Tải bản đầy đủ (.docx) (51 trang)

thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở trường THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (248.38 KB, 51 trang )

LỜI CẢM ƠN
Đề tài “thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở
trường THPT” là kết quả nghiên cứu đầu tiên trong thời gian học tập tại trường
Đại Học Vinh. Để hoàn thành đề tài này, ngồi sự cố gắng của bản thân, tơi cịn
nhận được sự giúp đỡ tận tình của giảng viên, gia đình và bạn bè.
Trước tiên, tơi xin chân thành cảm ơn giảng viên : Nguyễn Thị Quỳnh
Anh đã hướng dẫn tôi là đề tài này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám Hiệu, tập thể giáo
viên và học sinh trường THPT 1/ 5 – Nghĩa Đàn đã tạo điều kiện cho tôi trong
suốt thời gian điều tra, thu thập thông tin ở trường.
Lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu nên bản thân khơng thể
tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy cơ và bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2013
Sinh viên


Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Lí do viết giấy cam đoan: do yêu cầu khách quan trong quá trình ngiên
cứu đề tài. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân.
Kết quả nghiên cứu trong đề tài chưa được ai công bố trong bất kì cơng trình
nghiên cứu nào khác.
Vinh, tháng 12 năm 2013
Sinh viên


PHẦN MỞ ĐẦU
1.



Lí do chọn đề tài
Bước vào thế kỉ 21, thế giới đang bước vào 1 kỉ nguyên mới – kỉ nguyên
của nền kinh tế tri thức. Điều đó đã đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam những cơ
hội và thách thức lớn. Việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là đòn
bẩy quan trọng đưa nước ta nhanh chóng thốt khỏi tình trạng lạc hậu, kém phát
triển và nhanh chóng hội nhập, trở thành một nước công nghiệp trong tương lai.
Với yêu cầu đào tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao, đào tạo ra những con
người lao động năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chiếm lĩnh tri
thức, biết thích nghi với sự thay đổi đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên thế
giới thì giáo dục và đào tạo cần được xem là quốc sách hàng đầu, cần có một sự
thay đổi mạnh mẽ. Cơng cuộc đổi mới này đề ra: phải đổi mới về mục tiêu giáo
dục, thiết kế lại chương trình, nội dung, và đặc biệt là phương pháp giáo dục và
đào tạo.
Đứng trước yêu cầu đổi mới tồn diện và sâu sắc đó thì đổi mới phương
pháp dạy học là một yêu cầu cấp thiết, được đặt ra ở tất cả các cấp học, bậc học.
Là một bộ phận trong hệ thống các môn học ở trường học phổ thơng, giáo dục
mơn địa lí có trách nhiệm tích cực góp phần vào thành cơng của cơng cuộc đổi
mới này.
Giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng đã xây dựng
nhiều phương pháp dạy học mang tính khoa học, tích cực và tiến bộ. Song trên
thực tế thì các phương pháp này vẫn chưa được sử dụng một cách có hiệu quả và
phổ biến.
Trong số các phương pháp dạy học thì phương pháp đàm thoại là một
phương pháp có tác dụng rất tích cực. Nó là một phương pháp truyền thống và
đã được sử dụng từ lâu đời. Phương pháp này có tác dụng kích thích tính tích
cực, độc lập trong hoạt động nhận thức, điều khiển hoạt động tư duy của học
sinh. Giúp học sinh bồi dưỡng khả năng trình bày một vấn đề bằng lời. Đồng



thời, với phương pháp này, những nhà giáo dục có thể dễ dàng nhận được những
tín hiệu ngược từ học sinh, từ đó nhanh chóng có sự điều chỉnh giúp cho quá
trình dạy và học thêm hiệu quả.
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy
học ở trường trung học phổ thông, đặc biệt là với mơn địa lí cịn chưa có hiệu
quả cao. Việc nghiên cứu thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy
học ở trường trung học phổ thơng nói chung và trong dạy học mơn địa lí nói
riêng sẽ có tác dụng trong việc nhận thức ra nguyên nhân, thực trạng và đưa ra
một số định hướng để sử dụng có hiệu quả phương pháp này và nâng cao được
chất lượng giáo dục và đào tạo.
Với những nhận thức ban đầu như vậy, thêm vào đó sự định hướng, giúp
đỡ của giảng viên, tôi đã chọn đề tài “ thực trạng sử dụng phương pháp đàm
thoại trong dạy học địa lí ở trường trung học phổ thơng ”.
2.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu

2.1.

Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở trường THPT.
Khách thể nghiên cứu

2.2.

Quá trình sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở trường
THPT 1/5 - Nghĩa Đàn.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

3.1.

Việc nghiên cứu đề tài “ thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong
dạy học địa lí ở trường THPT nhằm những mục đích sau:
-

Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa
lí ở trường THPT.

-

Qua đó một số định hướng đổi mới phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí
ở trường THPT nhằm sử dụng có hiệu quả phương pháp đàm thoại trong giảng
dạy và nâng cao chất lượng giáo dục của mơn địa lí nói riêng và các mơn học
trong chương trình nói chung.


Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.
-

Nghiên cứu cơ sở lí luận để hiểu khái niệm, các đặc điểm của phương pháp đàm
thoại.

-

Nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng phương pháp đàm thoại.


-

Đề xuất một số giải pháp đổi mới phương pháp đàm thoại.

4.

Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

4.1.

Đọc tài liệu ( giáo trình tâm lí học, giáo dục học, lí luận dạy học, các luận
vặn, khóa luận,…), phân tích, tổng hợp, so sánh, xử lí tài liệu, số liệu liên quan
đến đề tài nghiên cứu.
4.2.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

4.2.1.

Phương pháp điều tra giáo dục

-

Đối tượng điều tra: cán bộ, giáo viên môn địa lí và học sinh trường THPT 1/5
Nghĩa Đàn.

-


Mục đích: tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học
mơn địa lí ở trường.

4.2.2.

Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt đơng dạy học ở trường để tìm hiểu thực trạng sử dụng
phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí.

4.2.3.

Phương pháp thống kê số liệu
Phương pháp này nhằm xử lí các số liệu thu thập được từ cuộc điều tra.

5.

Giả thiết khoa học
Nếu đề tài thành cơng, có nghãi là đề tài đã đánh giá đúng được thực trạng
sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí cho nên trên cơ sở đánh giá
đúng thực trạng đó chúng ta có thể đề xuất những định hướng đổi mới nhằm
nâng cao chất lượng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí nói
riêng và các mơn học khác nói chung.


6.

Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ chú trọng tìm hiểu về thực trạng của việc sử dụng phương pháp
đàm thoại trong dạy học địa lí ở trường THPT 1/5 – Nghĩa Đàn.


7.

Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bài viết gồm 2
chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học của phương pháp đàm thoại trong dạy học địa
lí ở trường THPT.
Chương 2. Thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa
lí ở trường THPT.


PHẦN NỘI DUNG

Chương 1
1.1.

Lý luận của đề tài nghiên cứu

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1.Ở

nước ngoài
Từ trước CN, nhà triết học Hi Lạp Xôcrát đã đề ra phương pháp đàm

thoại gợi mở, trong đó giáo viên đặt câu hỏi và khéo léo dẫn dắt học sinh rút ra
những tri thức mới. Chính Xơcrát đã dùng phương pháp này để giảng day triết
học, ông gọi đây là “ thuật đỡ đẻ ” vì bằng những câu hỏi mà ơng kích thích
người đàm thoại tự tìm ra câu trả lời, phát hiện chân lí. Ở đầu thế kỉ này, John
Deway ( 1933 ) cũng đã viết : “ Biết đặt câu hỏi tốt là điều kiện cốt lõi để dạy

học tốt ”.
Nói về các mức độ nhận thức của câu hỏi, về mặt nhận thức, Gall gọi
những câu hỏi có yêu cầu thấp là câu hỏi sự kiện, những câu hỏi có yêu cầu cao
là câu hỏi cao về nhận thức. Theo Gall, để trả lời một câu hỏi có yêu cầu cao về
nhận thức học sinh thường phải đi qua 5 bước cơ bản:
-

Chăm chú theo dõi câu hỏi.

-

Nẵm vững nội dung yêu cầu của câu hỏi.

-

Trả lời thầm trong ý nghĩ.

-

Hình thành câu trả lời cơng khai.

-

Xem lại câu trả lời của chính mình khi nghe câu trả lời của bạn hay nghe lời
nhận xét của giáo viên đối với câu trả lời của bạn.

1.1.2.Ở

Việt Nam
Ở Việt Nam các vấn đề về phương pháp đàm thoại cũng được nhiều tác


giả quan tâm:
-

Nguyễn Ngọc Quang với 3 phương án tổ chức hoạt động của học sinh trong
công tác đàm thoại trong cuốn phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực
của Đặng Văn Đức và Nguyễn Thu Hằng (Nxb Đại học sư phạm, 2003).

-

Nguyễn Dược và Nguyễn Trọng phúc trong giáo trình : “lí luận dạy học địa lí”
( Nxb Đại học quốc gia Hà Nội ).


…..
Bên cạnh đó cịn có một số giáo trình phương pháp giảng dạy địa lí của
tổ phương pháp giảng dạy – khoa địa lí trường đại học sư phạm Hà Nội, Nxb
giáo dục, cũng đề cập các vấn đề liên quan đến việc sử dụng phương pháp đàm
thoại trong dạy học nói chung và mơn địa lí nói riêng.
Gần đây cũng đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt
nghiệp đề cập đến vấn đề sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học mơn
địa lí ở trường THPT, như các đề tài :
-

“Định hướng đổi mới phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí lớp 10- ban
cơ bản” của Nguyễn Thị Huyền Trang.

-

“Vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở lớp 12 – THPT” của

cơ Trần Thị Ngân Hà.
Nhìn chung thì các giáo trình, các tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu
khóa luận tốt nghiệp đại học đã đề cập đến những vấn đề chung nhất của phương
pháp đàm thoại trong dạy học. Tuy nhiên chưa có đề tài nào thực sự đi sâu và
vấn đề: thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở trường
THPT. Bởi vậy, trong đề tài này, tôi chú trọng đi sâu vào tìm hiểu thực trạng sử
dụng phương pháp đàm thoại này trong dạy học để từ đó có một số định hướng
đổi mới nhất định, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học mơn địa lí nói riêng và nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung.

1.2.

Một số khái niệm

1.2.1.Hoạt
-

động Dạy học

Hoạt động là quá trình con người thực hiện mối quan hệ giữa mình và thế giới
bên ngoài ( tự nhiên và xã hội ), giữa mình với người khác, giữa mình với bản
thân. Trong q trình đó con người bộc lộ tâm lí ( năng lực, ý chí, mong muốn,
…) ra bên ngồi. Hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm nhằm thảo mãn bản than nên
mỗi hoạt động đều có 1 động cơ nhất định.

-

Dạy – học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt lại cho học sinh, giúp họ
lĩnh hội những kinh nghiệm mà xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kinh nghiệm



xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân. Dạy – học theo phương thức của
nhà trường là sự tác động qua lại giữa thầy và trò, nhằm làm cho trị lĩnh hội
phần nào đó kinh nghiệm của xã hội. Dạy – học theo phương thức nhà trường
còn gọi là hoạt động dạy và học.
-

Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động tương tác với nhau đó là hoạt động
học và hoạt động dạy.
Hoạt động dạy là hoạt động của giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong hoạt
động dạy học nhằm truyền đạt, tổ chức, hướng dẫn điều khiển quá trình chiếm
lĩnh tri thức của học sinh.
Hoạt động học là hoạt động của học sinh, học sinh vừa là khách thể của
hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động học tự giác, tích cực, tự lực chiếm
lĩnh tri thức và cách thức ghi nhận, vận dụng tri thức để tự giáo dục và hình
thành những phẩm chất cá nhân cần thiết.
Hoạt động học của học sinh là hoạt động phản ánh biến đổi, tự điều
chỉnh, có định hướng và được tổ chức, điều khiển bởi giáo viên. Kết quả là học
sinh nắm vững các tri thức, cách thức tìm kiếm, chiếm lĩnh và vận dụng tri thức.
Mối liên hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học là sự tương tác giữa hai
mặt của một hoạt động.

1.2.2.

Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng của quá
trình dạy hoc. Cùng một nội dung như nhau nhưng học sinh học tập có hứng thú,
có tích cực hay khơng? Giờ học có phát huy hết tiềm năng sang tạo của trẻ hay
khơng? Có để lại những ấn tượng sâu sắc và khơi dậy những tình cảm lành mạnh
trong tâm hồn các em hay không?...Phần lớn phụ thuộc vào phương pháp dạy

học của người thầy giáo.

-

Phương pháp
Phương pháp từ gốc tiếng Hi Lạp methodos gồm meta nghĩa là “ sau” và
odos là “ con đường ”, có nghĩa là con đường dõi theo sau một đối tượng.


Phương pháp chính là cách thức, con đường, là tổ hợp các bước mà trí tuệ
phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân lí.
Phương pháp là tổ hợp các quy tắc, nguyên tắc dùng để chỉ đạo hành
động.
Tuy nhiên chỉ có định nghĩa do Heeghen đưa ra là chứa đựng một nội hàm
sâu sắc và bản chất được V.I Lê Nin nêu lên trong tác phẩm bút kí triết học của
mình: Phương pháp là “ ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của
nội dung”.
-

Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận dạy
học. Đồng thời là vấn đề tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Có rất nhiều định nghĩa
khác nhau về phương pháp dạy học. Sau đây xin nêu một vài định nghĩa.

+

Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết
các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (Iuk
Babanski 1983).


+

Phương pháp dạy học là một hệ thống hành động có mục đích của giáo viên
nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho học
sinh lĩnh hội được nội dung học vấn (I Ia Lecsno 1981).

+

Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt
được mục đích dạy học. Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các
nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động học tập của học sinh
và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo ( I.D Dverev 1980).
Ngồi ra cịn có nhiều định nghĩa có thể tóm tắt trong ba dạng cơ bản sau
đây:

+

Theo quan điểm điều khiển học, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động
nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này.

+

Theo quan điểm logic, phương pháp dạy học là những thủ đoạn logic được sử
dụng để học sinh nắm kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo một cách tự giác.


+

Theo bản chất của nội dung, phương pháp dạy học là sự vận động của nội dung
dạy học.

Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa của phương pháp dạy
học, song các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu
hiệu đặc trưng sau đây:

+

Nó phản ánh sự vận động của q trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được
mục đích đặt ra.

+

Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định.

+

Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò.

+

Phản ánh cách thức giao tiếp giữa thầy và trò.

+

Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết
quả hoạt động.
Như vậy, ta có thể định nghĩa: phương pháp dạy học là tổ hợp các cách
thức của cả thầy và trò trong quá trình dạy học, dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm
thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học.

1.2.3.

-

Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại
Là việc diễn tả bằng lời những hiểu biết, quan điểm và tình cảm thơng qua
từ ngữ. Cũng theo cách nhìn nhận này chúng ta có thể thấy rằng lời nói thay thế
cho nhiều cử động của cơ thể mà ta phải thực hiện trước đây khi chưa có khả
năng nói được. Ta thấy nói là được phụ họa thêm bởi nhiều chuyển động của cơ
thể mà chúng ta cần có khi học nói bao gồm: cử chỉ, nét mặt, điệu bộ…

-

Phương pháp đàm thoại ( vấn đáp ) là phương pháp giáo viên khéo léo sử dụng
hệ thống các câu hỏi để học sinh trả lời, nhằm gợi mở cho học sinh sang tỏ
những vấn đề mới, tự khai phá các tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã
học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp
học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa tri thức đã tiếp thu
được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá
việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình dạy - học.


Đàm thoại là phương pháp dạy học, trong đó việc truyền thụ và lĩnh hội
tri thức mới của giáo viên và học sinh thông qua hệ thống câu trả lời những yêu
cầu, gợi ý của giáo viên nêu ra. Trên cơ sở tri thức đã được lĩnh hội học sinh nêu
lên những câu hỏi để giáo viên trả lời.
Trong cuộc sống và trong hoạt động của bản thân con người luôn luôn dặt
ra những câu hỏi: Do đâu mà như vậy? Làm thế nào? Quan hệ ra sao?... Căn cứ
vào vốn hiểu biết con người sẽ tìm kiếm những câu trả lời thích hợp, phương
thức và phương pháp hành động phù hợp với hiện thực xung quanh và trên cơ sở
đó ngày càng hiểu biết đầy đủ hơn, chính xác hơn về thế giới khách quan. Quá

trình nhận thức của con người đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều,
từ đơn giản đến phức tạp, từ cảm tính đến lí tính, từ kinh nghiệm đến lí luận. Đó
là những nấc thang của nhận thức giúp con người đi sâu vào bản chất của sự vật,
hiện tượng, hiểu biết chân lí. Vì thế, nhận thức và tư duy của con người luôn
luôn giải đáp những vấn đề của cuộc sống, của hiện thực khách quan mà họ
chưa sáng tỏ. Trên cơ sở của mối liên hệ những cái đã biết, nắm vững kiến thức
đã thu nhận được.
Đàm thoại chính là sự hỗ trợ, gợi mở giúp con người có thể đi đến nhận
thức cái chưa biết làm giàu thêm tri thức của mình trên cơ sở những kiến thức đã
tích lũy được. Nó có tính phổ biến và tính thuyết phục cao khơng chỉ trong việc
truyề thụ và lĩnh hội khoa học mà cả trong cuộc sống hàng ngày.
Các hình thức đàm thoại

1.3.

+) Căn cứ vào mục đích sư phạm của phương pháp đàm thoại, người ta
phân biệt : đàm thoại gợi mở, đàm thoại củng cố, đàm thoại tổng kết, đàm thoại
kiểm tra.
-

Đàm thoại gợi mở
Được sử dụng khi dạy bài mới, trong đó giáo viên khéo léo sử dụng hệ
thống câu hỏi dẫn dắt học sinh đi tới những kiến thức mới, phương pháp này
được phát triển trong thực tiễn nhà trường nước ta, tạo điều kiện cho học sinh


phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức, phát triển được hứng thú học tập, khát
vọng tìm tịi khoa học.
-


Đàm thoại củng cố
Được sử dụng sau khi học bài mới, giúp học sinh nắm vững tri thức cơ
bản nhất, mở rộng, đào sâu những khái niệm, định luật đã lĩnh hội được. Khắc
phục được những sai lệch mơ hồ thiếu chính xác.

-

Đàm thoại kiểm tra
Được sử dụng trong hoặc cuối tiết học, cuối chương hay cuối chương
trình, giúp học sinh tự kiểm tra kiến thức của mình, giúp giáo viên đánh giá chất
lượng lĩnh hội của học sinh để củng cố, bổ sung kịp thời.

-

Đàm thoại tổng kết
Được sử dụng lúc cần giúp học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức
sau khi học một chương, một phần hay tồn bộ chương trình mơn học. Phát triển
kĩ năng tư duy, khái qt hóa, khắc phục tình trạng nắm vững tri thức một cách
rời rạc.
+) Căn cứ vào tính chất nhận thức của người học thì người ta phân biệt
đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích – minh họa, đàm thoại tìn tịi – phát
hiện.

-

Đàm thoại tái hiện
Giáo viên đặt ra câu hỏi chỉ đòi hỏi học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và
trả lời dựa vào trí nhớ khơng cần suy luận.
Đàm thoại tái hiện có nguồn gốc từ lối dạy giáo điều. Ngày nay, lí luận
dạy học hiện đại không coi phương pháp đàm thoại tái hiện là phương pháp có

giá trị sư phạm.

-

Đàm thoại giải thích – minh họa
Có mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. Giáo viên nêu ra một hệ
thống câu hỏi, các câu hỏi kém theo ví dụ minh họa đề học sinh dễ hiểu, dễ nhớ,
phương pháp này cịn có thể áp dụng có hiệu quả cho một số trường hợp như
giáo viên sử dụng kết hợp những phương tiện trực quan.


-

Đàm thoại tìm tịi – phát hiện
Phương pháp đàm thoại này vận dụng bản chất của phương pháp đàm
thoại Xôcrát. Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa giáo viên
và cả lớp, có khi giữa giáo viên với học sinh, thơng qua đó học sinh nắm được
tri thức mới. hệ thống câu hỏi của giáo viên phải mang tính chất nêu vấn đề
ơrixtic để buộc học sinh ln ln phải cố gắng phát huy trí tuệ, tự lực tìm tịi
giải đáp. Hệ thống câu hỏi – lời giải mang tính chất nêu vấn đề, tạo nên nội
dung, trí dục chủ yếu của bào học, là nguồn kiến thức và là mẫu mực của cách
giải quyết một vấn đề nhận thức. Như vậy, thông qua phương pháp này học sinh
không những nắm vững được cả nội dung trí dục mà cịn học được cả vè phương
pháp nhận thức và cách diễn đạt thông tin bằng ngôn ngữ nói.
Trong phương pháp này, hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trị chỉ
đạo, có tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp.
Hệ thống câu hỏi của giáo viên vừa là kim chỉ nam, vừa là bánh lái hướng
tư duy của học sinh đi theo một logic hợp lí, nó kích thích tính tị mị, trí tị mị
khoa học và sự ham muốn giải đáp của học sinh.
Vì thế, khi kết thúc phương pháp đàm thoại, học sinh có vẻ như tự lực tìm

ra chân lí và chính khía cạnh này tạo ra cho người học niềm vui sướng của nhận
thức, một tình cản đẹp cần phát triển ở học sinh.
Cuối quá trình đàm thoại, giáo viên cần khéo léo kết luận vấn đề dựa vào
ngơn ngữ, ý kiến và chính nhận xét của học sinh, tất nhiên là có sự thêm bớt
những ý kiến chính xác và cải tạo lại kết luận cho chặt chẽ, súc tích và hợp lí.
Làm như vậy, học sinh sẽ càng hứng thú và tự tin hơn vì thấy kết luận mà giáo
viên đưa ra rõ ràng là có phần đóng góp quan trọng của mình.
Đây là phương pháp cần được phát triển rộng rãi ở trường phơt thơng để
đào tạo ra những con người tích cực, chủ động, sáng tạo.

1.4.

Ý nghĩa của phương pháp đàm thoại đối với hoạt động dạy học ở trường THPT.
Nếu giáo viên vận dụng khéo léo, sẽ có tác dụng rất lớn trong q trình
dạy học. Phương pháp này kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo hoạt đơng


nhận thức, điều khiển hoạt động tư duy của học sinh. Giáo viên có thể dễ dàng
nhận thấy được khả năng, năng lực phản xạ nhanh, chậm của từng học sinh, do
đó sẽ có hướng điều chỉnh sao cho có thể khai thác tối đa tố chất, năng lực của
từng học sinh.
Đồng thời bồi dưỡng cho người học năng lực diễn đạt các vấn đề khoa
học bằng lời một cách chính xác, đầy đủ, súc tích. Bởi lẽ,con người ta sinh ra
khơng phải ai cũng mang trong mình được năng khiếu nói năng, năng khiếu
trình bày vấn đề khao học một cách hợp lí, người nghe có thể dễ dàng tiếp thu.
Do đó, qua những lần đối thoại giữa thầy với trò, hay giữa học sinh với nhau sẽ
là tiền đề để các em có sự tự tin hơn vào bản thân mình, hơn nữa, thơng qua
những lần trình bày ý kiến đó, học sinh được giáo viên chỉnh sửa, bạn bè bổ
sung, sẽ đúc rút được nhiều kinh nghiệm cho bản thân. Phương pháp đàm thoại
là một phương pháp nhanh chóng hướng con người ta đến sự hồn thiện nhất.

Phương pháp đàm thoại cịn có tác dụng bồi dưỡng hứng thú học tập cho
học sinh, các cuộc đàm thoại qua lại giữa giáo viên và học sinh sẽ là điều kiện
làm cho khơng khí lớp học sơi nổi, lớp học sơi nổi sẽ có tác dụng củng cố đến
mối quan hệ thầy trị, đồng thời sẽ là mơi trường càn thiết cho các em tiếp thu
kiến thức một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
Bên cạnh đó, phương pháp cịn giúp giáo viên thường xun thu được tín
hiệu ngược từ kết quả học tập của học sinh một cách nhanh gọn, cụ thể như, khi
giáo viên và học sinh có sự đối thoại trực tiếp thì học sinh trả lời có thể thiếu sót
ý hay câu cú trình bày còn lủng củng,… giáo viên sẽ là người ngay lập tức điều
chỉnh cho học sinh, làm cho học sinh nhận thấy chính xác năng lực, khả năng
trình bày vấn đề của mình. Đồng thời, gióa viên có thể nhanh chóng tiếp nhận
được các thông tin phản hồi như đoạn này học sinh chưa hiểu, cần nói kĩ lại, hay
phận này học sinh đã có khả năng tự học, tự nghiên cứu thì giáo viên có thể lướt
qua,…thơng qua hoạt động đàm thọai để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và
học nhằm đạt hiệu quả học tập ở mức độ cao hơn.


Nếu giáo viên khơng có kinh nghiệm, nghệ thuật tổ chức hướng dẫn lớp
học thì khi họ sử dụng phương pháp này sẽ có một số hạn chế nhất định: dễ làm
mất thời gian, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch lên lớp, dễ biến đàm thoại
thành cuộc tranh luận tay đôi giữa giáo viên và học sinh, giữa các thành viên
trong lớp với nhau. Vì vậy giáo viên cần có sự chuẩn bị thật tốt hệ thống câu
hỏi, ln giữ tâm lí vững vàng và mình ln ln phải là người chủ động.
Trong phương pháp đàm thoại thì hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai
trò chỉ đạo, có tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp. Do
đó, hệ thống câu hỏi mà giáo viên đưa ra phải đảm bảo các yêu cầu sau: phải
vừa sức học sinh, phải có tính định hướng, phải có tính logic cao, phải kích thích
và hình thành tư duy biện chứng cho học sinh.
1.5.


Cách thức thực hiện phương pháp đàm thoại

1.5.1.

Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp đàm thoại



Phân loại câu hỏi:
Tùy theo cơ sở phân loại mà có thể có những câu hỏi sau:

-

Dựa theo nội dung:

+

Câu hỏi đơn giản.

+

Câu hỏi phức tạp.

-

Dựa theo mục đích dạy học:

+

Câu hỏi định hướng.


+

Câu hỏi gợi mở.

-

Dựa theo chức năng :

+

Câu hỏi phân tích - tổng hợp.

+

Câu hỏi so sánh đối chiếu.

+

Câu hỏi hệ thống hóa tri thức.

+

Câu hỏi địi hỏi sự cụ thể hóa tri thức.

-

Dựa theo mức độ, tính chất hoạt động nhận thức của học sinh:

+


Câu hỏi giải thích – minh họa.

+

Câu hỏi tái hiện.


+

Câu hỏi có tính vấn đề.



Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo những yêu cầu sau:

-

Trong tình huống học tập nhất định, giáo viên phải đặt câu hỏi như thế nào để
địi hỏi học sinh phải tích cực hóa tài liệu đã lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa
cơ bản của tri thức đã học.

-

Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi học sinh tái hiện tài liệu lĩnh hội mà phải vận
dụng những tri thức đã nắm trước đây để giải quyết vấn đề mới.

-

Câu hỏi phải hướng trí tuệ của học sinh vào mặt bản chất của sự vật, hiện tượng

phải nghiên cứu, phải hình thành tư duy biện chứng cho học sinh.

-

Câu hỏi phải đặt như thế nào để đòi hỏi học sinh xem xét những sự vật, hiện
tượng trong mối liên hệ với nhau, nhìn sự vật không chỉ theo những thành tố,
những bộ phận mà cịn theo tính chỉnh thể tồn vẹn của chúng.

-

Câu hỏi phải đặt chúng theo những quy tắc logic.

-

Việc diễn đạt câu hỏi phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân,
trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh.
Khối lượng những khái niệm trong các câu hỏi của giáo viên khơng
được vượt q khả năng tìm ra câu trả lời đúng của học sinh.

-

Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, thống nhất, khơng thể có hai câu
trả lời đều đúng. Về hình thức, phải rõ ràng, sáng sủa.

1.5.2.

Cách tổ chức hoạt động của học sinh trong hoạt động đàm thoại
Cách 1:
Giáo viên đưa ra những câu hỏi nhỏ, riêng lẻ để học sinh tự nguyện trả
lời ( có thể chỉ định ). Mỗi học sinh trả lời 1 câu.tổ hợp tất cả các câu hỏi và đáp

án là thông tin cho cả lớp.
Dạy học theo phương pháp này có thể giúp học sinh định hình rất nhanh
yêu cầu của câu trả lời và trả lời nhanh, chính xác hơn.
Hạn chế là học sinh ghi nhớ kiến thức một cách thiếu logic, tính hệ thống.
vì vậy, giáo viên phải tiến hành tổng hợp kiến thức theo từng nội dung quan
trọng, giúp học sinh ghi nhớ 1 cách logic và hệ thống hơn.


Cách 2:
Giáo viên nêu trước lớp 1 câu hỏi tương đối lớn, kém theo những gợi ý
lien quan đến câu hỏi. học sinh trả lời từng bộ phận của câu hỏi lớn, người sau
bổ sung người trước. cứ thế cho đến khi tổ hợp các câu trả lời của học sinh đã đủ
để giải đáp câu hỏi nêu ra một cách đày đủ, đúng đắn.
Dạy học theo cách này thì giáo viên có thể khắc phục được những hạn chế
của cách 1. Tuy nhiên, giáo viên vẫn là người đóng vai trò chủ yếu.
Cách 3:
Giáo viên đưa ra một câu hỏi chính, kèm theo đó là những gợi ý nhằm tổ
chức cho học sinh thảo luận. Câu hỏi do chính giáo viên đưa ra thường chứa
đựng yếu tố kích thích, tranh luận.
Học sinh trả lòi theo những gợi ý trên, cuối cùng giáo viên sẽ là người
tổng hợp và kết luận.
Với cách này thì có u cầu đới với người giáo viên đó là người giáo viên
phải có năng lực chuyên môn cao để tổ chức và, điều khiển và đóng vai trị trọng
tài cho cuộc tranh luận.
1.6.

Đặc điểm của học sinh trung học phổ thơng

1.6.1.


Đặc điểm tâm sinh lí

-

Tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc lúc bước
vào tuổi người lớn.

-

Tuổi đầu thanh niên là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự
phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển của cơ thể người lớn. Tuổi thanh
niên bắt đầu thời kì phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lí.

-

Hoạt động của thanh niên đã bắt đầu phong phú và phức tạp. Vai trị xã hội và
hứng thú xã hội khơng chỉ mở rộng về số lượng mà còn biến đổi về chất lượng.

-

Vị trí của thanh niên có tính chất không xác định ( ở mặt này họ được coi là
người lớn nhưng ở mặt khác thì khơng ).

1.6.2.

Đặc điểm trí tuệ


-


Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở thanh niên khác so với hoạt động
học tập của tuổi thiếu niên. Thái độ có ý thưc đối với học tập ngày càng phát
triển và đã có sự lựa chọn môn học.

-

Thái độ học tập của thanh niên học sinh được thúc đẩy bởi động cơ học tập là
động cơ thực tiễn ( ý nghĩa thực tiễn của môn học đối với cá nhân, khả năng tiếp
thu môn học của các em ), động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa xã hội của môn
học, rồi mới đến động cơ cụ thể khác…Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự
phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản
than của thanh niên học sinh trong quá trình học tập.

-

Ở lứa tuổi này, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận
thức. Tri giác có mục đích đã đạt đến mức rất cao, ghi nhớ có chủ định có vai trị
chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, tạo được thế phân tâm trong ghi nhớ, hoạt động
tư duy của học sinh lứa tuổi này có sự thay đổi quan trọng, tư duy của các em
chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn đồng thời, tính phê phán của tư duy
cũng phát triển.
Tóm lại, ở lứa tuổi thanh niên mới lớn thì những đặc điểm chung của con
người về mặt trí tuệ thơng thường đã được hình thành và chúng vẫn được tiếp
tục hoàn thiện.

1.6.3.
-

Đặc điểm nhân cách
Sự tự ý thức của thanh niên là một đăc điểm nổi bật của thanh niên mới lớn.

Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình
theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hồi bão của mình. Các em khơng chỉ
nhận thức về cái tơi của mình trong hiện tại mà cịn nhận thức về vị trí của mình
trong xã hội, tương lai. Thanh niên khơng chỉ có nhu cầu đánh giá, mà cịn có
khả năng tự đánh giá một cách sâu sắc về những phẩm chất, mặt mạnh, yếu của
những người cùng sống và của chính mình. Tuy nhiên, thanh niên thường dễ có
xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá.

-

Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lí của tuổi
thanh niên. Đó là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề


thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên,
xã hội và của sự tồn tại xã hội lồi người. Việc hình thành thế giới quan khơng
chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức mà còn ở cả nội dung.
-

Về giao tiếp và đời sống tình cảm:

+

Giao tiếp trong nhóm bạn: Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất
tập thể nhất. Quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ người
lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn.

+

Đời sống tình cảm: Ở lứa tuổi này rất phong phú và nhiều vẻ.: Nhu cầu về tình

bạn tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt và rất bền vững. Thanh niên thường lí
tưởng hóa bạn bè, phạm vi bạn bè được mở rộng,…


CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM
THOẠI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT
Thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở trường

2.1.

THPT
2.1.1.

Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong
những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo. Vấn đề đổi mới phương
pháp dạy học rất được dư luận quan tâm.
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định : “Con
người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời
kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hố” , “coi phát triển giáo dục và đào tạo khoa học
và công nghệ là nền tảng và là động lực của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại
hố”, do đó, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung và chất lượng
giảng dạy ở trường THPT nói riêng là vấn đề mang tính cấp thiết, là giải pháp
quan trọng nhất để nền giáo dục ở nước ta trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 có thể
tiến kịp với sự phát triển của khoa học trên thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay.
Vì tính cấp bách đó cho nên Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những định
hướng đổi mới cơ bản sau:


-

Phát triển công nghệ dạy học hiện đại (Technology of teaching): Đây là hướng
lý luận dạy học ứng dụng, nghiên cứu dạy học theo chiều phân hóa – cá thể hóa
theo nhịp độ riêng của q trình lĩnh hội. Sử dụng tối đa, trong thế chọn lựa tối
ưu các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại. Đặc biệt chú trọng tự học có
hướng dẫn (Assisted Self – learring), có hệ đánh giá
định lượng kiến thức và kỹ năng của học sinh.

-

Dạy học theo khuynh hướng sáng tạo học (Creatology): Một khuynh hướng mới,
đang thịnh hành ở các nước tiên tiến. Vượt chuẩn “công nghệ cao”, họ bắt đầu
quay về thu hút tất cả những ai có “chất xám” bất kể có trình độ học vấn cỡ nào,


ai cũng có thể học để phát huy sáng tạo. Vận dụng tất cả thế mạnh của các
phương pháp dạy học nhằm kích thích và bảo đảm đầy đủ cho năng lực và mơi
trường sáng tạo của người học. Có hệ chuẩn đánh giá năng lực sáng tạo của học
sinh theo năm cấp độ khác nhau. Đây là khuynh hướng rất quan trọng, đẩy
mạnh sự học, chịu khó sáng tạo khi học để “đuổi kịp người và thời đại”.
-

Xu hướng thứ ba, tạm gọi là Cách tân truyền thống, chuyển mình đón nhận
những thành tựu dạy học hiện đại, lấy phương pháp nêu vấn đề - đối thoại làm
then chốt. Vận dụng linh họat tất cả các phương pháp nhằm đạt hiệu quả tối ưu
trong giảng dạy. Tùy tình hình cụ thể mà có một lộ trình thích hợp, từng bước
tiến tới đổi mới dạy học toàn diện.

-


Từng bước chuyển từ cách dạy truyền thống theo hướng tập trung vào giáo viên
sang cách dạy mới hướng tập trung vào học sinh. Đây là định hướng cơ bản.
thực chất của cách dạy này là thay cho thuyết trình giảng giải, giáo viên cần thiết
kế, tổ chức các hoạt động cho học sinh tham gia để phát huy vai trị chủ động,
tích cực, sang tạo của các em, rèn luyện kĩ năng trao đổi hợp tác, giao tiếp trong
học tập để các em có thể chiếm lĩnh tri thức bằng chính hành động của mình.
Đồng thời tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, dạy cho họ
cách học. Có như vậy người học mới có khả năng nắm bắt nhanh chóng được tri
thức một cách có hiệu quả, năng động, sáng tạo trước sự phát triển nhanh chóng
của xã hội hiện đại.

-

Đổi mới phương phaps dạy học được hiểu là đưa các phương pháp dạy học mới
vào nhà trường trên cơ sở phát huy ưu điểm của các phương pháp dạy học
truyền thống nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Điều này có nghĩa là trong q
trình dạy học chúng ta không phủ nhận việc sử dụng các phương pháp dạy học
truyền thống như thuyết trình, hỏi đáp, … Tuy nhiên, các phương pháp dạy học
này cần được sử dụng một cách hợp lí trong mối tương quan với các phương
pháp dạy học mới theo hướng tổ chức các hoạt động cho người học, tránh lạm
dụng chúng.


-

Bên cạnh việc phát huy ưu điểm của các phương pháp đàm dạy học truyền thống
cần vận dụng một cách hợp lí các phương pháp mới như: Dạy học giải quyết vấn
đề, thảo luận nhóm, tự phát hiện tri thức,… Đây là những phương pháp dạy học
tích cực, chúng phát huy được tính chủ động, độc lập, sang tạo của người học,

tăng cường tính hợp tác, kĩ năng giao tiếp của họ trong học tập cũng như trong
cuộc sống.

-

Đổi mới phương pháp dạy học cần đồng bộ và ăn khớp với việc đổi mới các yếu
tố khác của quá trình dạy hoc như:

+

Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên.

+

Đổi mới chương trình, SGK, giáo trình ở các cấp học.

+

Đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tăng cường các phương tiện dạy
học hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thong vào trong dạy
học.

+

Đổi mới các hình thức dạy học như: Tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên
cứu của người học, tăng cường dạy học theo nhóm, học ngồi lớp, tham quan,…

+

Đổi mới về công tác kiểm tra đánh giá: đánh giá keetss quả học tập của học sinh

không chỉ dựa trên điểm số mà còn dựa vào tinh thần, thái độ học tập, mức độ
hoạt động của học sinh trong học tập, sử dụng các phương pháp đánh giá mới
như trắc nghiệm khách quan…

-

Đổi mới phương pháp cần được tiến hành một cách từ từ, tránh chủ quan nóng
vội, trong đó cần trân trọng khả năng sáng tạo của đội ngũ giáo viên.

2.1.2.

Thực trạng sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học địa lí ở trường
THPT

-

Phương pháp đàm thoại đang được sử dụng ngày càng nhiều trong các giờ dạy
địa lí:
Phương pháp đàm thoại là một phương pháp đã được Xôcrát xây dựng từ
trước công nguyên. Đàm thoại là cách thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh,
giữa các học sinh với nhau nhằm giúp cho học sinh lĩnh hội tri thức mới, hoặc
nhằm củng cố, mở rộng tri thức đã tiếp thu được và kiểm tra kết quả học tập,


khai thác kinh nghiệm sống của học sinh. Và nếu biết cách vận dụng thì phương
pháp này sẽ đem lại nhiều tác dụng: làm cho giờ học sinh động, không khí lớp
học sơi nổi, phát huy được tính tích cực và chủ động của học sinh, bồi dưỡng
khả năng diễn đạt một vấn đề khoa học bằng lời. đồng thời, với phương pháp
này thì giáo viên có thể dễ dàng và nhanh chóng thu được các tín hiệu ngược từ
học sinh để có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp với q trình dạy học…vì có

những ưu điểm như vậy nên phương pháp đàm thoại được sử dụng nhiều trong
các giờ dạy, tiết dạy với sự đa dạng trong các loại hình đàm thoại như đàm thoại
gợi mở, đàm thoại kiểm tra, đàm thoại giải thích – minh họa, đặc biệt là phương
pháp đàm thoại tìm tịi – phát hiện, ngày càng được sử dụng phổ biến. trong một
bài dạy của giáo viên có thể sử dụng phương pháp đàm thoại ở mọi thời gian, có
thể nêu vẫn đề dựa trên cơ sở hỏi lại vấn đề cũ, gợi mở ra vấn đề mới, có thể sử
dụng hệ thống câu hỏi để hỏi đáp với học sinh làm cho học sinh nắm bắt những
tri thức mới một cách nhanh chóng. Cuối tiết học có thể sử dụng hình thức đàm
thoại tổng kết, củng cố với học sinh… do vậy, có thể nói phương pháp đàm thoại
ngày càng được sử dụng với tần số lớn.
Công tác giảng dạy của giáo viên bị quy định chặt chẽ bởi nội dung của
chương trình, cụ thể là chương trình sách giáo khoa quy định kiến thức mơn địa
lí ở chương trình THPT là q rộng, q nhiều, và có kiến thức cịn khó đối với
học sinh. Thêm vào đó là sự hạn hẹp của thời gian, do đó, giáo viên ln là
người chủ động tìm tịi và sang tạo ra những phương pháp dạy học mới và sử
dụng chúng có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục và nhu cầu cung cấp
kiến thức, tìm tịi, học hỏi và chiếm lĩnh tri thức của học sinh.
-

Bên cạnh việc sử dụng phương pháp đàm thoại với một tần số lớn đó thì các
giáo viên đã có sự kết hợp giữa phương pháp đàm thoại với các hình thức giảng
dạy như kết hợp với hình thức thảo luận, sử dụng bản đồ, lược đồ, tranh ảnh,…
như chúng ta đã biết thì địa lí là một mơn học mang nhiều đặc trưng riêng, nó
bao gồm các kiến thức về tự nhiên bao gồm lịch sử hình thành và phát triển địa
chất của trái đất, sự hình thành, phát triển và hoạt động của các hiện tượng tự


nhiên: mây, mưa, sấm chớp,…các yếu tố khí hậu, nhiệt ẩm, địa hình, sơng ngịi,
cảnh quan,…bên cạnh đó là các đặc điểm về dân cư, kinh tế và xã hội,… vì vậy
cho nên việc sử dụng các hình ảnh, các bản đồ, biểu đồ để minh họa, chứng

minh cho các kiến thức khoa học là tương đối nhiều.việc sử dụng này có ý nghĩa
to lớn, khơng chỉ đối với giáo viên là làm cho giờ học thêm sinh động, chất
lượng giờ dạy được nâng cao mà bên cạnh đó việc sử dụng các hình ảnh, các
biểu đồ, bản đồ vào trong bài dạy càng làm cho học sinh có hứng thú quan sát,
học tập, nghiên cứu, tìm tịi để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại thành của bản
thân mình. Trước đây thì các giáo viên cũng đã ý thức được là đưa vào bài dạy
các tranh ảnh, bảng biểu,số liệu thống kê phục vụ cho quá trình dạy học của
mình và lĩnh hội của học sinh. Tuy nhiên việc sử dụng tranh ảnh đó chỉ mang
tính chất là hình thức, giáo viên đưa ra để nói với học sinh chứ chưa thực sự là
hỏi đáp với học sinh để học sinh trả lời, để học sinh tự rút ra được các kiến thức
cần thiết cho bản thân mình. Hiện nay thì các giáo viên đã biết cách vận dụng,
kết hợp các hình thức đó với nhau để đạt được kết quả cao trong quá trình dạy
học mà quan trọng hơn cả đó là đã để cho học sinh làm trung tâm trong q trình
dạy học.
-

Như đã phân tích ở trên thì đa số các giáo viên đã có vận dụng phương pháp
đàm thoại trong các tiết học song kết quả đạt được là chưa cao. kết quả của
phương pháp đàm thoại được thể hiện ra trong chất lượng của bài dạy, trong khả
năng trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra cho học sinh, thể hiện trong ngay thái
độ học tập, cụ thể là sự chú ý nghe giảng, thái độ tích cực chủ động tham gia
đóng góp ý kiến của học sinh,…thực tế cho thấy kết quả đó là chưa cao, giáo
viên vẫn dễ sa vào tình trạng đọc chép, học sinh thì ln thụ động, ăn sẵn kiến
thức của giáo mà khơng có sự chủ động, tích cực trong việc tham gia thực hiện
các yêu cầu của giáo viên, chưa có sự chủ động, tích cực trong việc tìm ra tri
thức mới và mở rộng tri thức,…thực tế đó do nhiều nguyên nhân có thể là do
giáo viên chưa thực hiện đúng theo yêu cầu khi sử dụng phương pháp đàm thoại,
hay công tác chuẩn bị của học sinh chưa chu đáo khiến cho các câu hỏi dù rất



×