Tải bản đầy đủ (.docx) (38 trang)

3 chuyên đề “ tổ chức lãnh thổ công nghiệp đại cương và hệ thống câu hỏi, bài tập trong ôn thi học sinh giỏi”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (368.62 KB, 38 trang )

TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG NĂM ……
….….

CHUYÊN ĐỀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
ĐẠI CƯƠNG VÀ HỆ THỐNG CÂU HỎI, BÀI TẬP
TRONG ÔN THI HỌC SINH GIỎI

[1]


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU

3

I. Lí do chọn đề tài

3

II. Mục đích của đề tài

3

III. Cấu trúc của đề tài

4
PHẦN NỘI DUNG

5


Chương 1

5

1.1. Khái niệm

5

1.2. Vai trò của Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

5

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến Tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp

6

1.4. Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

13

1.4.1. Điểm công nghiệp

13

1.4.2. Khu công nghiệp tập trung

15

1.4.3. Trung tâm công nghiệp


18

1.4.4.Vùng công nghiệp

21

1.4.5. Một số hình thức TCLTCN khác.

24

Chương 2

27

2.1. Dạng câu hỏi lí thuyết

27

2.2. Dạng câu hỏi rèn luyện kĩ năng

34

PHẦN KẾT LUẬN

37
38

Tài liệu tham khảo

Chuyên đề Trại hè Hùng Vương:

[2]


“TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP ĐẠI CƯƠNG VÀ HỆ THỐNG
CÂU HỎI, BÀI TẬP TRONG ÔN THI HỌC SINH GIỎI”
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong nhiệm vụ của thầy và trị ở các nhà trường THPT chun nói chung, việc
đổi mới phương pháp dạy và học là một yêu cầu hết sức cần thiết, góp phần nâng cao
dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Để đạt được mục
tiêu đó, các trường chuyên phải nâng cao hiệu quả dạy học, đặc biệt là nâng cao công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Đây là vấn đề ln được các cấp quản lí, các giáo viên
trực tiếp giảng dạy quan tâm và trăn trở. Cơng việc này địi hỏi thời gian, trí tuệ, tâm
huyết của mỗi giáo viên khi tham gia giảng dạy.
Trong khuôn khổ Trại hè Hùng vương lần thứ XVI, để nâng cao chất lượng
cơng tác giảng dạy bộ mơn Địa lí nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng, với
tinh thần trao đổi và học hỏi với chủ đề Địa lí cơng nghiệp đại cương, tơi đã xây dựng
chun đề “ Tổ chức lãnh thổ công nghiệp đại cương và hệ thống câu hỏi, bài tập
trong ôn thi học sinh giỏi”. Tôi hi vọng rằng, chuyên đề này sẽ là một tài liệu hữu ích
trong cơng tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm,
hơn nữa khả năng còn hạn chế, mong được sự đóng góp, trao đổi từ các đồng nghiệp
để chuyên đề của tơi được hồn thiện hơn.
II. MỤC ĐÍCH CỦA CHUN ĐỀ:
1.Cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên sâu phần Tổ chức lãnh thổ
công nghiệp đại cương giúp giáo viên và học sinh có thể sử dụng làm tư liệu giảng dạy,

học tập, tìm hiểu đồng thời phục vụ cho bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lí.
2. Hệ thống các dạng câu hỏi lý thuyết và bài tập kĩ năng về tổ chức lãnh thổ công
nghiệp và hướng giải quyết từng dạng câu hỏi và bài tập.


III. CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ:
[3]


Chun đề ngồi phần mở đầu và kết luận thì nội dung chính của đề tài được trình bày
trong 2 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề về Tổ chức lãnh thổ công nghiệp đại cương
- Chương 2: Hệ thống câu hỏi, bài tập trong ôn thi học sinh giỏi.

[4]


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP ĐẠI CƯƠNG
1.1. Khái niệm về tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Dựa trên những cơ sở lý luận và quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế nói trên
ta có thể tiếp cận với khái niệm về tổ chức lãnh thổ công nghiệp như sau: Tổ chức
lãnh thổ cơng nghiệp là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội
theo lãnh thổ. Trải qua quá trình lâu dài, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, thuật
ngữ tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa học và
thực tiễn. Hiện nay tổ chức lãnh thổ công nghiệp được nhìn nhận là hệ thống các mối
liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở sử dụng
hợp lý nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động nhằm đạt được hiệu
quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường.
Ở nước ta, tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp có thể được coi là việc bố trí hợp lý
các cơ sở sản xuất cơng nghiệp, các cơ sở phục vụ cho hoạt động công nghiệp, các
điểm dân cư, cùng kết cấu hạ tầng trên phạm vi một lãnh thổ nhất định, nhằm sử dụng
hợp lý các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó.
1.2. Vai trị của tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp (TCLTCN)

Vai trị của TCLTCN được thể hiện thơng qua một số nhiệm vụ chính mà
TCLTCN phải thực hiện như:
- Sử dụng hợp lý, có hiệu quả nhất các nguồn lực của lãnh thổ (điều kiện tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội...).
- Giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan, đặc biệt là các vấn đề việc làm cho
một bộ phận lao động của lãnh thổ.

[5]


- Giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các địa phương trong
lãnh thổ nghiên cứu nói riêng và giữa các vùng trong phạm vi cả nước nói chung
thơng qua q trình lựa chọn và phân bố công nghiệp.
- Bảo vệ và tôn tạo tài nguyên, môi trường nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền
vững; kết hợp phát triển cơng nghiệp với an ninh, quốc phịng.
Ở các nước đang phát triển, vai trò quan trọng nhất của tổ chức lãnh thổ cơng
nghiệp là góp phần thực hiện thành cơng sự nghiệp cơng nghiệp hố và hiện đại hoá đất
nước.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp
1.3.1. Nguồn lực bên trong
a. Vị trí địa lý
Vị trí địa lý bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, giao thơng và chính trị. Vị trí
địa lý tác động rất lớn đến việc lựa chọn địa điểm xây dựng xí nghiệp cơng nghiệp,
cũng như phân bố các ngành cơng nghiệp và các hình thức tổ chức lãnh thổ cơng
nghiệp.
Vị trí thuận lợi hay không thuận lợi tác động mạnh đến việc tổ chức lãnh thổ
cơng nghiệp, bố trí khơng gian các khu vực tập trung cơng nghiệp. Vị trí càng thuận
lợi thì mức độ tập trung cơng nghiệp càng cao, các hình thức tổ chức công nghiệp
càng đa dạng và phức tạp. Ngược lại những khu vực có vị trí địa lí kém thuận lợi sẽ
gây trở ngại cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp cũng như việc kêu gọi vốn

đầu tư.
Thực tiễn đã chỉ ra rằng sự thành công của các khu công nghiệp và khu chế
xuất trên thế giới trên thế giới thường gắn liền với sự thuận lợi về vị trí địa lí. Khu
vực Đơng Nam Á hiện nay được đánh giá là một trong những khu vực có vị trí địa lí
thuận lợi: bao gồm cả vị trí tự nhiên, kinh tế, giao thơng, chính trị. Là khu vực cầu nối
giữa Châu Á và Châu Úc, giao thông đường biển và đường hàng không rất thuận lợi
[6]


giữa các quốc gia trong khu vực và các cường quốc kinh tế lớn như Trung Quốc, Nga,
Nhật Bản, Ấn Độ… Đây là khu vực có chính trị ổn định môi trường đầu tư tốt. Hiện
nay Đông Nam Á là khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới và thu hút
được vốn đầu tư rất lớn.
Ở Việt Nam, trong số hơn 100 địa điểm có thể xây dựng được các khu cơng
nghiệp tập trung thì có khoảng 40 địa điểm thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư trong và
ngồi nước do có vị trí địa lí thuận lợi. Một trong các khu công nghiệp tương đối
thành công hiện nay là khu công nghiệp Dung Quất – Quảng Ngãi là nhờ có một vị trí
địa lí thuận lợi. Dung Quất nằm ở một vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông đường bộ,
hàng hải cũng như hàng không: nằm bên Quốc lộ 1A, Đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ
24 nối với Tây Nguyên và các nước thuộc Tiểu Vùng sông Mê Kông (một trong 5
tuyến đường ngang của hệ thống đường xuyên Á chạy qua Việt Nam, có cảng nước
sâu Dung Quất và có sân bay quốc tế Chu Lai, cách tuyến nội hải 30 km và cách
tuyến hàng hải quốc tế 90km. Về mặt địa lý, Dung Quất có thể được xem là vị trí
trung tâm điểm của Việt Nam và của Đơng Nam Á.
b. Nguồn lực tự nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật chất không
thể thiếu được để phát triển và phân bố công nghiệp. Nó ảnh hưởng rõ rệt đến việc
hình thành và xác định cơ cấu ngành công nghiệp. Số lượng, chất lượng, phân bố và
sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ có ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình phát triển và
phân bố của nhiều ngành cơng nghiệp.

* Khống sản
Khống sản là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa hàng
đầu đối với việc phát triển và phân bố cơng nghiệp. Khống sản được coi là “bánh
mì” cho các ngành công nghiệp.

[7]


Số lượng chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự kết hợp các loại
khoáng sản trên lãnh thổ sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp cơng
nghiệp.
Tài ngun khống sản trên thế giới phân bố khơng đồng đều. Có những nước
giàu tài ngun khống sản như Hoa Kì, Trung Quốc, Canađa, Liên Bang Nga, Ấn Độ…
Có những nước nổi tiếng với một loại khoáng sản như Chi Lê (đồng), khu vực Tây Á là
nơi tập trung tới hơn một nửa trữ lượng dầu của thế giới, do vậy ở đây đã rất phát triển
ngành cơng nghiệp khai thác dầu có qui mơ lớn, chẳng hạn ở Ảrập Xêut, Côoet, Iran,
Irắc…
Việt Nam được đánh giá là có nguồn tài ngun khống sản phong phú và đa
dạng, tạo điều kiện thuận lợi hình thành và phát triển các ngành công nghiệp từ Bắc
tới Nam: Khai thác than ở Quảng Ninh, khai thác và chế biến quặng sắt ở Thái
Nguyên, Hà Tĩnh, Apatit ở Lào Cai, bơxit ở Tây Ngun, đá vơi ở các tỉnh phía Bắc…
* Khí hậu và nguồn nước
Nguồn nước có ý nghĩa rất lớn đối với các ngành công nghiệp. Mức độ thuận
lợi hay khó khăn về nguồn cung cấp nước hoặc thoát nước là điều kiện quan trọng để
định vị các xí nghiệp cơng nghiệp. Nhiều ngành cơng nghiệp được phân bố gần nguồn
nước như: công nghiệp luyện kim, công nghiệp dệt, cơng nghiệp giấy, hóa chất và chế
biến thực phẩm… Những vùng có mạng lưới sơng ngịi dày đặc và chảy trên các dạng
địa hình khác nhau tạo nên tiềm năng cho cơng nghiệp thủy điện. Ví dụ Trung Quốc
đã tiến hành xây dựng đập Tam Điệp chặn sông Trường Giang (con sông lớn thứ 3 thế
giới) và đến nay nó là đập thủy điện lớn nhất thế giới, với công suất phát điện

18.200MW, sản lượng 84,3 tỷ KWh/năm.
Việt Nam có mạng lưới sơng ngịi dày đặc, nguồn nước dồi dào, là cơ sở cho
việc xây dựng các nhà máy thủy điện có cơng suất lớn phục vụ cho hoạt động sản
xuất công nghiệp và đời sống con người như nhà máy thủy điện Hịa Bình có cơng
[8]


suất 1,92 triệu KW trên sông Đà, thủy điện Trị An có cơng suất 400 MW trên sơng
Đồng Nai, thủy điện Tun Quang 342MW.
Khí hậu cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự phân bố cơng nghiệp. Đặc điểm
khí hậu có tác động khơng nhỏ đến hoạt động của các ngành cơng nghiệp khai
khống. Trong một số trường hợp nó chi phối cả việc lựa chọn kĩ thuật và công nghệ
sản xuất.
Ví dụ ở một số nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa làm cho máy móc dễ bị
hư hỏng. Vì vậy địi hỏi phải nhiệt đới hóa trang thiết bị sản xuất.
* Các nhân tố tự nhiên khác
Các nhân tố tự nhiên khác có tác động đến sự phát triển và phân bố công
nghiệp như đất đai, tài nguyên sinh vật…
- Về mặt tự nhiên đất ít có giá trị đối với cơng nghiệp nhưng quỹ đất dành cho
cơng nghiệp và địa chất cơng trình cũng ít nhiều ảnh hưởng đến quy mô hoạt động và
vốn thiết kế cơ bản.
- Tài nguyên sinh vật cũng tác động tới sản xuất công nghiệp. Rừng và hoạt động
lâm nghiệp là nơi cung cấp vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế
biến giấy, gỗ, tiểu thủ công nghiệp…
c. Nguồn lực kinh tế - xã hội
* Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động có vai trò thúc đẩy sự phát triển tổ chức lãnh thổ
cơng nghiệp, nếu khơng có nhân tố con người thì công nghiệp sẽ không phát triển
được. Dân cư và nguồn lao động vừa là lực lượng sản xuất vừa là thị trường tiêu thụ.
Dân cư và nguồn lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu, là một trong những điều

kiện quan trọng phát triển và phân bố công nghiệp. Những ngành cần nhiều lao động
như dệt, may, chế tạo máy… thường phân bố ở nơi đông dân cư. Các ngành sản xuất
[9]


hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu hàng ngày của con người cũng thường phân bố ở
những nơi có mật độ dân số cao và những điểm tập trung dân cư (như công nhiệp dệt,
công nghiệp thực phẩm, đồ dùng gia đình, đồ chơi…) chất lượng của người lao động
như trình độ học vấn, trình độ tay nghề và chuyên mơn kĩ thuật cũng có ảnh hưởng rất
lớn đến việc xây dựng và đáp ứng những thành tựu của khoa học và kỹ thuật đối với
những xí nghiệp cơng nghiệp.
Quy mô, cơ cấu và thu nhập của dân cư cũng ảnh hưởng lớn đến quy mô và cơ
cấu của nhu cầu tiêu dùng. Nó cũng là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp. Khi
tập quán và nhu cầu tiêu dùng thay đổi nó cũng ảnh hưởng đến sự chuyển hướng về
quy mô và hướng chuyển hướng chuyên môn hóa các ngành va xí nghiệp cơng nghiệp,
từ đó dẫn đến mở rộng hay thu hẹp không gian công nghiệp cũng như cơ cấu ngành của
nó.
* Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cơng nghiệp có ý
nghĩa nhất định đối với việc tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp. Nó có thể là tiền đề thuận
lợi hay cản trở sự phát triển công nghiệp nói chung và tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp
nói riêng. Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động
sản xuất công nghiệp bao gồm hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, mạng
lưới cung cấp điện, nước, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở cơng nghiệp… có vai trị ngày
càng quan trọng trong tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp. Sự tập trung cơ sở hạ tầng trên
một lãnh thổ đã làm thay đổi vai trò của nhiều nhân tố phân bố công nghiệp, đem lại
nhiều yếu tố mới trong bức tranh tổ chức lãnh thổ công nghiệp.
* Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
Tiến bộ khoa học công nghệ không chỉ tạo ra những khả năng mới về sản xuất,
đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỉ trọng của chúng trong tổng thể

tồn bộ ngành cơng nghiệp, làm cho việc sử dụng, khai thác tài nguyên và phân bố
[10]


các ngành cơng nghiệp trở nên hợp lí hơn, có hiệu quả và kéo theo những thay đổi về
quy luật phân bố sản xuất. Đồng thời nảy sinh những nhu cầu mới xuất hiện những
ngành công nghiệp mới mở ra những triển vọng phát triển mới cho ngành công nghiệp
trong tương lai.
* Đường lối, chính sách phát triển
Đường lối, chính sách phát triển có ảnh hưởng trực tiếp, có thể thúc đẩy hoặc
kìm hãm sự phát triển cơng nghiệp đặc biệt là tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp. Chính vì
vậy trong q trình tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp cần thiết phải có một đường lối
chính sách phát triển đúng đắn, tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển mạnh.
Phù hợp với xu thế mở cửa hội nhập chúng ta đã xây dựng những ngành công
nghiệp mũi nhọn dựa vào lợi thế so sánh như công nghiệp năng lượng, công nghiệp
chế biến nông lâm thủy sản, công nghiệp nhẹ gia công xuất khẩu sử dụng nhiều lao
động, công nghiệp cơ khí, điện tử, cơng nghệ thơng tin, một số ngành sản xuất nhiên
liệu cơ bản… Cơ cấu công nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ đã có những chuyển
biến rõ rệt theo hướng cơng nghiệp hóa hiện đại hóa.
1.3.2. Nguồn lực bên ngoài
a. Thị trường
Thị trường bao gồm thị trường trong nước và thị trường quốc tế đóng vai trị
như chiếc đòn bẩy đối với sự phát triển, phân bố và cả sự thay đổi cơ cấu ngành cơng
nghiệp. Nó có tác động mạnh mẽ đến việc lựa chọn vị trí xí nghiệp hướng chun
mơn hóa sản xuất. Sự phát triển cơng nghiệp ở bất kì quốc gia nào đều nhằm thỏa mãn
nhu cầu trong nước và hội nhập vào thị trường quốc tế.
Cơng nghiệp có thị trường tiêu thụ rất rộng lớn. Điều đó được thể hiện dưới hai
khía cạnh. Công nghiệp một mặt, cung cấp tư liệu sản xuất, trang thiết bị cho tất cả
các ngành kinh tế và mặt khác, đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng cho mọi tầng lớp nhân
dân.

[11]


Công nghiệp hiện đối mặt với thị trường đang ở trong q trình tồn cầu hóa
nền kinh tế - xã hội. Sự phát triển về truyền thông đại chúng đã làm cho mọi thơng tin
cập nhật mau chóng được phổ cập tới tồn xã hội, trong đó có thơng tin về tiêu thụ.
Nó kích thích nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp hơn đối
với công nghiệp.
b. Các xu thế kinh tế quốc tế, các mối quan hệ hợp tác liên vùng, quốc tế
Các xu thế kinh tế quốc tế, các mối quan hệ hợp tác liên vùng, quốc tế có
tác dụng thúc đẩy q trình tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp diễn ra nhanh hay
chậm. Ngày nay trong bối cảnh tồn cầu hố, khu vực hoá nền kinh tế thế giới
cùng với những tiến bộ kỹ thuật phát triển như vũ bão, vấn đề hợp tác quốc tế
là xu thế tất yếu, đem lại lợi ích cho các bên đối tác. Đối với các nước, các
vùng chậm phát triển, để giảm khoảng cách về trình độ phát triển và tránh tụt
hậu, khơng thể không quan tâm đến sự hợp tác quốc tế và liên vùng.
Hợp tác quốc tế và liên vùng được thể hiện qua một số lĩnh vực chủ yếu sau đây:
- Hỗ trợ vốn đầu tư từ các nước, các vùng phát triển cho các nước, các vùng
đang phát triển và chậm phát triển. Quá trình hợp tác đầu tư làm xuất hiện ở các
nước, các vùng đang phát triển và chậm phát triển một số ngành công nghiệp mới,
các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất và mở mang các ngành nghề
truyền thống. Điều đó dẫn đến sự thay đổi tổ chức lãnh thổ công nghiệp theo hai
chiều tích cực và tiêu cực.
- Chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cũng là một trong những xu hướng
quan trọng của sự hợp tác quốc tế và liên vùng. Kỹ thuật, cơng nghệ hiện đại có ý
nghĩa quyết định đến nhịp điệu phát triển kinh tế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quy
mơ, phương hướng sản xuất và sau đó là việc phân bố sản xuất, các hình thức tổ
chức lãnh thổ cũng như bộ mặt kinh tế - xã hội của cả vùng hay quốc gia.
- Chuyển giao kinh nghiệm tổ chức quản lý đến các nước, các vùng đang
[12]



phát triển và chậm phát triển đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Kinh nghiệm quản lý
giỏi không chỉ giúp từng xí nghiệp làm ăn phát đạt mà cịn mở ra cơ hội cho họ
hợp tác chặt chẽ với nhau, tạo ra sự liên kết bền vững trong một hệ thống sản xuất
kinh doanh thống nhất. Chính sự liên kết đó là tiền đề để hình hành các khơng
gian cơng nghiệp cũng như các hình thức tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp.
- Sự hỗ trợ từ bên ngồi về năng lượng, nguyên vật liệu có tác động thúc đẩy
nhanh hơn q trình tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp. Đối với các vùng thiếu năng lượng,
nguyên vật liệu thì sự hỗ trợ từ bên ngồi là khơng thể thiếu được. Chính q trình
này đã ảnh hưởng, thậm chí quy định tổ chức lãnh thổ cụng nghiệp ở những vùng
được hỗ trợ và mở ra một hướng phát triển hoàn toàn mới có hiệu quả thúc đẩy ngành
cơng nghiệp nói riêng và ngành kinh tế tồn vùng nói chung.
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp chịu ảnh hưởng của cả nguồn lực bên trong và
nguồn lực bên ngồi. Trong đó, yếu tố quyết định đến sự hình thành và tổ chức lãnh
thổ cơng nghiệp phải kể đến là các nguồn lực bên trong. Các nguồn lực bên ngồi có
vai trị thúc đẩy nhanh hơn quá trình này. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể,
nguồn lực bên ngoài chi phối mạnh mẽ, thậm chí có thể có ý nghĩa quyết định đến tổ
chức lãnh thổ cơng nghiệp.
1.4. Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp
1.4.1. Điểm công nghiệp
a. Khái niệm
- Điểm cơng nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ đơn giản nhất. Là một lãnh
thổ trên đó có một điểm dân cư với một hoặc hai xí nghiệp cơng nghiệp.
b. Đặc điểm
Với quan niệm trên thì điểm cơng nghiệp mang các đặc trưng tiêu biểu sau:
- Lãnh thổ nhỏ với một (hai) xí nghiệp, phân bố lẻ tẻ, phân tán.
[13]



- Hầu như khơng có mối liên hệ sản xuất giữa các xí nghiệp. Các xí nghiệp có
tính chất độc lập về kinh tế, có cơng nghệ sản xuất sản phẩm riêng.
- Thường gắn với một điểm dân cư nào đó.
Về mặt hình thức rất dễ nhầm lẫn giữa xí nghiệp công nghiệp với điểm công
nghiệp nhưng về mặt bản chất thì khơng giống nhau. Nếu xí nghiệp cơng nghiệp là
hình thức tổ chức sản xuất, là đơn vị cơ sở của phân cơng lao động về mặt địa lí thì
điểm cơng nghiệp là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp.
Về quy mô của điểm công nghiệp tuỳ
thuộc vào quy mơ của xí nghiệp cơng
nghiệp phân bố ở đây. Do tính chất và đặc
điểm kinh tế - kĩ thuật của các ngành cơng
nghiệp có sự khác nhau mà quy mơ của các
xí nghiệp cũng khác nhau. Có xí nghiệp chỉ
có vài chục hoặc vài trăm cơng nhân (như
Điểm công nghiệp
chế biến nông sản, lắp ráp và sửa chữa thiết bị...) và được bố trí gọn trong một xưởng
sản xuất nhưng cũng có xí nghiệp thu hút hàng nghìn cơng nhân gồm nhiều cơng
trình, nhà xưởng, diện tích tương đối lớn (xí nghiệp khai thác khống sản...). Hiện nay
do sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật - cơng nghệ số lượng các xí nghiệp có quy mơ
tăng lên nhanh chóng ở tất cả các ngành cơng nghiệp.
Điểm cơng nghiệp là hình thức đơn giản và được áp dụng ở nhiều nước trên thế
giới đặc biệt là những nước có trình độ phát triển kinh tế thấp bởi vì điểm cơng
nghiệp theo kiểu đơn lẻ này cũng có những mặt tích cực nhất định. Nó có tính cơ
động, dễ đối phó với những sự cố và thay đổi trang thiết bị, không bị ràng buộc và
ảnh hưởng của các xí nghiệp khác, đặc biệt thuận cho việc thay đổi mặ hàng trong quá
trình sản xuất, kinh doanh.

[14]



Tuy nhiên, những mặt hạn chế lại rất nhiều. Đó là việc đầu tư khá tốn kém cho
cơ sở hạ tầng, các chất phế thải bị lãng phí do khơng tận dụng được, các mối liên hệ
(sản xuất, kinh tế, kĩ thuật...) với các xí nghiệp khác hầu như thiếu vắng và vì vậy,
hiệu quả kinh tế thường thấp.
c. Liên hệ Việt Nam:
Phân bố chủ yếu ở Tây Bắc và Tây Nguyên.
1.4.2. Khu công nghiệp tập trung (thường gọi tắt là khu công nghiệp)
a. Khái niệm
Khu công nghiệp(KCN) bao gồm một nhóm các trung tâm cơng nghiệp phân bố
gần nhau và kết hợp với nhau bằng việc cùng chung chuyên mơn hố, mạng lưới vận
tải thống nhất và những mối liên hệ sản xuất chặt chẽ.
Đối với một số nước phương Tây, khái niệm khu công nghiệp thu hẹp hơn.
Thường được hiểu là một khu vực đất đai có ranh giới nhất định và có quyền sở hữu
rõ ràng nhằm trước hết xây dựng kết cấu hạ tầng (đường xá, điện nước, dầu khí, thơng
tin liên lạc, rồi sau đó xây dựng các xí nghiệp để bán.
b. Đặc điểm
- Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp cơng nghiệp trên một khu vực có ranh
giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội.
- Các xí nghiệp nằm trong khu công nghiệp được hưởng quy chế ưu đãi riêng,
khác với xí nghiệp phân bố ngồi khu cơng nghiệp.
- Có ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lí.
- Có sự phân cấp về quản lí và tổ chức sản xuất. Về phía các xí nghiệp, khả năng
hợp tác sản xuất phụ thuộc vào việc liên kết với nhau của từng doanh nghiệp. Việc quản
lí của Nhà nước được thể hiện ở chỗ nhà nước chỉ quy định những ngành (hay loại xí

[15]


nghiệp) được khuyến khích phát triển và những ngành (hay loại xí nghiệp) khơng đặt
trong khu cơng nghiệp vì lí do mơi trường sinh thái hoặc an ninh, quốc phịng.

Các khu cơng nghiệp rất khác nhau về tính chất và loại hình, để thuận lợi cho
việc phân loại các khu cơng nghiệp, có thể dựa vào một số tiêu chí sau:
+ Về vị trí địa lí: có khu cơng nghiệp ở trung du hay vùng núi, các khu công
nghiệp ven biển, các khu công nghiệp dọc theo quốc lộ, các khu cơng nghiệp nằm
trong các thành phố lớn.
+ Về tính chất chun mơn hố, cơ cấu và đặc điểm sản xuất, có thể chia ra các
khu cơng nghiệp chun mơn hố và các khu cơng nghiệp tổng hợp hoặc các khu
công nghiệp sản xuất chủ yếu để xuất khẩu (các khu chế xuất - là một khu chuyên sản
xuất phần lớn để xuất khẩu, có ranh giới hành chính rõ rệt, được hưởng một quy chế
pháp lí và những ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất, chế tạo
hàng xuất khẩu và tiến hành các dịch vụ và hoạt động kinh tế hỗ trợ sản xuất hàng
xuất khẩu và cho xuất khẩu).
+ Về quy mơ, có các khu cơng nghiệp quy mơ lớn, vừa, nhỏ.
+ Về tính chất độc lập hay phụ thuộc (tương đối) có khu cơng nghiệp nằm
ngồi hình thức tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp cao hơn nó và có khu công nghiệp là
một bộ phận của trung tâm hay dải cơng nghiệp.
+ Về trình độ cơng nghệ, chia ra khu công nghiệp kĩ thuật cao (là khu công
nghiệp tập trung các doanh nghiệp công nghệ kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục
vụ cho việc phát triển công nghệ cao bao gồm: nghiên cứu, triển khai khoa học cơng
nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan có ranh giới xác định do chính phủ quyết định
thành lập), và khu cơng nghiệp có cơng nghệ trung bình, thậm chí có cả xí nghiệp thủ
cơng.
Các nước đang phát triển và có thu nhập thấp, trong q trình Cơng nghiệp hóa,
tồn tại một loại hình đặc biệt của khu cơng nghiệp, đó là khu chế xuất, được coi là cơng

[16]


cụ có hiệu quả để thu hút vốn đầu tư nước ngồi, tạo việc làm, phát triển cơng nghiệp
hướng về xuất khẩu, tiếp thu kĩ thuật và công nghệ hiện đại.

c. Liên hệ Việt Nam
Theo số liệu của Vụ Quản lí khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tính đến cuối
tháng 6 năm 2019, cả nước có 326 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự
nhiên đạt xấp xỉ 95,5 nghìn ha, trong đó diện tích đất cơng nghiệp đạt khoảng 65,6
nghìn ha, chiếm khoảng 68,7%.
Trong 326 KCN được thành lập, có 251 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện
tích đất tự nhiên khoảng 66,2 nghìn ha và 75 KCN đang trong giai đoạn đền bù, giải
phóng mặt bằng và xây dựng với tổng diện tích khoảng 29,3 nghìn ha.
Tỷ lệ lấp đầy của các KCN đang hoạt động đạt gần 74%.
Ước tính trong 6 tháng đầu năm 2019, các KCN, KKT trên cả nước thu hút
được khoảng 340 dự án đầu tư nước ngoài (ĐTNN) với số vốn đăng ký mới đạt
khoảng 8,7 tỷ USD, nâng tổng số dự án vốn ĐTNN lên khoảng 8.900 dự án với tổng
vốn đăng ký đạt khoảng 186 tỷ USD.
Đối với các dự án đầu tư trong nước (ĐTTN), các KCN, Khu kinh tế trên cả
nước thu hút được khoảng 334 dự án với tổng vốn đăng ký mới đạt khoảng 82,9 nghìn
tỷ đồng, nâng tổng số dự án ĐTTN lên khoảng hơn 9.086 dự án với tổng vốn đăng ký
đạt khoảng 2.060,5 nghìn tỷ đồng.
Ước tính đến hết tháng 6/2019, có hơn 3,6 triệu lao động đang làm việc tại các
KCN, KKT trên cả nước, trong đó số lao động nữ chiếm khoảng 60%.
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa. Cùng với
dịng vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN các nhà
đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến hiện
đại. Trong đó, đặc biệt phải kể đến những dự án công ngiệp kỹ thuật cao với 11 doanh
nghiệp đều tập trung ở KCN với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD (phần lớn là của Nhật
[17]


Bản) như công ty trách nhiệm hữu hạn Canon Việt Nam, Mabuchi Motor, Orion
Hanel,... Các dự án đầu tư nước ngồi vào KCN khơng những góp phần nâng cao hàm

lượng công nghệ trong sản phẩm của các doanh nghiệp KCN mà còn mở rộng quan hệ
hợp tác đầu tư từng bước nâng cao vị thế và sức hấp dẫn đầu tư của Việt Nam trên
trường quốc tế, góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế và khu vực, góp phần thu
hút đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài.
Giảm bớt sự trênh lệch trong tỉnh, đặc biệt phát triển các khu công nghiệp tập
trung, khu chế xuất góp phần giảm sự trênh lệch về trình độ phát triển giữa vùng trung
tâm và các vùng ngoại vi.
Các địa phương có điều kiện thuận lợi đã chủ động định hướng thu hút các dự
án đầu tư phù hợp với lợi thế so sánh của địa phương; các dự án có hàm lượng cơng
nghệ và vốn cao để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
1.4.3. Trung tâm công nghiệp
a. Khái niệm
Trung tâm cơng nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cao hơn điểm
công nghiệp. Là một khu vực tập trung công nghiệp gắn liền với các đô thị vừa và
lớn.
b. Đặc điểm
- Trung tâm công nghiệp đồng thời cũng là các đô thị vừa và lớn với hoạt động
cơng nghiệp là chính.
Về ngun tắc, trung tâm cơng nghiệp bao gồm các điểm dân cư có quy mơ
trung bình và lớn. Ở Việt Nam, trung tâm cơng nghiệp đồng thời là các trung tâm
hành chính của tỉnh và là bộ phận của vùng kinh tế.
Sự gần gũi về mặt địa lý của hai hay nhiều trung tâm sẽ tạo điều kiện cho sự ra
đời và phát triển của hình thức lãnh thổ cao hơn là vùng cơng nghiệp.
[18]


Các trung tâm cơng nghiệp có q trình hình thành và phát triển riêng nhưng có
đặc điểm chung là khơng ngừng hồn thiện.
- Trung tâm cơng nghiệp bao gồm nhiều xí nghiệp thuộc các ngành khác nhau
tạo nên cơ cấu ngành. Cơ cấu ngành của trung tâm cơng nghiệp có thể đơn giản (ít

ngành) hoặc phức tạp (đa ngành), phụ thuộc chủ yếu vào sự thu hút các ngành của
trung tâm. Các xí nghiệp thuộc các ngành cơng nghiệp khác nhau có mối liên hệ mật
thiết với nhau về kinh tế, kĩ thuật, sản xuất.
-Hướng chun mơn hóa của một trung tâm cơng nghiệp do những xí nghiệp
nịng cốt quyết định.
Như vậy các nhóm xí nghiệp tạo thành trung tâm cơng nghiệp bao gồm 2
nhóm:
+ Nhóm xí nghiệp nịng cốt: là bộ khung của trung tâm công nghiệp,
thường bao gồm một số xí nghiệp lớn và cũng có thể là một một xí nghiệp liên
hợp. Hướng chun mơn hố của trung tâm là do xí nghiệp này quyết định. Các
xí nghiệp lớn giữ vai trò quyết định bộ mặt của trung tâm cơng nghiệp được
hình thành và phát triển dựa trên cơ sở các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên,
nguồn lao động hoặc dựa vào lực lượng lao động dồi dào, vị trí địa lí thuận
lợi...
+ Nhóm các xí nghiệp nịng cốt: có mối liên hệ với nhóm xí nghiệp nịng
cốt nhưng khơng phải là mối liên hệ chặt chẽ về kĩ thuật - cơng nghệ. Nhìn
chung, các xí nghiệp bổ trợ được chia làm 3 nhóm:
. Nhóm 1: gồm các xí nghiệp tiêu thụ trực tiếp các thành phẩm
hoặc phế thải của xí nghiệp nịng cốt. Ví dụ: các nhà máy cơ khí sử dụng thép
của xí nghiệp gang thép, xí nghiệp sản xuất bánh kẹo sử dụng đường của nhà
máy mía đường (thành phẩm) hoặc xí nghiệp bột giấy dùng bã mía của nhà
máy đường.
[19]


. Nhóm 2: gồm các xí nghiệp có nhiệm vụ cung cấp các tư liệu sản
xuất cho xí nghiệp nịng cốt và bổ trợ cho các xí nghiệp của nhóm 1. Sự phân
bố của chúng phụ thuộc vào sự có mặt của nhóm xí nghiệp nịng cốt. Các xí
nghiệp thuộc nhóm này bao gồm xí nghiệp cung cấp nhiên liệu, động lực, vật
liệu xây dựng, sản xuất và sửa chữa thiết bị máy móc... ví dụ: các xí nghiệp

khai thác quặng thường ở gần trung tâm, các xí nghiệp sản xuất và sửa chữa
thiết bị dệt thường ở gần nhà máy liên hợp xí nghiệp gạch chịu lửa cung cấp
cho lị cao của nhà máy gạch.
. Nhóm 3: gồm các xí nghiệp cơng nghiệp sản xuất ra các sản phẩm
phục vụ cho nhu cầu của dân cư. Đó là các xí nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng...
Ngồi ra cịn có các xí nghiệp (khơng thuộc ngành công nghiệp) đáp ứng nhu
cầu của trung tâm (xí nghiệp nơng nghiệp ngoại thành cung cấp thực phẩm tươi sống,
bưu điện, thông tin liên lạc, các cơ sơ thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất như: chợ,
bệnh viện, trường học...).
c. Liên hệ Việt Nam
Các trung tâm công nghiệp ở Việt Nam phát triển rất khác nhau về quy mơ giá
trị sản xuất và tính chất chun mơn hóa dựa trên cơ sở điều kiện của mỗi trung tâm,
như giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đều là hai trung tâm công nghiệp lớn
nhưng giữa hai trung tâm này có cơ cấu ngành, quy mơ giá trị sản xuất và các điều
kiện để phát triển công nghiệp rất khác nhau.
1.3.4. Vùng công nghiệp
a. Khái niệm
Vùng công nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ cao nhất.
Theo các nhà khoa học thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây
(1987), vùng công nghiệp bao gồm một lãnh thổ tương đối rộng lớn, có điều
[20]


kiện thuận lợi về vị trí địa lí, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, về kinh tế - xã
hội, có khả năng bố trí tập trung cơng nghiệp nhằm đạt hiệu quả và tốc độ tăng
trưởng cao, thúc đẩy, đảm bảo sự phát triển của các vùng khác và của cả nước.
Như vậy, vùng công nghiệp là một khái niệm tương đối rộng. Việc xác định quy
mô và ranh giới của nó khá linh hoạt.
b. Đặc điểm
- Là bộ phận lãnh thổ lớn nhất trong số các hình thức tổ chức lãnh thổ công

nghiệp nhưng ranh giới không mang tính pháp lí.
- Có khơng gian rộng lớn. Ở đây có thể gồm nhiều khu cơng nghiệp, trung tâm
cơng nghiệp, cụm cơng nghiệp độc lập (hoặc có thể chứa đựng một vài hình thức nào
đó) và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về sản xuất, công nghệ, kinh tế...
- Có những nét tương đồng trong quá trình hình thành cơng nghiệp trong
vùng(sử dụng chung một vài loại tài nguyên tạo nên tính chất tương đối giống nhau
của các ngành cơng nghiệp, cùng có những thuận lợi về vị trí địa lí và các nguồn lực
khác).
+ Sử dụng chung một (hoặc một vài) loại tài nguyên, tạo nên tính chất tương
đối giống nhau của các ngành cơng nghiệp. Ví dụ, trên cơ sở các loại khống sản (như:
than, sắt, đồng...) hình thành các ngành cơng nghiệp nặng (như: luyện kim đen, luyện
kim màu..) và từ đó xuất hiện vùng cơng nghiệp nặng.
+ Cùng có vị trí địa lí thuận lợi. Các xí nghiệp tập trung trong vùng công
nghiệp chủ yếu gắn với đầu mối giao thông lớn chẳng hạn. Trước đây, vùng công
nghiệp trung tâm (gồm Matxcơva và phụ cận) được hình thành nhờ vào đầu mối giao
thông lớn nhất cả nước.
+ Sử dụng nhiều lao động, gắn với các khu vực tập trung dân cư, đồng
thời cũng là vùng tiêu thụ lớn.

[21]


- Có một hay vài ngành cơng nghiệp chủ đạo tạo nên hướng chun mơn hố
của vùng, trong đó có hạt nhân tạo vùng và thường là trung tâm công nghiệp lớn. Để
hỗ trợ cho các ngành chun mơn hố có các ngành bổ trợ và phục vụ.
Do phụ thuộc vào tác động của
nhiều nhân tố, mỗi ngành được phân bố trên
một không gian nhất định. Hơn nữa, do
chuyên môn hố ngày càng sâu sắc, hoạt động
cơng nghiệp lại được chia nhỏ ra theo các giai

đoạn của quy trình cơng nghệ. Các xí nghiệp
chuyên sơ chế nguyên liệu ban đầu và sản xuất
bán thành phẩm thường bị hút về
các vùng ngun liệu. Ngược lại, các xí

Vùng cơng nghiệp

nghiệp hồn thành nốt các giai đoạn cuối cùng của quy trình cơng nghệ được phân bố
linh hoạt hơn, nhưng thường có xu thế kéo về vùng tiêu thụ.
c. Liên hệ Việt Nam:
Ở Việt Nam có 6 vùng cơng nghiệp được quy hoạch từ nay đến năm 2020:
- Vùng 1: các tỉnh Trung du miền núi Bắc Bộ, trừ Quảng Ninh, gồm 14 tỉnh: Bắc
Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hồ Bình, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn,
Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái tập trung phát triển
thuỷ điện, chế biến nông, lâm sản, khai thác và chế biến khống sản, hố chất, phân
bón, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, cơng nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp
và công nghiệp chế biến.
- Vùng 2: các tỉnh Đồng bằng sông Hồng : Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Hải
Phòng, Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc và Quảng
Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh được định hướng tập trung phát triển ngành cơ
khí nhiệt điện, phát triển ngành điện tử và cơng nghệ thơng tin, hố chất, luyện kim
[22]


khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, tiếp tục phát triển nhanh
công nghiệp dệt may, da giầy phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế biến nông, lâm,
thuỷ sản.
- Vùng 3: các tỉnh từ Quảng Bình đến Ninh Thuận, gồm 10 tỉnh: Bình Định, Đà
Nẵng, Khánh Hồ, Ninh Thuận, Phú n, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, hải

sản, lọc và hố chất, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng và dệt may, da giầy,
ngành điện tử và công nghiệp thông tin
- Vùng 4: các tỉnh Tây Nguyên, trừ Lâm Đồng, gồm 4 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông,
Gia Lai, Kon Tum tập trung phát triển thuỷ điện, công nghiệp chế biến nông, lâm sản
và khai thác chế biến khoáng sản.
- Vùng 5 gồm 8 tỉnh: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận,
Đồng Nai, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh tập trung phát triển cơng nghiệp
khai thác và chế biến dầu khí, điện, chế biến nông, lâm sản và hải sản, đặc biệt là
cơng nghiệp cơ khí, điện tử, cơng nghiệp phần mềm, hố chất, hố dược, phát triển
cơng nghiệp dệt may, da giầy chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, phát triển công
nghiệp trên cơ sở áp dụng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm có hàm lượng tri
thức cao.
- Vùng 6: các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, gồm 13 tỉnh: An Giang, Bạc Liêu,
Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang, Kiên Giang, Long An, Cà Mau, Sóc
Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang tập trung phát triển ngành công nghiệp chế
biến nông, lâm, thuỷ sản hướng vào xuất khẩu, các ngành cơng nghiệp sử dụng khí
thiên nhiên, ngành cơ khí phục vụ nơng nghiệp đặc biệt là cơng nghiệp sau khi thu
hoạch và bảo quản, công nghiệp chế biến nơng, lâm, thuỷ sản, cơ khí đóng tàu.
1.4.5. Một số hình thức TCLTCN khác.
[23]


a. Cụm công nghiệp
* Khái niệm
Việc nghiên cứu cụm công nghiệp như là hệ thống sản xuất, có ý nghĩa thực
tiễn trong q trình tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp. Đây cũng là một trong những hình
thức tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp phức tạp, vì vậy chưa có sự thống nhất về quan
niệm. Dưới từng góc độ chun mơn các nhà khoa học có cách nhìn nhận khác nhau
nhưng quan điểm của A.T.Khorutsov được coi là có sức thuyết phục hơn cả vì ơng đã
nêu được bản chất của hình thức tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp này.

Theo A.T.Khorutsov (1979): Cụm công nghiệp là một kết hợp sản xuất - lãnh thổ
mang tính chất tổng hợp. Do nằm gần nhau, các xí nghiệp thống nhất với nhau bằng
việc có chung vị trí địa lý, giao thơng, hệ thống kết cấu hạ tầng và các điểm dân cư
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, vật chất
sẵn có trên lãnh thổ.
*. Đặc điểm
- Theo A.T.Khơrutsov (1979) cụm cơng nghiệp có các đặc điểm sau:
+ Mức độ tổng hợp và đặc điểm chuyên môn hoá của kết hợp sản xuất lãnh thổ.
+ Sự thống nhất về vị trí địa lí và các mối liên hệ về giao thơng vận tải giữa
các xí nghiệp.
+ Cùng chung kết cấu hạ tầng, kể cả dịch vụ sản xuất.
+ Có chung hệ thống quần cư.
+ Hiệu quả kinh tế.
Có thể nói việc nghiên cứu cụm cơng nghiệp như là một hệ thống sản xuất có ý
nghĩa thực tiễn trong q trình tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp. So với điểm cơng nghiệp
thì cụm cơng nghiệp là hình thức tổ chức lãnh thổ cơng nghiệp ở trình độ cao hơn thể
[24]


hiện khơng chỉ ở quy mơ mà cịn trong mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế kĩ thuật giữa
các xí nghiệp trong nó. Vì vậy, hiệu quả kinh tế cao hơn và tận dụng được thế mạnh
của toàn bộ các xí nghiệp.
*Liên hệ Việt Nam:
Ở nước ta cụm cơng nghiệp được phân bố ở các thị trấn, thị xã, dọc theo các
tuyến giao thơng…Trong q trình phát triển, cụm cơng nghiệp thường là hạt nhân
hình thành nên các khu cơng nghiệp.
Hiện cả nước có 700 cụm cơng nghiệp đã và đang được xây dựng cơ sở hạ tầng
với tổng diện tích đã được lấp đầy gần 7.900 ha, tạo việc làm cho trên 500.000 lao
động.
b. Dải công nghiệp.

*Khái niệm
Dải công nghiệp được hiểu là: Sự đan xen kéo dọc theo các trục đường giao
thông quan trọng của các điểm công nghiệp, cụm công nghiệp và các khu công
nghiệp.
*Đặc điểm.
- Xuất hiện ở các khu đô thị lớn.
- Phân bố kéo dài theo dạng tuyến.
* Liên hệ Việt Nam:
Ở nước ta dải cơng nghiệp chưa được hình thành rõ nét, thường mới chỉ là
những khu vực tập trung xung quanh ở các thành phố lớn, như Hà Nội, Tp. Hồ Chí
Minh. Ví dụ như là: Dải Hà Nội - Hải Phịng chạy dọc theo quốc lộ 5 với các điểm
cơng nghiệp độc lập với nhau, Hà Nội - Quảng Ninh, hay Tp. Hồ Chí Minh - Đồng
Nai, Tp. Hồ Chí Minh - Bình Dương, Bình Phước…

[25]


×