Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC ĐÀ NẴNG HIÊN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (529.99 KB, 26 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN THỊ THÚY NGA

GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG
CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC ĐÀ NẴNG
HIÊN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Đà Nẵng – Năm 2019


Cơng trình được hồn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HỮU ÁI
Phản biện 1:TS. PHẠM HUY THÀNH
Phản biện 2: PGS.TS ĐOÀN THẾ HÙNG

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Triết học họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học
Đà Nẵng vào ngày 24 tháng 8 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
 Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN


1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới quan khoa học có vai trị quan trọng trong nhận thức và
cải tạo thực tiễn. Do đó, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng - thế giới quan khoa học cho thanh niên, học sinh
THPT là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong sự
nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Thực hiện tốt việc giáo
dục thế giới quan khoa học sẽ tạo cho các em có khả năng lựa chọn
nghề nghiệp đúng đắn, rèn luyện ý chí và bản lĩnh chính trị, khoa học
và tìm ra phương pháp, cách thức để phục vụ xã hội tốt hơn. Từ đó,
các em sẽ có ý chí, hồi bão cống hiến nhiều hơn. Đây chính là động
lực để các em vươn tới những hoạt động cao đẹp, góp phần xây dựng
quan hệ xã hội văn minh, xây dựng nhân cách con người mới Việt
Nam khi bước vào thế kỷ XXI.
Có thể nói, nhận thức về thế giới và chính bản thân mình là một
nhu cầu tất yếu của mỗi người. Đặc biệt, ở lứa tuổi thanh niên - lứa
tuổi sắp bước vào đời thì nhu cầu này càng lớn. Một mặt, vì sự hình
thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của các
em, mặt khác vì cuộc sống mới luôn đặt ra cho các em nhiều điều mới
lạ, những niềm phấn khởi hy vọng, xen lẫn những băn khoăn, suy nghĩ
thơi thúc các em muốn tìm hiểu, khám phá về những điều mới lạ đó.
Nước ta sau hơn 30 năm đổi mới với sự phát triển của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu thế tồn cầu hố,
mở cửa, giao lưu hội nhập thế giới đã và đang tác động lớn tới đời
sống của học sinh THPT. Bối cảnh đó, một mặt tạo ra nhiều cơ hội
cho học sinh học tập và phát triển, mặt khác nó cũng đem lại những
nguy cơ thách thức lớn cho các em và xã hội. Trong thời gian qua, do
ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường đang hình thành lối sống



2
thực dụng, buông thả, vị kỷ, chạy theo đồng tiền ở một bộ phận học
sinh cùng với các tệ nạn xã hội đang có xu hướng du nhập vào nhà
trường và ảnh hưởng xấu tới đạo đức của học sinh THPT. Thực tế
nhiều năm gần đây cho thấy, vẫn còn một số bộ phận không nhỏ
thanh niên - học sinh THPT chưa hình thành được cho mình một thế
giới quan đúng đắn trong hoạt động học tập cũng như trong cuộc
sống. Từ đó khơng xác định được mục đích, ý nghĩa của cuộc sống,
dễ có những thái độ sống bi quan, thụ động và dễ bị sa ngã trước
những tiêu cực của xã hội.
Trong những năm gần đây, ở Đà Nẵng dưới sự tác động của
những điều kiện kinh tế - xã hội mới, của cơ chế thị trường và việc
mở rộng giao lưu quốc tế, thực tế đã có một bộ phận không nhỏ trong
học sinh THPT đã suy thối về đạo đức, lối sống, mơ hồ về chính trị,
phai mờ về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nảy sinh tư tưởng cầu may, dễ
dẫn đến thế giới quan duy tâm, tôn giáo và đây là bộ phận rất dễ bị
các thế lực phản động lôi kéo. Trước thực trạng trên việc xây dựng,
giáo dục thế giới quan khoa học cho học sinh THPT ở Đà Nẵng hiện
nay là u cầu cấp thiết. Vì lẽ đó tơi đã chọn đề tài: “Giáo dục thế
giới quan duy vật biện chứng cho học sinh phổ thông trung học
Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài luận thạc sĩ Triết học của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Từ lý luận về thế giới quan duy vật biện chứng, trên cơ sở
phân tích thực trạng giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng ở địa
bàn thành phố Đà Nẵng luận văn xây dựng các giải pháp nhằm hoàn
thiện giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh THPT
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay.



3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Luận văn tập trung làm sáng rõ những nội dung chủ yếu sau
đây:
- Khái quát những vấn đề lý luận chung về thế giới quan và
thế giới quan duy vật biện chứng.
- Phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra trong quá trình
giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả quá trình này cho học sinh THPT trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề giáo dục thế giới quan duy
vật biện chứng cho học sinh trung học phổ thông Đà Nẵng hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu vấn
đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh trung học
phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên nguyên tắc phương pháp
luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử.
4.2. Phương pháp nghiên cứu


4
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu
khác nhau, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ yếu sử

dụng phương pháp như:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch.
- Phương pháp lôgic và lịch sử.
- Phương pháp so sánh, khái quát khóa, trừu tượng hóa.
5. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1. Lý luận chung về thế giới quan duy vật biện
chứng và giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh
trung học phổ thông.
Chương 2. Thực trạng trong việc giáo dục thế giới quan duy
vật biện chứng cho học sinh trung học phổ thông Đà Nẵng hiện nay.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh trung học
phổ thông Đà Nẵng hiện nay.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu đề tài.
Vấn đề thế giới quan duy vật biện chứng ở nước ta từ trước
tới nay có nhiều tác giả nghiên cứu, thể hiện ở trong các cơng trình
nghiên cứu, bài viết đăng trên các báo, tạp chí, sách và là đề tài của
các luận văn, luận án khoa học. Các cơng trình nghiên cứu đó có thể
tổng hợp thành các nhóm vấn đề sau:


5
* Nhóm nghiên cứu về thế giới quan và thế giới quan duy vật
biện chứng.
Vấn đề thế giới quan và thế giới quan duy vật biện chứng từ
trước tới nay đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu. Mỗi tác giả nghiên
cứu ở những góc độ với nhiều khía cạnh khác nhau và cụ thế như

sau:
- Lê Thị Nam An: "Giảng dạy triết học Mác – Lênin với
việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh Nghệ An
hiện nay ", Luận văn Thạc sĩ Triết học (2008). Trong bài viết này, tác
giả tập trung nghiên cứu khái niệm, nguồn gốc, kết cấu, hình thức
của thế giới quan và quan trọng hơn, tác giả đã chỉ ra được vai trò
quan trọng của việc giảng dạy Triết học Mác – Lênin trong việc hình
thành thế giới quan cho học sinh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm Thị Thùy Dương: “Đổi mới phương pháp dạy học
Triết học Mác – Lênin theo hướng tích cực bồi dưỡng thế giới quan
duy vật biện chứng cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế kế hoạch
Đà Nẵng hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục (2008).
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích vai trị của mơn Triết học
trong việc hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên
và đưa ra một số giải pháp đổi mới dạy học môn Triết học nhằm đem
lại hiệu quả cao trong việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế kế hoạch Đà Nẵng.
- Trần Thước: "Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa
ở tầng lớp trí thức Việt Nam", Luận án PTS triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1993. Luận án đã tìm hiểu quy luật


6
hình thành thế giới quan XHCN ở tầng lớp trí thức xã hội, từ đó làm
cơ sở cho việc nghiên cứu sự hình thành XHCN ở tầng lớp trí thức
Việt Nam. Xem xét quá trình chuyển biến về thế giới quan của tri
thức Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc.Phân tích về thế
giới quan của tri thức Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, bước đầu nêu lên những yêu cầu phát triển về thế
giới quan XHCN để trở thành người trí thức Việt Nam XHCN.

- Nguyễn Thị Ngọc Khuyển: “Tìm hiểu việc hình thành thế
giới quan, phương pháp luận khoa học cho học sinh THPT thành
phố Long Xuyên trong dạy học môn giáo dục Công dân 10 từ năm
2006 đến nay”, Luận văn tốt nghiệp đại học, 2010. Luận văn tập
trung nghiên cứu về thế giới quan và phương pháp luận trong môn
Giáo dục Công dân lớp 10, thực trạng và đưa ra những giải pháp
hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho học sinh
THPT Long Xuyên.
* Nhóm nghiên cứu về giáo dục thế giới quan duy vật biện
chứng
- Chu Thị Thanh Vui: “Vai trò của thế giới quan duy vật
biện chứng đối với việc rèn luyện đạo đức của học sinh ngành y hiện
nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2011. Luận văn tập trung
chỉ rõ vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với việc rèn
luyện đạo đức cho học sinh ngành y. Đồng thời, luận văn đưa ra một
số giải pháp nhằm giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng để rèn
luyện đạo đức cho học sinh ngành y hiện nay.


7
- Bùi Kiến Thưởng: “Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng cho học viên trường chính trị Hà Nam hiện nay”,
Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 2004. Luận văn đã phân tích vai trị của thế giới qua, thực
trạng việc bồi dưỡng thế giới quan của cán bộ tỉnh Hà Nam, luận văn
đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm bồi dưỡng thế giới quan cho đội
ngũ học viên của trường chính trị tỉnh Hà Nam.
- Trần Viết Quân: "Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên", Luận
văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,

2002. Luận văn đã tập phân tích vai trị của thế giới quan và thực
trạng bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ chủ
chốt cấp huyện ở Tây Nguyên. Đồng thời, luận văn đưa ra một số
giải pháp cụ thể nhằm bồi dưỡng giới quan duy vật biện chứng, cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp Huyện ở Tây Nguyên.
- Trần Thanh Hà: "Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học
cho cán bộ, đảng viên người dân tộc Khơmer ở đồng bằng sông Cửu
Long trong giai đoạn cách mạng hiện nay”. Luận ánThạc sĩ Triết
học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1993. Luận văn đã
tập trung nghiên cứu vấn đề thế giới quan duy vật biện chứng, tầm
quan trọng của việc giáo dục thế giới quan khoa học cho cán bộ,
Đảng viên người dân tộc Khơ me ở đồng bằng sông Cửu Long trong
giai đoạn hiện nay. Đồng thời, luận văn cũng đưa ra một số giải pháp
cụ thể nhằm nâng cao vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho


8
cán bộ, đảng viên người dân tộc Khơ me ở đồng bằng Sông Cửu
Long.
- Nguyễn Thị Luyến: “Vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật
biện chứng cho học sinh các trường Đại học, cao đẳng ở Hà Nội
hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội 2005. Luận văn tập trung nghiên cứu tầm quan
trọng của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng, thực trạng
và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế giới
quan duy vật biện chứng cho học sinh các trường Đại học, cao đẳng
ở Hà Nội hiện nay.
Với nhận thức và góc độ xem xét khác nhau, các nhà nghiên
cứu đã trình bày một số vấn đề cơ bản như sau:
+ Khái niệm thế giới quan nói chung và thế giới quan duy

vật biện chứng nói riêng, vấn đề cấu trúc, vai trị của chúng.
+ Tầm quan trọng và tính tất yếu của việc giáo dục bồi
dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho các đối tượng như cán
bộ, đảng viên nói chung trong cơng cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Nêu ra những nhân tố cơ bản trong việc hình thành, tác
động phát triển thế giới quan duy vật biện chứng.
+ Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể và kiến nghị
cho mỗi đối tượng nghiên cứu trên cơ sở đòi hỏi của thực tiễn trong
mỗi giai đoạn nhất định.
Tuy nhiên về việc “Giáo dục thế giới quan duy vật biện
chứng cho học sinh phổ thơng trung học Đà Nẵng hiện nay” chưa
có tác giả nào nghiên cứu.


9

CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN
CHỨNG VÀ GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN
CHỨNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. KHÁI NIỆM THẾ GIỚI QUAN VÀ THẾ GIỚI QUAN DUY
VẬT BIỆN CHỨNG
1.1.1. Khái niệm thế giới quan
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể
(có thể là của một người, một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn
xã hội) về thế giới, về vị trí, vai trị của con người trong thế giới.
Trên cơ sở đó, thế giới quan định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, thế giới quan
ngày càng phát triển và được thể hiện ở ba hình thức cơ bản đó là: Thế

giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học.
Trong ba hình thức cơ bản của thế giới quan thì thế giới quan
triết học có trình độ phát triển cao hơn, sâu sắc hơn. Trong những
bước chuyển biến của đời sống xã hội của thực tiễn đặt ra đã kéo
theo sự tiến hóa của thế giới triết học, mà đỉnh cao nhất nó đạt được
là thế giới duy vật biện chứng.
Thế giới quan triết học được chia thành thế giới quan duy vật
và thế giới quan duy tâm.
Tóm lại, thế giới quan khoa học là một loại hình thế giới quan
được thể hiện bằng hệ thống những khái niệm, phạm trù phản ánh
khái quát, đúng đắn những quan hệ của các sự vật, hiện tượng, quá
trình trong hiện thực khách quan, cùng những quan hệ giữa con
người với thế giới và vị trí con người trong thế giới. Thế giới quan
khoa học phải dựa trên cơ sở lý luận triết học khoa học - hệ thống


10
triết học phản ánh đúng hiện thực khách quan. Như vậy, theo sự phân
loại thế giới quan trên đây, thế giới quan khoa học thuộc hình thức
thế giới quan triết học.
1.1.2. Thế giới quan duy vật biện chứng
Thế giới quan duy vật biện chứng là hình thức phát triển cao
của thế giới quan triết học mà hạt nhân của nó là chủ nghĩa duy vật
biện chứng. Thế giới quan duy vật biện chứng được C.Mác và
Ph.Ăngghen xây dựng vào giữa thế kỷ XIX, V.I. Lênin và những
người kế tục ông phát triển. Sự ra đời của thế giới quan duy vật biện
chứng là kết quả kế thừa tinh hoa các quan điểm về thế giới trước đó,
trực tiếp là những quan điểm duy vật của Phoiơbắc và phép biện
chứng của Heghen; là kết quả sử dụng tối ưu thành tựu của khoa học,
trước hết là thành tựu của Vật lý và Sinh học. Sự ra đời của thế giới

quan duy vật biện chứng còn là kết quả tổng kết các sự kiện lịch sử
diễn ra ở các nước Tây Âu, khi phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đã hình thành và đã bộc lộ những mặt mạnh cũng như hạn chế
của nó. Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng không
những đem lại cho chúng ta một bức tranh trung thực về thế giới mà
còn đem lại cho con người một định hướng, một phương pháp tư duy
khoa học để con người tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới. Như
Ph.Ăngghen nhận định: “Thành tựu của khoa học tự nhiên giữa thế
kỷ XIX cho con người khơng những khắc phục hồn tồn tính siêu
hình máy móc của thế kỷ XVIII, mà ngay bản thân khoa học tự
nhiên, nhờ chứng minh được những mối liên hệ tồn tại trong bản
thân giới tự nhiên đã tạo ra bước chuyển từ khoa học kinh nghiệm
chủ nghĩa thành khoa học lý luận và nhờ những kết quả đã đạt được
mà đã trở thành một hệ thống nhận thức duy vật về thế giới trong sự
vận động, biến đổi không ngừng của nó” [42, tr.678].
Cấu trúc của thế giới quan duy vật biện chứng gồm ba yếu tố
cơ bản đó là tri thức khoa học, niềm tin khoa học và lý tưởng sống.


11
Ba nhân tố cơ bản trong cấu trúc của thế giới quan duy vật
biện chứng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, đan xen và hòa
quyện vào nhau để tạo nên một thể thống nhất. Yếu tố tri thức khoa
học đóng vai trị là cơ sở, nền tảng để phát triển niềm tin, khoa học,
lý tưởng cách mạng. Đồng thời niềm tin khoa học và lý tưởng cách
mạng cũng tác động trở lại mạnh mẽ tới quá trình lĩnh hội tri thức
khoa học một cách sâu sắc, toàn diện hơn.
1.2. GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1.2.1. Khái niệm giáo dục và giáo dục thế giới quan duy vật
biện chứng

Khái niệm giáo dục
Giáo dục theo nghĩa chung hình thức học tập theo đó kiến
thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên
cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác,
nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh
hưởng đáng kể lên nhân cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay
hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường
được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu
học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học.
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh
THPT hiện nay
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh THPT
hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Để quá trình giáo dục
có hiệu quả cao cần phải kết hợp các kiến thức liên mơn trong chương
trình giáo dục phổ thông, đặc biệt cần chú trọng môn Giáo dục Công
dân. Môn Giáo dục Công dân là môn khoa học xã hội có vị trí rất quan
trọng, cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… bao gồm kiến
thức của nhiều mơn học khác. Mơn học này góp phần hình thành nhân


12
cách, phẩm chất, năng lực cho học sinh THPT; hình thành và phát triển
phương pháp suy nghĩ và hành động, giúp học sinh trở thành con người
có tri thức, phẩm chất năng lực; phát triển hoàn thiện các mặt: Đức, Trí,
Thể, Mĩ. Mơn học trực tiếp hình thành phẩm chất chính trị, đạo đức tư
tưởng cho học sinh thơng qua việc trực tiếp trang bị cho học sinh THPT
về thế giới quan và nhân sinh quan khoa học; trực tiếp hình thành niềm
tin, lý tưởng, đạo đức, ý thức pháp luật cho thế hệ công dân của đất

nước. Môn học cịn góp phần đào tạo học sinh thành những người lao
động mới, góp phần hình thành phẩm chất tích cực của người công dân
tương lai. Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng thông qua
môn Giáo dục Công dân bước đầu hình thành cho học sinh những quan
điểm khoa học, những tư duy mới về thế giới, thời đại về con người.
Trên cơ sở đó hình thành niềm tin có cơ sở khoa học về lý tưởng cao
đẹp mà con người ln vươn tới. Từ đó trở thành động cơ thôi thúc hành
động cá nhân. Nội dung chương trình giáo dục thế giới quan duy vật
biện chứng chủ yếu là giáo dục những nguyên tắc cơ bản, những nguyên
lý, quy luật của phép biện chứng duy vật để các em nắm được tính cách
mạng, khoa học của phép biện chứng duy vật và những biểu hiện sinh
động, phong phú của chúng trong đời sống hiện thực. Việc giáo dục thế
giới quan duy vật biện chứng cho học sinh THPT phải đảm bảo sự cấu
thành của ba yếu tố: Thứ nhất là hệ thống tri thức cơ bản toàn diện và
phương pháp tư duy biện chứng; Thứ hai là hệ thống niềm tin vào chân
lý vào những giá trị nhân đạo của xã hội; Thứ ba là hình thành lý tưởng
sống cao đẹp, tiến bộ và tích cực, sẵn sàng hành động vì lý tưởng đó.
1.2.2. Vai trị của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện
chứng cho học sinh trung học phổ thông
Thế giới quan duy vật biện chứng đóng vai trị hết sức quan
trọng, nó khơng chỉ là cơ sở của việc hoạch định đường lối của mỗi
quốc gia mà nó cịn chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn của mỗi
cá nhân. Thế giới quan duy vật biện chứng khơng hình thành một


13
cách tự phát mà phải được xây dựng một cách tự giác thông qua hoạt
động giáo dục.
Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng có vai trị hết
sức cần thiết trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

nói chung và học sinh THPT nói riêng. Việc trang bị tư duy biện
chứng cho học sinh THPT là việc làm quan trọng và vô cùng cần
thiết nhằm nâng cao chất lượng học tập, góp phần đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực cho xã hội, đáp ứng
Giáo dục thế giới quan DVBC giúp cho học sinh THPT tìm
ra phương pháp đúng đắn để cải tạo hiện thực.. Giáo dục thế giới
quan DVBC là quá trình giúp cho học sinh THPT rèn luyện năng
lực giải quyết công việc của mình cũng như tự rèn luyện mình để
hịa nhập vào hoạt động chung của xã hội.
Tóm lại, việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho
học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có vai trị hết sức
quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp các em có
được tư duy biện chứng trong nhìn nhận, đánh giá sự việc, và có
định hướng nghề nghiệp đúng đắn. Hơn nữa, giáo dục thế giới
quan duy vật biện chứng giúp cho các em có phương pháp luận
khoa học, từ đó có niềm tin vào sự tất thắng chủ nghĩa xã hội, vào
sự lãnh đạo của Đảng ta.


14
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN
DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Là thành phố lớn nhất miền Trung, thành phố Đà Nẵng rất
quan tâm đầu tư cho giáo dục, trong đó có giáo dục THPT. Hiện nay
trên tồn thành phố có 28 trường THPTvới 30. 665 học sinh. Số

lượng học sinh khối 10: 11.617 học sinh ; Khối 11 là 9.936 học
sinh; Khối 12: 9.112 học sinh. Trong những năm qua học sinh THPT
trên địa bàn thành phố có sự chuyển biến rõ rệt về mặt học lực cũng
như hạnh kiểm.
Về hạnh kiểm: Trong năm học 2018 – 2019, theo số liệu
thống kê của Sở giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng, tồn thành
phố số học sinh có hạnh kiểm tốt là 78, 96 %; Hạnh kiểm khá là 18,
13 %; Hạnh kiểm trung bình là 2,4 %; Hạnh kiểm yếu là 0, 52%.
Về học lực: Tồn thành phố có 30. 665 học sinh, trong đó học
lực giỏi là 15, 78 %; Khá là 46, 90 %; Trung bình: 31,68%; Yếu: 5,
41%; Kém 0, 23 %.
Học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có một số đặc
điểm như sau:
Về trình độ năng lực: Học sinh THPT Đà Nẵng hầu hết có tư
duy nhanh nhạy, linh hoạt, có khả năng nắm vững được chương
trình, nội dung giáo dục và giải quyết được các tình huống xảy ra
trong tiết học và trong thực tiễn. Các em là những học sinh ham hiểu
biết, ln tìm tịi, sáng tạo trong học tập và các hoạt động phong trào.
Trong quá trình học tập, rèn luyện các em luôn thể hiện tinh thần học


15
tập tự giác, say mê, ham học hỏi. Các em ln có thái độ cầu tiến, có
khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn.
Về phẩm chất đạo đức: Học sinh ở đây rất thân thiện, dễ
thương, gần gũi với lối sống mộc mạc, giản dị, chất phác, chân
phương. Sự mộc mạc, giản dị trong lời ăn tiếng nói cũng như trong
trang phục lẫn hành động. Các em đều là những học sinh có phẩm
chất đạo đức trong sáng, có lối sống lành mạnh, có ý thức trách
nhiệm, dám nghĩ, dám làm, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy nhà

trường, pháp luật của nhà nước.
Bên cạnh đó vẫn có vẫn có một số em học sinh vẫn có thái độ
học tập chưa tốt, hạnh kiểm còn yếu. Một số em còn thụ động trong
học tập cũng như tham gia các hoạt động phong trào của trường, của
Quận, và Sở tổ chức. Một bộ phận học sinh có phương pháp học tập,
xem xét sự vật, hiện tượng không theo cơ sở khoa học, chưa tuân thủ
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Một số học sinh gặp khó khăn trong
cuộc sống, học tập và các vấn đề phức tạp trong đời sống xã hội lại
giải quyết vấn đề một cách máy móc, siêu hình, duy tâm. Các em đều
là học sinh ở lứa tuổi mới lớn nên kinh nghiệm sống cịn hạn chế,
trình độ hiểu biết về đời sống chưa nhiều. Những mặt trái của kinh tế
thị trường, văn hóa địa phương cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hình
thành thế giới quan của các em học sinh.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc giáo dục thế giới quan
duy vật biện chứng cho học sinh THPT Đà Nẵng
- Về kinh tế - xã hội
- Về văn hóa – giáo dục
- Nội dung giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Điều kiện về cơ sở vật chất


16
2.2. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC TRONG VIỆC GIÁO
DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG
2.2.1. Trong nhận thức của học sinh
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho các em
có thế giới quan khoa học, từ đó hình thành phương pháp luận

khoa học. Từ đó các em sẽ hiểu được tính khoa học và cách mạng
của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, hiểu được đường lối, chính
sách của Đảng ta là đúng đắn, họ sẽ có khả năng khắc phục được
những sai lầm trong nhận thức, chống lại những tư tưởng phản
khoa học, thế giới quan duy tâm siêu hình. Hình thành cho họ một
phương pháp luận khoa học giúp họ tránh những vấp váp, sai lầm
trong suy nghĩ và hành động.
Hiện nay, hầu hết học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng có nhận thức đúng đắn về vai trị lãnh đạo của Đảng, tin
tưởng vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khơng có
học sinh nào có những biểu hiện chống phá Đảng và Nhà nước.
Các em có ý thức tu dưỡng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo
đức. Nhiều học sinh tìm hiểu sâu về đường lối, chủ trương của
Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
2.2.2. Trong hoạt động rèn luyện
Qua khảo sát kết quả rèn luyện của học sinh ba khối trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng trong hai năm học 2017 – 2018 và 2018 –
2019 chúng ta thấy được rằng tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm yếu và
trung bình vẫn cịn, tuy nhiên tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm trung
bình, yếu đã có sự giảm xuống rõ rệt. Năm học 2017 – 2018 tỉ lệ
học sinh có hạnh kiểm yếu và trung bình là 6 % nhưng đến năm
2018 – 2019 giảm xuống còn 2,92 %; tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm
khá có chiều hướng giảm từ 24, 3% năm 2017 – 2018 xuống còn


17
18, 13 %. Điều đáng chú ý ở đây tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm tốt
đã có chiều hướng tăng lên từ 69,7 % lên 78, 96%.
2.2.3. Trong hoạt động học tập
Qua khảo sát kết quả học tập của hai năm học 2017 – 2018;

2018 – 2019 cho thấy tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi vẫn còn thấp, tỉ
lệ học sinh đạt điểm trung bình vẫn cịn tăng cao. Tuy nhiên, kết quả
kiểm tra cuối học kỳ của khối 12 trong hai năm học vừa qua đã có sự
thay đổi, năm học 2018 – 2019 vừa qua môn Giáo dục Công dân tỷ
lệ học sinh đạt điểm trung bình, yếu kém đã có chiều hướng giảm rõ
rệt so với năm học 2017 – 2018, số lượng học sinh đạt điểm giỏi từ 8
điểm đến 9 điểm đã có chiều hướng tăng lên từ 3,9 (năm học 2017 –
2018) tăng lên 7,56 % (năm học 2018 – 2019) . Để đạt được kết quả
trên nhờ giáo viên đã có sự đổi mới về phương pháp kiểm tra đánh
giá, từ kiểm tra đánh giá bằng hình thức tự luận sang hình thức trắc
nghiệm. Năm học 2018 – 2019 hầu hết giáo viên giảng dạy bộ môn
Giáo dục Công dân ở các trường THPT đã có sự thay đổi về phương
pháp soạn giản, soạn giáo án mới theo hướng phát triển năng lực của
học sinh. Rất nhiều trường đã chuẩn hóa được đội ngũ giáo viên
giảng dạy bộ mơn Giáo dục Công dân, đầu tư hệ thống máy chiếu
vào giảng dạy. Chính vì vậy, đã phát huy được tính tích cực, chủ
động của học sinh và tạo hứng thú để học sinh u thích mơn Giáo
dục Cơng dân.
2.3. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
2.3.1. Hạn chế
Tâm lý xem bộ môn Giáo dục Công dân là môn phụ ở các
trường THPT.
Đội ngũ giảng dạy môn Giáo dục Công dân chưa được đào tạo
bài bản
Bất cập giữa việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
với việc tự giáo dục của học sinh


18
Phân phối chưa hợp lý tỉ lệ giữa tiết lý thuyết và thực hành

2.3.2. Nguyên nhân.
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân khách quan của việc giáo dục thế giới quan
DVBC cho học sinh THPT hiện nay gồm cơ sở vật chất của nhà
trường, nội dung chương trình, giáo trình tài liệu, phương pháp giảng
dạy, vấn đề kiểm tra đánh giá của học sinh, sự tác động của mặt trái
của cơ chế thị trường.
Nguyên nhân chủ quan
Do tâm lý xem môn Giáo dục Công dân là môn học phụ nên
việc giảng dạy cũng như tiếp thu nội dung kiến thức của các em cịn
rất hạn chế. Bên cạnh đó, một số ít học sinh mắc phải các tệ nạn xã
hội, không chú tâm vào việc học tập. Có một bộ phận học sinh chưa
xác định đúng đắn vai trị vị trí của việc học tập, chưa xác định đầy
đủ nhiệm vụ học tập, chưa có động cơ học tập đúng đắn nên chưa tự
giác vươn lên trong học tập.
Mặt khác, do học sinh ở thành phố nên được cha mẹ cưng
chiều nên có thói quen sống phụ thuộc, thụ động, thiếu linh hoạt nên
trong học tập các em chưa chủ động khai thác những tiềm năng bên
trong mà luôn trông chờ, thụ động.
Tất cả những yếu tố đó thấm sâu vào phong cách, suy nghĩ của
các em. Để có thể thay đổi nó cần phải có sự kết hợp, điều chỉnh
những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan một cách đúng
mức, mới có thể phát huy và nâng cao khả năng tự học, tự giáo dục
của học sinh THPT trong quá trình học tập và rèn luyện hiện nay.


19
CHƢƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO

HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
3.1. QUAN ĐIỂM
3.1.1. Quan điểm chung
Trong suốt quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn quan tâm
sâu sắc đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo, coi giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm phát triển giáo dục và đào tạo. Chính vì tầm quan
trọng đó, trong Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, Đảng ta đã
nhấn mạnh: “Xây dựng những con người và thế hệ con người thiết
tha với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí kiên
cường và đạo đức trong sáng, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” [14, tr.
29]. Những quan điểm chỉ đạo của Đảng rất quan trọng trong sự
nghiệp giáo dục của nước ta trong thời kỳ đổi mới đất nước. Đến đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta xác định rõ: “ Phát triển
giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững” [12, tr. 109].
3.1.2. Quan điểm cụ thể
Nội dung giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng phải gắn
với thực tiễn giáo dục hiện nay
Nhiệm vụ của công tác giáo dục ở nước ta hiện nay là xây
dựng con người mới trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do
đó, giáo dục phải đáp ứng tất cả những kỹ năng cơ bản cần thiết, phải
có ích cho cuộc sống sau này, nội dung giáo dục trong nhà trường
hiện nay cần phải có sự thay đổi theo hướng gắn lý thuyết với thực
tiễn cuộc sống, định hướng cho các em biết quan tâm đến xã hội và


20

những người xung quanh để từ đó các em sẽ có những đồng cảm,
chia sẻ và bày tỏ được cảm xúc của mình. Mỗi học sinh phải nắm
được lý thuyết, lý luận để ứng dụng kiến thức thực tiễn đời sống.
Việc giáo dục các em nắm được kiến thức có sẵn trong sách vở thì
vẫn chưa đủ mà giáo viên cần phải giúp các em cập nhật thường
xuyên những vấn đề thời sự đang diễn ra của cuộc sống hôm nay. Để
làm được điều này, giáo viên giảng dạy đóng vai trị quan trọng trong
việc cung cấp thơng tin và định hướng thông tin khi đứng trên bục
giảng để học sinh có thể nắm bắt, chuyển hóa những thơng tin trong
xã hội thành nhận thức, tình cảm và hành động của mình. Thực hiện
tốt u cầu này địi hỏi người giáo viên phải bồi dưỡng, nâng cao
năng lực soạn giảng, kỹ năng đứng lớp và am hiểu các vấn đề xã hội
để nắm bắt được tình hình, tích lũy cho mình vốn kiến thức và một
số sự kiện ngồi sách vở để truyền đạt cho các em. Mỗi giáo viên cần
phải đi sát cuộc sống, gắn tri thức lí luận với những vấn đề của thực
tiễn cuộc sống, cần lấy học sinh làm trung tâm để phát huy tính tích
cực, chủ động và sáng tạo để các em biết vận dụng những vấn đề lý
luận để xem xét, giải quyết, phân tích, lý giải và đề xuất những
phương án giải quyết các vấn đề mà xã hội đặt ra.
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng giúp học sinh
THPT rèn luyện phương pháp tư duy khoa học và khắc phục sai lầm
chủ quan
Việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng đòi hỏi học
sinh THPT nắm được nguyên tắc khách quan, tôn trọng quy luật
khách quan, nắm được quy luật vận động, biến đổi phát triển của nó
để rút ra những kết luận đúng đắn, đồng thời giúp các em nhận thức
một cách khách quan, đúng đắn về sự vật, hiện tượng. Từ đó tìm ra
được bản chất cốt lõi và mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để có
cách thức giải quyết vấn để hiệu quả hơn.



21
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng hình thành phẩm
chất đạo đức và lối sống lành mạnh cho học sinh THPT
Có thể nói rằng, ở lứa tuổi này các em thường có thái độ thích
thể hiện bản thân trước đám đông, bàng quang trước sự việc, sự quan
tâm đến những người xung quanh dường như thấp đi, thậm chí cịn
khơng có. Sự du nhập của văn hóa ngoại lai đã ảnh hưởng đến việc
hình thành và tiếp thu các giá trị văn hóa dân tộc. Khơng ít học sinh
đã có biểu hiện xa rời giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp vốn vẫn
đang phù hợp với hiện đại. Các em dần hình thành tư tưởng ăn chơi,
đua địi và sa vào các tệ nạn xã hội. Chính vì vậy, khi được giáo dục
thế giới quan duy vật biện chứng các em sẽ hình thành nhân sinh
quan cộng sản chủ nghĩa. Mặt khác, khi được giáo dục thế giới quan
duy vật biện chứng, các em sẽ biết sống đoàn kết, đoàn kết giữa cá
nhân với tập thể, biết hịa chung vào sự phát triển của gia đình, nhà
trường và xã hội. Nó giúp cho học sinh biết giải quyết đúng đắn mối
quan hệ giữa cá nhân, tập thể và xã hội. Bên cạnh đó, việc giáo dục
thế giới quan duy vật giúp cho các em có được sự nhận thức một
cách khách quan, đúng đắn. Cụ thể là xem xét sự vật, hiện tượng
trong sự tương tác giữa các mặt, đặt chúng trong mối liên hệ biện
chứng, chi phối lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Thông qua
nguyên tắc này học sinh biết xâu chuỗi vấn đề, phát hiện sự liên hệ
giữa chúng chứ không đánh giá sự vật, hiện tượng một cách rời rạc,
lẻ tẻ và biệt lập khỏi các mối liên hệ đa dạng vốn có. Từ đó, tìm ra
được cốt lõi, bản chất và những mối liên hệ cơ bản nhất để tập trung
giải quyết một cách có hiệu quả.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

3.2.1. Xây dựng mơi trường kinh tế, văn hóa, xã hội lành mạnh
3.2.2. Đổi mới phương pháp dạy học


22
3.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giảng dạy thế giới
quan duy vật biện chứng
3.2.4. Nâng cao khả năng tự giáo dục thế giới quan DVBC của
học sinh trung học phổ thong
3.2.5. Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy thế
giới quan duy vật biện chứng
3.2.6. Kết hợp chặt chẽ giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường,
giáo dục xã hội trong việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
3.3. KIẾN NGHỊ
3.3.1. Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo
- Tăng cường các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp
vụ cho giáo viên giảng dạy môn Giáo dục Công dân.
- Tăng cường nguồn tài liệu, sách vở phục vụ cho công tác dạy
và học.
- Có những chính sách ưu tiên, ưu đãi cho giáo viên giảng dạy
mơn giáo dục Cơng dân.
- Có những biện pháp kiên quyết với những giáo viên chưa
được qua đào tạo chuyên ngành.
3.3.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng
- Sở giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng cần phải có
những tham mưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố đề án tuyển dụng
nhân sự, phân bổ, bố trí, sử dụng đãi ngộ cán bộ giáo viên giảng dạy
môn Giáo dục Cơng dân.
- Rà sốt lại chun mơn, nghiệp vụ đối với một số giáo viên
chưa được đào tạo qua chuyên ngành để mở thêm lớp đào tạo, bồi

dưỡng cho giáo viên trong dịp hè.
- Có những chính sách ưu đãi đối với Giáo viên giảng dạy bộ
môn Giáo dục Công dân.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường phổ thông
để nâng cao chất lượng, hiệu quả môn học.


23
- Thường xun có những lớp tập huấn chun mơn, nghiệp
vụ cho giáo viên, tăng cường các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo
viên giảng dạy bộ môn trên địa bàn thành phố có cơ hội gặp gỡ, giao
lưu trao đổi kinh nghiệm.
3.3.3. Đối với Ban Giám hiệu các trƣờng THPT trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng
- Có những giải pháp, những khâu đột phá trong việc tạo ra
một môi trường giáo dục thân thiện, cởi mở để giáo viên giảng dạy
môn Giáo dục Công dân phấn đấu cống hiến cho trường, cho ngành.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đầu
tư mua tài liệu, đồ dùng dạy học liên quan đến nội dung mơn học.
- Tổ chức các buổi ngoại khóa để học sinh có cơ hội tham gia
học tập
- Tạo điều kiện cho giáo viên bộ môn tham gia học tập nâng
cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ.
- Động viên kịp thời những giáo viên có thành tích cao trong
cơng tác giảng dạy mơn Giáo dục Cơng dân.
- Phối hợp vơí Đồn thanh niên tổ chức sân khấu hóa dưới cờ
các tiểu phẩm về giáo dục đạo đức, pháp luật để tăng cường giáo dục
thế giới quan cho học sinh.
- Không phân cơng cho giáo viên khơng có chun mơn giảng
dạy mơn học.



×