gothe là một nhà văn hóa lớn người Đức cũng đã gửi gắm tinh thần
triết học qua các nhân vật trong tác phẩm văn học của mình. Tác phẩm
“Phaustơ” ơng viết để phê phán thuyết “Bắt đầu thế giới” của thần học và thơng
qua nhân vật chính Phaustơ, ơng nêu ra quan điểm: chỉ có một thế giới là Trái
đất, cịn luận thuyết về thế giới bên kia là do thần học bịa ra. Quan điểm này
cùng với những tác phẩm về khoa học tự nhiên của Gothe được Phoiơbắc đánh
giá cao và kế thừa khi phủ nhận thần học.
Nhìn chung, văn hóa nghệ thuật Đức bộc lộ sự căm ghét chế độ phong
kiến, đề cao tinh thần tự do, khát vọng của con người và hướng tới một tương lai
tươi sáng đã làm tiền đề cho sự phát triển triết học nhân bản Phoiơbắc.
L.Phoiơbắc cũng đã kế thừa một số quan điểm của các nhà tư tưởng triết
học tiến bộ Đức như Kơneben, Lepnit, Rousseau,…
Trong tác phẩm “Nhìn nhận về tồn tại của chúng ta” của Kơneben- một nhà
tư tưởng lớn người Đức đã khẳng định bản tính và bản chất của con người cũng
như bản tính, bản chất của mọi sinh vật khác đều có nguồn gốc tự nhiên. Và cái
mà chúng ta gọi là tinh thần và gán cho con người khơng gì khác ngồi cái là lực
lượng cao hơn, căn cứ trên các thuộc tính của tự nhiên. Với quan điểm đó,
Kơneben đã bảo vệ quan niệm về nguồn gốc tự nhiên của sự sống và của con
người, đồng thời phê phán tôn giáo và các lý thuyết cơ học. Kế thừa quan điểm
của Kơneben, Phoiơbắc cũng cho rằng giới tự nhiên cũng phát triển theo những
thang bậc từ thấp đến cao, từ giới vô cơ lên hữu cơ và sự sống phát triển trong
những điều kiện tự nhiên thích hợp của nó và khi những điều kiện đó khơng cịn
thì sự sống cũng khơng thể diễn ra.
L.Phoiơbắc cũng đặc biệt chú ý đến những luận giải cua Lépnit về khái
niệm vật chất và chính những luận giải này đã khích lệ ơng, đưa ơng tìm tịi triết
học mới để giải quyết mâu thuẫn giữa vật chất và ý thức.
18



Triết học nhân bản Phoiơbắc đã ra đời trên sự kế thừa những tư tưởng độc
đáo và sâu sắc của các vị tiền bối triết học, để từ đó phát triển những quan điểm
hợp lí và hồn thiện hơn triết học trước.
1.1.3 Những tiền đề khoa học tự nhiên đối với sự hình thành triết học
Phoiơbắc
Do sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thời kì này khoa học tự
nhiên đã đạt được những thành tựu lớn, với nhiều phát minh quan trọng.
Việc phát minh ra điện và cách sử dụng điện năng đã tạo ra bước nhảy vọt
trong sự phát triển của sản xuất. Khoa học về điện đã chứng minh bản chất của
dòng điện là sự tương tác giữa dòng điện âm và dòng điện dương để tạo ra dòng
điện thống nhất. cùng với hiện tượng điện phân là việc khám phá từ trường xung
quanh vật mang điện tích vào năm 1821 của nhà khoa học người Đan Mạch
Éctét và nhà vật lý Pharađây người Anh đã chế tạo ra máy phát điện, động cơ
điện đem lại hiệu quả cao trong công việc, tăng năng suất và thúc đẩy mạnh nền
sản xuất.
Năm 1748, Lomonosop đã tìm ra và chứng minh định luật bảo tồn năng
lượng làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất và năng lượng.
Trong hóa học, việc phát hiện ra oxi và bản chất của sự cháy đã đánh đổ sự
thống trị của thuyết nhiên tố và mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển của
hóa học. Bằng một loạt những thí nghiệm tỉ mỉ, có độ chính xác cao của
Loaoadie- nhà hóa học người Pháp đã tìm ra được khí oxi trong khơng khí trộn
lẫn với các chất khi cháy, mở đầu việc khám phá rằng nhiệt, ánh sáng, điện và
tính mn vẻ của thế giới là những hình thức khác nhau của tồn tại vật chất. Ở
nước Anh, nhà vật lý và hóa học Đantơn, người được Ăngghen coi là cha đẻ của
hóa học hiện đại đã khám phá ra luật cấu tạo hóa học của các vật thể, nhờ đó con
người giải thích được rằng những thay đổi về chất của sự vật đều phải tùy thuộc
vào sự cấu tạo về lượng của chúng.


19


Trong sinh học, Lamarck- nhà sinh học người Pháp đã đưa ra thuyết biến
hình tiến hóa của sinh vật. Ơng cho rằng sự thay đổi mơi trường bên ngồi dẫn
tới sự xuất hiện những tính chất mới của sinh vật, những tính chất mới này được
di truyền lại. Theo ơng, cái hữu sinh xuất hiện từ cái vô sinh nhờ những “lưu
thể” vật chất đặc biệt và diễn ra từ đơn giản đến phức tạp. Những quan điểm của
ông đi ngược lại lý thuyết siêu hình về sự bất biến của các loài và được Đácuyn
kế thừa trong thuyết tiến hóa. Việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhúc và Carl von
Line (1707- 1778) với hệ thống phân loại thực vật, học thuyết tế bào,… địi hỏi
khoa học phải có cách kiến giải mới về sự sống.
Trong khoa học vũ trụ, Kant khơng chỉ là nhà triết học, ơng cịn một nhà
khoa học về tự nhiên, từ những thành tựu vật lí đương thời, ơng đã có nhiều
cơng trình nghiên cứu về vũ trụ với “thuyết tinh vân” rất nổi tiếng. Thuyết này
nói về sự hình thành hệ mặt trời, giải thích nguồn gốc vũ trụ, phá vỡ quan niệm
siêu hình về tự nhiên.
Từ những phát minh khoa học to lớn trên ta thấy được chế độ quân chủ
chuyên chế nước Đức dù có độc tài thế nào cũng khơng thể cản trở được sự phát
triển của khoa học tự nhiên. Những phát minh khoa học này đã góp phần phá vỡ
cơ sở của thế giới quan duy tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và
phát triển thế giới quan duy vật, trong đó có chủ nghĩa duy vật nhân bản
L.Phoiơbắc.
1.2 Giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp Lút- vích Phoiơbắc
Ludwig Feuerbach (đọc là: Lútvích Phoiơbắc) ông sinh ngày 28/7/1804 ở
Landshut, Bavaria nước Phổ trong một gia đình luật sư nổi tiếng ở Đức. Cha ông
là Anrelma Phoiơbắc, là một luật sư nổi tiếng, một nhà hoạt động xã hội có tài,
được phong tước hiệu quý tộc.
Hồi còn là học sinh trung học, L.Phoiơbắc đã được gia đình cho học tại một
ngơi trường có tiếng ở Anobach. Sau đó, ơng tốt nghiệp trung học và trở thành

sinh viên khoa Thần học trường đại học Heidelbegrg vào năm 1823. Tuy nhiên,
ông cũng chỉ theo học ở đó được một năm rồi quyết định nghỉ vì ơng đã quá
20


ngán ngẩm với thần học. Dù khoảng thời gian học có ngắn ngủi nhưng Phoiơbắc
đã tích lũy cho mình được một lượng kiến thức về thần học, điều đó đã giúp ích
cho ơng trong việc nghiên cứu và phê phán tôn giáo sau này. “Nhờ những kiến
thức về thần học và sự hiểu biết sâu rộng về lịch sử hình thành và phát triển tôn
giáo, L.Phoiơbắc đã nắm bắt được bản chất đích thực của loại hình ý thức xã hội
này để từ đó, ơng đã trở thành một trong những nhà triết học phê phán tôn giáo
một cách triệt để trên tinh thần khoa học và chủ nghĩa nhân đạo” [15; tr. 8].
Năm 1824, lúc ấy Phoiơbắc mới chỉ là một chàng sinh viên vừa trịn đơi
mươi nhưng ơng đã mạnh dạn, táo bạo khi quyết định chia tay với thần học và
chuyển sang học triết học tại khoa Triết học trường Đại học Tổng hợp Berlin.
Đây chính là một bước ngoặt lớn, có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong cuộc đời
sự nghiệp của ông. Bước ngoặt này làm nên tên tuổi của ông trong nền triết học
duy vật cổ điển Đức và đánh dấu sự chấm dứt của ông đối với thần học truyền
thống. Trong hai năm liền theo học tại Đại học Tổng hợp Berlin, Phoiơbắc rất
chăm chú nghe các bài giảng của Hêghen về triết học. Hêghen là thầy dạy triết
học đầu tiên của Phoiơbắc nên ơng rất kính trọng và u q người thầy của
mình. Tuy nhiên Phoiơbắc vốn đã mang trong mình những tư tưởng vơ thần và
chống tơn giáo nên dù có cố gắng tiếp thu và nghiên cứu quan điểm của Hêghen
thế nào thì vẫn bất đồng quan điểm với những bài giảng của thầy mình. Triết học
của Hêghen khơng thể đáp ứng và làm thỏa mãn những suy tư, trăn trở của
Phoiơbắc nên ông say sưa lao vào nghiên cứu các lĩnh vực của khoa học tự
nhiên và tham gia các hoạt động xã hội một cách tích cực. Cùng với các nhà tư
tưởng ở nước Đức khi đó, như Đ.Ph.Stơrausơ, B.Bauơ, M.Stiếcnơ,…,
L.Phoiơbắc đã có những đóng góp tích cực trong hoạt động lý luận và hoạt động
xã hội của phái Hêghen trẻ. Nhưng sau đó do bất đồng quan điểm với nhiều nhà

tư tưởng tiêu biểu của phái này, ông đã tách ra khỏi trường phái này để trở thành
người phê phán triết học Hêghen [Xem: 15; tr. 9].
Là một sinh viên yêu khoa học và luôn trăn trở, suy tư nên khi nói về mối
quan hệ giữa triết học và tôn giáo, Phoiơbắc đã nhận thấy sai lầm của Hêghen
21


khi hịa tan triết học vào tơn giáo, coi sự phát triển của tôn giáo như một giai
đoạn phát triển của “tinh thần tuyệt đối”. Do ảnh hưởng quá lớn của triết học
Hêghen nên khi làm luận văn tốt nghiệp đại học năm 1828 với đề tài “Bàn về
tính nhất, về sự hợp lý và tính vơ hạn của lý tính”, ơng vẫn chưa vượt ra khỏi
chủ nghĩa duy tâm. Sự đọan tuyệt của Phoiơbắc với triết học Hêghen chính thức
cho đến khi ông viết tâm thư gửi thầy của mình vào ngày 22 tháng 11, thẳng
thắn thừa nhận mình bất đồng quan điểm với thầy Hêghen về tôn giáo. Theo
ông, nhiệm vụ chủ yếu của triết học là chống lại Cơ đốc giáo và trong cuộc đấu
tranh này, triết học phải loại bỏ tận rễ những quan niệm trước kia về linh hồn, về
thế giới bên kia, về cái chết và sự sáng thế, về cái tôi và Thượng đế [Xem: 15; tr.
10]. Sau khi bảo vệ luận văn của mình thành cơng, Phoiơbắc đi làm trợ giảng
của trường Đại học Eclangen vào cuối năm 1828. Ông chống lại thần học một
cách mạnh mẽ ngay cả trong những bài giảng của mình. Khác với Hêghen, khi
dạy về logic học, siêu hình học, lịch sử triết học, ơng đều hướng sinh viên của
mình về nhận thức cảm tính. Hêghen cho rằng logic đứng ngồi tự nhiên thì
Phoiơbắc hồn tồn ngược lại, các phạm trù đó là sản phẩm phát triển của giới
tự nhiên lịch sử. Trong một số bài giảng ơng cịn đưa ra một số dự đốn của
mình về một số yếu tố của chủ nghĩa duy vật nhân bản mà sau này, ơng lấy đó
làm cơ sở để xây dựng hệ thống triết học của mình. Mặc dù các quan điểm về
tôn giáo của ông chưa đầy đủ, hoàn chỉnh nhưng đã đưa ra được quan điểm duy
vật về tơn giáo. Ơng cho rằng tơn giáo là lĩnh vực thể hiện bản chất con người, ý
niệm về Chúa trời, Thượng đế không phải là phạm trù vĩnh viễn mà là phạm trù
lịch sử, ln thay đổi theo hồn cảnh lịch sử cụ thể, bởi ý niệm này là do ý thức

con người sáng tạo ra [Xem: 15; tr. 11].
Năm 1830, sau hai năm gắn bó với nghề trợ giảng, ông đã viết cuốn sách
“Bàn về sự chết và bất tử” và gửi tới độc giả người Đức. Khi đem đi xuất bản,
ông không để tên tác giả nhưng mọi người vẫn phát hiện tác phẩm đó là do ông
viết nên ông bị cấm giảng dạy tại Đại học Eclangen. Vì trong tác phẩm này, ơng
thể hiện quan điểm đối lập với giáo lý đạo Thiên chúa về sự bất diệt của cá
nhân. Ông kiên quyết phủ nhận sự bất tử của linh hồn, phủ nhận sự tồn tại của
22


thế giới bên kia, sự bất tử ấy chẳng những phi lý trên phương diện khoa học mà
còn dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực trong đời sống xã hội, vì nó làm cho con người
xa lánh những vấn đề của đời sống hiện thực. Niềm tin về sự bất tử của linh hồn
và sự tồn tại của thế giới bên kia chỉ là một ảo tưởng do tôn giáo đã mang lại
cho con người. Với ông “tôn giáo không phải là một bước tiến mà là một bước
thụt lùi của tư tưởng nhân loại” [Xem: 15; tr. 12]. Tuy nhiên tác phẩm này,
Phoiơbắc vẫn đứng trên lập trường của Hêghen để bác bỏ quan niệm linh hồn
bất tử của Thiên chúa giáo. Tác phẩm đầu tay của Phoiơbắc mang tư tưởng vô
thần, chống lại tôn giáo đã tạo ra một làn sóng phản đối dữ dội giới cầm quyền
Đức, đấu tranh gay gắt với các tín đồ đạo Cơ đốc giáo nên ông đã bị dư luận tẩy
chay, bị nhà chức trách đuổi khỏi trường, bị Chính phủ nhà nước Phổ đương thời
cấm không cho giảng dạy ở bất cứ trường đại học nào trên cả nước.
Kể từ đó, Phoiơbắc khơng cịn đi dạy nữa và ơng có ý định sẽ cư trú tại
Pháp, nơi có nhiều tri thức người Đức cũng đang sinh sống để cùng họ hoạt
động trong tổ chức chính trị theo khuynh hướng cấp tiến mà họ đã lập ra. Nhưng
vì lí do tài chính, vì lời khuyên của gia đình, người thân và bạn bè, ơng đã từ bỏ
ý định đó của mình để ở lại Đức và lập gia đình vào năm 1837. Ơng sống ở một
làng quê nhỏ xa trung tâm thành phố tên là Bruckberg thuộc tỉnh Tuaringe cho
đến cuối đời. Thời gian sống ở đây, ông không gặp gỡ, giao lưu nhiều kể cả giới
lý luận Đức đương thời cũng vậy, rất ít khi tiếp xúc mà lúc này ơng bắt đầu

chuyên tâm vào sự nghiệp nghiên cứu triết học của mình. Ơng chỉ giữ liên lạc
với một vài thành viên trong phái Hêghen trẻ nhằm mục đích xuất bản các tác
phẩm của mình. Dù phải sống trong hồn cảnh như vậy nhưng ông không ngừng
nỗ lực nghiên cứu, cho xuất bản một loạt tác phẩm trong “Niên báo xứ Ha-lơ”
và gây được ảnh hưởng lớn đến những nhóm cấp tiến trong xã hội Đức. Các tác
phẩm của ông vẫn luôn chống lại Cơ đốc giáo và phê phán thái độ thỏa hiệp với
tơn giáo. Ơng cũng dành sự quan tâm đến thế giới duy vật theo khuynh hướng
duy cảm và đánh giá cao những nhà triết học vơ thần. Ví dụ như Ph.Bêcơn, ông
gọi là “cha đẻ của triết học và khoa học tự nhiên cận đại”, ơng cịn đánh giá cao
T.Hôpxơ là một trong những nhà triết học duy vật mang tư tưởng vô thần độc
23


×