Khoa Luật Thương mại
Lớp Luật Thương mại 44A.1
BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
Bộ môn
: Quy định chung, tài sản, thừa kế
Giảng viên
: Th.S Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Lớp
: TM44A.1
Thành viên
1
2
3
4
Nguyễn Ngọc Bảo Anh
Nguyễn Trương Ngọc Ánh
Huỳnh Ngọc Uyên Chi
Nguyễn Thị Mỹ Duyên
195 380101 1005
195 380101 1017
195 380101 1026
195 380101 1042
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 3 năm 2020
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
VẤN ĐỀ 1: ĐỊI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
Tóm tắt Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 về vụ án “Tranh
chấp quyền sở hữu tài sản” của Toà án nhân dân tối cao
Ơng Tài (ngun đơn) có sở hữu 02 con trâu đang được tranh chấp nhưng bị
lạc mất trâu. Sau đó 02 con trâu này được ơng Thơ (bị đơn) mua từ một người
khác. Một hôm ông Thơ dắt 02 con trâu đi ngang qua nhà ơng Tài thì ông Tài
nhận 02 con trâu này là của ông. Ông Thơ dắt trâu về nhà mổ thịt nghé và bán trâu
mẹ cho ơng Thi, sau đó ơng Thi đổi trâu mẹ cho ơng Dịn. Hiện nay ơng Dịn đang
quản lý con trâu cái. Ơng Tài khởi kiện u cầu ơng Thơ trả lại giá trị 02 con trâu
cho ơng.
Tồ án cấp sơ thẩm buộc ơng Thơ hồn trả lại giá trị 02 con trâu cho ơng Tài.
Ơng Thơ khơng đồng ý nên đã kháng cáo. Toà án cấp phúc thẩm buộc ông Thơ trả
cho ông Tài giá trị con nghé và bác yêu cầu đòi lại con trâu cái của ông Tài. Sau
đó ông Tài có khiếu nại đối với bản án phúc thẩm.
Tại phiên Toà giám đốc thẩm, Toà án nhân dân tối cao quyết định hủy bản án
dân sự phúc thẩm và giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc
thẩm lại.
Câu 1.1. Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
Trâu là động sản. Căn cứ theo Điều 107 của Bộ luật dân sự 2015 (BLDS
2015):
1. Bất động sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, cơng trình xây dựng gắn liền với đất đai;
c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, cơng trình xây dựng;
d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
4
Trâu khơng phải là bất động sản vì khơng thuộc vào các trường hợp được xem
là bất động sản được quy định tại khoản 1 Điều 107. Vì vậy, trâu chỉ có thể là
động sản
Câu 1.2. Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu khơng? Vì sao?
Trâu không là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu vì như đã phân tích trong câu
1.1 thì trâu chính là động sản. Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 106 Bộ luật Dân
sự 2015 (BLDS 2015): “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản
không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định
khác.” thì trâu khơng phải đăng ký quyền sở hữu.
Câu 1.3. Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở
hữu của ông Tài?
Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các
nhân chứng là anh Phúc (BL – bút lục 19), anh Chu (BL 20, anh Bảo (BL 22) và
kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004,
biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17/8/2004, biên bản
diễn giải biên bản kết quả giám định trâu ngày 20/8/2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì
có đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu
và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Triệu
Tiến Tài. Ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản khơng có căn cứ pháp luật.
Câu 1.4: Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hồn
cảnh có tranh chấp trên?
Khoản 1 Điều 179 BLDS 2015 quy định: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ,
chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài
sản”.
Trong hồn cảnh tranh chấp này thì người chiếm hữu trâu là ơng Dịn vì ơng
Dịn đang nắm giữ, chi phối con trâu.
5
Câu 1.5. Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ơng Dịn có căn cứ pháp
luật khơng? Vì sao?
Việc chiếm hữu như trong hồn cảnh của ơng Dịn khơng có căn cứ pháp luật.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 165 BLDS 2015 quy định: “Việc chiếm hữu tài sản
không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu khơng có căn cứ
pháp luật.” Việc chiếm hữu của ơng Dịn khơng thuộc vào các trường hợp được
nêu tại khoản 1 Điều 165 BLDS 2015 nên ơng Dịn chiếm hữu tài sản khơng có
căn cứ pháp luật.
Câu 1.6. Thế nào là chiếm hữu khơng có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình?
Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp
được quy định tại khoản 1 Điều 165 BLDS 2015 như: chủ sỡ hữu được chiếm hữu
tài sản, người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản… Như vậy, chiếm hữu
khơng có căn cứ pháp luật là “việc chiếm hữu tài sản khơng phủ hợp với quy định
tài khoản 1 Điều này”1.
Cịn về chiếm hữu ngay tình theo BLDS 2015 là: “Chiếm hữu ngay tình là
việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với
tài sản đang chiếm hữu.”2.
Như vậy, từ hai cơ sở trên, ta có thể kết luận rằng chiếm hữu khơng có căn cứ
pháp luật nhưng ngay tình là việc chiếm hữu của một người khơng có căn cứ pháp
luật nhưng không biết và không thể biết việc chiếm hữu là khơng có căn cứ. Ví dụ
như mua nhầm tài sản của kẻ gian mà không biết, …
Câu 1.7 Người như hồn cảnh của ơng Dịn có là người chiếm hữu ngay tình
khơng? Vì sao?
Trường hợp như ơng Dịn là người chiếm hữu ngay tình. Vì con trâu là động
sản và căn cứ theo Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm
hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản
1 Khoản 2 Điều 165 BLDS 2015
2 Điều 180 BLDS 2015
6
đang chiếm hữu”. Việc ông mua lại con trâu do ông Thi bán, và cũng không hề
biết con trâu thuộc quyền sở hữu của ông Tài, nên suy ra ông có cơ sở để tin rằng
mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
Câu 1.8. Thế nào là hợp đồng có đền bù và khơng có đền bù theo quy định về
địi tài sản trong BLDS?
Hợp đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho
bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Lợi ích tương
ứng ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang hàng vì các bên dành cho nhau
khơng phải lúc nào cũng cùng một tính chất hay chủng loại. Ví dụ: Hợp đồng th
biểu diễn ca nhạc.
Hợp đồng khơng có đền bù là những hợp đồng trong đó một bên nhận được
một lợi ích nhưng khơng phải giao lại cho bên kia một lợi ích nào. Ví dụ: Hợp
đồng tặng cho tài sản.
Câu 1.9: Ơng Dịn có được con trâu thơng qua giao dịch có đền bù hay khơng
có đền bù? Vì sao?
Ơng Dịn có được con trâu thơng qua giao dịch có đền bù. Vì ơng Dịn có được
con trâu thơng qua việc ơng Thi đổi cho ơng Dịn lấy con trâu cái sổi. Có thể thấy
đây là giao dịch mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ
bên kia một lợi ích tương ứng. Vì vậy giao dịch của ơng Dịn là giao dịch có đền
bù.
Câu 1.10. Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngồi
ý muốn của ơng Tài khơng?
Trâu có tranh chấp bị chiếm hữu ngồi ý muốn của ơng Tài vì:
Thứ nhất, ông vẫn chưa từ bỏ quyền sở hữu con trâu. Điều này thể hiện qua
việc hàng tháng ông vẫn lên xem và việc ơng khởi kiện địi ơng Thơ phải trả lại
trâu cho mình.
Thứ hai, ơng khơng có ý định tặng, bán hay cho con trâu. Bằng chứng là ông
cảm thấy bất ngờ khi thấy trâu của mình được dắt đi bởi ông Thơ
7
Chiều ngày 18/3/2004 ông Hà Văn Thơ dắt 1 con trâu mẹ và 1 con
nghé khoảng 3 tháng tuổi đi qua nhà ông, ông nhận ra là trâu, nghé
của ông và có nói với ơng Thơ nhưng ơng Thơ nói là con trâu đó ơng
mua vào tháng 6/2002 vì thả rơng nên bị mất từ tháng 9/2003 nay mới
tìm thấy 3
Do đó, trâu có tranh chấp là bị ơng Thơ chiếm hữu ngồi ý muốn của ơng
Câu 1.11. Theo Tồ dân sự Tồ án nhân dân tối cao, ơng Tài được địi trâu từ
ơng Dịn khơng? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao, ơng Tài khơng được địi trâu từ ơng
Dịn. Qua đoạn sau:
Tồ án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của
ông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ơng Nguyễn
Văn Dịn quản lý nên ơng Tài phải khởi kiện địi ơng Dịn và quyết định
chỉ buộc ông Thơ phải trả lại trị giá con nghé là 900.000đ; bác u
cầu của ơng Tài địi ơng Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng
pháp luật
Câu 1.12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toà
án nhân dân tối cao
Nếu căn cứ theo đúng như quy định của pháp luật thì hệ quả pháp lý sẽ rất
rườm rà.
Hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao hủy bản án dân
sự phúc thẩm là chưa hợp lý. Vì ơng Dịn chiếm hữu ngay tình ơng có được con
trâu thơng qua giao dịch có đền bù và con trâu bị chiếm hữu ngồi ý chí của ơng
Tài nên ơng Tài có quyền địi lại con trâu từ ơng Dịn.
3 Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 về vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” của Toà
án nhân dân tối cao
8
Câu 1.13: Khi ơng Tài khơng được địi trâu từ ơng Dịn thì pháp luật hiện hành
có quy định nào bảo vệ ơng Tài khơng?
Khi ơng Tài khơng được địi trâu từ ơng Dịn thì pháp luật hiện hành có quy
định bảo vệ ông Tài. Cụ thể là Điều 170 BLDS 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ
thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm
quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.” Do đó ơng Tài có
quyền u cầu ơng Thơ bồi thường giá trị con trâu cho ông Tài.
Câu 1.14. Khi ông Tài không được địi trâu từ ơng Dịn thì Tồ án đã theo
hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết
định trên cho thấy câu trả lời
Khi ơng Tài khơng được địi trâu từ ơng Dịn thì Tồ án đã theo hướng ơng Tài
được quyền yêu cầu ông Thơ trả giá trị con trâu. Trong Quyết định trên, điều này
được thể hiện qua đoạn sau:
Trong q trình giải quyết vụ án, Tồ án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác
minh, thu thập đầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp
giữa ông Tài và ông Thơ và đã quyết định buộc ông Thơ là người
chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị
con trâu và con nghé cho ơng Tài là có căn cứ pháp luật.
Câu 1.15. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toà
án nhân dân tối cao.
Theo em, hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao là
hoàn toàn hợp lý. Tồ án quyết định buộc ơng Thơ hồn lại giá trị con trâu và con
nghé cho ông Tài là thỏa đáng. Ơng Dịn có được tài sản bằng giao dịch đền bù
nên nếu địi từ ơng Dịn thì quyền lợi của ơng sẽ bị ảnh hưởng. Trong trường hợp
này, Tồ án đã giải quyết địi tài sản từ ơng Thơ, người đã chiếm hữu con trâu
khơng có căn cứ pháp luật là hợp lý nhất. Như vậy, hướng giải quyết trên đều đảm
bảo quyền lợi của hai bên đương sự.
9
VẤN ĐỀ 2: ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
Tóm tắt Quyết định số 94/2013/DS-GĐT ngày 25/07/2013 về vụ án “Tranh
chấp quyền sở hữu tài sản” của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Nhân và ông Nguyễn Xuân Lai khởi kiện bị
đơn là ông La Văn Vĩnh.
Năm 1973, vợ chồng ông Ba đã mua căn nhà số 2 Nguyễn Thái Học của cụ
Cậy có giấy viết tay, nay cụ Cậy còn sống và đã xác nhận. Năm 1977, khu vực 6
đã dùng nhà này làm nơi hội họp và trường mẫu giáo. Sau đó, vợ chồng Ba chết,
con cái li tán. Năm 1991 con cụ làm đơn khiếu nại ông Vĩnh vì đã sống và làm
nhà mới trên đất của bố mình. Thực tế, trước đó ngơi nhà này đã được bà Nhân
(con ông Ba) bán hay là cho khu vực 6 mượn thì vẫn chưa được làm rõ. Tồ sơ
thẩm lần 1 đã chấp nhận đơn khởi kiện, con cụ Ba được hưởng thừa kế, nhận số
tiền đền bù đất. Toà phúc thẩm lần 1 hủy bản án sơ thẩm lần 1. Toà án sơ thẩm lần
2 xác định ông Vĩnh được trọn quyền sở hữu ngôi nhà. Toà án phúc thẩm lần 2
không chấp nhận đợn khởi kiện của các con ơng Ba về việc địi căn nhà. TAND tối
cáo đã kháng nghị cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao lại hồ sơ cho Toà án
tỉnh Bình Định xét sơ thẩm lại.
Câu 2.1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp
thuộc sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba và đang được ông Vĩnh chiếm giữ?
Năm 1995, bà Thu đã bán nhà đất này cho ông Vĩnh, hợp đồng mua
bán có cơng chứng. Năm 1996, ơng Vĩnh tiến hành sửa chữa nhà có
giấy phép. Năm 2002, vợ chồng ơng La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị
Như Ngọc được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở, diện tích nhà 17,1m2, diện tích đất là 19,5m2. Năm 2002,
các con cụ Ba là bà Nhân và ơng Lai tranh chấp nhà đất với ơng Vĩnh.
Ơng Vĩnh và Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong cho rằng, vợ cụ
Ba lấy tên con gái là Nhân đứng tên ký bán nhà đất đang tranh chấp
cho vợ chồng bà Thu, đã giao giấy cụ Ba mua nhà của cụ Cậy cho vợ
chồng bà Thu. Do ông Cung đã chết, bà Thu nay không rõ đang sống ở
đâu nên không lấy được lời khai. Tuy nhiên, các cơ quan chuyên môn
về quản lý nhà đất của Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn và ông
10
Vĩnh chỉ cung cấp được các giấy tờ do Khu vực 6 bán nhà đất cho vợ
chồng bà Thu và giấy tờ bà Thu bán cho ông Vĩnh, không cung cấp
được giấy tờ về việc vợ cụ Ba hay bà Nhân bán nhà đất cho Khu vực 6
và giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho con cụ Ba. Do đó, khơng có căn cứ xác
định vợ cụ Ba, hoặc bà Nhân đã bán nhà đất đang tranh chấp cho Khu
vực 6. Nay vợ chồng cụ Ba đã chết thì các con của cụ Ba được thừa kế
tài sản này. Nhà của cụ Ba, ơng Vĩnh đã phá đi khơng cịn, khi ông
Vĩnh phá nhà, các con cụ Ba không chứng minh được đã có khiếu nại,
nên chỉ cịn đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các con
cụ Ba.
Câu 2.2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy Toà án xác định ơng Vĩnh chiếm
hữu ngay tình quyền sử dụng đất tranh chấp?
“Khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp
pháp. Nay ông Vĩnh cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà và quyền sử dụng đất ở, nên xác định ông Vĩnh là người mua bán
tài sản tranh chấp ngay tình.”
Câu 2.3. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tồ án xác định ơng Vĩnh là người ngay
tình.
Theo em, việc Tồ án xác định ơng Vĩnh là người ngay tình là hợp lý vì:
Thứ nhất, ơng Vĩnh cung cấp được các giấy tờ do Khu vực 6 bán nhà đất cho
vợ chồng bà Thu và giấy tờ bà Thu bán cho ông Vĩnh và không cung cấp được
giấy tờ về việc vợ cụ Ba hay bà Nhân bán nhà đất cho Khu vực 6 và giấy tờ cụ
Cậy bán nhà cho cụ Ba. Qua đó, ta có thể thấy, ơng Vĩnh khơng hề biết đến việc
căn nhà từng thuộc sở hữu của gia đình nguyên đơn
Thứ hai, hợp đồng mua bán nhà giữa ông và bà Thu có cơng chứng, và ơng
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.
Thứ ba, xét về thực tế, người thứ ba ngay tình thường chỉ dựa vào giấy tờ do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp để xác minh quyền sở hữu tài sản của đối
tác trước khi tiến hành giao dịch, họ khơng có điều kiện kiểm tra liệu bản án,
11
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trao quyền sở hữu tài sản cho
người giao dịch với mình có phù hợp với các quy định pháp luật về nội dung
khơng….4
Từ phân tích nêu trên, theo em, việc ông Vĩnh được Toà án xác định là người
chiếm hữu ngay tình là có căn cứ và hợp lý.
Câu 2.4. Trên cơ sở các quy định hiện hành, ông Vĩnh có phải hồn trả quyền
sử dụng đất tranh chấp cho các con cụ Ba không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả
lời.
Trên cơ sở các quy định hiện hành, ông Vĩnh khơng phải hồn trả quyền sử
dụng đất tranh chấp cho các con cụ Ba. Dựa trên Điều 168 BLDS 2015 quy định
về Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người
chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu được địi lại động sản phải đăng ký quyền sở
hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp người thứ
ba ngay tình nhận được tài sản này thơng qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm
quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này khơng phải là chủ
sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”.
Như vậy, theo quy định trên thì ơng Vĩnh là người chiếm hữu ngay tình đối với
bất động sản thông qua giao dịch với người làm theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản, nên các con cụ Ba không có quyền địi
ơng Vĩnh trả quyền sử dụng đất và ông Vĩnh không phải hoàn trả quyền sử dụng
đất cho các con của cụ Ba.
Câu 2.5: Toà án tối cao đã có hướng giải quyết bảo vệ các con cụ Ba như thế
nào và hướng giải quyết này đã được quy định trong văn bản chưa? Vì sao?
Hướng giải quyết này chưa được quy định trong văn bản. Vì Tồ án chưa xác
đinh được chính xác ai là người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các con cụ
Ba và cần phải làm rõ. Ông Vĩnh là người chiếm hữu ngay tình, tức là việc mua
nhà số 2 Nguyễn Thái Học của ông là do không biết và không thể biết việc chiếm
hữu của ơng là khơng có căn cứ pháp luật nên Tồ án cần xác minh ơng Sơn hay
4 Đỗ Thành Cơng (2010), “Quyền địi lại tài sản từ người chiếm hữu khơng có căn cứ pháp luật”, Tạp chí
Tồ án nhân dân, (15), tr 24-30.
12
ơng Đạo là nguời đã bán căn nhà đó và số tiền có phải dùng để xây dựng trường
mẫu giáo khơng, nếu có hiện ai đang quản lí.
Câu 2.6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba
nêu trên.
Hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba là hoàn toàn phù hợp và thỏa đáng.
Vụ án vẫn còn rất nhiều điểm chưa được làm sáng tỏ như ông Đạo hay ông Sơn là
người bán nhà số 2 Nguyễn Thái Học, số tiền bán nhà dùng để làm gì cùng các
vấn đề chưa được xác minh khác. Vì ơng Vĩnh là người chiếm hữu ngay tình nên
cần xác định xem ai là người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn.
Tuy không có căn cứ xác định vợ cụ Ba hay bà Nhân đã bán nhà đất tranh chấp
cho Khu vực 6 và giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba nhưng cụ Cậy và các đương
sự đều thừa nhận cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba vào năm 1973 nên nhà đất tranh chấp
thuộc sở hữu của cụ Ba. Nay vợ chồng của cụ Ba đã chết nên các con của cụ Ba
được thừa kể tài sản này.
13
VẤN ĐỀ 3: LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 617/2011/DS-GĐT ngày 18/8/2011 về
vụ án “Tranh chấp ranh đất” của Hội đồng thẩm phán Tồ án nhân dân tối
cao
Ơng Trụ, bà Ngun có quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số 53 liền kề với
thửa đất số 76 của ơng Hồ. Khi ơng Hồ sửa chữa lại nhà của mình trên thửa đất
trên thì đã làm 4 ô văng cửa sổ, 1 máng bê tơng và chơn dưới đất một ống thốt
nước nắm ngồi phía tường nhà mình, lấn chiếm sang phần đất của ông Trụ bà
Nguyên. Do đó, hai ông bà đã yêu cầu ơng Hồ tháo dỡ nhưng ơng khơng thực
hiện. Sau đó, vợ chồng ơng bà khởi kiện ra Tồ u cầu ơng C phải tháo dỡ cơng
trình xây dựng lấn chiếm. Qua q trình xét xử, Tồ án đã quyết định buộc ông C
phải tháo dỡ 4 ô văng cửa sổ, 1 máng bê tơng và ống thốt nước lấn chiếm trên.
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 23/2006/DS-GĐT ngày 07-09-2006 về
vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao
Nguyên đơn: ông Diệp Vũ Trường, bà Châu Thị Kim Thoa
Bị đơn: Ơng Nguyễn Văn Tận
Ơng Trường và ơng Tận tranh chấp với nhau 185m2 đất giáp ranh mà ông Tần
đang sử dụng. Phần đất đó ơng Tần nhận chuyển nhượng từ ơng Kiệt mà khơng có
xác nhận của các chủ đất liên kề. Trong khi đó gia đình ơng Trường đã quản lý và
sư dụng trước việc chuyển nhượng giữa ông Kiệt và ông Tần và được ủy ban cấp
giấy chứng nhận. Khi đối chiếu các sơ đồ với nhau thì có căn cứ xác định ơng Tận
đã lấn 52,2m2 đất để xây nhà chính, 18,5m2 xây nhà phụ và 10,17m2 phần khơng
gian máng xối. Tồ án sơ thẩm, phúc thẩm chưa giải quyết phần máng xối và nhà
phụ. Toà án tối cao hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm; giao cho Toà án tỉnh C à Mau
xét xử sơ thẩm lại.
14
Câu 3.1. Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất
thuộc quyền sử dụng của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao
nhiêu?
Đoạn của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sử
dụng của ông Trường là:
…theo giấy biên nhận đề ngày 29-3-1994 giữa ông Tận với anh
Kiệt (giấy khơng có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền)
thì diện tích đất mà ông Tận mua từ anh Kiệt không nêu vị trí cũng như
tứ cận, mốc giới cụ thể, cũng khơng có xác nhận của các chủ đất liền
kề. Trong khi đó, gia đình ơng Trường đã quản lý, sử dụng đất tranh
chấp từ trước khi có việc sang nhượng giữa ơng Tận với anh Kiệt và
năm 1994 ông Trường đã được Uỷ ban nhân dân huyện Cái Nước cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất do bà Châu Kim Thoa - vợ ông Trường đứng tên); theo sơ đồ vị trí
đất được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa
đất này có mốc giới rõ ràng, đối chiếu sơ đồ này với sơ đồ tranh chấp
do Toà án nhân dân huyện Cái Nước phối hợp với các cơ quan chức
năng đo vẽ ngày 28-3-2000 và tại Công văn số 01/XN-TNMT ngày 103-2006 của Phịng tài ngun và mơi trường huyện Cái Nước gửi Toà
án nhân dân tỉnh Cà Mau vẫn khẳng định ranh giới đất đã cấp giấy
chứng nhận cho bà Thoa với đất ông Tận đang sử dụng là “ranh
thẳng” thì có căn cứ xác định ơng Tận đã lấn đất của ông Trường.
Phần lấn cụ thể như sau:
- 132,8 m2 đất trống
- 52,2 m2 đất đã được ông Tận xây dựng nhà
- Hai máng xối đúc bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trường
và bà Thoa có diện tích 10,71 m2 và một căn nhà phụ có diện tích 18,57 m 2 của
ơng Tận xây dựng trên diện tích đất trên
15
Câu 3.2. Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ơng Hịa đã lấn
sang đất (khơng gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ơng
Trụ, bà Ngun?
Đoạn thể hiện:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16-10-2007 và trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn là ơng Lương Ngọc Trụ trình bày:
Khi cha, mẹ của ông chết để lại cho ông 320m 2 đất tại 95 Hồng Hoa
Thám, khóm 10, phường 6, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Ông đã sử
dụng từ trước năm 1975 đến nau. Năm 1987, ông đi làm ăn ở nơi khác
nên vợ chồng ơng Ngơ Văn Hịa đã lấn 15,2m2 đất của ơng; cụ thể phía
sau nhà lấn chiều ngang 1m, dài 5m, phía trước nhà lấn chiều ngang
0.3m, chiều dài 34m nên u cầu gia đình ơng Hịa tháo dỡ các ơng
trình phụ và trả lại phần đất lấn chiếm cho ơng.
Câu 3.3: BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lịng đất và
khơng gian thuộc quyền sử dụng của người khác khơng?
BLDS có quy định điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc
quyền sử dụng của người khác. Cụ thể theo Khoản 2 Điều 175 BLDS năm 2015:
Người sử dụng đất được sử dụng khơng gian và lịng đất theo chiều
thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp
luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người
khác.
Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong
khn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã
được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ,
cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Câu 3.4: Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào?
Ở Pháp, chỉ cần một lấn chiếm nhỏ đất của người khác, Toà án tối cao Pháp
cũng buộc phải tháo dỡ cơng trình lấn chiếm, cho dù người lấn chiếm có ngay
tình. Giải pháp này giúp bảo vệ quyền sở hữu một cách tuyệt đối; mọi người lấn
16
chiếm (dù việc lấn chiếm lớn hay nhỏ, người lấn chiếm ngay tình hay khơng) đều
phải tháo dỡ phần lấn chiếm để trả lại tình trạng ban đầu cho chủ sở hữu. Tuy
nhiên đa phần tác giả Pháp cho rằng giải pháp như vậy là quá cứng nhắc và nên có
giải pháp mềm dẻo hơn để bảo vệ người lấn chiếm ngay tình. 5 Pháp đang tiến
hành sửa đổi phần Tài sản của BLDS và Hội luật gia Henri Capitant đã kiến nghị
giữ nguyên tắc mà Toà án tối cao Pháp đang làm nhưng đưa ra ngoại lệ (Điều 539
Tiền Dự thảo) căn cứ vào mức độ lấn chiếm (mốc xác định là hơn 30 cm), sự ngay
tình của ngay tình của người lấn chiếm.
Ở Thụy Sỹ, theo Khoản 3 Điều 674 BLDS Thụy Sỹ quy định: “Nếu sau khi
biết việc lấn chiếm mà chủ sở hữu bị lấn chiếm không phản đối trong một thời
gian hợp lý và khi người lấn chiếm ngay tình và hồn cảnh cho phép điều này,
chủ thể của những cơng trình xây dựng có thể yêu cầu phần đất lấn chiếm được
giao cho mình với sự đền bù một khoản tiền hợp lý”. Đây là quy định được các
chuyên gia nước ngoài đánh giá cao.6
Câu 3.5. Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Toà án dân sự Toà án nhân
dân tối cao buộc gia đình ơng Hồ tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang khơng
gian, mặt đất và lịng đất của gia đình ơng Trụ, bà Ngun?
Đoạn của Quyết định số 617 cho thấy Toà án dân sự Toà án nhân dân tối cao
buộc gia đình ơng Hồ tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang khơng gian, mặt đất và
lịng đất của gia đình ơng Trụ, bà Ngun là
Q trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm và Tồ án cấp phúc
thẩm xác định giá đình ơng Hồ làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê
tông chờm qua phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà
Nguyên nên quyết định buộc gia đình ông Hồ phải tháo dỡ là có căn
cứ
Tuy nhiên, dưới lóng đất sát tường nhà ơng Hồ cịn ống nước do gia
đình ơng Hồ chơn, nhưng Tồ án cấp sơ thẩm và Tồ án cấp phúc
thẩm khơng buộc gia đình ơng Hồ phải tháo dỡ là khơng đúng….
5 Xem Ph. Malaurie và L. Aynes, Les biens et la publicité foncière, Cujas 1998 (par Ph. Thery), tr.128.
6 Xem Ph. Malaurie và L. Aynes, Les biens et la publicité foncière, Cujas 1998 (par Ph. Thery), tr.128.
17
Câu 3.6. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà dân sự Toà án
nhân dân tối cao?
Hướng giải quyết của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao là hợp lý. Việc Toà
án quyết định buộc gia đình ơng Hịa phải tháo dỡ do ơng Hịa lấn chiếm phần đất
thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Trụ, bà Nguyên là hoàn toàn đúng. Mặt
khác, dưới lịng đất sát tường nhà ơng Hịa cịn ống nước do gia đình ơng Hịa
chơn, mà Tồ án cấp sơ thẩm và phúc thẩm khơng buộc ơng Hịa tháo dỡ là khơng
đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Trụ nên việc yêu cầu Toà dân sự
Toà án nhân dân tối cao xét xử lại là hoàn toàn hợp lý pháp luật.
Câu 3.7: Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tồ án khơng buộc ơng Hậu
tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2 m2)?
Đoạn của Quyết định số 23 cho thấy Toà án không buộc ông Hậu tháo dỡ nhà
được xây dựng trên đát lấn chiếm(52,2m2) là:
- Áp dụng khoản 3, Điều 38 Luật đất đai, xử:
+ Buộc ông Nguyễn Văn Tận trả cho ông Diệp Vũ Trường và bà Châu
Kim Thoa giá trị quyền sử dụng đất 52,2 m 2 là 7,83 chỉ vàng 24K (bảy
chỉ tám phân ba ly).
+ Ông Nguyễn Văn Tận được sử dụng 52,2m 2 đất của căn nhà ơng đã
xây cất. Ơng Tận, ơng Trường và bà Thoa có trách nhiệm liên hệ với
Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền để chuyển quyền sử dụng phần
đất 52,2m2 này.
Và đoạn:
Tồ án cấp phúc thẩm buộc ơng Tận trả 132,8m2 đất đã lấn chiếm
nhưng là đất trống cho ơng Trường và bà Thoa, cịn phần đất ơng Tận
cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựng nhà (52,2m 2) thì giao ơng Tận sử
dụng nhưng phải thanh tốn giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trường
và bà Thoa là hợp tình, hợp lí.
18
Câu 3.8: Ơng Trường, bà Thoa có biết và phản đối ơng Tận xây dựng nhà trên
khơng?
Ơng Trường, bà Thoa có biết và khơng phản đối ơng Tận xây dựng nhà trên.
Theo lời khai của ông Tận, ông nhượng chuyển nhượng một phần diện tích đất
của anh Kiệt và ơng đã làm nhà cơ bản trên diện tích đất đang tranh chấp. Lúc
đang xây thì gia đình ơng Trường khơng có ý kiến gì.
Câu 3.9. Nếu ơng Trường, bà Thoa biết và phản đối ơng Tận xây dựng nhà trên
thì ông Tận có phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ơng Trường, bà Thoa khơng?
Vì sao?
Nếu ơng Trường, bà Thoa biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên thì ơng
Tận phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ơng Trường, bà Thoa vì:
Căn cứ theo Điều 259 BLDS 2005: “Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm
hữu của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có
hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếu khơng có sự chấm
dứt tự nguyện thì có quyền u cầu Tồ án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác
buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.”
Qua đó, điều luật này cho phép chủ sở hữu yêu cầu chấm dứt hành vi lấn
chiếm nêu trên và trong thực tế, Toà án thường yêu cầu người lấn chiếm thực hiện
việc tháo dỡ này.7
Câu 3.10. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án liên quan
đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên.
Cách giải quyết trên của Tồ án là hợp lý vì bảo đảm được quyền lợi nhất định
cho cả ông Hậu lẫn vợ chồng ông Trường, bà Thoa. Tuy nhiên vẫn cịn chưa triệt
để vì bỏ sót chưa xử lý hai máng xối đúc bê tơng có diện tích 10,71m 2 và một căn
nhà phụ có diện tích 18,57m2 cũng nằm trên mảnh đất tranh chấp.
7 Đỗ Văn Đại và Lương Văn Lắm (2010), “Xử lý việc lấn chiếm tài sản người khác trong pháp luật Việt
Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 4 (59), tr 56-64.
19
Câu 3.11: Theo Tồ án, phần đất ơng Tận xây dựng khơng phải hồn trả cho
ơng Trường, bà Thoa được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23
cho câu trả lời?
Theo Tồ án thì phần đất mà ông Tận đã xây nhà sẽ thuộc về ông Tận và ơng
có nghĩa vụ trả cho ơng Trường, bà Thoa giá trị quyền sử dụng đất mà ông Tận đã
lấn chiếm. Đoạn trong bản án cho câu trả lời là:
Tại Bản án sơ thẩm số 09/STDS ngày 21-7-2003, Toà án nhân dân tỉnh
Cà Mau đã quyết định:
Buộc ông Tận trả ông Trường, bà Thoa giá trị quyền sử dụng phần đất
lấn chiếm đã cất nhà là 52,2m 2 bằng giá trị là 7,83 chỉ vàng 24K. Giữ
nguyên phần đất có căn nhà cho ơng Tận sử dụng.
Câu 3.12: Đã có quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết
như Quyết định số 23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không?
Nêu rõ Quyết định mà anh/chị biết. Đã có quyết định của Hội đồng thẩm phán
theo hướng giải quyết như Quyết định số 23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây
dựng nhà. Đó là Quyết định số 02/2006/DS-GĐT ngày 21/2/2006 của Hội đồng
thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Câu 3.13. Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm
phán trong Quyết định số 23 được bình luận ở đây?
Theo em, hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán trong Quyết định sô
23 được bình luận ở đây có một số điểm hợp lý nhưng vẫn tồn tại bất cập, cụ thể
như sau:
Thứ nhất, việc Tồ án u cầu ơng Tận trả lại phấn đất trống ông đã lấn chiếm
là vô cùng đúng đắn vì ơng Tận đã lấn chiếm, xâm phạm phần đất nêu trên nên
ơng phải có nghĩa vụ trả lại chủ sở hữu.
Thứ hai, việc phần đất ông Tận cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựng nhà (52,2
m2) thì giao ơng Tận sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho
ông Trường và bà Thoa là hợp tình, hợp lý. Bởi lẽ, nêu Tồ án buộc ơng Tận phải
20
phá dỡ ngơi nhà thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới căn nhà chính của ơng Trường, gây
thiệt hại cho gia đình ơng.
Thứ ba, phần máng xối đúc bê tơng chiếm khoảng không trên phần đất của ông
Trường và bà Thoa có diện tích 10,71 m 2 khơng ảnh hưởng q nhiều đến gia đình
của ơng Trường, và chính ngun đơn cũng khơng có u cầu gì thêm về việc này.
Do vậy, việc phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất thay cho việc tháo dỡ là có
căn cứ
Tuy nhiên, Tồ án buộc ơng Tận trả lại căn nhà phụ có diện tích 18,57 m 2 của
ơng Tận xây dựng trên diện tích đất trên là khơng hợp lý. Vì ơng Trường, bà Thoa
có biết và khơng phản đối ông Tận xây dựng nhà trên. Trong trường hợp này Tồ
nên u cầu ơng thanh tốn giá trị quyền sử dụng đất thì sẽ hợp lý hơn và đảm bảo
được quyền lợi cho cả hai bên.
Câu 3.14. Đối với phần chiếm khơng gian 10,71m 2 và căn nhà phụ có diện tích
18,75m2 trên đất lấn chiếm, Tồ án sơ thẩm và Tồ án phúc thẩm có buộc tháo
dỡ khơng?
Ở cả 2 Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm và Tồ án cấp phúc thẩm đều khơng
đề cập tới phần chiếm khơng gian 10,71m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,75m2.
Tại Quyết định của Tồ án cấp sơ thẩm:
Bác yêu cầu của ông Diệp Vũ Trường và bà Châu Kim Thoa về việc
kiện ông Tận lấn chiếm đất đai; giữ nguyên hiện trạng việc sử dụng
đất giữa ông Tận và gia đình ơng Trường – lấy nửa con kinh trở về
phía đất vợ chồng ơng Trường và gia đình ông Trường tiếp tục sử
dụng. Lấy nửa con kinh về phía đất ơng Tận thì ơng Tận tiếp tục sử
dụng. Buộc ông Tận phải bồi thường cho ông Trường 1 gốc me, kiểng
có uốn 5 tay đều thân cây, đường kính 5 phân, chiều cao 1 mét 5
(1,5m), và 65 cây bông bụi (loại bông bụi Đà Lạt).
Quyết định của Tồ án cấp sơ thẩm khơng hề nhắc đến phần chiếm khơng gian
10,71m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,75m2. và Tồ khơng buộc tháo dỡ.
Tại Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm:
21
Buộc ông Nguyễn Văn Tận phải trả cho ông Diệp Vũ Trường 185m 2
đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện cấp cho
gia đình ơng Trường. Buộc ông Tận phải bồi thường cho ông Trường
số tiền 610.000.000 đồng mà ông Tận đã chặt phá cây kiểng. Kể từ
ngày ơng Trường, bà Thoa có đơn u cầu thi hành án mà ông Tận
chưa thi hành số tiền nói trên thì cịn phải chịu thêm tiền lãi suất nợ
quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian
chậm thi hành án.
Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm không hề nhắc đến phần chiếm khơng
gian 10,71m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,75m2. và Tồ khơng buộc tháo dỡ.
Câu 3.15: Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71 m 2 và
căn nhà phụ trên như thế nào?
Đối với việc căn nhà ơng Tận có hai máng xối đúc bê tông chiếm khoảng
không trên phần đất của ông Trường và bà Thoa có diện tích 10,71m 2 thì xem xét
buộc ông Tận phải tháo dỡ hoặc phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông
Trường và bà Thoa.
Đối với căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 của ơng Tận xây dựng trên diện tích
đất mà Tồ án các cấp buộc ông Tận trả lại cho ông Trường, bà Thoa thì để cho 2
bên tự thỏa thuận với nhau.
Nếu ông Tận muốn tiếp tục sử dụng căn nhà trên diện tích đất phải trả cho ơng
Trường, bà Thoa này thì ơng Tận phải thanh tốn giá trị quyền sử dụng đất đó cho
ơng Trường, bà Thoa.
Nếu ơng Trường, bà Thoa muốn lấy lại đất để khai thác, sử dụng thì ơng
Trường, bà Thoa phải thanh tốn giá trị căn nhà của ơng Tận đã xây trên mảnh đất
đó cho ông Hậu.
Câu 3.16: Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và
không gian ở Việt Nam hiện nay.
Các quy định về xử lý lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian ở Việt Nam
hiện nay đã khá đầy đủ nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Vì về ngun tắc, cần phải
tháo dỡ cơng trình để trả lại cho chủ sở hữu bị lấn chiếm toàn quyền sở hữu của
22
mình. Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, việc tháo dỡ đối với cơng trình vi phạm sẽ
góp phần hạn chế lãng phí đồng thời bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp
giữa các bên. Trong một số trường hợp ta không nên buộc tháo dỡ lấn chiếm mà
buộc người lấn chiếm phải đền bù. Nếu chúng ta quy định theo hướng bảo vệ
tuyệt đối quyền của người có tài sản bị lấn chiếm như hiện nay thì ta chưa bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bên có hành vi lấn chiếm. Như trong trường hợp
mà việc cho phép tồn tại cơng trình khơng ảnh hưởng nghiêm trọng lợi ích của
người có bất động sản liền kề bị xâm phạm thì ta nên có sự cân bằng:
Tất cả những người lấn chiếm khơng ngay tình cần phải tháo dỡ phần
đất lấn chiếm theo yêu cầu của chủ sở hữu đích thực để sự nghiêm
minh của pháp luật được đảm bảo. Do vậy, khi người liền kề lấn chiếm
quyền sử dụng đất (và không gian) của người khác mà chủ sở hữu đích
thực đã phản đối thì cần phải tháo dỡ những cơng trình đã được xây
dựng trên phần đất lấn chiếm; việc tháo dỡ là bắt buộc cho dù thiệt hại
từ việc tháo dỡ là bao nhiêu đối với người lấn chiếm. Tuy nhiên, nếu
người lấn chiếm ngay tình và việc lấn chiếm là khơng đáng kể thì
chúng ta nên theo hướng là cho phép đền bù để không phải tháo dỡ
phần đã lấn chiếm. Dưới góc độ đạo đức, quyết định này cũng sẽ giúp
cho các bên tranh chấp giữ được quan hệ láng giềng.8
Đồng thời, vì chính sách quản lý của nhà nước chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến
các tình trạng như chiếm đất liền kề, tự ý chiếm nền móng nhà và đất của người
khác... Vì thế, BLDS 2015 đã bổ sung thêm nhiều quy định mới để khắc phục các
vấn đề trên và giảm thiếu tối đa các hành vi vi phạm lấn chiếm quyền sử dụng đất
và không gian ở Việt Nam hiện nay.
Câu 3.17. Hướng giải quyết trên của Tồ án trong Quyết định số 23 có cịn phù
hợp với BLDS 2015 khơng? Vì sao?
Theo em, hướng giải quyết trên của Tồ án trong Quyết định số 23 cịn phù
hợp với BLDS 2015 vì căn cứ theo Điều 175, 164, 166, 168 thì ơng Trường, bà
Thoa hồn tồn có các quyền bảo vệ quyền sở hữu đối với phần đất bị lấn chiếm
và việc ông Hậu xây dựng các cơng trình trên bất động sản liền kề là hồn toàn
8 Đỗ Văn Đại và Lương Văn Lắm (2010), “Xử lý việc lấn chiếm tài sản người khác trong pháp luật Việt
Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (59), tr 56-64.
23
khơng thuộc các quyền có thể với bất động sản liền kề được quy định tại mục 1
Chương 14 BLDS 2015 nên ơng Tận đã lấn chiếm đất khơng có căn cứ pháp luật.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Dân sự 2015
2. Bộ luật Dân sự 2005
3. Đỗ Thành Công (2010), “Quyền địi lại tài sản từ người chiếm hữu khơng có căn
cứ pháp luật”, Tạp chí Tồ án nhân dân, (15).
4. Ph. Malaurie và L. Aynes, Les biens et la publicité foncière, Cujas 1998 (par Ph.
Thery).
5. Đỗ Văn Đại và Lương Văn Lắm (2010), “Xử lý việc lấn chiếm tài sản người khác
trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 4 (59).